Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của phép tu từ phóng đại trong các tác phẩm văn học tiếng Pháp

1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Trong văn học, phóng đại được xem như một “ hiện tượng tự  
nhiên ” trong đó tác giả sử dụng từ ngữ hoặc cách diễn đạt để làm  
cho tác phẩm trở nên hiệu dụng hơn và đôi khi để nhấn mạnh ý nghĩa  
muốn chuyển tải. Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về  
lĩnh vực « Phong cách học », « Tu từ học » của nhiều tác giả tên tuổi  
như Catherine Fromilhague, Fontanier Pierre, Kibedi Varga Aron.  
Trong nước, nhiều nhà ngôn ngữ học nổi tiếng đã góp phần lớn vào  
sự phát triển lĩnh vực nghiên cứu này : Đinh Trọng Lạc, Hoàng Tất  
Thắng, Cù Đình Tú. Tuy nhiên, chưa tìm thấy những nghiên cứu  
sâu về đặc điểm ngôn ngữ của biện pháp tu từ phóng đại trong các tác  
phẩm văn học tiếng Pháp.  
Trong tiếng Pháp, phóng đại có nhiều chức năng đa dạng :  
miêu tả cái đẹp, thể hiện tình yêu, nhấn mạnh một ý kiến hay cảm  
xúc buồn, vui, sợ hãi, tạo ra hiệu quả gây cười sảng khoái, hay diễn tả  
sự châm chọc sâu cay, … Vì vậy, việc nhận dạng, phân tích và diễn  
giải những từ ngữ phóng đại thật sự không dễ dàng đối với người học  
tiếng Pháp bởi phóng đại luôn mang đậm phong cách và dấu ấn của  
cá nhân hoặc cộng đồng sử dụng ngôn ngữ. Qua thực tế giảng dạy,  
chúng tôi nhận thấy rằng muốn đạt được hiệu quả giao tiếp với cách  
diễn đạt tốt nhất, người học cần phải được trang bị kiến thức về phép  
tu từ phóng đại.  
Xuất phát từ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trên,  
chúng tôi muốn thực hiện đề tài có tên “Nghiên cứu đặc điểm ngôn  
ngữ của phép tu từ phóng đại trong các tác phẩm văn học tiếng Pháp”  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Đề tài đặt mục tiêu làm rõ những đặc điểm về cấu trúc, ngữ  
nghĩa và ngữ dụng của ph p tu từ phóng đại, qua khảo sát những mẫu  
câu chứa đựng từ ngữ phóng đại tr ch từ những tác phẩm văn học  
tiếng Pháp, nhằm giúp người dạy - học tiếng Pháp hiểu rõ hơn những  
ý tưởng của tác giả qua sử dụng từ ngữ phóng đại từ đó họ có thể tìm  
hiểu đúng giá trị đặc sắc của nghệ thuật và vận dụng có hiệu quả  
phép tu từ này khi diễn đạt nói và diễn đạt viết, củng cố thêm kiến  
thức về văn học, dễ dàng tiếp cận và lĩnh hội ngôn ngữ thơ ca này.  
2
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu  
Chúng tôi nghiên cứu phép tu từ phóng đại trong các tác phẩm  
văn học tiếng Pháp như Lettres choisies (Mme De Sévigné), Les  
Misérables I, Notre-Dame de Paris (Victor Hugo), Eugénie Grandet  
(Honoré de Balzac), ERNESTINE ou La Naissance de l’Amour  
(Stendhal), Et si c’était vrai..., Mes amis Mes amours (Marc Levy).  
Chúng tôi chọn cứ liệu nghiên cứu trong những tác phẩm này bởi  
phần lớn đều có bản dịch bằng tiếng Việt và có thể thu thập một cách  
dễ dàng trong kho sách thư viện của Viện Pháp tại Đà nẵng. Những  
tác giả kể trên đều là những nhà văn tiêu biểu cho các dòng văn học  
Pháp.  
4. Cách tiếp cận, phƣơng pháp nghiên cứu  
Để thực hiện nghiên cứu, trước hết chúng tôi tiến hành tổng  
quan lý thuyết liên quan đến đề tài từ những sách, tác phẩm lý luận  
và nghiên cứu về ngôn ngữ học, phong cách học bằng tiếng Việt và  
tiếng Pháp. Nguồn dữ liệu của chúng tôi bao gồm 230 mẫu câu chứa  
từ ngữ phóng đại trích từ 7 tác phẩm văn học của các nhà văn tiêu  
biểu cho các dòng văn học.  
Chúng tôi đã chọn phương pháp thống kê, mô tả và phân tích  
tổng hợp để tiến hành nghiên cứu, và sử dụng cách tiếp cận định tính  
thông qua việc phân tích diễn ngôn để làm rõ các đặc điểm ngôn ngữ  
của phép tu từ phóng đại trong nguồn dữ liệu thu thập được.  
5. Cấu trúc của báo cáo  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, báo cáo gồm hai chương ch nh sau :  
Chương 1 đề cập đến cơ sở lý luận của đề tài dựa trên một số  
khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu ;  
Chương 2 là phần phân tích những đặc điểm ngôn ngữ của từ  
ngữ phóng đại như đặc điểm cấu trúc , đặc điểm ngữ nghĩa và đặc  
điểm ngữ dụng.  
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài  
Đề tài giúp người dạy có cơ sở để hướng đến những ứng dụng  
sư phạm thích hợp nhất trong việc dạy - học tiếng Pháp như một  
ngoại ngữ trong trường đại học ;  
Đề tài giúp người học nhận dạng, hiểu sâu hơn giá trị nghệ thuật của  
phép tu từ phóng đại, từ đó có thể vận dụng linh hoạt từ ngữ phóng  
đại trong giao tiếp và cảm thụ được các tác phẩm văn học một cách  
sâu sắc hơn ;  
3
Đề tài sẽ góp phần vào sự phát triển chung của lĩnh vực ngôn  
ngữ học và văn học.  
