Báo cáo Đề tài Vai trò của các câu lạc bộ trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI  
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ  
BÁO CÁO TỔNG HỢP  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC  
VAI TRÒ CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ TRONG PHÁT TRIỂN  
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC  
NỘI VỤ HÀ NỘI  
Mã số: ĐTSV.2020.03  
Chủ nhiệm đề tài : Lê Thu Huyền  
Lớp  
: 1605CTHA  
Cán bộ hướng dẫn : TS. Nguyễn Quốc Khương  
Hà Nội, tháng 05 năm 2020  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI  
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ  
BÁO CÁO TỔNG HỢP  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC  
VAI TRÒ CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ TRONG PHÁT TRIỂN  
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC  
NỘI VỤ HÀ NỘI  
Mã số: ĐTSV.2020.03  
Chủ nhiệm đề tài  
: Lê Thu Huyền - 1605CTHA  
Thành viên tham gia : Nguyễn Đức Duy - 1605CTHA  
Đỗ Thùy Trang - 1605CTHA  
Phạm Thị Thảo Ngân - 1705CTHA  
Cán bộ hướng dẫn : TS. Nguyễn Quốc Khương  
Hà Nội, tháng 05 năm 2020  
LỜI CẢM ƠN  
Lời đầu tiên, chúng em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy,  
cô giáo trong Khoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và tập  
thể lớp 1605CTHA đã luôn tạo điều kiện tốt nhất, đồng hành, sát cánh, cung  
cấp tri thức và kỹ năng để chúng em có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa  
học của mình. Chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo, TS.  
Nguyễn Quốc Khương đã là người hướng dẫn tận tình, chu đáo và tâm huyết để  
chúng em có được thành quả nghiên cứu ngày hôm nay.  
Do hạn chế trình độ nên trong quá trình làm đề tài, chúng em không tránh  
khỏi những thiếu sót nhất định. Qua đây chúng em rất mong nhận được sự đóng  
góp của quý thầy, cô và các bạn để đề tài của chúng em được hoàn thiện tốt nhất.  
Chúng em xin được gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và tri ân tới tất cả  
các thầy cô và các bạn.  
Chúng em xin trân trọng cảm ơn!  
Hà Nội, ngày ….. tháng …… năm 2020  
Chủ nhiệm đề tài  
Lê Thu Huyền  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của nhóm chúng  
tôi trong thời gian qua. Nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài này đều trung  
thực thông qua quá trình khảo sát thực tế từ Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.  
Những nguồn tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn và  
chú thích theo đúng quy định.  
Hà Nội, ngày ….. tháng …… năm 2020  
Chủ nhiệm đề tài  
Lê Thu Huyền  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
STT  
01  
Viết tắt  
CLB  
Viết đầy dủ  
Câu lạc bộ  
02  
Kỹ năng giao tiếp  
KNGT  
ĐTN  
03  
Đoàn thanh niên  
Ban Giám hiệu  
CSVC  
04  
BGH  
CSVC  
SV  
05  
06  
Sinh viên  
DANH MỤC BẢNG  
Nội dung  
Tên bảng  
Bảng 1  
Trang  
Nhận thức của các thành viên tại các  
câu lạc bộ Trường Đại học Nội vụ Hà  
Nội về ý nghĩa của hoạt động giáo dục  
kỹ năng giao tiếp cho sinh viên  
Đánh giá của sinh viên tại câu lạc bộ  
vềcác kỹ năng cần có  
32  
Bảng 2  
Bảng 3  
33  
37  
Sự chênh lệch giữa nam và nữ ở các câu  
lạc bộ trong Nhà trường  
MỤC LỤC  
LỜI CẢM ƠN  
LỜI CAM ĐOAN  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
DANH MỤC BẢNG  
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình hội nhập, mở rộng giao lưu, hợp  
tác quốc gia, tổ chức trên thế giới. Đồng thời, đẩy mạnh quá trình công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa để xây dựng đất nước, đưa Việt Nam trở thành một nước “dân  
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.  
Trong sự nghiệp đó, Đảng và Nhà nước ta xác định: Thanh niên, sinh viên  
(SV) là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng  
xung kích trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã  
hội. Thanh niên nói chung và SV nói riêng luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong  
chiến lược bồi dưỡng phát huy nguồn lực con người. Vì thế chăm lo phát triển  
thanh niên, SV vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo đảm cho sự phát triển  
bền vững đất nước. Trong đó, việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho SVcó tầm  
quan trọng đặc biệt.  
