Báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
lesions using panoramic and cone beam computed  
gặp để học máy có thể chẩn đoán được tốt hơn.  
Số lượng dữ liệu càng nhiều và càng phong phú  
thì khả năng nhận diện được tổn thương càng  
tốt hơn. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin  
(CNTT) cần được đầu tư tốt để đảm bảo hiệu  
năng làm việc của hệ thống.  
tomographic images based on deep learning neural  
network. Oral Diseases. 2020. 26(1):152-158.  
5. Berdouses ED, Koutsouri GD, Tripoliti EE, et  
al. A computer-aided automated methodology for  
the detection and classification of occlusal caries  
from photographic color images. 2015;62:119-135.  
6. Srivastava MM, Kumar P, Pradhan L,  
Varadarajan SJapa. Detection of tooth caries in  
bitewing radiographs using deep learning. 2017.  
7. Ngan, T. T., Tuan, T. M., Minh, N. H., & Dey,  
N. (2016). Decision Making Based on Fuzzy  
Aggregation Operators for Medical Diagnosis from  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Fernandez-Millan, R., Medina-Merodio, J. A.,  
Plata, R. B., Martinez-Herraiz, J. J.,  
&
Gutierrez-Martinez, J. M. (2015). A laboratory  
test expert system for clinical diagnosis support in  
primary health care. Applied Sciences, 5(3), 222-240.  
2. Oliveira, J., & Proença, H. (2011), Caries  
detection in panoramic dental X-ray images,  
Computational Vision and Medical Image  
Processing,Springer Netherlands, 175-190.  
Dental  
systems, 40(12), 280, 1-7  
8. Girshick R, Donahue J, Darrell T, Malik JJItopa,  
X-ray  
images. Journal  
of  
medical  
intelligence  
m.  
Region-based  
convolutional  
networks for accurate object detection and  
segmentation. 2016;38(1):142-158.  
3. Duong DL, Kabir MH, Kuo RF. Automated caries  
detection with smartphone color photography  
using machine learning. Health Informatics  
Journal. 2021;27(2):14604582211007530.  
9. Lee H, Park M, Kim J. Cephalometric landmark  
detection in dental x-ray images using convolutional  
neural networks. Paper presented at: Medical  
Imaging 2017: Computer-Aided Diagnosis2017.  
4. Lee JH, Kim DH, Jeong SN. Diagnosis of cystic  
BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA  
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2020  
Kiều Quang Phát1, Nguyễn Huy Ngọc2,  
Nguyễn Thị Kim Ngân3, Nguyễn Quang Ân4  
cố tới người nhà 14,0%, thông báo sự cố tới bác sỹ  
7,1%. Sự cố y khoa được báo cáo là vấn đề khó của  
bệnh viện, báo cáo tự nguyện đã được nhân viên y tế  
thực hiện, thông tin trong báo cáo đa phần còn chưa  
đầy đủ theo yêu cầu báo cáo.  
TÓM TẮT47  
Báo cáo sự cố y khoa là một vấn đề mới đối với y  
tế Việt Nam, minh chứng nổi bật nhất chính là số liệu  
về báo cáo sự cố y khoa của nước ta được công bố  
còn ít hơn rất nhiều so với các nước khác và so với  
thực tế nó xảy ra. Mong muốn bước đầu đưa ra  
những số liệu có cơ sở khoa học về vấn đề báo cáo sự  
cố y khoa, giúp cho công tác cải tiến chất lượng bệnh  
viện đa khoa tỉnh Phú Thọ nói riêng và chất lượng  
dịch vụ y tế nói chung cho nước nhà. Nghiên cứu mô  
tả cắt ngang phân tích số liệu thứ cấp là toàn bộ các  
báo cáo sự cố y khoa của bệnh viện từ tháng 5 năm  
2019 đến tháng 4 năm 2020. Có 365 sự cố y khoa  
được NVYT của bệnh viện báo cáo. Trong đó: Điều  
dưỡng thực hiện báo cáo 62,7%; Cán bộ thuộc  
chuyên môn khối nội báo cáo 52,6%; Hình thức báo  
cáo tự nguyện 97,5%; Một số thông tin ghi nhận  
trong báo cáo sự cố: mô tả ngắn gọn về sự cố 100%,  
xử trí ban đầu 87,9%, khoa điều trị của người bệnh  
55,6%, thông báo sự cố tới người bệnh 47,7%; ghi  
nhận sự cố vào hồ sơ bệnh án 23,8%, thông báo sự  
Từ khóa: Báo cáo sự cố y khoa.  
