Kiến thức và sự hỗ trợ của người chồng trong thực hành nuôi con bằng sữa mẹ có vợ đẻ thường tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
KIẾN THỨC VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA NGƯỜI CHỒNG  
TRONG THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CÓ VỢ ĐẺ THƯỜNG  
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG  
Vũ Thị Lệ Hiền1, Phạm Thị Thanh Hương1,  
Nguyễn Thị Thanh Tâm2  
1Đại học Điều dưỡng Nam Định  
2Bệnh viện Phụ sản Trung Ương  
TÓM TẮT  
sau sinh) giúp trẻ có nhiều sữa hơn. Có  
13,6% / 13% (Nông thôn.thành thị). không  
biết lợi ích nào của BSSS. Kích thích tiết  
sữa về, thông tia sữa (50,6% / 56%). có  
(34,1%/ 25,9%). người chồng không biết  
đến một lợi ích nào của BSSS với vợ của  
họ. Người chồng biết đúng NCBSM hoàn  
toàn là 75,3% Thời gian, tần suất cho con  
bú là 83,5%/ 97,0%. Nhóm người chồng  
có con lần 2 có tỉ lệ biết về các kiến thức  
này (85,1% và 97,7%).68% cho rằng thời  
gian ở viện chăm vợ là hợp lý. Lý do gặp  
nhiều nhất dẫn đến thời gian chăm sóc vợ  
ít tại bệnh viện là do người chồng phải đi  
làm (61%). Kết luận: Cần tổ chức lớp tiền  
sản bằng nhiều hình thức để cung cấp kiến  
thức và làm rõ vai trò của người chồng  
trong việc trợ giúp vợ thực hành NCBSM.  
Mục tiêu: Mô tả kiến thức về Nuôi con  
bằng sữa mẹ (NCBSM) và sự hỗ trợ của  
người chồng trong thực hành NCBSM tại  
bệnh viện Phụ sản Trung ương (BVPSTW)  
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng  
cao kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ của  
người chồng trong thực hành NCBSM.  
Đối tượng và phương pháp nghiên  
cứu: Mô tả cắt ngang, sử dụng bộ câu  
hỏi dành cho 369 người chồng từ 18 tuổi  
trở lên có vợ vừa sinh con tại khoa Sản  
thường tại BVPSTW trong thời gian từ 11  
tháng 6 năm 2020 đến 10 tháng 7 năm  
2020. Kết quả: Người chồng có độ tuổi từ  
25 đến 34 chiếm tỉ lệ 68,3%. 52,3% sống  
ở nông thôn. 62,9% biết cần cho con bú  
sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh. và  
biết tên gọi sữa non/sữa đầu là 73,7%. Có  
67,6 % người chồng Ở nông thôn biết lợi  
Từ khóa: Nuôi con bằng sữa mẹ, kiến  
ích bú sữa non, 30,7% biết BSSS (bú sớm thức-thực hành nuôi con bằng sữa mẹ.  
KNOWLEDGE AND SUPPORT IN BREASTFEEDING PRACTICE  
FROM THE HUSBANDS WHOSE WIVES GIVING NATURAL BIRTH AT THE  
NATIONAL HOSPITAL OBSTETRICS AND GYNECOLOGY  
ABSTRACT  
Objective: To describe the knowledge Hospital Obstetrics and Gynecology and  
of breastfeedithe husband’s support in propose some solutions to improve the  
breastfeeding practice at the National husband’s knowledge and support in  
breastfeeding practice. Method: Cross-  
sectional study, use questionnaires for  
Người chịu trách nhiệm: Vũ Thị Lệ Hiền  
Email: hienbmsan@gmail.com  
Ngày phản biện: 18/5/2021  
Ngày duyệt bài: 25/5/2021  
Ngày xuất bản: 28/6/2021  
369 husbands from18 years old and older  
whose wives had just given birth at the  
Normal Obstetric Ward at the National  
Hospital Obstetrics and Gynecology from  
June 11, 2020 to July 10, 2020. Results:  
20  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 02  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
The percentage of husband from 25 to  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
34 years old accounts for 68.3%. 52.3%  
of the husbands live in rural areas.  