Cùng với hoạt động, giao tiếp là yếu tố quyết định sự hình thành, phát  
triển của loài người cũng như của từng cá nhân. Nhờ tham gia hoạt động, giao  
tiếp mà cá nhân lĩnh hội được những kinh nghiệm lịch sử xã hội chuyển hóa  
thành kinh nghiệm riêng của cá nhân, thành phẩm chất và năng lực của chính  
mình, để tham gia đời sống xã hội. Có như vậy cá nhân mới tồn tại, thích nghi  
và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội.  
Giao tiếp có vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân  
cách SV trong môi trường học đường. Nhờ giao tiếp mà cá nhân hình thành,  
phát triển được phẩm chất và năng lực, đáp ứng được yêu cầu của xã hội.  
Hiện nay, trong các trường đại học, nhìn chung việc giáo dục và rèn luyện  
kĩ năng giao tiếp cho SV chưa thực sự được quan tâm. Do vậy, việc tổ chức rèn  
luyện và tự rèn luyện kỹ năng này của SV chưa thường xuyên và chưa có hệ  
thống. Vì vậy, khả năng giao tiếp cũng như cách ứng xử của SVcòn nhiều hạn  
chế.  
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là một ngôi trường có bề dày truyền thống  
1
   
dạy và học. Bên cạnh đó, hoạt động phong trào Đoàn cũng rất phát triển. Câu lạc  
bộ (CLB) trực thuộc Đoàn trường khá đa dạng như: CLB Nghệ thuật (HAC),  
CLB Tiếng anh (HEC), CLB Máu Nội vụ, CLB Võ thuật, CLB Sách, CLB Kỹ  
năng mềm (ASK), CLB Thiện nguyện; một số CLB trực thuộc Khoa/ Trung  
tâm: CLB Văn phòng trẻ, CLB Nhà Quản trị nhân lực, CLB Hành chính học.  
Ngoài ra, còn có một số tổ chức như: Ban liên lạc đồng hương Thanh Hóa, Hội  
đồng hương Vĩnh Phúc, Đội thanh niên xung kích.  
Hoạt động các CLB trong Trường từ năm 2015 đến nay đã có những bước  
phát triển nhanh chóng, thu hút đông đảo SV tham gia, tăng về số lượng và hiệu  
quả, tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế. Trong đó, kỹ năng giao tiếp (KNGT)  
trong môi trường giáo dục thông qua hoạt động của các CLB vẫn chưa được các  
bạn SV quan tâm nhiều. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về vai trò của các CLB  
trong việc phát triển KNGT cho SV là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.  
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài: “Vai trò  
của các câu lạc bộ trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên Trường Đại  
học Nội vụ Hà Nội’’.  
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu  
2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu nước ngoài  
Giao tiếp là một vấn đề được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu. Tất cả  
các nhà tâm lý học trên thế giới đều gặp nhau tại một điểm trong phạm trù giao  
tiếp - khẳng định vai trò quyết định của giao tiếp đối với cuộc sống xã hội và sự  
hình thành nhân cách của con người.  
Trong lịch sử nghiên cứu giao tiếp được tiến hành trên cả hai bình diện lý  
luận và thực tiễn, thu hút tất cả các nhà khoa học có tên tuổi trên thế giới. Thời cổ  
đại các triết gia Xoocrate, Platon đã đề cập tới giao tiếp và cho rằng: “Đối thoại là  
giao tiếp trí tuệ như sự phản ánh trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con người với  
con người” sau này đến các nhà tâm lý học hiện đại như: Anna Freud, E.E.Acquyt;  
M.Again; A.N.Leonchiev; M.I.Lixina; B.D.Econhin; V.X.Mukhina; B.F.Lomov;  
L.X.Vwgotxki. Các công trình lí luận có thể kể tới là: Năm 1956, ba tác giả người  
Mỹ: Johson, Lgrrison, M.Schlekamp đã viết cuốn sách về “Giao tiếp” [12], đề cập  
2
 
mối quan hệ giữa kỹ năng giao tiếp với sự tiến bộ trong trường đại học của sinh  
viên, cách biểu lộ tình cảm, phát triển kĩ năng bình luận.  