SUMMARY  
MEDICAL INCIDENT REPORTING AT PHU THO  
GENARAL PROVINCIAL HOSPITAL 2020  
Medical incident reports are a new issue for  
Vietnamese health, the most prominent proof is that  
the published data on medical incident reports in our  
country are much less than other countries, and it is  
different and than it actually happens. Desiring to  
initially give out scientifically based data on medical  
incident reporting, helping to improve the quality of  
Phu Tho province general hospital in particular and  
the quality of medical services in general for our  
country. The descriptive study cross-section analyzes  
the secondary data that are all hospital medical  
incident reports from May 2019 to April 2020. There  
are 365 medical incidents reported by the health  
worker of the hospital. In which: Nursing reports  
62.7%; Staff of internal expertise reports 52.6%;  
Form of voluntary reporting 97.5%; Some information  
recorded in the incident reports: brief description of  
the incident 100%, initial management 87.9%,  
patient's department 55.6%, reporting the incident to  
the patient 47.7%, record the incident in the medical  
record 23.8%, report the incident to family members  
14.0%, report the incident to the doctor 7.1%. The  
1Trung tâm y tế huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ  
2Sở y tế Phú Thọ  
3Trường đại học Y tế công cộng  
4Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Huy Ngọc  
Ngày nhận bài: 11.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 12.5.2021  
Ngày duyệt bài: 18.5.2021  
203  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
reported medical incident is a difficult problem for the  
thực trạng báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y  
hospital, the voluntary report has been done by the  
medical staff, the information in the report is mostly  
incomplete according to the reporting requirements.  
Keywords: Reporting medical incidents.  
tế bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Nghiên cứu định lượng: Số liệu thứ cấp  
báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện là các báo  
cáo sự cố y khoa trong thời gian từ 01 tháng 5  
năm 2019 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020.  
Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Từ  
tháng 3/2020 đến tháng 8/2020, tại bệnh viện  
đa khoa tỉnh Phú Thọ.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Báo cáo sự cố y khoa là việc cung cấp các  
thông tin về sự cố đã xảy ra hoặc có nguy cơ  
xảy ra trong môi trường y tế, từ đó giúp giảm  
thiểu sự cố tái diễn. Trên thế giới số lượng sự cố  
y khoa được báo cáo tại các nước là khá nhiều,  
Teryl K Nuckols công bố 184.166 sự cố tại một  
bệnh viện của Mỹ trong năm 2001, năm 2016  
Martin A Makary công bố trên John Hopkin tại  
Mỹ có 250.000 người chết mỗi năm do sự cố y  
khoa, ở Anh Cousins D. H công bố từ năm 2005  
đến năm 2010 đã có 526.186 báo cáo sự cố liên  
quan đến thuốc được báo cáo tại một bệnh viện  
1500 giường bệnh, tính ra trung bình cũng có  
87.697 sự cố liên quan đến thuốc được báo cáo  
trong 1 năm, tại Trung Quốc Gao. X công bố  
trong giai đoạn 2012–2017, 36.498 sự cố về an  
toàn bệnh nhân đã được báo cáo trên một hệ  
thống báo cáo của Trung Quốc xây dựng [6]. Tại  
Việt Nam việc báo cáo sự cố y khoa còn nhiều  
hạn chế mặc dù đã có những văn bản quy phạm  
pháp luật về vấn đề này như Thông tư số  
19/2013 và Thông tư 43/2018 của Bộ Y tế, tuy  
nhiên việc công bố số liệu về sự cố y khoa còn  
chưa được rộng rãi. Năm 2018 Phan Thị Hằng  
công bố đánh giá thực trạng báo cáo sự cố y  
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt  
ngang phân tích số liệu định lượng từ số liệu thứ  
cấp.  
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn  
toàn bộ các báo cáo sự cố y khoa được lưu trữ  
và quản lý tại phòng QLCL trong thời gian từ 01  
tháng 5 năm 2019 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020.  
Phương pháp phân tích số liệu: Tất cả các báo  
cáo trên được mở, lấy thông tin để nhập vào  
phần mềm excel và được mã hóa phân loại sự cố  
theo tiêu chí trên. Nếu trong báo cáo không có  
thông tin theo yêu cầu thì bỏ trống. Ví dụ bỏ  
trống trường người báo cáo nếu không có thông  
tin. Số liệu được chuyển sang phần mềm SPPS để  
thực hiện phân tích số liệu.Nghiên cứu sử dụng  
tần số và tỷ lệ % để mô tả tần số của các biến  
trong nghiên cứu về đánh giá thực trạng báo cáo  
gồm: Người báo cáo, phương thức báo cáo, chất  
lượng thông tin của báo cáo và nội dung các sự  
cố được báo cáo (phân loại sự cố theo nguyên  
khoa tại bệnh viện Hùng Vương - Thành phố Hồ nhân, đối tượng liên quan, cách xử lý…).  