CHƢƠNG 1  
CƠ SỞ LÍ LUẬN  
1.1 Lịch sử nghiên cứu của đề tài  
Phóng đại, một phép chuyển nghĩa tiêu biểu trong lĩnh vực  
phong cách học, đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới cũng như ở  
trong nước. Khi phong cách học chưa được xem như là một ngành  
khoa học ngôn ngữ, các triết gia Hy Lạp như Platon, Aristote,  
D mocrite đã đưa ra một số khái niệm cơ bản về phóng đại. Hiện  
nay, các nghiên cứu về so sánh đối chiếu về phóng đại giữa các ngôn  
ngữ thực sự phát triển mạnh.  
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc  
Phóng đại, một biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong văn  
học cũng như trong quảng cáo, trong ngôn ngữ báo ch  và trong đời  
sống hàng ngày. Trong văn học, thể loại biện pháp tu từ này xuất  
hiện nhiều trong các tác phẩm văn học của đại văn hào Victor Hugo.  
Phóng đại được đề cập đến trong tác phẩm của các tác giả P.  
Fontanier, M. Pougeoise, C. Stolz, A. Albou và F. Rio, góp phần vào  
sự phong phú của ph p mĩ từ này.  
P. Fontanier [17] định nghĩa phóng đại là một biện pháp tu từ  
trong đó « người ta tăng hay giảm một cách thái quá sự việc đề cập  
đến ». Cũng theo tác giả này, phóng đại không được ph p vượt khỏi  
khuôn khổ cho phép và chỉ được dùng trong mục đ ch muốn thuyết  
phục ai đó.  
N. Albou và F. Rio cho rằng « thuật ngữ nói quá, phóng đại  
tạo một cách nói cường điệu và thường hướng đến tạo hiệu quả chế  
nhạo » [1].  
Tác giả C. Stolz định nghĩa phóng đại như « một sự cường  
điệu của chiếu vật : làm cho thấy lớn hơn (hoặc nhỏ hơn) cái mình  
nói đến ; đây là biện pháp tu từ phổ biến trong sử thi, và cũng đóng  
vai trò quan trọng trong văn thơ trào phúng, trữ tình hay bút chiến »  
[45].  
4
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu  
trên cung cấp cho chúng tôi các công cụ cần thiết cho việc phân tích  
ph p phóng đại ở nhiều phương diện (cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ  
dụng) và ở nhiều thể loại (văn chương, quảng cáo, báo ch , …)  
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nƣớc  
Nhiều nhà ngôn ngữ học nổi tiếng của Việt Nam như Đinh  
Trọng Lạc, Cù Đình Tú, Hoàng Tất Thắng, Hữu Đạt,… đóng góp  
nhiều cho ngành khoa học này, đặc biệt là trong lĩnh vực phóng đại.  
Trong các tác phẩm « 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt »  
và « Phong cách học tiếng Việt », Đinh Trọng Lạc [11]-[12] nhấn  
mạnh rằng mục đ ch ch nh của ph p phóng đại là làm rõ tính chất của  
sự vật hiện tượng được đề cập đến và tạo ấn tượng mạnh ở người đọc  
hoặc người nghe.  
Trong một tác phẩm khác liên quan đến phóng đại xuất bản  
năm 1993 « Phong cách học tiếng Việt hiện đại », Hoàng Tất Thắng  
[25] đưa ra định nghĩa và hai chức năng ch nh của phóng đại : chức  
năng nhận thức và chức năng biểu cảm. Tác giả này cũng khẳng định  
rằng phóng đại được sử dụng để tạo cảm xúc mạnh và phổ biến trong  
ngôn ngữ hàng ngày, trong các bình luận về mặt chính trị cũng như  
trong văn học.  
Sáu năm sau, năm 1999, trong « Phong cách học tiếng Việt  
hiện đại », Hữu Đạt [26] diễn giải phóng đại là hiện tượng đánh giá  
cao trong mô tả sự vật hiện tượng theo hướng mỉa mai, hài hước hay  
lạc quan.  
Nhìn chung, các khái niệm về phóng đại nêu trên đều có ích  
với chúng tôi trong phân t ch so sánh đối chiếu việc sử dụng biện  
pháp tu từ phóng đại với ngữ liệu văn xuôi tiếng Pháp và tiếng Việt.  
Các khái niệm này cũng dẫn dắt chúng tôi nghiên cứu một cách có hệ  
thống và kỹ lưỡng về đặc điểm ngôn ngữ của phóng đại trong tiếng  
Pháp và tiếng Việt trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này.  
1.2 Phong cách học và biện pháp tu từ  
Phóng đại là một biện pháp tu từ thuộc phong cách học. Vì  
vậy để hiểu rõ khái niệm của ph p phóng đại, chúng ta cần tìm hiểu  
một vài khái niệm cơ bản về phong cách học và biện pháp tu từ.  
5
1.2.1 Phong cách học  
Phong cách học là một ngành học bộ phận thuộc ngôn ngữ  
học phát triển mạnh mẽ vào nửa sau của thế kỉ XX cùng với sự phát  
triển của các lí thuyết về chức năng ngôn ngữ, các lí thuyết đi sâu về  
mặt ứng dụng ngôn ngữ trong giao tiếp trong xã hội và lí thuyết  
hướng vào vấn đề giảng dạy ngôn ngữ trong nhà trường.  
Charles Bally [3] đã định nghĩa phong cách học như một  
ngành học « nghiên cứu tính biểu cảm – gợi cảm ở các yếu tố của hệ  
thống ngôn ngữ, đồng thời nghiên cứu sự phối hợp các sự kiện lời  
nói có khả năng tạo nên hệ thống các phương tiện biểu cảm – gợi  
cảm của một ngôn ngữ ».  