Năm 1960 Bavelas (Pháp) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc  
giao tiếp, đưa ra khái niệm “Khoảng cách” được xác định như là một mắt xích  
giao tiếp cần thiết để một thông điệp tới được người khác bằng con đường ngắn  
nhất.  
Đầu thế kỷ XX, dựa trên tư tưởng triết học Macsxit, các nhà Tâm lý học  
nổi tiếng của Liên Xô như L.X. Vuwgotxki, X.L.Rubinxtein, A.N.Lêonchiev,…  
đã đề cập đến vấn đề giao tiếp của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau. Tác giả  
A.V.Mudoriko trong tác phẩm “Giao tiếp như là một nhân tố giáo dục sinh  
viên” đã đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của giao tiếp đối với sự hình thành nhân  
cách sinh viên, đồng thời xác định những đặc điểm tâm lý trong giao tiếp của  
các trẻ em.  
Tác giả E.V.Sukanova với công trình “Những trở ngại tâm lý giao tiếp  
giữa các cá nhân” đã tiến hình nghiên cứu thực nghiệm về giao tiếp của SVphổ  
thông lứa tuổi 15 – 17 trong các mối quan hệ ở trường phổ thông nhằm xác định  
mức độ phát triển văn hóa giao tiếp thực tiễn và xác định các hình thức biểu hiện  
của nó. E.P.I.lino, trong tác phẩm “Các nguyên nhân giao tiếp” đã đề cập đến  
đặc điểm lứa tuổi trong động cơ giao tiếp của trẻ em, tác giả coi tính rụt rè như  
một nguyên nhân tiêu cực đối với giao tiếp của trẻ em.  
Ngoài ra, kỹ năng giao tiếp được bàn đến tại các buổi Hội nghị ở một số  
nước lớn trên thế giới:  
A.A.Boodaliop khi khai mặc Hội nghị khoa học “Giao tiếp với tư cách là  
đối tượng của các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn” đã nói: “Trong  
hoạt động giao tiếp có thể tìm thấy sự thể hiện tổng hợp của tất cả các đặc trưng  
cơ bản của con người như là một thành viên của xã hội, như là một chủ thể của  
hoạt động nhận thức và sáng tạo”. Vì vậy, giao tiếp thực sự trở thành đối tượng  
nghiên cứu của khoa học tâm lý.  
Đầu năm 1970 ở Liên Xô cũ một số bài báo về giao tiếp được giới thiệu  
trong các hội nghị “Tâm lý học về giao tiếp” được tổ chức vào tháng 3/1970;  
3
tháng 3/1973; 5/1973. Các hội nghị cùng đề cập đến hàng loạt vấn đề, phương  
pháp luận và phương pháp nghiên cứu giao tiếp; cơ chế giao tiếp; ảnh hưởng của  
những đặc điểm tâm lý cá nhân đối với quá trình giao tiếp, sự chênh lệch hướng  
và vi phạm loại hình giao tiếp và nhiều công trình nghiên cứu lí luận khác.  
Đại học Troy đã tổ chức Hội Thảo “Kỹ năng giao tiếp hiệu quả”. Buổi  
Hội thảo hướng tới mục tiêu giúp các bạn SVcó khả năng gây ấn tượng, tạo ra  
sự ảnh hưởng và trở nên sống động hơn trong giao tiếp. Qua đó, các diễn giả  
cũng nêu bật tầm quan trọng của việc cần trang bị song hành “Kiến Thức – Thái  
Độ - Kỹ Năng” để làm hành trang cần thiết khi rời khỏi giảng đường đại học.  
2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước  
Đầu thế kỷ XXI, nền giáo dục của nhân loại có những bước tiến lớn với  
nhiều thành tựu về mọi mặt. Hầu hết, các quốc gia đều nhận thức được sự cần  
thiết và cấp bách phải đầu tư cho giáo dục. Muốn hoạch định được chính sách  
đầu tư sâu rộng có hiệu quả cho giáo dục phải có tầm nhìn xa trông rộng. Vấn đề  
chiến lược con người, xây dựng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu.  