Chí Minh ghi nhận được 1.508 sự cố được báo Vấn đề đạo đức của nghiên cứu: Nghiên cứu  
cáo trong năm 2015 và 2.063 sự cố được báo được thực hiện sau khi có sự đồng ý của Ban  
cáo trong năm 2018, trong đó đối tượng báo cáo Giám đốc bệnh viện. Kết quả sẽ được phản hồi  
sự cố chủ yếu là điều dưỡng 38% [4]. Năm 2019  
Nguyễn Thị Thu Hà nghiên cứu và công bố có  
2311 sự cố được báo cáo trong giai đoạn 2013-  
2018 tại bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí  
Quảng Ninh, đối tượng báo cáo nhiều nhất là  
điều dưỡng với 67,9%, khối chuyên môn báo  
cáo nhiều nhất là khối nội với 29,3%, hình thức  
báo cáo tự nguyện chiếm 99,6%[2]. Các nghiên  
cứu khác tại Việt Nam về vấn đề này phần lớn  
chỉ dừng lại ở góc độ đánh giá kiến thức, thái độ  
và thực hành việc báo cáo sự cố y khoa tại các  
cơ sở y tế [1]. Các tác giả trong nước và trên thế  
giới đều ghi nhận điều dưỡng là đối tượng thực  
hiện các báo cáo sự cố y khoa nhiều nhất tại các  
cơ sở y tế và việc báo cáo sự cố y khoa cũng có  
những rào cản nhất định làm ảnh hưởng tới số  
lượng và chất lượng báo cáo sự cố y khoa  
[1],[2],[3]. Vì những lý do trên chúng tôi tiến  
hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu là mô tả  
với Ban Giám đốc và toàn thể các khoa, phòng,  
trung tâm trong bệnh viện, làm cơ sở cho các  
giải pháp cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quả  
hoạt động báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện  
khi kết thúc nghiên cứu.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Trong khoảng thời gian 12 tháng từ 01 tháng  
5 năm 2019 đến 30 tháng 4 năm 2020 chúng tôi  
đã nghiên cứu toàn bộ các sự cố y khoa được  
báo cáo tại bệnh viện với số lượng là 365 sự cố  
và thu được các kết quả sau:  
3.1. Đối tượng báo cáo sự cố y khoa  
Bảng 1. Đối tượng báo cáo sự cố theo  
chức danh chuyên môn  
Đối tượng báo cáo  
Điều dưỡng  
Bác sĩ  
Số lượng Tỷ lệ %  
229  
97  
5
62,7  
26,6  
1,4  
Khác  
204  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
Kỹ thuật viên  
Hộ sinh  
Người bệnh  
4
0
0
0
30  
365  
1,1  
0,0  
0,0  
0,0  
8,2  
hiện  
Có ghi rõ đề xuất giải pháp ban  
đầu  
313  
85,8  
55,6  
Có ghi thông tin khoa điều trị của  
Người nhà người bệnh  
Không ghi nhận  
Tổng số báo cáo  
Bảng 2. Đối tượng báo cáo theo khối  
chuyên môn  
203  
189  
người bệnh  
Có xác nhận tuổi người bệnh  
Có xác nhận họ tên người bệnh 132  
Có xác nhận giới tính người bệnh 121  
Có xác nhận số hồ sơ bệnh án  
Có thông báo sự cố tới người  
bệnh  
Có ghi nhận sự cố vào hồ sơ  
bệnh án  
51,8  
36,2  
33,2  
8,8  
100,0  
32  
Đối tượng báo cáo  
theo khối  
Số  
lượng  
192  
119  
17  
6
31  
Tỷ lệ  
%
52,6  
32,6  
4,7  
1,6  
8,5  
174  
47,7  
Khối nội  
Khối ngoại  
Khối phòng ban  
Khối cận lâm sàng  
Không ghi nhận  
Tổng số báo cáo  
87  
23,8  
Có thông báo sự cố tới người nhà 51  
Có thông báo sự cố tới bác sỹ  
14,0  
7,1  
26  
365  
100,0  
IV. BÀN LUẬN  
3.2. Hình thức báo cáo sự cố y khoa  
Bảng 3. Hình thức báo cáo sự cố y khoa  
Hình thức báo cáo Số lượng Tỷ lệ %  
4.1. Đối tượng báo cáo theo chức danh  
chuyên môn. Nhiều nhất là điều dưỡng chiếm  
62,7%, điều này có thể lý giải do số lượng cán  
bộ làm chuyên môn điều dưỡng tại bệnh viện là  
nhiều nhất, đối tượng này cũng làm việc trực  
tiếp nhiều do vậy họ gặp sự cố nhiều hơn, tuy  
nhiên cũng phải nói rằng nhóm này tích cực báo  