62.9% of the husbands know that their  
children need to be breastfed early  
within the first hour after birth. And the  
percentage of husbands who know the  
name colostrum / colostrum is 73.7%.  
There are 67.6% of husbands in rural  
areas know the benefits of colostrum  
breastfeeding, 30.7% of whom know  
that breastfeeding soon after birth  
helps children have more milk. There  
are 13.6% and 13% (respectively rural  
area, urban are) of the husbands who do  
not know any benefits of breastfeeding  
soon after birth. The number of the  
husbands who know about the beast  
milk stimulation, clears milk ducts is  
respectively 50.6% and 56%. 34.1% and  
25.9% of the husbands do not know any  
benefits of breastfeeding soon after birth  
to their wives. The number of husbands  
who knows about beastfeeding correctly  
is 75.3%. The number of whom khows  
about the time and frequency of  
breastfeeding is respectively 83.5%  
and 97.0%. The percentage of the  
husband having children for the second  
time has the rate of knowing about the  
time and frequency of breastfeeding is  
respectively 85.1% and 97.7%.68% of  
them think that the time at the hospital  
to take care of their wives is reasonable.  
The most common reason for less time  
to care of their wives at the hospital is  
that they have to work which accounts  
for 61%. Conclusion: It is necessary to  
organize prenatal classes in many ways  
to provide knowledge and clarify the role  
of the husband in helping their wives to  
practice breastfeeding  
NCBSM đã được khẳng định là phương  
cách tốt nhất đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.  
Đặc biệt, cho con bú sớm ngay trong giờ  
đầu tiên sau sinh rất hiệu quả trong giảm  
tỷ lệ tử vong sơ sinh. Tuy nhiên tỉ lệ này ở  
Việt Nam hiện nay là rất thấp. Một nghiên  
cứu tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội thì tỷ lệ  
bú sớm sau sinh (BSSS) là 33,8% [1].Trên  
thế giới, nhiều nghiên cứu đã khẳng định  
việc cho con bú sớm và bú mẹ hoàn toàn  
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: rào  
cản văn hóa, tôn giáo [2]; áp lực gia đình,  
quan điểm sai lầm của bà mẹ về thực hành  
dinh dưỡng cho trẻ nhỏ [3]. Nghiên cứu  
này cũng chỉ ra rằng người chồng có vai  
trò quan trọng trong hỗ trợ NCBSM. Thực  
hành NCBSM thành công phụ thuộc đáng  
kể vào sự hỗ trợ về tâm lý, tình cảm của  
người chồng đối với vợ [4]. Đồng thời  
NCBSM cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi  
người chồng không đồng tình với việc cho  
con bú [5].  
Chưa có một nghiên cứu nào về vai  
trò của người chồng đối với thực hành  
NCBSM tại một bệnh viện lớn, tuyến trung  
ương cũng như kiến thức,sự hỗ trợ của họ  
về vấn đề này.vì thế chúng tôi tiến hành  
thực hiện nghiên cứu: “Kiến thức và sự  
hỗ trợ của người chồng trong thực hành  
NCBSM có vợ đẻ thường tại bệnh viện  
Phụ sản Trung ương” với mục tiêu: “Mô  
tả kiến thức,và sự hỗ trợ của người chồng  
trong thực hành NCBSM tại bệnh viện Phụ  
sản Trung ương” và đề xuất một số giải  
pháp nhằm nâng cao kiến thức về NCBSM  
và sự hỗ trợ của người chồng trong thực  
hành NCBSM.  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng:  
- Nam giới từ 18 tuổi trở lên có vợ vừa  
sinh con tại khoa Sản thường bệnh viện  
Keywords: Breastfeeding, knowledge-  
practice of breastfeeding  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 02  
21  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
Phụ sản Trung ương trong thời gian nghiên  
3. KẾT QUẢ  
cứu có đủ sức khỏe và đồng ý tham gia  
nghiên cứu.  
