Báo cáo Đề tài Nghiên cứu về mạng lưới vạn vật kết nối Internet (Internet of things) và khả năng ứng dụng tại thị trường thương mại điện tử Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THƢƠNG MẠI  
-------------------o0o------------------------  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƢỜNG  
́
ĐỀ TÀI:NGHIÊN CƢU VỀ MẠNG LƢỚI VẠN VꢀT KꢁT NỐI  
INTERNET (INTERNET OF THINGS) VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG  
TẠI THꢂ TRƢỜNG THƢƠNG MẠI ĐIꢃN TỬ VIꢃT NAM  
Chủ nhiệm đề tài:  
ThS Vũ Thị Thúy Hằng  
Hà Nội, 05/2017  
1
MỤC LỤC  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……………………………………………………….….3  
.......................................................................................................................................25  
 
2
PHỤ LỤC......................................................................................................................77  
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIꢁT TẮT  
STT Từ viết tắt  
Tiếng Anh  
Third-generation  
Technology  
Tiếng Việt  
Công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba  
1
3G  
2
3
4G  
AI  
Four-generation Technology Công nghệ truyền thông thế hệ thứ tƣ  
Artificial Intelligence  
Augmented Reality  
Trí tuệ nhân tạo  
Công nghệ tƣơng tác thực tế  
Công nghệ thông tin  
4
AR  
5
CNTT  
CSDL  
ĐTDĐ  
ESL  
IoT  
6
Cơ sở dữ liệu  
7
Điện thoại di động  
8
Electronic Shelf Label  
Internet of Things  
Internet Protocol  
Internet Service Provider  
Four Industry Revolution  
Near  
Bảng giá điện tử  
9
Internet vạn vật  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
IP  
Giao thức internet  
IPS  
Nhà cung cấp dịch vụ internet  
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4  
Công nghệ giao tiếp tầm ngắn  
Nhận dạng ký tự quang học  
Công nghệ nhận dạng đối tƣợng bằng  
sóng vô tuyến  
FIR  
NFC  
OCR  
RFID  
Optical character recognition  
Radio Frequency  
Identification  
16  
17  
18  
19  
RW  
QR  
Read write  
Thẻ đọc-ghi  
Quick response  
Mã phản ứng nhanh  
TMDĐ  
TMĐT  
Thƣơng mại di động  
Thƣơng mại điện tử  
20 Watermark  
Kỹ thuật đánh dấu hình ảnh  
Hiệp hội Internet Việt Nam  
Công nghệ thực tế ảo  
Thẻ ghi một lần, đọc nhiều lần  
Chuẩn giao tiếp không dây khoảng  
cách ngắn  
21  
22  
23  
24  
VIA  
VR  
Virtual Reality  
WORM  
ZigBee  
Write once, read many  
4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU  
Số  
Tên bảng  
Trang  
1.1 Thống kê chi phí mà khách hàng đã bỏ ra để hòa mạng IoT vào năm  
34  
2014, 11/2015 và dự báo 2016, 2020  
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ  
Số  
Tên hình vẽ, sơ đồ  
Trang  
26  
27  
28  
32  
32  
33  
34  
37  
38  
46  
49  
50  
51  
52  
54  
1.1 Bốn cuộc cách mạng công nghiệp  
1.2 Các mô hình kinh doanh và giải pháp sáng tạo mới trong tƣơng lai  
1.3 Tổng quan về cách mạng công nghiệp 4.0  
1.4 Doanh thu của IoT tới 2020 (dự kiến)  
1.5 Số lƣợng thiết bị kết nối toàn cầu từ năm 2002 đến 2020  
1.6 Xu hƣớng IoT giai đoạn 2017 -2025  
1.7 Các nhà cung cấp dịch vụ IoT trên thế giới  
1.8 Mô hình hoạt động của M2M  
1.9 Lộ trình phát triển của IoT  
2.1 Mô hình ứng dụng IoT cho giao thông thông minh  
2.2 Mô hình thành phố thông minh  
2.3 Mô hình xã hội thông minh  
2.4 Mô hình nhà thông minh  
2.5 IoT mở rộng  
2.6 Mô phỏng tổng quan về hệ thống bảo tàng tƣơng tác thông minh  
tại thành phố Hồ Chí Minh  
2.7 Tầm quan trọng của EMR trong quản lý bệnh viện  
3.1 IoT trong bán lẻ  
55  
60  
63  
64  
67  
3.2 Giới thiệu nguyên lý hoạt động của gƣơng thông minh  
3.3 Tích hợp gƣơng thông minh trong cửa hàng bán lẻ  
3.4 Mô hình hệ sinh thái CNTT-TT  
   
5
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. TÍNH CẤP THIꢁT CỦA ĐỀ TÀI  
Theo báo cáo tháng 6/2015 của McKinsey về Internet vạn vật (Internet of  
Things - IoT), có tên là Mapping the value beyond the hype - định ra các giá trị  