cáo hơn nhóm chức danh khác. Nhóm bác sỹ  
báo cáo chiếm 26,6% cũng là tỷ lệ tương đương  
với tỷ lệ bác sỹ trong toàn nhân lực bệnh viện,  
chứng tỏ mặc dù số liệu báo cáo chưa nhiều  
nhưng nhóm này cũng đã chủ động báo cáo. Đối  
tượng khác chiếm tỷ lệ 1,4%, đây là các cán bộ  
thuộc khối phòng ban, cụ thể là các chức danh  
không thuộc chuyên môn lâm sàng nên số lượng  
báo cáo chưa nhiều, cũng có thể lý giải nhóm  
này chỉ làm việc gián tiếp nên sự cố họ nhìn  
nhận được không thể nhiều như đối tượng làm  
trực tiếp. Đối tượng kỹ thuật viên chiếm tỷ lệ  
1,1%, cũng là một tỷ lệ không cao số này chủ  
yếu làm kỹ thuật mà mức độ gây hại tới người  
bệnh ít hơn. Không có trường hợp báo cáo nào  
được ghi nhận là do hộ sinh, điều này được lý  
giải do từ tháng 3 năm 2019 khoa Sản của bệnh  
viện cùng khoa Nhi đã tách riêng ra Trung tâm  
Sản Nhi nay là bệnh viện Sản Nhi Phú Thọ hoạt  
động độc lập nên không ghi nhận được báo cáo  
trong nghiên cứu này. Sự cố người báo cáo  
không cung cấp thông tin chức danh có 8,2%  
điều này có thể lý giải một số trường hợp quên  
không ghi chức danh trong phiếu báo cáo, cũng  
có thể lý giải cũng còn một số cán bộ báo cáo sự  
cố chưa nghiên cứu hết các yêu cầu trong mẫu  
báo cáo mà bỏ quên thông tin này.  
Tự nguyện  
Bắt buộc  
Không ghi nhận  
Tổng số  
356  
6
97,5  
1,6  
0,8  
3
365  
100,0  
3.3. Thời gian báo cáo sự cố  
Bảng 4. Số báo cáo theo thời gian thứ  
trong tuần  
Số báo cáo theo thứ Số lượng Tỷ lệ %  
Thứ Hai  
Thứ Ba  
Thứ Tư  
Thứ Năm  
Thứ Sáu  
Thứ Bảy  
Chủ Nhật  
109  
93  
40  
38  
57  
4
6
18  
365  
29,9  
25,5  
11,0  
10,4  
15,6  
1,1  
1,6  
4,9  
100,0  
Không ghi nhận  
Tổng số mẫu báo cáo  
Bảng 5. Khoảng thời gian báo cáo sự cố  
trong ngày  
Mốc thời gian báo cáo Số lượng Tỷ lệ %  
0-6h  
6-12h  
12-18h  
18-24h  
0
231  
115  
1
18  
365  
0,0  
63,3  
31,5  
0,3  
4,9  
100,0  
Không ghi nhận  
Tổng số  
3.4. Đặc điểm thông tin trong các sự cố  
được báo cáo  
Bảng 6. Đặc điểm thông tin về mô tả, xử  
trí và đề xuất giải pháp khi gặp sự cố trong  
các sự cố được báo cáo  
Số  
Tỷ  
Đặc điểm thông tin  
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu  
Hà tại bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí từ  
năm 2013-2019 thì Điều dưỡng/Hộ sinh/Kỹ thuật  
lượng lệ%  
Có mô tả ngắn gọn về sự cố  
Có ghi rõ xử trí ban đầu đã thực 321  
365 100,0  
87,9  
205  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
viên là đối tượng có tỷ lệ báo cáo quản lý chất xảy ra nhiều ở nơi liên quan tới phẫu thuật, tuy  
nhiên trong nghiên cứu này số lượng sự cố được  
khối ngoại báo cáo ít hơn hẳn của khối nội,  
chứng tỏ việc báo cáo sự cố y khoa của khối  
ngoại còn chưa đúng với thực tế vốn có của nó.  
Theo quy định của bệnh viện thì: Người báo cáo  
sự cố y khoa là người gây ra sự cố hoặc người  
phát hiện, chứng kiến sự cố. Sự cố có thể xảy ra  
tại đơn vị mình hoặc phát hiện ở đơn vị khác  
trong bệnh viện. Số liệu phòng quản lý chất  
lượng báo cáo phần lớn là sự cố y khoa từ các  
khoa, phòng trong bệnh viện liên quan đến chức  
năng giám sát, phát hiện vấn cần cải tiến chất  
lượng trong bệnh viện của phòng quản lý chất  
lượng và bao gồm cả sự cố của phòng như thực  
hiện sai, thực hiện chưa đúng quy trình, quy  
định của Bộ y tế, bệnh viện... Mặt khác, nhân  
viên phòng quản lý chất lượng còn có cả yếu tố  
nêu gương trong báo cáo quản lý chất lượng.  