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng  
nghiên cứu  
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
Bảng 1. Thông tin chung về  
người chồng (n=369)  
Từ 11 tháng 6 năm 2020 đến 10 tháng  
7 năm 2020 tại khoa Sản thường BVPSTW  
Đặc điểm  
SL  
TL %  
2.3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu  
cắt ngang có phân tích .  
Nhóm tuổi chồng:  
18 – 24  
26  
252  
91  
7,0  
68,3  
24,7  
2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:  
2.4.1. Cỡ mẫu  
25 – 34  
≥ 35  
Theo công thức:  
Trình độ học vấn:  
Tiểu học, trung học cơ sở 167  
Trung học phổ thông  
Cao đẳng, đại học  
Trên đại học  
21  
5,6  
45,3  
43,1  
6,0  
p(1− p)  
159  
22  
n = Z 2  
(1−α / 2)  
d 2  
Trong đó: n: Cỡ mẫu tối thiểu, z: Hệ số  
tin cậy. Với mức ý nghĩa α = 95% thì z =1,96  
Nghề nghiệp:  
Nông nghiệp  
Công nhân, thợ thủ công 60  
Buôn bán, dịch vụ  
Cán bộ/ công chức  
Lao động tự do  
37  
56  
10,0  
15,2  
16,3  
39,5  
19  
p = 0,6 (tỷ lệ người chồng có kiến thức  
chưa tốt về NCBSM là 60% theo nghiên  
cứu của Vũ Thị Hà năm 2014 [2])  
146  
70  
d = 0,05 (sai số chấp nhận được) Như  
vậy ta có cỡ mẫu là 369 người chồng.  
Nơi cư trú:  
Thành thị  
Nông thôn  
176  
193  
47,7  
52.3  
2.4.2. Cách chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu  
nhiên hệ thống  
Nhận xét: độ tuổi từ 25 đến 34 chiếm tỉ  
lệ cao nhất với 68,3%, trình độ THPT chiếm  
45,3%, cán bộ, công chức chiếm 39,5 và có  
52,3% cặp vợ chồng sống ở nông thôn.  
2.5. Công cụ thu thập số liệu  
- Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi dành  
cho người chồng đã được chỉnh sửa cho  
phù hợp với nghiên cứu dựa trên mục tiêu  
nghiên cứu  
3.2. Kiến thức về NCBSM và sự hỗ trợ  
của người chồng trong NCBSM  
- Bộ câu hỏi phát vấn dành cho người  
chồng gồm:  
Bảng 2. Kiến thức của người chồng  
về BSSS (n=369)  
+ Thông tin chung của người chồng,  
người mẹ, trẻ, đặc điểm hộ GĐ  
Kiến thức của người  
SL  
TL %  
chồng về BSSS  
+ Thông tin kiến thức về NCBSM.  
+ Thông tin về hỗ trợ vợ NCBSM  
Biết thời điểm cho con  
BSSS  
Biết trong vòng 1 giờ  
đầu  
Không biết, khác  
Biết gọi tên sữa non/  
sữa đầu  
232  
137  
62,9  
37,1  
+ Thông tin về sự hỗ trợ của người  
chồng trong thực hành NCBSM của vợ.  
2.6. Thu thập, xử lý số liệu  
Số liệu được mã hóa nhập và xử lý  
bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích  
bằng phần mềm SPSS 16.0  
272  
97  
73,7  
26,3  
Biết  
Không biết  
22  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 02  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
Nhận xét: có 62,9% người chồng biết cần cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau  
sinh. Số người cha biết tên gọi sữa non/sữa đầu là 73,7% cao hơn hẳn số người chồng  
không biết kiến thức này (26,3%).  
Biểu đồ 1. Hiểu biết của người chồng về lợi ích của BSSS đối với trẻ  
Nhận xét: Có đến 67,6 % người chồng ở nông thôn biết đến lợi ích bú sữa non, 30,7%  
biết BSSS giúp trẻ có nhiều sữa hơn,chỉ 2,8% biết giúp giữ ấm cho trẻ, 7,4% biết tống  
phân su nhanh. Một tỉ lệ không nhỏ người chồng không biết lợi ích nào của BSSS đối với  
trẻ: ở nông thôn là 13,6%, ở thành thị là 13%.  