Cù Đình Tú [8] nêu ra một định nghĩa chỉ rõ đối tượng  
của phong cách học như sau : « Phong cách học là một bộ phận của  
ngôn ngữ học nghiên cứu quy tắc, quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa  
chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một  
nội dung tư tưởng tình cảm nhất định trong những phong cách chức  
năng ngôn ngữ nhất định »  
1.2.2 Biện pháp tu từ  
Biện pháp tu từ là cách thức sử dụng các yếu tố biểu cảm  
trong ngôn ngữ thuyết phục, thu hút, gây ấn tượng, v.v... Các nhà  
ngôn ngữ học trước đây cho rằng đó là nghệ thuật nói viết có hiệu  
lực, là tổng hợp các phương tiện tạo hiệu quả cho ngôn ngữ và các  
biện pháp tu từ thuộc tổ hợp các phương tiện ngôn ngữ này. Việc sử  
dụng các biện pháp tu từ trong diễn đạt bằng ngôn ngữ đóng một vai  
trò quan trọng trong các tác phẩm văn học.  
Nhà ngôn ngữ La Mesnardière cũng đã viết trong tác phẩm  
La Poétique (1639) : « Nghệ thuật nói hiệu quả mà người ta gọi là  
biện pháp tu từ là thật sự cần thiết cho người nói cũng như người  
nghe ». (Bà Nguyễn Thị Thúy Loan [37] đã tr ch dẫn)  
Tác giảM. Meyer cho rằng « Biện pháp tu từ là thương  
thuyết về mối liên hệ giữa cá thể đối với đối tượng sự việc. » [31]  
1.3 Phóng đại  
1.3.1 Định nghĩa  
Phóng đại hay còn gọi là ngoa dụ, khoa trương là biện pháp tu  
từ dùng để cường điệu hóa một phát ngôn nhằm tạo ấn tượng mạnh.  
6
Phóng đại trong tiếng Pháp là từ « Hyperbole », thuật ngữ này có  
nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp « Hyperballein ». Sự hiện diện của phóng  
đại trong danh mục các biện pháp tu từ góp phần khơi dậy sự sáng  
tạo trong việc phát triển ngôn ngữ.  
Để hiểu rõ phóng đại hoạt động như thế nào trong ngôn ngữ,  
chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm trong tiếng Pháp và tiếng Việt.  
Trong Từ điển biện pháp tu từ (Dictionnaire de rhétorique)  
[39], M. Pougeoise định nghĩa Phóng đại là « một biện pháp tu từ /  
một phép mĩ từ dùng ngôn ngữ để thổi phồng một ý tưởng hay một  
thực tế nào đó nhằm mục đích nhấn mạnh ý đó ».  
Theo La Bruyère (được trích bởi M. Pougeoise [39]), « Phóng  
đại diễn tả nhiều hơn thực tế sự việc để giúp nhận thức rõ hơn về sự  
việc đó ». Trong thơ ca, các ph p so sánh, ph p ẩn dụ, hoán dụ  
thường được phóng đại, nhất là ở các nhà văn thời kì lãng mạn như  
Victor Hugo.  
Trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, [24]), « Ngoa dụ  
(phóng đại) là cách nói so sánh phóng đại nhằm diễn đạt ý một  
cách mạnh mẽ ».  
Theo Đinh Trọng Lạc [11], « Phóng đại (còn gọi là khoa  
trương, thậm xưng, ngoa ngữ, cường điệu) là dùng từ ngữ hoặc cách  
diễn đạt để nâng lên gấp nhiều lần những thuộc tính của khách thể  
hoặc hiện tượng nhằm mục đích làm nổi bật bản chất của đối tượng  
cần miêu tả, gây ấm tượng đặc biệt mạnh mẽ. Khác hẳn với nói điêu,  
nói khoác về tính chất, động cơ và mục đích, phóng đại không phải là  
thổi phồng sự thật hay xuyên tạc sự thật để lừa dối. Nó không làm  
cho người ta tin vào điều nói ra, mà chỉ cốt hướng cho ta hiểu được  
điều nói lên. »  
Trong quá trình xem xét các khái niệm trong cả hai ngôn ngữ  
tiếng Pháp và tiếng Việt, chúng tôi đã một phần nào đó có kiến thức  
cơ bản về phóng đại. Từ đó chúng tôi cũng nhận thấy rằng việc  
nghiên cứu so sánh đối chiếu về phóng đại giữa hai ngôn ngữ tiếng  
Pháp và tiếng Việt là khá phức tạp vì tồn tại nhiều khác biệt về cấu  
trúc, ngữ nghĩa cũng như ngữ dụng của phóng đại giữa hai ngôn ngữ  
này. Các vấn đề này sẽ được đề cập đến trong các chương tiếp theo.  
7
1.3.2 Đặc điểm chung  
Các cách tu từ hoạt động dựa trên hai quan hệ : quan hệ liên  
tưởng và quan hệ tổ hợp. Do quan hệ liên tưởng và quan hệ tổ hợp là  
đặc điểm chung về mặt nhận thức của con người cho nên nó cũng  
được thể hiện trong tất cả các ngôn ngữ.  
Phóng đại là phương thức dùng từ theo hướng tăng và chủ yếu  
dựa trên quan hệ liên tưởng và có chức năng nhận thức và chức năng  
biểu cảm. Khi diễn đạt ngôn ngữ bằng phương thức tu từ phóng đại,  
các tác giả sử dụng các từ và ngữ có khả năng cường điệu và tâng  
bốc tính chất hay đặc điểm cơ bản của đối tượng miêu tả nhằm làm  
nổi rõ bản chất đó của đối tượng.  
Phóng đại trong ngôn ngữ tiếng Pháp được thực hiện trên cơ sở  
những đặc điểm về cấu trúc, về ngữ nghĩa và về ngữ dụng.  
a. Đặc điểm cấu trúc  
Về mặt cấu trúc, phóng đại trong ngôn ngữ tiếng Pháp được thể  
hiện qua các cấu trúc, các loại từ sau đây :  
- Sử dụng tính từ tăng : génial, sublime, fantastique, ignoble,  
exécrable, criminel… Trong ngôn ngữ thân mật thường chỉ có các  
tiếp đầu ngữ (apocopes) như super, extra,…  
(1) Elle cependant lui souriait avec ce sublime sourire auquel il  
manquait deux dents. (B, tr.229)  
[Còn Phăngtin thì nhìn vào ông mỉm cười một nụ cười huyền  
diệu, tuy có khuyết hai chiếc răng.] (tr.297)  
-Các tính từ có thể có trạng từ đi kèm để tăng cường độ :  
complètement, totalement, absolument, sauvagement, v.v…  
-Các con số, các định lượng thường rất lớn : un million de  
baisers, souffrir mille morts, peser une tonne, v.v…  
(2) Pour lui, pour lui, se disait-elle, je souffrirais mille morts.  