Căn cứ vào số liệu báo cáo sự cố của từng khoa,  
phòng, đơn vị trong bệnh viện nhận thấy số  
khoa thuộc khối nội thực hiện công tác báo cáo  
sự cố nhiều hơn hẳn các khoa, đơn vị thuộc khối  
ngoại 18/12 (số đơn vị nội/ngoại của bệnh viện  
là: 23/12), điều này chứng tỏ đã có 100% các  
khoa lâm sàng khối ngoại đã thực hiện báo cáo,  
còn các khoa lâm sàng khối nội chỉ có 18/23  
khoa có báo cáo, trong khi đó chỉ có một khoa  
cận lâm sàng thực hiện việc báo cáo sự cố đó là  
khoa chẩn đoán hình ảnh, vậy câu hỏi ở đây là  
các khoa cận lâm sàng khác liệu có xảy ra sự cố  
hay không? Hay sự cố xảy ra không được ghi  
nhận, không được báo cáo.  
lượng cao nhất (67,9%), báo cáo đều trong 6  
năm nghiên cứu, họ cũng là đối tượng đầu tiên  
báo cáo sự cố trong bệnh viện (các sự cố năm  
2013, 2014) [2].  
Theo tác giả AbuAlRub RF và cộng sự nghiên  
cứu năm 2015 thì các điều dưỡng nhận thức rõ  
hơn về hệ thống báo cáo sự cố hơn các bác sĩ.  
Các bác sĩ ít có khả năng báo cáo bất kỳ sự cố  
nào trong 50% hoặc nhiều lần [5]. Năm 2015  
tác giả Toyabe s và cộng sự đã có nghiên cứu về  
báo cáo sự cố ngã của người bệnh chỉ ra là  
khoảng 25% các tỷ lệ té ngã được ghi nhận đã  
không được báo cáo trong các báo cáo sự cố và  
bác sĩ được chứng minh là các yếu tố quan trọng  
liên quan đến việc không báo cáo [7].  
So sánh với nghiên cứu của Trần Thị Bích Bo  
tiến hành 2017 tại bệnh viện Thủ Đức, nhóm bác  
sỹ tại bệnh viện này có thái độ tích cực báo cáo  
hơn nhóm điều dưỡng [1]. Theo tác giả Nguyễn  
Thị Kim Yến nghiên cứu năm 2015 thì nữ hộ sinh  
tin rằng sẽ báo cáo khi có sự cố và đã từng báo  
cáo từ một sự cố cao hơn bác sĩ [4]. Số báo cáo  
bởi bác sỹ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ  
thấp hơn số báo cáo bởi Điều dưỡng thì nhiều  
hơn nhiều và các đối tượng khác còn rất hạn chế  
tương tự so với nghiên cứu của các tác giả tại  
các bệnh viện khác. Điều dưỡng của bệnh viện  
cũng có một tỷ lệ cao là các điều dưỡng đại học  
được đào tạo bài bản tại các trường đại học ở  
khu vực phía Bắc. Họ cũng là những người có  
thời gian bên cạnh, chăm sóc người bệnh nhiều  
hơn do vậy việc nắm bắt tình trạng người bệnh,  
diễn biến, sự cố xảy ra với người bệnh sớm hơn  
bác sỹ. Bác sỹ có tỷ lệ báo cáo quản lý chất  
lượng thấp hơn các nghiên cứu tại các bệnh viện  
khác bởi số lượng bác sỹ của bệnh viện không  
cao so với tiêu chuẩn nhân lực của Bộ y tế, thời  
gian tiếp xúc trực tiếp với người bệnh ít hơn so  
với điều dưỡng.  