Biểu đồ 2. Hiểu biết của người chồng về lợi ích của BSSS đối với mẹ  
Nhận xét: Kiến thức được nhiều người chồng biết đến nhất là kích thích tiết sữa về,  
thông tia sữa (50,6% ở nông thôn và 56% ở thành thị). giúp tử cung co hồi nhanh rất quan  
trọng nhưng tỉ lệ biết về kiến thức này lại thấp (17,6%/25,4%). Và người chồng không biết  
đến một lợi ích nào của BSSS dành cho vợ của họ ( 34,1%/ 25,9%).  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 02  
23  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
Bảng 3. Một số kiến thức về NCBSM và thứ tự lần sinh của trẻ  
Thứ tự lần sinh trẻ  
Đặc điểm  
Tổng  
p
Con thứ 2  
trở lên  
n (%)  
Con đầu  
n (%)  
Định nghĩa bú mẹ hoàn toàn  
Chỉ bú mẹ không ăn uống thêm 106 (72,1) 172 (77,5) 278 (75,3) 0,147  
Khác, không biết 41 (27,9) 50 (22,5) 91 (24,4)  
Nên cho bú cả ngày và đêm  
Có 120 (81,6) 189 (85,1) 309 (83,5)  
0,226  
Không, không biết 27 (18,4) 33 (14,9) 60 (16,5)  
Tần suất cho con bú  
3 tiếng/lần, theo nhu cầu của trẻ 141 (95,9) 217 (97,7) 358 (97,0)  
Khác, không biết 6 (4,1) 5 (2,3) 11 (3,0)  
0,095  
Nhận xét: Tỉ lệ người chồng biết đúng khái niệm bú mẹ hoàn toàn là 75,3% và có vợ  
sinh con lần thứ 2 trở lên biết kiến thức này (77,5%) Thời gian, tần suất cho con bú là  
83,5% và 97,0%. Nhóm người chồng có con lần 2 có tỉ lệ biết về các kiến thức này (85,1%  
và 97,7%) cao hơn nhóm có con lần đầu (81,6% và 95,9%). Tuy nhiên sự khác biệt không  
có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.  
Bảng 4. Về việc chăm sóc vợ tại bệnh viện (n = 369)  
Đặc điểm  
SL  
TL %  
Người chăm sóc vợ tại bệnh viện:  
Một mình người chồng  
6
1,6  
Có thêm người khác chăm sóc  
363  
98,4  
Nhiều  
18  
4,9  
Quan điểm về thời gian chăm sóc vợ  
tại bệnh viện  
Ít  
100  
251  
27,1  
68,0  
Hợp lý  
Nhận xét: Ngoài chồng ra còn nhận được sự chăm sóc của người thân khác tỉ lệ này  
là 98,4%. Quan điểm của người chồng về thời lượng chăm vợ tại bệnh viện được chia  
thành 3 nhóm. Nhóm cho rằng thời gian mình chăm vợ tại viện là nhiều chỉ chiếm 4,9%,  
đa số cho rằng lượng thời gian mình ở viện chăm vợ là hợp lý (68%), còn có 27,1% cho  
rằng thời gian chăm vợ tại viện là chưa đủ.  
24  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 02  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
Biểu đồ 3. Lý do cản trở người chồng chăm sóc vợ tại bệnh viện  
Nhận xét: Lý do gặp nhiều nhất dẫn đến thời gian chăm sóc vợ ít tại bệnh viện là do  
người chồng phải đi làm (61%). Tỷ lệ người chồng đi chơi với bạn vì yên tâm có người  
khác chăm sóc vợ mình tại bệnh viện rất thấp.  
4. BÀN LUẬN  
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng  
nghiên cứu  
viện Phụ sản Trung ương muốn đạt được  
và bước đầu khẳng định thành công của  
bệnh viện trong lĩnh vực chỉ đạo tuyến mà  
Bộ Y tế giao phó.  