Internet của vạn vật.Internet vạn vật là một mạng lƣới của nhiều thiết bị giao tiếp với  
nhau mà không có sự tham gia của con ngƣời. Sự giao tiếp giữa các thiết bị chủ yếu  
liên quan đến việc thu thập và xử lý dữ liệu để các thiết bị có thể tự đƣa ra quyết định  
và hành động phù hợp. Vì thế nên nó mới đƣợc gọi là: Internet of Things. Mọi đối  
tƣợng trong mạng lƣới đƣợc đánh dấu thông qua nhiều công nghệ nhƣ công nghệ nhận  
dạng bằng sóng tần vô tuyến (RFID), công nghệ giao tiếp tầm ngắn (NFC), mã vạch,  
mã phản ứng nhanh (QR), kỹ thuật đánh dấu hình ảnh (watermark)…Việc kết nối này  
đƣợc thực hiện qua wifi, mạng viễn thông băng rộng 3G, 4G, bluetooth, chuẩn giao  
tiếp không dây khoảng cách ngắn (ZigBee), hồng ngoại…  
Trong biểu đồ Gartner Hype Cycle 2015, IoT cũng đƣợc đánh giá là công nghệ  
đột phá nhất và có nhiều cơ hội nhất trong vòng 5 năm tới. Theo dự báo của nhiều  
chuyên gia, đến năm 2020, hơn 30.000 tỷ thiết bị thông minh gồm đồ gia dụng nhƣ  
máy giặt, tivi, máy tính…sẽ đƣợc kết nối với nhau nhờ Internet và đƣợc điều khiển  
nhờ điện thoại di động. Internet vạn vật có khả năng thúc đẩy sự phát triển của xã hội  
hiện đại. Theo dự đoán, IoT có tiềm năng ảnh hƣởng tới mọi mặt của đời sống xã hội  
và hƣớng tới doanh thu lên tới hàng chục ngàn tỷ USD mỗi năm vào năm 2025. Năng  
lực lớn nhất của IoT là khả năng biến dữ liệu thành hành động không cần tới những  
thực thể đứng giữa (nhƣ con ngƣời). Trong lĩnh vực đô thị, các thành phố của Mỹ, Hà  
Lan, Singapore hiện đang dẫn đầu trong việc tạo ra các phiên bản mới của đô thị thông  
minh sử dụng IoT. Chính phủ Đức đã đƣa ra tầm nhìn về IoT: “Industrie 4.0”, lấy cảm  
hứng từ Industrie 4.0. Chính phủ Phần Lan đã công bố một báo cáo nghiên cứu và tầm  
nhìn 2020, trong đó Phần Lan sẽ trở thành thung lũng Silicon của IoT - một môi  
trƣờng linh hoạt với các quy định, hệ thống thuế, giáo dục và cơ sở hạ tầng hỗ trợ các  
mô hình kinh doanh mới của công ty trong nƣớc và nƣớc ngoài. Tại Mỹ, sự kiện tháng  
1/2014 Google sáp nhập Nest - công ty chuyên làm về IoT cho nhà thông minh - với  
mức giá hơn 3 tỷ USD đánh dấu sự chín muồi về thƣơng mại của IoT tại thị trƣờng lớn  
nhất thế giới này. Sau đó Google cùng Qualcom, Cisco sáng lập ra liên minh AllSeen -  
một liên minh theo chuẩn nguồn mở cung cấp tiêu chuẩn và nền tảng cho IoT - với  
   
6
mục tiêu ban đầu tập trung vào IoT trong nhà thông minh. Với tham vọng lớn hơn,  
Intel, Samsung, Google, IBM, GE cũng đã thiết lập nên liên minh OIC và IIC nguồn  
mở để đƣa ra các chuẩn kết nối IoT với một cách tiếp cận rộng hơn cho các ứng dụng  
trong xã hội, công nghiệp, nhà thông minh và đặc biệt cho tích hợp liên hệ thống IoT.  
Hiện nay, ngay tại châu Á, nhiều nền kinh tế đã có những chiến lƣợc, kế hoạch để tiến  
sâu vào IoT. Trong đó cần kể đến kế hoạch trở thành đất nƣớc thông minh của  
Singapore, kế hoạch tổng thể phát triển IoT của Malaysia và hệ sinh thái các doanh  
nghiệp IoT tại Đài Loan và Hàn Quốc.  
Tại Việt Nam, giống nhƣ các làn sóng công nghệ khác, độ trễ dẫn chúng ta tới  
tình trạng chỉ biết về một làn sóng khi nó đã lên tới đỉnh và dần phát triển chuyên  
nghiệp. Một loạt hội thảo tại Việt Nam về IoT vào quý III năm 2015 là minh chứng  
cho điều này. Việc này vừa có điểm mạnh, vừa có điểm yếu; điểm mạnh là chúng ta  
tƣơng đối an toàn trong ứng dụng công nghệ mới, nhƣng điểm yếu là có thể chúng ta  
sẽ chậm chân trong việc tham gia chuỗi giá trị của làn sóng công nghệ này. Đại diện  
Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) cho biết, mục tiêu đến hết năm 2017, Việt Nam có  
10% các hoạt động đời sống xã hội đƣợc đƣa lên Internet, tạo sự gần gũi, thân thiện  
của Internet với đời sống; đóng góp tích cực vào việc hình thành hệ sinh thái Internet  
của vạn vật ở Việt Nam với nòng cốt là các doanh nghiệp viễn thông, thƣơng mại điện  
tử (TMĐT), phần cứng và phần mềm, ứng dụng liên quan IoT.  