(A, tr.146)  
[Nàng tự nhủ: “Vì Sáclơ, thì dù trăm cay nghìn đắng ta cũng  
chịu được”]. (tr.251)  
-Các cấu trúc so sánh thường không thể có thực : fort comme un  
bœuf, rapide comme l’éclair, qui tire plus vite que son ombre, un  
nouvel Einstein, une mémoire d’éléphant, v.v…  
(3) Elle se leva prompte comme un éclair, et mit le pied sur la  
terre. (G, tr.40)  
8
[Nàng bỗng chồm dậy nhanh nhƣ một tia chớp, và dẫm chân  
lên bức thư.] (tr.41)  
- Các cấp so sánh nhất thì phong phú và cá biệt hóa : le plus  
grand roman de tous les temps, le marché du siècle, le couple de  
l’année, v.v…  
(4) Faner est la plus jolie chose du monde, c’est retourner du  
foin en batifolant dans une prairie ; ...(F, tr.120)  
[Trở cỏ phơi khô là việc dễ thƣơng nhất trên đời, đó là vừa  
trở cỏ vừa đùa nghịch ngoài đồng cỏ.]  
b. Đặc điểm ngữ nghĩa  
Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chỉ nêu ra hai tính chất  
ch nh liên quan đến nghiên cứu của chúng tôi.  
- Phóng đại có thể mang n t nghĩa mở rộng tích cực diễn tả sự  
tán thưởng của người nghe, sự ngưỡng mộ hay sự khen ngợi. Các nét  
nghĩa mở rộng tích cực này liên quan đến các trường nghĩa sau đây :  
vẻ đẹp, sự hạnh phúc, niềm vui, tình yêu, v.v…  
(5) Cette remarque redoubla le bonheur d’Ernestine, si l’on  
peut se servir de ce mot en parlant d’une félicité qui déjà était  
au comble. (G, tr.34)  
[Nhận x t này nhân đôi niềm hạnh phúc của Ec-ne-xtin, nếu  
như người ta có thể sử dụng từ này khi nói tới niềm hạnh  
phúc đã lên tới tột đỉnh.] (tr.35)  
- Phóng đại có thể mang n t nghĩa mở rộng tiêu cực diễn tả sự  
không đồng tình, sự phê bình liên quan đến nỗi sợ hãi, sự xấu xí, nỗi  
buồn hay sự đau đớn, v.v…  
(6) …, et ces deux femmes demeurèrent dans un effroi mortel  
pendant la moitié de la matinée. (A, tr.141)  
[..., và cho đến trưa, hai mẹ con sống trong cảnh kinh hãi  
rụng rời.] (tr.243)  
c. Đặc điểm ngữ dụng  
Về mặt ngữ dụng, ph p phóng đại được tác giả hay người nói  
sử dụng trong phát ngôn của mình thường để làm tăng thêm t nh chất  
của đối tượng liên quan và nhắm đến mục đ ch tạo một cảm xúc  
mạnh ở độc giả và người nghe. Các cấu trúc phóng đại chủ yếu tạo  
9
hiệu quả về mặt tâm l , đặc biệt là các thuật ngữ diễn tả lời khen, thái  
độ mỉa mai, thể hiện cảm xúc mạnh hoặc tạo hiệu quả hài hước.  
(7) [...] on ne saurait décrire la douleur déchirante qui  
pénétra son âme ... (G,tr.40)  
[Không ai có thể tả được nỗi đau xé ruột xâm chiếm tâm can  
nàng ...] (tr.41)  
(8) pendant ce temps il s’enivrait de sa beauté.(G, tr.52)  
[trong lúc đó chàng ngây ngất vì vẻ đẹp của nàng.] (tr.53)  
1.3.3 Phóng đại trong mối tƣơng quan với các biện pháp tu từ khác  
- Phóng đại và so sánh  
Ph p so sánh là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối  
tượng có sử dụng từ so sánh (comme, tel, même, pareil, semblable,  
ainsi que, mieux que, plus que, sembler, ressembler, simuler, être,  
v.v…)  
Phép phóng đại, một phương tiện ngôn ngữ trừu tượng,  
nhưng lại hay bị nhầm lẫn với phép so sánh bởi vì cả hai phép tu từ  
này (phóng đại và so sánh) đều có sự liên tưởng đến hai sự vật hiện  
tượng và mối liên hệ giữa chúng. Tuy nhiên ph p phóng đại chú  
trọng đến sự cường điệu ở ngôn ngữ để tạo xúc cảm mạnh ở người  
đọc và người nghe.  
- Phóng đại và ẩn dụ  
Ẩn dụ là một biện pháp tu từ dựa trên sự giống nhau hay sự  
tương đồng về đặc điểm tính chất của hai hay nhiều đối tượng nhằm  
diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng. Sự giống  
nhau hay n t tương đồng này có thể phản ánh sự thật trong xã hội  
hay được hình thành trên ý kiến, tư tưởng và suy luận chủ quan của  
người nói.  
Phóng đại thường bị nhầm lẫn với ẩn dụ bởi vì đôi khi ph p  
phóng đại cũng so sánh hai sự vật hiện tượng nhưng lại không sử  
dụng từ ngữ ngầm so sánh. Điểm khác biệt cần chú ý là phóng đại là  
một sự cường điệu, thổi phồng của tác giả hay người nói đối với sự  
vật hiện tượng được miêu tả nhằm nhấn mạnh ý nghĩa hay thu hút sự  
chú ý của người đọc với mục đ ch tăng hiệu quả mô tả, đặc biệt là khi  
có đề cập đến yếu tố so sánh ẩn dụ hay hài hước.  