Ngiên cứu của chúng tôi thực hiện trên  
những nam giới có vợ đến sinh con tại  
bệnh viện Phụ sản Trung ương. Phần lớn ở  
độ tuổi khuyến khích sinh đẻ, từ 25 đến 34  
tuổi với 60,2% là có con thứ 2 trở lên.  
.4.2. Kiến thức của người chồng về  
nuôi con bằng sữa mẹ  
Kiến thức của người chồng là yếu tố cốt  
lõi ảnh hưởng đến thái độ và sự hỗ trợ của  
họ trong thực hành NCBSM.Theo nghiên  
cứu của Vũ Thị Hà chỉ có 44,1% người  
chồng biết nên cho con bú sớm trong vòng  
1 giờ sau sinh [6]. Trong khi nghiên cứu  
của chúng tôi có 62,9%. Sự khác biệt này  
có thể là do thời điểm phỏng vấn ĐTNC  
của 2 nghiên cứu là khác nhau. Nghiên  
cứu của chúng tôi hỏi người chồng ngay  
tại thời điểm ra viện nên người chồng nắm  
bắt và nhớ tốt kiến thức hơn nghiên cứu  
của Vũ Thị Hà tại thời điểm trẻ đã được  
Tỉ lệ người chồng đến từ nông thôn tới  
52,3%, phần lớn là có vợ được chuyển  
từ tuyến dưới lên với nguy cơ thai nghén  
cao do ngiên cứu của chúng tôi tại bệnh  
viện tuyến trên. Điều này cũng phù hợp  
với nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Hà  
Nội năm 2013 chỉ có 2/3 số sản phụ đến  
đẻ là ở nội thành [1]. Có thể nói rằng hệ  
thống chăm sóc sức khỏe sinh sản của các  
bệnh viện khu vực Hà Nội là tương đối tốt,  
vì vậy ít sản phụ ở thành thị, Đây cũng là  
một trong những mục tiêu giảm tải mà bệnh  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 02  
25  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
20 - 24 tháng tuổi. Kết quả cũng cho thấy đúng với quan điểm sữa non là sữa đầu,  
cần vắt đi trước khi cho con bú. Tỉ lệ này  
cao hơn trong nghiên cứu tại huyện Thanh  
Hà, Hải Dương (25,9%) [3]. Quan niệm  
thiếu hiểu biết này cần được làm rõ trong  
các buổi truyền thông tư vấn dành.  
tỉ lệ người chồng biết tên gọi sữa non/sữa  
đầu là 73,7% cao hơn hẳn số người chồng  
không biết kiến thức này (26,3%). phù  
hợp với nghiên cứu của Hoàng Thế Kỷ tại  
Thanh Hà, Hải Dương với 75% [3]. Tuy tỷ lệ  
theo nghiên cứu của chúng tôi chưa phải là  
cao nhưng cũng cho thấy sự hiểu biết của  
người chồng đã được cải thiện đáng kể do  
các kênh truyền thông đã phát huy được  
hiệu quả dù tỷ lệ người chồng ở nông thôn  
cao hơn thành phố.  
Có 28,5% người chồng trung lập hoặc  
đồng tình với quan điểm ngay sau sinh cần  
cho trẻ uống nước, mật ong, thấp hơn kết  
quả 41% trong nghiên cứu tại Thanh Hà,  
Hải Dương. Chúng tôi cũng thấy mới chỉ có  
53,9% và 61,8% người chồng đồng tình với  
quan điểm BSSS rất tốt cho sức khỏe của  
bé và mẹ. Việc BSSS không những mang  
lại lợi ích cho con mà còn mang lại lợi ích  
không nhỏ cho bà mẹ làm tăng tiết oxytocin  
giúp co hồi tử cung Với trẻ BSSS có thể  
giảm nguy cơ đột tử sơ sinh.Tuy nhiên tỷ  
lệ hiểu biết của người chồng trong nghiên  
cứu của chúng tôi chưa cao. Có thể do kiến  
thức của người chồng về BSSS và NCBSM  
hoàn toàn chịu ảnh hưởng của yếu tố cá  
nhân (tuổi, trình độ, nghề nghiệp, thu nhập,  
kinh nghiệm chăm sóc trẻ nhỏ), và sự tiếp  
cận thông tin y tế của người chồng. Yếu tố  
thứ hai là thái độ của người chồng với thực  
hành NCBSM, BSSS, thái độ về việc hỗ trợ  
vợ NCBSM. Yếu tố thứ 3 là sự hỗ trợ của  
người chồng trong thực hành NCBSM còn  
hạn chế.  