Ở mọi thời đại, trong mọi xã hội, giao tiếp, ứng xử giữa con người với  
con người diễn ra liên tục, trên mọi lĩnh vực của đời sống từ sinh hoạt đời  
thường đến công việc. Giao tiếp vừa biểu hiện văn hóa của mỗi con người, vừa  
biểu hiện mức độ văn minh của xã hội. Chính vì vậy, giao tiếp, ứng xử là một  
mặt cơ bản của công tác giáo dục và đào tạo. Có rất nhiều quan điểm khác nhau  
từ các công trình nghiên cứu như:  
Thứ nhất, nghiên cứu lí luận về giao tiếp: Khái niệm, bản chất, quan hệ  
giữa giao tiếp và hoạt động. Có thể kể ra một số công trình sau: Đỗ Long: “Các  
Mác và phạm trù giao tiếp” (1963); Bùi Văn Huệ: “Bàn về phạm trù giao tiếp”  
(1981); Trần Trọng Thủy: “Giao tiếp tâm lý, nhân cách” (1981), “Giao tiếp và  
sự phát triển nhân cách trẻ” (1981); Ngô Công Hoàn: “Giao tiếp sư phạm”  
(1987) và “Một số vấn đề về giao tiếp sư phạm”; Nguyễn Văn Lê: “Vấn đề giao  
tiếp” (1992). Trong đó có nhóm các công trình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp  
sư phạm có thể kể tới là: Hoàng Anh: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh  
4
viên”; Nguyễn Thạc, Hoàng Anh với cuốn: “Luyện giao tiếp sư phạm”, Đại học  
Sư phạm Hà Nội (1997); Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh: “Giao tiếp sư phạm”;  
Trần Duy Hưng đã bàn tới “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên”; Trịnh  
Trúc Lâm: “Ứng xử sư phạm”.  
Thứ hai, một loạt các công trình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp cơ bản  
qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử như cuốn sách: Trần Trọng Thủy  
(1992), Đặc điểm giao tiếp của SV Đại học, Tạp chí nghiên cứu giáo dục; Ngô  
Công Hoan (1997), Giao tiếp và ứng xử sư phạm, Nxb ĐHQG Hà Nội; Ngô  
Công Hoan – Hoàng Anh (1998), Giao tiếp sư phạm, Nxb ĐHQG Hà Nội;  
Nguyễn Xuân Thức - Nguyễn Thị Thanh Bình, Đặc điểm ấn tượng ban đầu  
trong giao tiếp của thiếu niên, Kỉ yếu thành lập trung tâm nghiên cứu tâm lí trẻ  
em,... Các tác giả các cuốn sách nêu trên thường có những ý kiến khác nhau về  
kỹ năng nhưng nhìn chung đều cho rằng: Kỹ năng đặc biệt là kỹ năng giao tiếp  
là chuẩn mực chỉ đạo hoạt động của con người trong quan hệ với nhau và xã hội.  
Qua đó, nhấn mạnh tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống của  
mỗi con người. Tóm lại, các công trình nghiên cứu nêu trên đã có khái quát cơ  
bản nhất về kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống.  
Thứ ba, những công trình nghiên cứu đề cập đến vai trò của giao tiếp  
trong giáo dục ở nhà trường: Tác giả Đặng Xuân Hoài và các nhà nghiên cứu  
thuộc Viện Khoa học giáo dục (1983) nghiên cứu: “Sự hình thành động cơ xã  
hội của SVcấp 2,3” đã khẳng định: “Giao lưu là điều kiện tất yếu tạo nên sự  
hiểu biết lẫn nhau, sự ăn ý, sự thông cảm, sự phối hợp hành động, sự phân công  
trách nhiệm”. Tác giả Đỗ Thị Hạnh Phúc nghiên cứu “Nhu cầu kết bạn của  
thiếu niên” đã chỉ ra rằng, nhu cầu giao tiếp với bạn cùng tuổi ở thiếu niên phát  
triển mạnh, là cơ sở để hình thành và phát triển quan hệ bạn bè trong và ngoài  
nhà trường. Tác giả Phùng Thị Hằng, trong luận án Tiến sĩ: “Một số đặc điểm  
giao tiếp của SVTHPT dân tộc Tày, Nùng” đã chỉ ra rằng, giao tiếp của SV  
THPT dân tộc Tày, Nùng tiếng mẹ đẻ là phương tiện giao tiếp thường ngày của  
các em, nó có ảnh hưởng đến quá trình sử dụng tiếng Việt của SVtrong các tình  
huống giao tiếp.  