Ngoài ra, VIA cũng đặt mục tiêu đến năm 2020, có 50-60% hộ gia đình và cá  
nhân có Internet băng rộng; đồng thời, thúc đẩy việc đƣa ứng dụng Internet vào đời  
sống xã hội, đặc biệt tập trung cho các lĩnh vực giáo dục, y tế, dịch vụ công...Xu  
hƣớng này cũng sẽ đem lại cơ hội chƣa từng có cho các doanh nghiệp Việt Nam từ các  
ngành dịch vụ, nhà sản xuất thiết bị thông minh, đến các doanh nghiệp viễn thông,  
công nghệ thông tin, TMĐT... Một vài năm gần đây, các giải pháp IoT đã xuất hiện tại  
Việt Nam nhƣ giải pháp nhà thông minh của Bkav (các thiết bị trong ngôi nhà nhƣ ti  
vi, máy điều hòa, nồi cơm điện... đƣợc kết nối để chủ nhân có thể điều khiển từ xa qua  
mạng internet hoặc điện thoại), giao thông thông minh (mọi thiết bị trên đƣờng nhƣ  
đèn giao thông, đèn đƣờng đều có cảm biến để điều khiển tự động từ xa qua kết nối  
internet theo lƣu lƣợng và mật độ giao thông)…  
Với TMĐT, tác giả nhận diện, mạng lƣới này sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn  
cho doanh nghiệp và khách hàng nhƣ cơ hội đƣợc cầm nắm và trải nghiệm sản phẩm  
7
trên tay, đƣợc bảo mật trong thanh toán điện tử nhờ công nghệ thực tế ảo và công nghệ  
ghi hình 3D (hologram). Khả năng quản lý thông tin, nhƣ ghi chú thực phẩm ƣa thích  
tự động gửi đơn hàng đến siêu thị, theo dõi thói quen mua hàng của ngƣời dùng tại  
một cửa hàng, quản lý năng lƣợng, hành trình trong chuỗi cung ứng, tiết kiệm thời  
gian thử đồ cho khách hàng qua Gƣơng thông minh. Hay ngƣời bán và ngƣời mua  
cũng có thể gặp nhau trực tiếp qua kính Gear VR. Thậm chí, các nhà hàng cũng có thể  
cung cấp các video thực tế ảo cho khách hàng đến tham quan và chọn bàn trƣớc khi  
đến…Nhờ đó, sự e ngại khi không đƣợc sờ, cầm nắm và nhìn trực tiếp sản phẩm, dịch  
vụ của ngƣời mua trên mạng sẽ không còn nữa. Sự kết nối này có ý nghĩa rất lớn về  
hiệu quả và sự tự động hóa. Khi sử dụng đúng cách, nó sẽ giải phóng rất nhiều thời  
gian và trở ngại. Tuy nhiên, khi phát triển IoT, vấn đề bảo mật dữ liệu, an ninh thông  
tin và quyền riêng tƣ là vô cùng quan trọng. Việc giao tiếp giữa các thiết bị là rất tốt và  
hoàn hảo cho đến khi một ai đó xâm nhập vào hệ thống và chiếm quyền điều khiển  
một thiết bị cho mục đích xấu. Sẽ không có gì to tát khi thiết bị đó chỉ là một bộ điều  
khiển nhiệt độ trong một ngôi nhà, nhƣng khi mất kiểm soát quyền điều khiển giao  
thông của toàn bộ thành phố thì đúng là một thảm họa. Hoặc đôi khi cácthiết bị sẽ gặp  
trục trặc. Chúng ta đều biết rằng tất cả phần cứng và phần mềm đều có lỗi tiềm ẩn, và  
đôi khi những lỗi này khá nguy hại. Đối với Internet vạn vật, lỗi thu thập dữ liệu và sai  
sót trong xử lý dữ liệu có thể gây ra những sai lệch nghiêm trọng.  
Do đó, nghiên cứu mạng lƣới vạn vật kết nối Internet (Internet of Things) và  
các ứng dụng của nó trong cuộc sống nói chung và trong TMĐT nói riêng là vô cùng  
cần thiết trong giai đoạn này. Trong đề tài của mình, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về  
cơ sở lý luận, các thành phần cơ bản, các thiết bị phổ biến và mô hình hoạt động của  
mạng lƣới Internet vạn vật. Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành nghiên cứu thực tiễn ứng  
dụng của mạng lƣới này trong cuộc sống nói chung và tại thị trƣờng TMĐT Việt Nam  
nói riêng, đặc biệt là trong lĩnh vực bán lẻ điện tử, marketing trực tuyến, giải trí, du  
lịch trực tuyến để đề xuất mô hình ứng dụng phù hợp trong giai đoạn hiện tại, giúp cho  
doanh nghiệp vừa tận dụng mọi lợi ích của IoT để đổi mới, sáng tạo, vừa giảm thiểu và  
tiên lƣợng trƣớc các rủi ro.  