Tỉ lệ người chồng biết các kiến thức về  
định nghĩa NCBSM hoàn toàn, thời gian  
cho con bú, tần suất cho con bú lần lượt  
là 75,6%, 83,3%, 97,6%. Tỉ lệ này lớn hơn  
hẳn tỉ lệ người chồng không biết các kiến  
thức này ở cả 3 nhóm tuổi 18-24, 25-34,  
từ 35 tuổi trở lên. Kết quả này cũng phù  
hợp với kết quả của Vũ Thị Hà, kiến thức  
về NCBSM có sự khác biệt theo nhóm tuổi  
khác nhau. Trong đó, người chồng ở nhóm  
tuổi cao hơn (trên 28 tuổi) có kiến thức tốt  
về NCBSM là 47,9% cao hơn so với tỉ lệ  
31% trong nhóm những người chồng thuộc  
nhóm trẻ tuổi (dưới 28 tuổi) (p=0,028) .  
Tỉ lệ biết kiến thức về thời gian cho con  
bú cả ngày lẫn đêm trong nghiên cứu của  
chúng tôi là 83,5%. Còn theo Hoàng Thế Kỷ  
thì trên 95% người chồng cho rằng nên cho  
con bú cả ngày lẫn đêm.Tuy nhiên 10,6%  
số người chồng cho rằng chỉ nên cho bú  
khi trẻ khóc và tỉ lệ này khác biệt có ý nghĩa  
thống kê (p < 0,01) giữa nông thôn (7,9%)  
và thành thị (29,6%) [3]. Dù tỷ lệ này không  
cao nhưng trong các nội dung truyền thông  
tư cần phân tích rõ hơn về vấn đề này.  
Quan điểm của người chồng về thời gian  
dành cho vợ tại bệnh viện được chia thành  
3 nhóm là nhiều (4,9%), hợp lý (68%) và ít  
(27,1%). Tỉ lệ cao nhất là do người chồng  
phải đi làm (61%), vì cuộc sống mưu sinh  
nên thời gian chăm sóc vợ không được  
nhiều. 11% phải ở nhà chăm sóc con khác.  
khi vợ trở về nhà, việc chăm sóc con khác  
của người chồng cũng là một trong những  
hoạt động hỗ trợ người vợ, có thêm thời  
gian để nghỉ ngơi. giúp sữa mẹ về tốt và đủ  
sữa cho trẻ bú, đảm bảo thành công cho  
4.3. Thái độ của người chồng về nuôi  
con bằng sữa mẹ  
Số người chồng có thái độ tích cực với  
hành động cho con bú sớm còn chưa cao.  
Vẫn có 42,8% người chồng chưa có thái độ việc NCBSM  
26  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 02  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
4.4. Sự hỗ trợ, vai trò của người chồng hạn chế. Nên thường xuyên tổ chức lớp  
trong thực hành nuôi con bằng sữa mẹ  
học hoặc xây dựng sẵn những chương  
trình tư vấn tiền sản dành cho thai phụ, sản  
phụ và người nhà dưới nhiều hình thức  
như ti vi, bảng điện tử, tờ rơi, áp phích để  
người chồng thấy được tầm quan trọng của  
việc NCBSM, từ đó có động lực, thái độ tốt  
hơn trong việc hỗ trợ vợ mình NCBSM.  