5
Ngoài nghiên cứu về giao tiếp nói chung, nhiều tác giả cũng đã đi sâu  
nghiên cứu về các kỹ năng giao tiếp: GS. Trần Trọng Thủy trong công trình  
nghiên cứu về giao tiếp sau: biết cách ứng xử tế nhị; biết im lặng đúng lúc; biết  
tự kiềm chế; biết lắng nghe,… TS. Nguyễn Thanh Bình đã đề cập đến hai trong  
ba trở ngại thường gặp ở SVkhi giao tiếp thuộc về kỹ năng giao tiếp: “Lúng  
túng khi điều khiển giao tiếp với sinh viên” và “Chưa làm chủ trạng thái tâm lý  
của bản thân”, trên cơ sở đó tác giả đã xây dựng chương trình tác động sư phạm  
nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp: Kỹ năng “Tự chủ cảm xúc hành vi” và kỹ  
năng “Chủ động điều khiển quá trình giao tiếp”. TS. Lê Thị Bừng đã đề cập đến  
cách ứng xử khéo léo khi tiếp xúc, ứng xử học đường, ứng xử trong quan hệ bạn  
bè, ứng xử nơi làm việc.  
Ngoài ra, một số hội thảo trong nước cũng bàn về kỹ năng giao tiếp như:  
Hội thảo “Bồi dưỡng chuyên đề về kỹ năng giao tiếp và ứng xử với SVcho giảng  
viên ULIS” do PGS. TS. Đinh Thị Kim Thoa - Chủ biên Chương trình hoạt động  
trải nghiệm của Bộ GD&ĐT đã chia sẻ với các thầy cô ULIS những kiến thức,  
kỹ năng cần có khi giảng dạy và giao tiếp, ứng xử với SV Hội thảo Hội thảo  
“Kỹ năng giao tiếp và xây dựng hình ảnh cá nhân” tại Trường Đại học Kinh tế  
quốc dân. Tại hội thảo, các diễn giả cũng nêu bật tầm quan trọng của việc cần  
trang bị song hành “Kiến thức - Thái độ - Kỹ năng” để làm hành trang cần thiết  
khi tốt nghiệp đại học.  
Nhìn chung, những công trình trên đã đi sâu vào phân tích đặc điểm  
chung về giao tiếp của SV các trường sư phạm, chưa đi sâu nghiên cứu khả năng  
giao tiếp sư phạm của SV. Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp  
nhằm nâng cao khả năng giao tiếp của SV trong phạm vi một trường cụ thể, tại  
một thời điểm lịch sử nhất định. Vì vậy, những giải pháp đó không thể áp dụng  
cho công tác đào tạo ở tất cả các trường sư phạm trong giai đoạn xã hội phát  
triển mạnh mẽ như hiện nay - giai đoạn đang có sự đổi mới về phương pháp  
giảng dạy trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là  
khoa học công nghệ thông tin.  
6
 
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục tiêu nghiên cứu  
Khảo sát, làm rõ thực trạng, vai trò các CLB tại Trường Đại học Nội vụ  
Hà Nội trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho SV Từ đó, đề xuất những giải  
pháp, kiến nghị để phát huy hiệu quả vai trò các CLB trong việc phát triển kỹ  
năng giao tiếp cho SV Nhà trường.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu, phân tích, đánh giá vai trò các CLB tại Trường Đại học  
Nội vụ Hà Nội trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho SV  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò các CLB tại  
Trường trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho SV  
- Phạm vi nghiên cứu:  
+ Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu Nghiên cứu vai trò các CLB ở  
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho SV  
như: CLB Sách, CLB Máu, CLB Thiện nguyện, CLB Võ thuật, CLB Văn phòng  
trẻ, CLB Nhà quản trị nhân lực, CLB ASK, CLB HEC, CLB HAC.  
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu vai trò các CLB trong phát triển kỹ năng  
giao tiếp cho SV Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ năm 2015 đến nay.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin,  
quán triệt nguyên tắc khách quan, toàn diện, nguyên tắc lịch sử cụ thể; đồng thời  
quán triệt đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về thanh niên, SV và xây  
dựng kỹ năng giao tiếp cho SV  
Ngoài ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp  
phân tích và tổng hợp, phương pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra bảng hỏi,  
phương pháp phỏng vấn sâu.  