2. MỤC TIÊU VÀ NHIÊM  
* Mục tiêu nghiên cứu:Nghiên cứu khả năng ứng dụng Internet van  
trƣơng TMĐT Viêt Nam.  
̣
̣
VU NGHIÊN CỨU  
̣
̣ ̣ ̣  
vât tai thi  
̣
̀
 
8
* Nhiệm vụ nghiên cứu:  
- Hệ thống một số lý thuyết vềInternet vạn vật.  
- Đúc rút các bài học kinh nghiệm quốc tế về ứng dụng Internet vạn vật.  
- Nhận diện lợi ích, hạn chế, cơ hội, thách thức, điều kiện ứng dụng và các ứng  
dụng phổ biến của Internet vạn vật trong TMĐT.  
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1. Cách tiếp cận dữ liệu  
- Sử dụng internet để thu thập nội dung cơ bản về Internet vạn vật, cũng nhƣ  
bài học kinh nghiệm ứng dụng của các nƣớc tiên tiến.  
- Sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp để tiếp cận thông tin về đề tài  
“Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thiết lập tài nguyên số, truy cập mở về nhiệm  
vụ khoa học và công nghệ từ ngân sách nhà nước trên cơ sở ứng dụng Dữ liệu lớn và  
Internet vạn vật (BigData, Internet of things)” do Cục thông tin Khoa học và Công  
nghệ Quốc gia - Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, nhằm tìm hiểu thực tiễn ứng dụng  
Internet vạn vật với hoạt động thiết lập, truy cập mở tài nguyên số.  
- Sử dụng các cuộc khảo sát trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến và truyền thống  
để tiếp cận những doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến, doanh nghiệp TMĐT Việt  
Nam chƣa, đã, đang hoặc sẽ ứng dụng Internet vạn vật trong hoạt động kinh doanh của  
mình, nhằm định hƣớng mô hình ứng dụng phù hợp nhất.  
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu  
* Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: quan sát, phỏng vấn trực tiếp, qua  
điện thoại, qua internet.  
- Phƣơng pháp quan sát: Quan sát là phƣơng pháp tri giác có mục đích, có kế  
hoạch một sự kiện, hiện tƣợng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con ngƣời) trong  
những hoàn cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc  
trƣng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tƣợng đó.  
+Ý nghĩa của phƣơng pháp là: Quan sát là phƣơng thức cơ bản để nhận thứcsự  
vật. Quan sát sử dụng một trong hai trƣờng hợp: phát hiện vấn đề nghiên cứu: đặt giả  
thuyết kiểm chứng giả thuyết. Quan sát đem lại cho ngƣời nghiên cứu những tài liệu  
cụ thể, cảm tính trực quan, song có ý nghĩa khoa học rất lớn, đem lại cho khoa học  
những giá trị thực sự.  
 
9
Trong đề tài của mình, phƣơng pháp quan sát đƣợc áp dụng đối với các mục có  
liên quan tới ứng dụng và xu hƣớng của Internet vạn vật.  
- Phƣơng pháp phỏng vấn: Phƣơng pháp phỏng vấn là phƣơng pháp dùng hệ  
thống câu hỏi miệng nhằm thu đƣợc những thông tin nói lên nhận thức hoặc thái độ  
của ngƣời đƣợc phỏng vấn với sự kiện hay vấn đề đƣợc hỏi. Có 3 hình thức phỏng vấn  
chính là phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại, phỏng vấn qua email.  
Trong đề tài của mình, tác giả sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn qua email là  
chủ đạo và phƣơng pháp này đƣợc áp dụng đối với các mục có liên quan tới khả năng  
ứng dụng của Internet vạn vật trong TMĐT cũng nhƣ cơ hội và trở ngại khi phát triển  
lĩnh vực này tại các doanh nghiệp TMĐT Việt Nam.  
* Phương pháp thu thập dữ liệuthứ cấp:  
- Nguồn nội bộ trong các doanh nghiệp (phòng kế hoạch, phòng công nghệ,  
phòng TMĐT,..)  
- Tài liệu đã xuất bản: ấn phẩm, tạp chí, đặc san…  
- Các công ty nghiên cứu, niên giám thống kê, nguồn dữ liệu thƣơng mại  
- Internet  
* Phương pháp xử lý dữ liệu:  
- Sử dụng phƣơng pháp cân đối, quy nạp, so sánh, diễn giải…để phân tích định  
tính.  
4. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU  
4.1. Phạm vi nghiên cứu  
- Thời gian nghiên cứu: 8 tháng từ 1/8/2016 đến 31/3/2017.  
- Không gian nghiên cứu: nghiên cứu tổng quan về Internet vạn vật nhƣ quá  
trình phát triển của công nghệ, ƣu và nhƣợc điểm, phƣơng thức hoạt động, các thành  
phần cơ bản và tìm hiểu khả năng ứng dụng Internet vạn vật trong cuộc sống và trong  
TMĐT.  
4.2. Đối tƣợng nghiên cứu  
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là Internet vạn vật và khả năng ứng dụng Internet vạn  
vật trong các doanh nghiệp TMĐT.  