Việc hỗ trợ vợ cho con BSSS và NCBSM  
hoàn toàn còn khá hạn chế.Mặc dù Sự  
tham gia của người chồng trong việc hỗ trợ  
bà mẹ NCBSM có vai trò quan trọng trong  
việc gia tăng tỷ lệ bà mẹ NCBSM hoàn toàn  
trong 6 tháng đầu [1], [6]. Bên cạnh đó, việc  
thực hành NCBSM cũng có mối liên quan  
với các yếu tố cá nhân và vai trò của người  
chồng trong gia đình như kiến thức, thái độ  
chưa tốt đối với việc NCBSM .  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trần Thị Hải Dung (2013), Thực trạng  
và các yếu tố liên quan đến thực hành cho  
trẻ BSSS của sản phụ tại BVPS Hà Nội  
Người chồng cần được sự ủng hộ của năm 2013, Thạc sĩ Quản lý bệnh viện, Đại  
gia đình, xã hội, đặc biệt là các chính sách học Y tế Công cộng, Hà Nội.  
công. Nên từ ngày 01 tháng 01 năm 2016  
đã có luật nghỉ thai sản dành cho nam giới.  
[7]. Như vậy đây là chính sách hỗ trợ rất tốt  
cho người chồng.  
2. Ayten Taşpınar và các cộng sự.  
(2013), “Fathers’ knowledge about and  
attitudes towards breast feeding in Manisa,  
Turkey”, Midwifery, 26(6), tr. 653-660  
5. KẾT LUẬN  
3. Hoàng Thế Kỷ (2012), Sự hỗ trợ của  
- 62,9% biết cần cho con bú sớm trong người chồng trong việc NCBSM và một số  
vòng 1 giờ đầu sau sinh và biết tên gọi sữa yếu tố liên quan tại huyện Thanh Hà, Hải  
non/sữa đầu là 73,7%.  
Dương, Luận văn thạc sĩ YTCC, Đại học  
YTCC  
- 67,6 % người chồng Ở nông thôn biết  
lợi ích bú sữa non, 30,7% biết BSSS giúp  
trẻ có nhiều sữa hơn.  
4. University of nottingham và Lincoln  
(2003), Myles textbook for Midwives,  
University of Nottingham, US.  
- 13,6% / 13% (Nông thôn.thành thị).  
không biết lợi ích nào của BSSS. Kiến thức  
5. Binns CW Maycock B1, Dhaliwal S,  
biết nhiều nhất là kích thích tiết sữa về, Tohotoa J, Hauck Y, Burns S, Howat P. (2013),  
thông tia sữa (50,6% / 56%).  
“Education and support for fathers improves  
breastfeeding rates: a randomized controlled  
trial”, J Hum Lact., 29(4), tr. 484-90.  
- 34,1%/ 25,9%.người chồng không biết  
đến một lợi ích nào của BSSS dành cho vợ  
của họ.  
6. Vũ Thị Hà (2014), Sự tham gia của  
người cha với thực hành NCBSM của bà  
mẹ đang đi làm tại huyện Gia Lâm, Hà Nội  
năm 2013, Luận văn Thạc sĩ YTCC, Đại  
học YTCC  
- Biết đúng khái niệm NCBSM hoàn toàn  
là 75,3%  
-Thời gian, tần suất cho con bú là 83,5%/  
97,0%.  
7. Quốc hội (2014), Luật Bảo hiểm xã  
hội, luật số 58/2014/QH13, Hà Nội  
- Lý do gặp nhiều nhất dẫn đến thời gian  
chăm sóc vợ ít tại bệnh viện là do người  
chồng phải đi làm (61%).  
Đây là khảo sát nhanh trong thời gian  
ngắn do đó kết quả nghiên cứu còn nhiều  
Khoa học Điều dưỡng - Tập 04 - Số 02  
27  
pdf 8 trang yennguyen 13440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức và sự hỗ trợ của người chồng trong thực hành nuôi con bằng sữa mẹ có vợ đẻ thường tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_va_su_ho_tro_cua_nguoi_chong_trong_thuc_hanh_nuoi.pdf