6. Giả thuyết nghiên cứu  
Vai trò của các CLB trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho SV  
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong những năm gần đây đã đạt được những kết  
7
     
quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Nếu đề tài đưa ra được  
những giải pháp, kiến nghị hợp lý sẽ nâng cao được hiệu quả hoạt động trong  
các CLB và góp phần phát triển kỹ năng giao tiếp cho SV Trường Đại học Nội  
vụ Hà Nội.  
7. Đóng góp mới của đề tài  
- Về mặt lý luận:  
Đề tài phân tích và hệ thống hóa những nội dung cơ bản của kỹ năng giao  
tiếp thông qua hoạt động các Câu lạc bộ, chỉ ra vai trò hoạt động CLB đối với  
việc phát triển kỹ năng, đồng thời chỉ ra sự cần thiết phải phát huy tối đa vai trò  
hoạt động các CLB tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội hiện nay. Đồng thời, kết  
quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng cho SV làm tài liệu tham khảo để  
nghiên cứu các học phần như: Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng làm việc nhóm, Tâm  
lý học, Dư luận xã hội, Xã hội học, Mỹ học đại cương,...  
- Về mặt thực tiễn:  
Đề tài góp phần đề ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao kỹ năng  
giao tiếp cho SV Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.  
8. Cấu trúc đề tài  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thảm khảo, đề tài có ba  
chương:  
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của các câu lạc bộ trong phát  
triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục Đại học.  
Chương 2: Phát huy vai trò các câu lạc bộ trong phát triển kỹ năng giao  
tiếp cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.  
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nâng cao vai trò của các câu lạc bộ  
trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.  
8
   
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐÊ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC CÂU  
LẠC BỘ TRONG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH  
VIÊN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC  
1.1. Một số khái niệm cơ bản  
1.1.1. Câu lạc bộ  
Có rất nhiều định nghĩa về CLB, có thể kể đến như:  
CLB là một cụm từ nói về một tổ chức được thành lập theo sự tự nguyện  
của mỗi người có chung một mục đích. Thông qua đó, mỗi CLB sẽ đề ra những  
chương trình hoạt động phù hợp với khả năng và thời gian của từng thành viên.  
CLB là tổ chức tập hợp những quần chúng có chung đặc điểm về: sở  
thích, nhu cầu, tổ chức sinh hoạt. Nhằm thỏa mãn nhu cầu và sở thích đó trên  
nhiều lĩnh vực khác nhau như: văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, chính trị xã  
hội,…  
Theo Từ điển Tiếng việt, CLB là tổ chức được lập ra cho nhiều người  
tham gia sinh hoạt văn hoá, giải trí trong những lĩnh vực nhất định. CLB vừa là  
một loại hình tổ chức, vừa là một phương thức hoạt động, là một bộ phận quan  
trọng của tổ chức Hội SV hay Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhằm hỗ trợ giải quyết  
những vấn đề phức tạp, quan trọng trong học tập và cuộc sống hàng ngày, đáp  
ứng những nhu cầu chính đáng của SV  
Tựu chung lại, khái niệm CLB được hiểu ngắn gọn và đầy đủ như sau:  
“CLB là nơi tập hợp những thành viên có cùng sở thích, cùng nhu cầu nhằm  
thực hiện một mục đích nhất định”. [2; tr.11-12]  
1.1.2. Sinh viên  
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “student” có nghĩa là  
người làm việc, học tập nhiệt tình; người tìm kiếm và khai thác tri thức. Sinh  
viên là giai đoạn lĩnh hội và thực hiện quá trình tích lũy phẩm chất, tri thức và  
kỹ năng,…  
Theo quan điểm Mác - Lênin, sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc  
điểm chung của con người, là “tổng hoà của các quan hệ xã hội”.  
Theo Từ điển Tiếng việt, là danh từ chỉ những người học ở bậc Đại học,  
9
       
chuyên nghiệp. Theo Hoàng Phê, sinh viên có thể hiểu theo nhiều cách khác  
nhau như: sinh viên là người đến trường để học một cái gì đó; sinh viên là người  
đang học ở trường đại học; sinh viên là người học chương trình đại học; sinh  
viên là người học ở bậc đại học; sinh viên là người được đào tạo theo chương  
trình cao đẳng hoặc đại học.  