5. KꢁT CẤU CỦA ĐỀ TÀI  
Ngoài tóm tắt đề tài, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh  
mục hình vẽ, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chƣơng chính là:  
   
10  
Chƣơng 1: Cơ sở lý luậnvề mạng lƣới vạn vật kết nối Internet  
Chƣơng 2: Nghiên cứu thực tiễn ứng dụng của Internet vạn vật trong cuộc sống  
và kinh doanh  
Chƣơng 3: Thực trạng ứng dụng Internet vạn vật trong thƣơng mại điện tử Việt  
Nam  
6.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ INTERNET VẠN VꢀT  
TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC  
6.1. Tình hình nghiên cứu của đề tài ngoài nƣớc  
Về những ấn phẩm đã xuất bản ngoài nƣớc, có một số bài báo, bản tin viết về  
Internet vạn vật, cụ thể nhƣ sau:  
[1] European technology Platform on Smart Systems Integration (EpoSS)  
(2008), Internet of things in 2020: A roadmap for the future.  
- Tóm tắt nội dung: Diễn đàn Công nghệ trên các hệ thống thông minh tích hợp  
(EPoSS) chứng minh rằng công nghệ RFID có thể cung cấp giá trị gia tăng để tích hợp  
hệ thống thông minh trong hậu cần và nhiều ngành công nghiệp khác. Vào thời điểm  
này, trên Diễn đàn, khái niệm “Internet of things” chƣa đƣợc định nghĩa, các chuyên  
gia vẫn tranh luận gay gắt về mặt học thuật. Tuy nhiên, EpoSS đã nhận ra rằng Internet  
vạn vật là kết quả của việc dịch chuyển từ hệ thống đến các dịch vụ dựa trên phần  
mềm, từ thẻ RFID thụ động sang các thẻ hoạt động RFID chủ động và cảm biến không  
dây, từ xác định thời gian thực thông qua cảm giác và phản ứng, từ tiếp xúc riêng tƣ  
đến việc bảo vệ để tin tƣởng. Diễn đàn tập trung thảo luận 3 nội dung sau:  
+ Công nghệ: xu hƣớng công nghệ diện rộng, các vấn đề riêng tƣ và bảo mật,  
các thiết bị thông minh phổ biến.  
+ Các ứng dụng: trong bán lẻ (nhấn mạnh sự thay thế mã vạch, các thiết bị  
thông minh có thể tự động lƣu trữ thông tin và cung cấp hàng chính xác thời gian, tăng  
hiệu quả trong quản lý chất lƣợng), trong hậu cần, trong thực phẩm, trong y tế, chăm  
sóc sức khỏe, trong giao thông, nhà thông minh.  
+ Các vấn đề xã hội: tác động tới môi trƣờng (ô nhiễm, ngăn ngừa thảm họa),  
luật pháp cho con ngƣời trong giai đoạn Internet vạn vật.  
Enterprise IoT: Strategies and Best Practices for Connected Products and Services,  
 
11  
Published by O‟Reilly Media, Inc.,1005 Gravenstein Highway North, Sebastopol, CA  
95472.  
- Tóm tắt nội dung: Cuốn sách này bao gồm 10 chƣơng, đƣợc chia thành 3 phần  
chính: Phần 1 là nghiên cứu các ứng dụng điển hình của IoT nhƣ năng lƣợng thông  
minh, xe kết nối, sản xuất và quản lý chuỗi cung ứng, thành phố thông minh. Phần 2 là  
xác định chiến lƣợc IoT, chuẩn bị, lập kế hoạch và thực hiện dự án IOT. Phần 3 là  
nghiên cứu chi tiết của IIC trong những dự án đầu tiên theo mạng lƣới IoT. Cụ thể nhƣ  
sau:  
+ Chƣơng 1. Giới thiệu tổng quan và tầm nhìn đến năm 2020 sẽ có 50 tỉ thiết bị  
kết nối trên toàn cầu.  
+ Chƣơng 2. Giới thiệu các thuật ngữ chính trong IoT.  
+ Chƣơng 3. Giới thiệu năng lƣợng mới (smart energy).  
+ Chƣơng 4. Giới thiệu các sản phẩm tích hợp, mô hình doanh nghiệp, hoạt  
động bán hàng/marketing mới, ngành công nghiệp 4.0 và các nghiên cứu điển hình tại  
các nhà máy thông minh, thiết bị theo dõi thông minh.  
+ Chƣơng 5. Giới thiệu công nghệ lái xe tự động (connected vehicle).  
+ Chƣơng 6. Giới thiệu thành phố thông minh (smart city) và các nghiên cứu tại  
thành phố thông minh Chicago, Rio de Janeiro, Stockholm, Boston, Hong Kong.  
+ Chƣơng 7. Nhận diện cơ hội cho IoT và xây dựng nền tảng để phát triển chiến  
lƣợc IoT.  
+ Chƣơng 8. Đánh giá chu kỳ sống cho một giải pháp IoT từ lập kế hoạch, xây  
dựng, triển khai.  
+ Chƣơng 9, 10: Giới thiệu mô hình IoT.  