4.2. Đối tượng báo cáo theo khối chuyên  
môn. Nhân viên y tế khối nội có số lượng báo  
cáo vượt chội so với cán bộ của các khối khác,  
tiếp đến là khối ngoại, và đặc biệt khối phòng  
ban là khối làm gián tiếp lại có số lượng báo cáo  
nhiều hơn cả khối cận lâm sàng. Mặc dù số  
lượng cán bộ của khối Nội chỉ nhiều hơn khối  
Ngoại khoảng 5%, nhưng số lượng sự cố được  
báo cáo thì nhiều hơn hẳn, điều này không nói  
lên được rằng khối nội nhiều sự cố hơn mà có  
thể do cán bộ của khối nội quan tâm nhiều hơn  
về việc báo cáo sự cố y khoa. Theo nghiên cứu  
của Phạm Đức Mục, Lương Ngọc Khuê, Margaret  
Chen và một số tác giả khác, thì sự cố y khoa  
4.3. Hình thức báo cáo sự cố y khoa.  
Trong số các sự cố được báo cáo thì hình thức  
tự nguyện được ghi nhận nhiều nhất tới gần  
97,5% các sự cố, trong số các sự cố bắt buộc  
phải báo cáo đều đúng theo quy định của Bộ y  
tế. Kết quả này của chúng tôi tương đồng với  
nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà với 99% là  
báo cáo tự nguyện, và phần lớn báo cáo trong  
nghiên cứu của Lê Thanh Tùng là báo cáo tự  
nguyện, các tác giả khác như Trần Thị Bíc Bo,  
Nguyễn Thị Mỹ Linh, Nguyễn Thị Kim Yến,  
Sinclair, Bond cũng cho nhận định tương tự  
4.4. Vấn đề thời gian báo cáo sự cố  
- Thời gian báo cáo theo các thứ trong tuần:  
Nhận thấy thời gian báo cáo vào ngày Thứ Hai  
trong tuần của các báo cáo của bệnh viện đa  
khoa tỉnh Phú Thọ chiếm nhiều nhất với tỷ lệ  
29,9%, Thứ Tư là ngày có ít báo cáo nhất với  
1,1% sự cố được ghi nhận vào ngày này. Nhận  
định về vấn đề này cho thấy có lẽ sự liên quan tới  
206  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
chu kỳ làm việc của bệnh viện, trong đó đặc biệt kết quả của chúng tôi tỷ lệ cung cấp đầy đủ còn  
là việc nắm bắt việc triển khai các công việc của thấp trong đó có việc xác nhận sự cố vào hồ sơ  
bệnh viện thông thường trong buổi giao ban chiều  
thứ sáu toàn viện có việc thông báo các nội dung  
yêu cầu trong tuần tới, ngoài ra còn có báo cáo  
và các khuyến cáo về việc thực hiện việc báo cáo  
sự cố y khoa theo hướng dẫn của Bộ y tế. Do vậy  
sáng ngày thứ 2 khi giao ban các khoa, phòng,  
đơn vị thường phổ biến lại để cán bộ nắm bắt và  
triển khai, có lẽ vì thế nên sự cố được báo cáo  
nhiều hơn vào ngày thứ hai tại bệnh viện đa khoa  
tỉnh Phú Thọ. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà nghiên  
cứu thấy thời gian báo cáo theo thứ đồng đều  
giữa các ngày trong tuần. Các nghiên cứu trong  
và ngoài nước chưa tìm thấy có nghiên cứu nào  
nói tới vấn đề này [2],[4],[6].  
- Khoảng thời gian báo cáo được thực hiện  
trong ngày: Cung giờ từ 6-12h là cung giờ báo  
cáo được thực hiện nhiều nhất, điều này chứng  
tỏ cán bộ đã ý thức được việc báo cáo ngay từ  
bắt đầu khoảng thời gian làm việc trong ngày.  
Tiếp theo là cung giờ buổi chiều, chỉ có 1 sự cố  
được báo cáo ở cung giờ 18-24h và không có sự  
cố nào được báo cáo trong khoảng thời gian từ  
0-6h. Qua đây nhận thấy việc báo cáo sự cố của  
cán bộ chưa thực sự thường trực. Thông thường  
công việc chuyên môn tại bệnh viện thường ít  
hơn vào buổi chiều, tuy nhiên qua đây thêm  
nhận định về việc báo cáo sự cố chưa chắc có sự  
liên quan tới số lượng công việc. Vấn đề này  
cũng chưa được ghi nhận trong các nghiên cứu  
được tham khảo.  
4.5. Đặc điểm thông tin trong các sự cố  
được báo cáo. Thông tin được cán bộ báo cáo  
thực hiện đầy đủ nhất đó là mô tả ngắn gọn về  
sự cố với tỷ lệ 100% các sự cố có thông tin này,  
đây là việc rất quan trọng nhằm giúp cho bộ  
phận đầu mối phân tích được tình huống, điều  
này chứng tỏ các cán bộ thực hiện báo cáo đã  
rất quan tâm tới tính huống xảy ra sự cố. Tác giả  
Nguyễn Thị Thu Hà cho biết trong nghiên cứu  
của mình thông tin này được cung cấp tới  
99,6%, các tác giả Dương Minh Đức, Nguyễn Thị  
Kim Yến, Nguyễn Thị Thu, Trần Thị Bích Bo cũng  
cho kết quả phỏng vấn cán bộ nhận thức về việc  
phải mô tả tình huống tới 100%. Các thông tin  
đề xuất giải pháp ban đầu và giải pháp đã thực  
hiện cũng được các báo cáo ghi khá đầy đủ tới  
85-87% các sự cố, điều này chứng tỏ việc sự cố  
xảy ra đã được cán bộ rất để tâm vào việc xử trí  
ngay và rất có ý thức báo cáo lại nội dung này.  