10  
1.4 Nghĩa hàm ẩn  
1.4.1 Khái niệm  
Vấn đề nghĩa của từ là vấn đề phức tạp vì để hiểu được nghĩa  
của từ cần phải chú ý đến nhiều yếu tố xung quanh từ. Ý nghĩa của từ  
vừa là cái riêng cho từng từ vừa là cái chung cho những từ cùng loại.  
Nghĩa của từ tồn tại trong từ và trong hệ thống ngôn ngữ. Qua đó  
nghĩa của từ liên quan đến bốn yếu tố sau đây :  
- Tình huống : các yếu tố ngoại vi nảy sinh phát ngôn.  
- Hệ quy chiếu : con người hay sự vật hiện tượng, cụ thể hay  
trừu tượng là từ đề cập đến.  
- Quan hệ ngôn bản : các yếu tố ngôn ngữ xung quanh từ giúp  
xác định nghĩa của từ.  
- Quan hệ ngôn ngữ : nghĩa của từ không tồn tại trong từ mà  
trong hệ thống ngôn ngữ liên quan như từ vựng, ngữ âm, cú pháp.  
1.4.2 Nghĩa gốc và nghĩa phái sinh  
Trong việc nghiên cứu phân t ch nghĩa của từ, việc tìm hiểu  
các khái niệm về nghĩa gốc (sens d notatif) và nghĩa phái sinh (sens  
connotatif), còn được gọi bằng cặp thuật ngữ nghĩa thường trực –  
nghĩa không thường trực.  
Nghĩa gốc : Một nghĩa được coi là thường trực nếu nó đã đi vào cơ  
cấu chung ổn định của nghĩa từ và được nhận thức một cách ổn định,  
như nhau trong các hoàn cảnh khác nhau. Nghĩa thường trực thường  
được thể hiện ổn định trong từ điển và được tất cả người sử dụng  
ngôn ngữ đó hiểu.  
Ví dụ : từ « rouge » thể hiện nghĩa thường trực tiếng Pháp của một  
trong ba màu sắc cơ bản.  
-
Nghĩa phái sinh : là một nghĩa bất chợt được sinh ra tại một  
hoàn cảnh nào đó trong quá trình sử dụng, sáng tạo ngôn ngữ. Nghĩa  
phái sinh có thể được gắn cho văn bản, diễn ngôn hoặc hình ảnh  
v.v… Và nghĩa phái sinh cũng còn được gọi là nghĩa ngữ cảnh hay  
nghĩa hàm ẩn của từ.  
Ví dụ : Từ « rouge » (màu đỏ), tùy theo từng hoàn cảnh, ngữ cảnh và  
các yếu tố liên quan người phát và người nghe, có thể có nghĩa là sự  
cấm đoán, sự giận dữ, sự nổi loạn, máu đỏ hay niềm đam mê v.v…  
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu cách  
phái sinh nghĩa về cách tán thưởng (connotations appréciatives).  
11  
1.4.3 Ngữ cảnh  
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, người tham gia giao tiếp đưa  
ra những phát ngôn cụ thể chứ không phải nói từng từ riêng lẽ. Cho  
nên, từ cần phải được sử dụng trong một câu hoặc trong một phát  
ngôn cụ thể mới bộc lộ được n t nghĩa nào trong số các n t nghĩa của  
nó. Nói cách khác, từ phải được sử dụng trong một ngữ cảnh cụ thể  
nào đó thì mới có nghĩa. Ngữ cảnh bao hàm :  
- tình huống diễn ra giao tiếp, có hiện diện của nhiều người  
tham gia giao tiếp, người phát và người nhận,  
- các văn bản trước và sau phát ngôn cần nghiên cứu (còn gọi  
là ngôn bản - cotexte),  
- chủ đề mà phát ngôn đề cập đến.  
Người ta gọi ngữ cảnh là các từ và ngữ trong câu, trong phát  
ngôn. Ngữ cảnh mang nghĩa đến cho từ. Theo L. Wittgenstein, từ  
thực sự có nghĩa khi nó được sử dụng trong tình huống cụ thể, từ đó  
theo tác giả này « Chỉ có mệnh đề mới mang nghĩa ; và chỉ có nằm  
trong ngữ cảnh của mệnh đề thì từ mới mang nghĩa. » [49]  
L. Wittgenstein cũng khẳng định rằng « Từ không có nghĩa,  
chỉ có các ứng dụng của từ » [49]. Nói cách khác, từ chỉ có nghĩa khi  
được sử dụng trong một phát ngôn cụ thể hoặc có liên quan đến một  
phát ngôn. Trong ví dụ sau :  
(9) Tenez, cette petite nous coûte les yeux de la tête.  
(B, tr.450)  
[Đấy, như cái con b  ấy, thật đến róc tủy róc xƣơng với nó.]  
(tr.589)  
Chắc chắn chúng ta cần phân t ch kĩ ngữ cảnh để hiểu rằng  
cụm từ « coûter les yeux de la tête » (đáng giá bằng cả đôi mắt)  
không phải là một ngữ phóng đại nhưng trong ngữ cảnh này trở thành  
một cụm từ có sử dụng biện pháp tu từ phóng đại.  
1.4.4 Nghĩa hàm ẩn  
Các công trình nghiên cứu của các nhà ngữ dụng học Anh và  
của Oswald Ducrot về nghĩa hàm ẩn và hàm ẩn hội thoại đã chỉ rõ  
rằng thông tin chính của một thông điệp không nằm trong chính phát  
ngôn mà tùy thuộc vào các điểm đặc trưng của phát ngôn và tùy  
thuộc vào cách diễn giải của các chủ thể giao tiếp.  
12  
Hàm ý là thành tố cơ bản của mọi giao tiếp và được thể hiện  
bằng nhiều cách khác nhau qua việc người nhận suy luận ý nghĩa hội  
thoại nhiều hơn cái được thể hiện trong ngôn bản.  