[3] Du Jin - Wuhan Textile University (2011), Application of Internet of Things  
in Electronic Commerce, International Journal of Digital Content Technology and  
Applications (JDCTA), Volume6, Number8, May 2012, p222-p230.  
- Tóm tắt nội dung: Bài báo tập trung giới thiệu các ứng dụng của Internet vạn  
vật trong TMĐT. Tác giả khẳng định Internet vạn vật giúp cải thiện chất lƣợng của  
hàng hóa, dịch vụ và tăng tốc độ cung cấp dịch vụ TMĐT. Đồng thời, nhấn mạnh các  
khái niệm về Internet vạn vật nhƣ công cụ/ứng dụng không tƣởng của các thiết bị kết  
nối thông minh cùng với internet tạo ra một hƣớng phát triển mới cho TMĐT trong  
tƣơng lai. Trong bài viết của mình, tác giả cũng đƣa ra một số ứng dụng của RFID, và  
12  
coi đây là công nghệ chủ chốt của Internet vạn vật. Trong phần 2, tác giả giới thiệu  
những quan điểm đổi mới trong quản lý hàng hóa, chuỗi cung ứng, giao dịch và các  
mô hình kinh doanh, thiết bị công nghệ liên quan. Trong phần 3, tác giả nhấn mạnh sẽ  
có nhiều đổi mới nói chung, sự đổi mới của quản lý hàng hóa, sự đổi mới của trao đổi,  
hậu cần và cách để ngăn chặn hàng nhái.  
[4] Gubbi, Jayavardhana Buyya, RajkumarMarusic, Slaven Palaniswami,  
Marimuthu (2014), Internet of Things (IoT): a vision, architectural elements and  
future directions  
Bài báo này trình bày về tầm nhìn công nghệ điện toán đám mây – thành phần  
của IoT trên toàn thế giới. Công nghệ này có thể điều khiển IoT trong tƣơng lai gần,  
xây dựng dựa trên công nghệ đám mây cá nhân và công cộng và sự hội tụ của cảm  
biến không dây. Trong bài viết này, các tác giả đƣa ra cách hiểu về IoT là sự kết nối  
của máy móc và thiết bị thông qua internet. Trong IoT, thiết bị đƣợc kiểm soát và điều  
khiển bởi các thiết bị không dây. Theo dự báo của IDC thì tới năm 2020, có hơn 212 tỷ  
thiết bị IoT.  
[5] Herve Chabanne Pascal Urien and Jean-Ferdinand Susini (2011), RFID and  
the Internet of Things  
Cuốn sách gồm 5 phần, 9 chƣơng. Trong đó, nội dung của các phần là giới thiệu  
RFID (thành phần của sóng tần vô tuyến RFID, cơ chế giao tiếp), ứng dụng của RFID,  
bảo mật trong RFID, mạng lƣới EPC, nguyên lý hoạt động của IoT (giới thiệu, hệ  
thống, một số ứng dụng trên nền tảng dịch vụ RFID và phần mềm SUN Java RFID)  
6.2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ở trong nƣớc  
Về những ấn phẩm đã xuất bản trong nƣớc, có một số đề tài nghiên cứu khoa  
học, luận văn thạc sỹ, bài báo, bản tin viết về Internet vạn vật, cụ thể nhƣ sau:  
[1] Viện nghiên cứu công nghệ FPT - Đại học FPT (2011), Internet of Things,  
Bản tin công nghệ, Số 04 – Quý 2, Trang 6-8.  
Tóm tắt nội dung: Bài viết giới thiệu sự phát triển của Internet of Things trên  
thế giới. Từ đó khẳng định Internet of Things (IoT) là mô hình mạng lƣới các vật thể  
đƣợc đặt tên, sao cho mỗi vật thể có duy nhất một tên không trùng với vật thể khác,  
kết nối trao đổi thông tin với nhau tƣơng tự nhƣ giữa các máy tính trong mạng lƣới  
internet. Bài viết cũng đề cập tới một trong các nền tảng trao đổi thông tin của IoT là  
dựa trên mạng điện thoại không dây và công nghệ RFID. Từ đó IoT đã đƣợc triển khai  
13  
xây dựng “nhà thông minh” hay “thành phố thông minh”. Với doanh nghiệp, IoT có  
tiềm năng tạo ra trải nghiệm ngƣời dùng mới, thuận tiện, tự nhiên và hiệu quả hơn cho  
ngƣời mua. Ví dụ, sản phẩm giầy Nike+ chứa cảm biến ghi lại hành trình luyện tập sức  
khỏe, gửi dữ liệu lên Ipod và Internet, từ đó có thể tự động vào Facebook, Tweeter để  
cập nhật thông tin. Hoặc ngƣời dùng Androif@Home đã hình dung ra viễn cảnh các  
thiết bị kết nối với IoT thu thập dữ liệu cá nhân của ngƣời dùng và đƣa ra gợi ý thông  
tin trong dịch vụ tìm kiếm của Google sát nhất với nhu cầu. Tuy nhiên, khi phát triển  
các ứng dụng nhƣ trên, tác giả cũng nhấn mạnh, bảo mật dữ liệu và bảo vệ quyền riêng  
tƣ và ảnh hƣởng tới sức khỏe con ngƣời là những vấn đề mà xã hội cần giải quyết.  