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể khái quát chung như  
sau: “Sinh viên là người học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp;  
được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề và được xã hội công nhận  
qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học”. [2; tr.8]  
1.1.3. Kỹ năng và kỹ năng giao tiếp  
1.1.3.1. Kỹ năng  
Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một  
hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm)  
nhằm tạo ra kết quả mong đợi.  
Theo tác giả Đặng Thành Hưng: “Kỹ năng là một dạng hành động được  
thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những  
điều kiện sinh học – tâm lí khác của cá nhân như: nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính  
tích cực cá nhân... để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc  
mức độ thành công theo chuẩn mực hay quy định”.  
Nhà tâm lý học người Liên Xô L.D.Leviton cho rằng: “Kỹ năng là sự  
thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng  
cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều  
kiện nhất định”. Theo L.D.Leviton, người có kỹ năng hành động là người phải  
nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức và quy tắc nhằm thực hiện hành  
động có kết quả; con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động  
mà còn phải vận dụng vào thực tế.  
Tựu chung lại, khái niệm kỹ năng được hiểu như sau: “Kỹ năng là khả  
năng của con người trong việc vận dụng kiến thức để thực hiện một nhiệm vụ  
nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, giải quyết vấn đề tổ chức, quản lý và giao  
tiếp”.[5; tr.21-22]  
10  
   
1.1.3.2. Kỹ năng giao tiếp  
Giao tiếp là đặc trưng quan trọng nhất trong hành vi của con người, nó  
không những là điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình thành và phát triển  
tâm lý, ý thức, nhân cách mà còn giúp cho con người đạt được năng suất, chất  
lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động. Đối với môi trường giáo dục  
đại học, giao tiếp không những có vai trò quan trọng trong sự nghiệp hình thành  
và phát triển nhân cách giáo viên mà còn là bộ phận cấu thành hoạt động sư  
phạm, là thành phần chủ đạo trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo  
viên. Giao tiếp là phương thức, công cụ cơ bản nhất để tổ chức hoạt động dạy và  
học. Nếu không có giao tiếp thì không thể hướng hoạt động sư phạm của thầy và  
trò vào việc đạt được mục đích giáo dục. Do đó, vấn đề đặt ra đối với nhiệm vụ  
đào tạo nghề sư phạm là mỗi SV phải được chuẩn bị và chủ động chuẩn bị cho  
mình về năng lực giao tiếp.  
Giao tiếp là một trong những kỹ năng quan trọng của cuộc sống. Nhưng  
rất nhiều người cho rằng khả năng giao tiếp thuộc về bản năng, không cần học  
hành vẫn có thể làm tốt. Bởi vậy, họ vô cùng chủ quan khi nói chuyện, không  
chú trọng việc tạo thiện cảm, thậm chí còn có nhiều thói quen xấu dẫn đến  
những tình huống mâu thuẫn, xung đột không đáng có, làm ảnh hưởng đến các  
mối quan hệ xã hội.  
Giao tiếp là một trong những phạm trù của tâm lý học, tư tưởng của tâm  
lý học được đề cập đến từ thời kỳ cổ đại, qua thời kỳ phục hưng và qua thế kỷ  
20 thì hình thành nên chuyên ngành tâm lý học giao tiếp. Ngay từ khi còn là các  
tư tưởng về giao tiếp đến khi xuất hiện tâm lý học giao tiếp thì khái niệm, bản  
chất giao tiếp chưa bao giờ thống nhất hoàn toàn. Mỗi tác giả đề cập đến một  
mặt, một khía cạnh của hoạt động giao tiếp. Trên thế giới đã có rất nhiều người  
đưa ra các khái niệm về hoạt động giao tiếp, mỗi tác giả lại đưa về một mặt, một  
khía cạnh của hoạt động giao tiếp, điển hình như:  
Nhà tâm lý học người Mỹ Ocgood C.E cho rằng giao tiếp bao gồm các  
hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin.  
Theo ông giao tiếp là quá trình hai mặt, liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau. Sau đó  
11  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 67 trang yennguyen 20700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Vai trò của các câu lạc bộ trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_vai_tro_cua_cac_cau_lac_bo_trong_phat_trien_k.pdf