Ví dụ : « J’ coute » (Tôi nghe đây). Tùy thuộc vào các tình huống  
khác nhau, phát ngôn này có thể là :  
(1) 1 thông tin : « Je suis là » (Tôi có mặt đây rồi.)  
(2) 1 câu hỏi : « Que voulez-vous ? » (Bạn muốn gì ?)  
(3) 1 mệnh lệnh : « Parlez donc ! » (Vậy thì nói đi !)  
(4) 1 ý cho phép : « Vous pouvez parler. » (Bạn có thể nói  
rồi đó.)  
Trong phần lớn trường hợp, các hội thoại thường nằm trong  
những ngữ cảnh rất riêng biệt. Hàm ý có thể thể hiện toàn bộ hay một  
phần thông tin được truyền tải, khi phát ngôn dùng để mô tả sự vật  
hiện tượng hay cung cấp các thông tin về chiếu vật, nhưng tất cả đều  
được thể hiện qua hành vi ngôn ngữ, qua ý định giao tiếp. Vậy người  
tham gia giao tiếp cần tuân thủ các quy luật để hoàn thành mục tiêu  
giao tiếp. Các quy luật này được H. Paul Grice [22] gọi tên là nguyên  
lí cộng tác (principe de coopération) bao gồm:  
(1) Phương châm về lượng (maxime de quantité)  
(2) Phương châm về chất (maxime de qualité)  
(3) Phương châm về quan hệ (maxime de relation ou de  
pertinence)  
(4) Phương châm về cách thức (maxime de manière ou de  
modalité)  
Vậy khi sử dụng ph p phóng đại trong giao tiếp, người nói  
không tuân thủ phương châm về lượng và truyền tải hàm ý vì phép  
phóng đại thường cung cấp một thang độ cao hơn và nằm ngoài tình  
trạng thực của sự vật hiện tượng được miêu tả. Ví dụ:  
(10) Les cris, les cris, le trépignement de ces mille pieds  
faisaient un grand bruit et une grande clameur. (C, tr.39)  
Tiếng thét , tiếng cười, tiếng giậm của hàng nghìn bàn  
chân làm thành tiếng ồn ào và náo động ầm ĩ. (tr.19)  
Ở ví dụ này, tác giả sử dụng cụm từ « ces mille pieds » (ngàn  
chân) như một yếu tố phóng đại để diễn tả số lượng lớn người chen  
lấn trên đường.  
13  
1.5 Hành vi ngôn ngữ hay hành động ngôn ngữ  
1.5.1 Khái niệm  
Ngôn ngữ là một công cụ để chúng ta hành động. Khi chúng ta  
nói hay viết đều có mục đ ch cung cấp thông tin hay để có thông tin,  
để khuyên nhủ hay làm hài lòng ai, để thuyết phục, để lôi cuốn hay  
tạo ấn tượng trên một người nào đó, người này có thể có mặt hay  
không trong cuộc hội thoại, là một người thực hay do người ta tưởng  
tượng ra.  
Cung cấp thông tin, hứa, hỏi, ra lệnh, thông báo, khuyên, v.v…  
là các cách thức hành động của một người với đối tác giao tiếp thông  
qua ngôn ngữ, các cách thức này được gọi là hành động ngôn ngữ  
(actes de langage). Hành động ngôn ngữ thiết lập một mối quan hệ  
động giữa những người tham gia giao tiếp.  
Ví dụ : Bonjour, monsieur. Je voudrais … ( Chào ông. Tôi  
muốn ...)  
Một hành động ngôn ngữ đòi hỏi phải có sự tham gia của  
người nghe, của đối tác giao tiếp. Hành động ngôn ngữ (ví dụ như đặt  
câu hỏi, cho lời khuyên, ra lệnh, v.v…) chỉ có hiệu quả khi người  
nghe nhận biết đúng thể loại câu và chấp nhận nó.  
Ví dụ : - Je voudrais que vous me fassiez la clef du bonheur.  
- Volontiers, mon petit.  
(- Cháu muốn ông làm cho cháu một chiếc chìa khóa  
mở cửa hạnh phúc.  
- Sẵn sàng thôi, cậu bé.)  
Trong tình huống này, nếu người nghe không trả lời yêu câu  
đặt ra, hành động ngôn ngữ dẫn nhập sẽ bị thất bại.  
1.5.2 Tính đa dạng của hành vi ngôn ngữ  
Chúng ta có thể sắp xếp các hành vi ngôn ngữ theo nhóm thể  
loại sau đây :  
- Hành vi theo phép lịch sự : đó là các hành động chào, tạm  
biệt, cảm ơn, xin lỗi, khen, tán thưởng, an ủi, tha thứ, kết tội, thú tội,  
chấp nhận, khoan thứ, v.v…  
- Hành vi cam kết của người phát : hứa, thể hiện sự tán thành,  
cho phép, từ chối, phán đoán, đánh giá, v.v…  
- Hành vi người nhận cung cấp thông tin : đặt câu hỏi, đề nghị  
xác nhận, mời, động viên khích lệ, v.v…  
14  
- Hành vi yêu cầu người nghe thực hiện : ra lệnh, khuyên, cầu  
xin, thuyết phục, nài nỉ, nêu lí lẽ, cản trở, bắt buộc, đe dọa, v.v…  
Đề cập đến vấn đề này, Austin [2] đã xây dựng lí thuyết về các  
hành vi ngôn ngữ (hành động nói) thích ứng với mọi phát ngôn. Theo  
tác giả này, khi đưa ra một phát ngôn, ta thực hiện đồng thời ba hành  
vi sau :  
- Hành vi tạo lời (acte locutoire) : là hành động nói một điều gì  
đó bằng cách tạo ra một chuỗi âm thanh làm nên phát ngôn đó, kết  
hợp lớp từ vựng và ngữ pháp theo một cấu trúc ngôn ngữ nhất định  
mang một nghĩa xác định của một quy chiếu xác định.  