[2] Đặng Duy An (2013), Luận văn thạc sỹ khoa học máy tính Một số công  
nghệ truyền thông trong mạng cảm biến không dây, ứng dụng vào xây dựng mô hình  
ngôi nhà thông minh, Đại học công nghệ thông tin và truyền thông – Đại học Thái  
Nguyên.  
Tóm tắt nội dung: Đây là đề tài thiên về công nghệ và kỹ thuật. Tác giả giới  
thiệu về Internet vạn vật (Internet of things), Web của mọi thứ (Web of things) và  
mạng cảm biến không dây (WSNs). Mạng lƣới này sẽ cho phép mọi thiết bị nhƣ máy  
tính, máy in, thiết bị cầm tay, điện thoại…có khả năng kết nối, truyền thông, thông báo  
tình trạng (hết hàng, hết thực phẩm trong tủ lạnh, hạn sử dụng…) và điều khiển nhƣ  
các máy tính qua mạng IP dựa trên nền web. Tác giả cũng khẳng định đây là hƣớng  
phát triển đầy triển vọng cho mạng Internet trong việc tích hợp các mạng thông tin  
khác nhau trên cùng một nền tảng IP thống nhất, trong đó mạng cảm biến không dây là  
hệ thống rất đƣợc quan tâm.  
[3] Báo điện tử Iotvietnam.vn (2015), Nghiên cứu gì về IoT, xuất bản ngày  
15/12/2015  
Tóm tắt nội dung: Bài viết giới thiệu về sự ra đời của IoT, bắt nguồn từ ý tƣởng  
của Ashton là kết nối tất cả mọi vật tồn tại trong đời sống sinh hạt hàng ngày của con  
ngƣời vào mạng internet. Với doanh nghiệp, tác giả cũng đề cập vấn đề đạo đức thông  
tin là nghiên cứu quan trọng đầu tiên liên quan đến IoT. Các doanh nghiệp thời đại  
CNTT hƣởng lợi trực tiếp từ việc sở hữu và thu thập thông tin từ ngƣời dùng, kể cả  
những thông tin riêng rƣ. Về yếu tố kỹ thuật, nghiên cứu cho IoT là cần xác định đƣợc  
tần số vô tuyến (RFID), nghiên cứu khắc phục va chạm và nhiễu các nút thông tin, an  
ninh mạng,..Về ứng dụng, IoT chia lĩnh vực ứng dụng thành bốn nhóm chính là nhóm  
14  
giao thông vận tải và hậu cần, nhóm chăm sóc sức khỏe, nhóm môi trƣờng thông minh  
(nhà ở, văn phòng, nhà máy) và nhóm cá nhân, xã hội. Về mặt khả thi, ứng dụng của  
IoT có thể chia thành hai nhóm là nhóm hiện hữu và nhóm tƣơng lai. Các ứng dụng  
hiện hữu là những ứng dụng phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật sẵn có, các ứng  
dụng tƣơng lai là những ứng dụng mang tính viễn cảnh mà khoa học kỹ thuật hiện tại  
chƣa đủ khả năng thực hiện.  
[4] Cục thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia - Bộ Khoa học và Công  
nghệ (2016), Nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ Nghiên cứu cơ sở lý luận và  
thực tiễn thiết lập tài nguyên số, truy cập mở về nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ  
ngân sách nhà nước trên cơ sở ứng dụng Dữ liệu lớn và Internet vạn vật (BigData,  
Internet of things)  
Tóm tắt nội dung: Đây là đề tài NCKH đƣợc Bộ Khoa học và Công nghệ giao  
trực tiếp cho Cục thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia theo Thông báo số  
2305/TB-BKHCN, tổ chức thực hiện trong thời gian dự kiến là 12 tháng, bắt đầu từ  
ngày 30/06/2015. Mục tiêu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm  
của các nƣớc tiên tiến trong việc phát triển tài nguyên số và truy cập mở về nghiên cứu  
từ ngân sách nhà nƣớc tài trợ, đề xuất giải pháp và cơ chế phát triển tài nguyên số, truy  
cập mở về nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ ngân sách nhà nƣớc dựa trên ứng dụng  
Dữ liệu lớn (BigData) và Internet vạn vật. Sản phẩm dự kiến của đề tài là: Báo cáo  
nghiên cứu kinh nghiệm ứng dụng công nghệ hiện đại, đặc biệt BigData và Internet of  
things trong việc phát triển tài nguyên số và truy cập mở về nghiên cứu; Báo cáo cơ  
chế phát triển tài nguyên số và truy cập mở đối với dữ liệu nghiên cứu đƣợc nhà nƣớc  
tài trợ ở các nƣớc G7; Báo cáo đề xuất giải pháp và cơ chế phát triển, truy cập mở về  
nghiên cứu đƣợc tài trợ từ ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam; Báo cáo tổng kết đề tài; 1  
bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành.  