Tỷ lệ này trong các nghiên cứu của các tác giả  
trong nước cũng rất cao Nguyễn Thị Thu Hà tới  
99%... Riêng các thông tin khác cần cung cấp thì  
bệnh án và báo cho bác sỹ được ghi nhận rất  
thấp, chỉ 7-9% số sự cố được ghi nhận thông tin  
này. Điều này chứng tỏ các sự cố xảy ra thường  
được nhân viên chủ động xử trí mà chưa có sự  
báo cáo và ghi nhận lại vào căn cứ điều trị cho  
người bệnh, đây cũng là một trong các lý do mà  
sự cố xảy ra ít ghi nhận được trên hồ sơ bệnh  
án.Về việc thông báo sự cố tới người bệnh và  
người nhà cũng khác nhau trong khi có 47,7%  
sự cố được thông báo tới người bệnh thì trong  
số đó chỉ có 14% sự cố được thông báo tới  
người nhà, điều này qua PVS có một số cán bộ  
cho rằng khi có sự cố xảy ra cần giải thích trước  
tiên cho người bệnh để người bệnh hợp tác sau  
mới tới người nhà. Các thông tin khác cũng  
không được báo cáo một cách đầy đủ trong  
phiếu báo cáo. Nguyễn Thị Thu Hà nghiên cứu  
thấy việc báo cáo các thông tin này trong nghiên  
cứu của mình là khá cao tới 99% sự cố có ghi  
nhận vào hồ sơ và 25% sự cố được thông báo  
cho người nhà. Các tác giả khác trong nước cũng  
chưa thấy công bố số liệu này. Năm 2015 tác giả  
Mira JJ và cộng sự nghiên cứu trên 1087 chuyên  
gia y tế, chỉ có 430 chuyên gia y tế (39,6%) đã  
thông báo cho người bệnh về một lỗi/một sự cố  
xảy ra [2],[4],[8].  
V. KẾT LUẬN  
Trong vòng 12 tháng của năm 2019 và năm  
2020 bệnh viện ghi nhận được 365 sự cố y khoa  
được báo cáo do nhân viên y tế tự nguyện báo  
cáo. Một số kết luận chính về thực trạng báo cáo  
sự cố y khoa trong nghiên cứu chúng tôi xin  
được tóm tắt như sau: Báo cáo sự cố y khoa là  
vấn đề khó tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ;  
Điều dưỡng là đối tượng thực hiện báo cáo  
62.7%;Cán bộ thuộc chuyên môn khối nội có số  
lượng báo cáo 52.6%;Báo cáo tự nguyện 97.5%;  
Thời gian báo cáo vào ngày Thứ Hai 29.9%;  
Thông tin cung cấp trong báo cáo sự cố phần  
lớn chưa đầy đủ, trong đó mô tả ngắn gọn về sự  
cố trong phiếu báo cáo 100%.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trần Thị Bích Bo (2017), "Nghiên cứu về kiến  
thức hành vi thái độ của nhân viên y tế về báo cáo  
sự cố y khoa tại bệnh viện Thủ Đức năm 2017",  
Luận văn thạc sỹ.  
2. Nguyễn Thị Thu Hà (2019), "Thực trạng báo  
cáo sự cố y khoa và một số yếu tố ảnh hưởng tại  
bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí giai đoạn  
2013-2019". Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện.  
3. Phan Thị Hằng (2018), "Đánh giá thực trạng  
báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện Hùng Vương -  
207  
     
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
Thành phố Hồ Chí Minh", Diễn đàn QLCL- Cục  
24(19-20), tr. 2973-82.  
Quản lý KCB lần thứ 4.  
6. X. Gao, et al (2019), "Implications from China  
patient safety incidents reporting system", Ther  
Clin Risk Manag. 15, tr. 259-267.  
4. Nguyễn Thị Kim Yến (2015), "Nghiên cứu phân  
tích hành vi báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện Từ  
Dũ", Luận văn thạc sỹ.  
5. R. F. AbuAlRub, N. A. Al-Akour, N. H. Alatari  
(2015), "Perceptions of reporting practices and  
barriers to reporting incidents among registered  
nurses and physicians in accredited and  
nonaccredited Jordanian hospitals", J Clin Nurs.  
7. S. Toyabe (2015), "Characteristics of Inpatient  
Falls not Reported in an Incident Reporting  
System", Glob J Health Sci. 8(3), tr. 17-25.  
8. J. Mira et al (2014), "Hospital Reputation and  
Perceptions of Patient Safety", Medical Principles  
and Practice. 23(1), tr. 92-94.  