- Hành vi tại lời (acte illocutoire) : Khi nói một điều gì đó có  
nghĩa là thực hiện một hành động, thể hiện mối quan hệ qua lại giữa  
những người tham gia giao tiếp. Trong giao tiếp, chúng ta có những  
hành vi tại lời khác nhau như hỏi, trả lời, răn đe, chúc tụng, thông  
báo, kết tội, ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khẳng định, cam kết, khuyên  
bảo, v.v… mà muốn thể hiện chúng ngay trong lời nói, ta cần phải  
nói một điều gì đó.  
Các hành vi tại lời luôn được chi phối và quy ước bởi những  
quy tắc xã hội, có nghĩa là giá trị của hành vi tại lời được hình thành  
dựa trên một số quy ước do xã hội áp chế cho từng tình huống phát  
ngôn cụ thể, tùy từng cá nhân cụ thể. Vì vậy, có những điều kiện  
dùng cho mỗi loại hành vi tại lời.  
- Hành vi mượn lời (acte perlocutoire) : Hành vi mượn lời là  
hành động mượn lời nói để thực hiện một hành động cụ thể nào đó.  
Người nói mượn ngôn ngữ nhằm tạo ra một số hiệu quả nào đó trên  
người nghe theo chủ ý của mình, vì chúng ta đều biết rằng ngôn ngữ  
mang thường mang một giá trị nào đó sâu xa hơn và nằm ngoài ý  
nghĩa thực của từ ngữ trong hành vi tạo lời và hành vi tại lời. Tuy  
nhiên, hành vi mượn lời khác với hành vi tại lời ở chỗ hành vi mượn  
lời thường ẩn, người nghe có thể ban đầu không nhận ra ngay một  
hành vi mượn lời mặc dù hiểu hoàn toàn hành vi tại lời. Một hành vi  
tại lời có thể có nhiều hành vi mượn lời khác nhau và do người nghe  
hiểu và suy luận tùy theo hiểu biết của mình.  
1.5.3 Phân loại các hành vi tại lời  
Theo Austin [2], mọi phát ngôn trong đời sống hàng ngày đều  
là hành vi ngôn ngữ, tương ứng với một hành vi tại lời. Hành vi này  
15  
có thể mang những giá trị khác nhau tùy theo thể loại hành động  
được thực hiện. Austin phân biệt các hành vi tại lời thành 5 nhóm:  
- Hành vi phán xét (actes verdictifs)  
- Hành vi hành xử (actes exercitifs)  
- Hành vi cam kết (actes commissifs)  
- Hành vi bày tỏ (actes expositifs)  
- Hành vi ứng xử (actes comportatifs)  
Hành vi phán xét : là những điều đánh giá về một sự kiện  
hoặc một giá trị dựa trên những chứng cứ hoặc lí lẽ xác đáng. Hành  
vi phán xét có thể diễn giải bằng các động từ ngữ vi sau : acquitter,  
considérer comme, calculer, décrire, analyser, estimer, classer,  
évaluer, caractériser…  
Hành vi hành xử : là những hành vi nhắm đến hình thành  
một quyết định liên quan chuỗi hành động nào đó, quyết định này có  
thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực và thể hiện hoạt động quyền  
lực, luật lệ hay thế lực : ordonner, commander, plaider pour supplier,  
recommander, implorer, conseiller, nommer, déclarer, avertir,  
proclamer…  
Hành vi cam kết : bao gồm những hành vi ràng buộc người  
nói vào những trách nhiệm, nghĩa vụ nhất định như các động từ ngữ  
vi sau : promettre, faire le vœu de, s’engager par contrat, garantir,  
jurer, passer une convention, embrasser un parti…  
Hành vi bày tỏ : gồm những hành vi dùng để trình bày các  
quan niệm, dẫn vào một lập luận, làm rõ cách sử dụng từ ngữ, đảm  
bảo sự quy dẫn như : affirmer, nier, répondre, objecter, concéder,  
exemplifier, paraphraser, rapporter des propos…  
Hành vi ứng xử : là nhóm hành vi đối đáp hay phản ứng lại  
những ứng xử của người khác, hay các sự kiện hiện tượng liên quan  
người khác. Các động từ ngữ vi thuộc nhóm hành vi ứng xử này có  
thể là : s’excuser, remercier, féliciter, souhaiter la bienvenue,  
critiquer, exprimer des doléances, bénir, maudire, porter un toast,  
boire à la santé, protester, défier, mettre au défi de…  
Vậy theo sự phân loại trên đây, chúng ta thấy có một mối  
tương quan cận giữa hành vi ngôn ngữ và ph p phóng đại. Mỗi hành  
động ngôn ngữ được thực hiện dựa trên sự kết hợp của hành vi tại lời  
và hành vi mượn lời. Tuy nhiên hành vi mượn lời được thể hiện trong  
ph p phóng đại thường xuyên và th ch đáng hơn hành vi tại lời. Cũng  
16  
chính vì lí do này chúng tôi tập trung nghiên cứu các phát ngôn mượn  
lời bởi vì các phát ngôn có sử dụng ph p phóng đại thường chứa  
hành vi mượn lời, trong hành vi tại lời thì không thấy ph p phóng đại  
xuất hiện..  
Cùng xem xét các ví dụ dưới đây :  
(11) Les mains, les têtes de cette foule, noires sur le fond  
lumineux, y découpaient mille gestes bizarres. (C, tr.106)  
[Bàn tay, mái đầu của đám đông sẫm đen cắt trên nền ánh  
sáng thành muôn nghìn cử chỉ lạ lùng.] (tr.84)  
(12) Il avait, disait-on goûté successivement toutes les  
pommes de l’arbre de l’intelligence, et faim ou dégoût, il  
avait fini par mordre au fruit défendu. (C, tr.180)  
[Họ nói ông lần lượt nếm hết mọi quả táo trên cây trí tuệ,  
rồi cuối cùng cắn cả vào trái cấm, chẳng hiểu vì đói hay vì  
chán ngán.] (tr.149)  
Nếu ứng dụng lí thuyết về hành vi ngôn ngữ đã nêu trên,  
chúng ta thấy rằng người đọc phải sử dụng các kĩ thuật quy chiếu để  
hiểu rõ điều mà tác giả muốn mô tả, còn tác giả thì dùng đến các kĩ  
thuật dẫn đến việc cung cấp ý nghĩa rõ ràng cho phát ngôn.  