TÌNH TRẠNG KIỆT SỨC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN  
TÌNH TRẠNG KIỆT SỨC CỦA NHÂN VIÊN CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH  
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP - HẢI PHÒNG NĂM 2020  
Nguyễn Bảo Trân1, Nguyễn Thị Thu Hương1,  
Phạm Minh Khuê1, Vũ Hải Vinh2  
or qualifications, working time. Gender does not affect  
TÓM TẮT48  
the radiologist's exhaustion.  
Nghiên cứu cắt ngang mô tả nhằm mục đích  
nghiên cứu tình trạng kiệt sức và các yếu tố liên quan  
đến tình trạng kiệt sức của nhân viên chẩn đoán hình  
ảnh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, Hải Phòng. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhân viên bị kiệt sức  
cao là 20,2%, trung bình là 32,9% và thấp là 46,9%.  
Mức độ kiệt sức của đối tượng nghiên cứu ở mức độ  
trung bình (3,09 ± 1,42). Theo đặc điểm cá nhân, yếu  
tố ảnh hưởng nhiều đến tình trạng kiệt sức của nhân  
viên là số ngày trực trong tuần (β = 0,45; p = 0,001).  
Một số yếu tố ảnh hưởng một phần đến tình trạng kiệt  
sức của nhân viên như tuổi hay trình độ chuyên môn,  
thời gian công tác. Yếu tố giới không ảnh hưởng đến  
tình trạng kiệt sức của nhân viên chẩn đoán hình ảnh.  
Từ khóa: burnout, kiệt sức, nhân viên chẩn đoán  
hình ảnh  
Keywords: burnout, exhaustion, radiology  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thuật ngữ “burnout” được nhà tâm lý học  
người Mỹ Freudenberger đưa ra vào năm  
1974 [1]. Ông sử dụng nó để mô tả hậu quả của  
việc căng thẳng nghiêm trọng và kiệt sức là một  
khái niệm trong căng thẳng nghề nghiệp. Kiệt  
sức nghề nghiệp là tình trạng căng thẳng kéo dài  
liên quan đến công việc.  
Bộ công cụ thường được sử dụng để đo  
lường tình trạng kiệt sức là Maslach Burnout  
Inventory (MBI). Trong đó Maslach Burnout  
Inventory - General Survey (MBI-GS) [2] là  
thang đo được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu  
tình trạng kiệt sức trên nhiều môi trường làm  
việc và văn hóa khác nhau.  
Tất cả các ngành nghề đều có thể gặp tình  
trạng kiệt sức, nhưng một số nghề nhất định có  
nguy cơ rõ rệt như nghề chăm sóc sức khỏe [3].  
Sự tiếp xúc liên tục giữa nhân viên y tế và bệnh  
nhân với các vấn đề tâm lý, thể chất và xã hội  
liên quan của họ có thể khiến đối tượng này bị  
căng thẳng nhiều hơn so với các nghề khác và  
dễ bị kiệt sức [3]. Do đó, cần có thêm các cuộc  
điều tra về mức độ phổ biến của tình trạng kiệt  
sức trong ngành nghề này. Hầu hết các nghiên  
cứu đã được thực hiện về tỷ lệ kiệt sức của các  
bác sỹ, điều dưỡng, bác sỹ và kỹ thuật viên xạ  
trị [4,5]. Ngoài ra, kết quả của các nghiên cứu  
khác cho thấy một số yếu tố như tuổi tác, giới  
tính, giờ làm việc mỗi tuần và kinh nghiệm làm  
việc đóng vai trò quan trọng trong mức độ kiệt  
sức trong nghề nghiệp [6].  
SUMMARY  
BURNOUT AND RELATED FACTORS OF  
RADIOLOGISTS IN VIET TIEP HOSPITAL,  
HAI PHONG - VIETNAM 2020  
This research aimed to study burnout and factors  
related to burnout state of radiologists in Viet Tiep  
general hospital, Hai Phong. The study results showed  
that the percentage of employees suffering from  
burnout was high at 20.2%, the average was 32.9%  
and the low was 46.9%. The exhaustion level of study  
subjects was moderate (3.09 ± 1.42). According to  
personal characteristics, the most influential factor  
affecting employee exhaustion is the number of days  
on duty per week (β = 0.45; p = 0.001). Some factors  
partly affect the exhaustion of employees such as age  
1Trường Đại Học Y Dược Hải Phòng  
2Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp, Hải Phòng  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Bảo Trân  
Ngày nhận bài: 10.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 10.5.2021  
Ngày duyệt bài: 17.5.2021  
208  
         
pdf 6 trang yennguyen 15641 Free
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_su_co_y_khoa_tai_benh_vien_da_khoa_tinh_phu_tho_nam.pdf