1.5.4 Việc diễn giải các hành vi ngôn ngữ  
Ngôn ngữ không phải là một chuỗi kí hiệu bất biến và không  
thể diễn đạt ngôn ngữ một cách cứng nhắc. Sự đa dạng sắc thái trong  
ngôn ngữ làm việc diễn giải ý nghĩa của một phát ngôn đôi khi trở  
nên phức tạp. Thật vậy, giá trị của một hành vi ngôn ngữ có thể  
tường minh hoặc hàm ẩn.  
Trong một tình huống giao tiếp nào đó, các phát ngôn được  
thực hiện nhằm truyền tải ý định giao tiếp của người nói và người  
nghe. Các phát ngôn này có thể liên quan đến một thông tin, một câu  
hỏi, một lời khuyên, lời đe dọa, một cấu trúc lịch sự hay một lời hứa  
v.v… Khi nói hay viết, người phát (l’ metteur) đã thực hiện một  
hành vi ngôn ngữ.  
1.6 Phân tích các thành tố của câu  
Một thành tố của câu là một yếu tố nằm trong cấu trúc rộng của  
câu. Theo Từ điển Lí luận dạy học ngoại ngữ (Dictionnaire de  
didactique des langues), « thành tố của câu là một trong hai yếu tố  
chính trực tiếp tham gia tạo câu ở cấp độ hoàn chỉnh. » [18]  
17  
Phân tích các thành tố cấu thành câu thực chất là mặt phân tích  
cấu trúc câu, quy luật tổ chức và sắp xếp các yếu tố trong sự tương  
quan với yếu tố khác để thành lập câu.  
CHƢƠNG 2  
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU  
2.1 Đặc điểm cấu trúc của phép phóng đại  
Trong chương này, chúng tôi chỉ trình bày một số đặc điểm thể  
hiện trong nguồn dữ liệu thu thập được.  
Chúng tôi sử dụng phương pháp phân t ch cấu trúc câu theo  
thành tố để thực hiện nghiên cứu.  
Câu (Phrase)  
Cụm danh từ  
Cụm động từ  
Cụm giới từ  
(Syntagme nominal) (Syntagme verbal) (Syntagme prépositionnel)  
Danh từ (Nom)  
Động từ (Verbe)  
Giới từ (Préposition)  
Những câu sử dụng từ ngữ phóng đại được thể hiện qua những  
cụm từ (syntagme) trong đó có cụm danh từ (syntagme nominal),  
cụm tính từ (syntagme adjectival) và cụm động từ (syntagme verbal).  
Theo cách phân tích phân bố (analyse distributionnelle), mỗi cụm từ  
thể hiện một nhóm thành tố.  
2.1.1 Cụm danh từ (Syntagme nominal : SN)  
Theo tác giả Diệp Quang Ban [9], « Cụm danh từ là tổ hợp từ  
tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố  
chính với thành tố phụ, và thành tố chính là danh từ. »  
Những cụm danh từ được phân tích có những cấu trúc sau :  
a. Syntagme nominal (SN)  
Déterminant (Dét)+Adjectif (Adj)+Nom (N)  
18  
b. Syntagme nominal (SN)   
Déterminant (Dét)+Nom (N)+Syntagme prépositionnel (SP)  
c. Syntagme nominal (SN)   
Déterminant(Dét)+Adjectif(adj)+Nom(N)+Syntagme prép.(SP)  
d. Syntagme nominal (SN)   
Déterminant (Dét)+Nom (N)+Syntagme prépositionnel (SP)  
2.1.2 Cụm tính từ (Syntagme adjectival : SA)  
Cụm tính từ được tác giả Diệp Quang Ban định nghĩa như sau :  
« Cụm tính từ là tổ hợp từ tự do không có kết từ đứng đầu, có quan  
hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ, và thành tố chính  
là tính từ. »[9]  
a. Syntagme adjectival (SA)   
Adjectif (Adj)+Syntagme prépositionnel (SP)  
b. Syntagme adjectival (SA)   
Modificateur (Modif)+ Adjectif (Adj)+Syntagme prép. (SP)  
c. Syntagme adjectival(SA)   
Adjectif(Adj)+Syntagme prép.(SP) + et + Syntagme prép.(SP)  
2.1.3 Cụm động từ (Syntagme verbal : SV)  
« Cụm động từ là tổ hợp từ tự do không có kết từ đứng đầu, có  
quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ, và thành tố  
chính là động từ. »[9]  
Chúng tôi sẽ đề cập, trong phần này, những cách dùng phóng đại dựa  
vào cụm động từ thể hiện trong tiếng Pháp theo nhiều cấu trúc. Ba  
trường hợp cần xem xét :  
a. Syntagme verbal (SV) Verbe (V) + Syntagme nominal (SN)  
b. Syntagme verbal (SV) Verbe (V) + Syntagme prép. (SP)  
c. Syntagme verbal (SV) Verbe (V) + Syntagme prép. (SP)  
2.1.4 Cấu trúc so sánh (Structures de comparaison)  
Việc sử dụng những cấu trúc so sánh thay vì những câu bình  
thường trong ngữ cảnh là một cách thức hiệu quả hơn để nhấn mạnh  
hoặc làm rõ tác dụng ngữ dụng mà tác giả mong muốn truyền tải.  
a. Cấp so sánh hơn bậc nhất (Superlatif de supériorité)  
SA Adverbe de degré (AdvDegré) + Adj + N + SP  
b. Cấp so sánh hơn (Comparatif de supériorité)  
SA Adverbe de degré (AdvDegré) + Adj + SN  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 22021 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Đề tài Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của phép tu từ phóng đại trong các tác phẩm văn học tiếng Pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_de_tai_nghien_cuu_dac_diem_ngon_ngu_cua_phep.pdf