[5] Giang Phƣơng (2015), Internet of Things – Nền tảng hội tụ cho giao thông  
đô thị thông minh, Bản tin nội bộ của tập đoàn công nghệ CMC số 43 – tháng 9/2015  
Bài viết đƣợc tác giả trình bày tóm tắt từ báo cáo về “Hạ tầng trung tâm dữ liệu  
IoT” trong khuôn khổ “Hội thảo toàn cảnh CNTT và truyền thông Việt Nam –  
Vietnam ICT outlook”. Tác giả khẳng định giao thông thông minh nghĩa là có sự điều  
khiển, giám sát để đƣa ra những quyết định đúng đắn trong định hƣớng, lộ trình cần  
thiết cho giao thông đƣợc thuận tiện hơn. Tác giả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của  
15  
hạ tầng trung tâm dữ liệu theo tiêu chuẩn trong việc đảm bảo cho lƣu trữ và bảo vệ dữ  
liệu – thành phần quan trọng của IoT. Từ đó tiến tới một hệ thống giao thông thông  
minh và tiếp tục lộ trình hình thành các đô thị thông minh tại Việt Nam trong tƣơng  
lai.  
[6] Hồ Sỹ Hùng (2016), Internet of Things là gì và nó sẽ ảnh hưởng đến tương  
lai của chúng ta như thế nào? Báo điện tử Techmaster, bài viết đăng tải ngày  
31/01/2016.  
Bài viết đƣợc dịch từ trang web Makeuseof, tác giả khẳng định có những thuật  
ngữ thông dụng mới xuất hiện và mất đi mỗi ngày trong cuộc sống và IoT chỉ là một  
trong những thuật ngữ nhƣ vậy. Tuy nhiên, thuật ngữ này tự bản thân nó có chút mơ  
hồ và có rất nhiều quan niệm sai lầm xung quanh bản chất của IoT. Theo tác giả, hiện  
nay, Internet đang hoạt động chủ yếu bởi con ngƣời. Tất nhiên, chúng ta có hàng dặm  
hệ thống cáp quang và hàng triệu thiết bị định tuyến trên toàn thế giới để quản lý lƣu  
lƣợng internet. Nhƣng về bản chất, Internet là một mạng lƣới kết nối giữa con ngƣời  
với nhau và các thiệt bị điện tử chỉ đơn thuần là để tạo điều kiện cho mạng lƣới đó.  
IoT là một mạng lƣới có khả năng kết nối hơn thế, giúp các thiết bị giao tiếp mà không  
cần sự tham gia của con ngƣời. IoT là một khái niệm đơn giản với ba chức năng là một  
cách để cho các thiết bị kết nối đƣợc với nhau, một cách để cho các thiết bị thu thập dữ  
liệu, một cách để cho các thiết bị xử lý dữ liệu đó và đƣa ra quyết định phù hợp. Sự kết  
nối này có ý nghĩa rất lớn về hiệu quả và sự tự động hóa.  
Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh vấn đề bảo mật dữ liệu là vô cùng quan  
trọng. Việc giao tiếp giữa các thiết bị là rất tốt và hoàn hảo cho đến khi có một ai đó  
xâm nhập vào hệ thống và chiếm quyền điều khiển một thiết bị cho mục đích xấu. Do  
đó, trong bài viết, tác giả nhấn mạnh cần quan tâm tới quyền riêng tƣ về thông tin  
trong việc phát triển các ứng dụng của IoT trong tƣơng lai.  
[7] Nguyễn Việt Thắng (2015), Dữ liệu lớn và kiến trúc hạ tầng IoT trong kết  
cấu hạ tầng đô thị tương lai, Hội thảo toàn cảnh CNTT và truyền thông lần thứ 20,  
Chủ đề Internet of Things – nền tảng hội tụ cho giao thông đô thị thông minh, Thành  
phố Hồ Chí Minh, ngày 24/09/2015  
Tác giả là tiến sỹ điện tử viễn thông, chuyên ngành MIS cho chính phủ điện tử.  
Có 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực CNTT – viễn thông tại Việt Nam. Chủ trì thiết  
kế và triển khai các Dự án Giao thông thông minh tại Việt Nam nhƣ hầm Đèo cả, hầm  
16  
Cổ mã. Là ngƣời hiểu sâu sắc về hệ thống giao thông tự động hóa cho Giao thông  
thông minh trên các cao tốc, hầm đƣờng bộ. Theo tác giả, Giao thông thông minh sẽ là  
động lực chính thay đổi cơ bản về Hạ tầng giao thông tại Việt Nam trong 5-10 năm  
tới. Tác giả cũng kiến nghị với nhà nƣớc một số nội dung nhƣ:  
- Tạo hành lang pháp lý trong việc nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng thực tế cho  
các doanh nghiệp;  
- Thành lập quỹ, ƣu tiên hỗ trợ kinh phí cho các đề án khả thi hay các tổ chức,  
các nhà khoa học tham gia nghiên cứu, sản xuất thiết bị;  
- Ƣu tiên lãi suất thấp cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh;  
- Thu hút và sử dụng hiệu quả đội ngũ nhà khoa học trẻ;  
- Trao cơ hội, tin tƣởng và khuyến khích các doanh nghiệp khởi nghiệp trong  
lĩnh vực này;  
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, cạnh tranh trong khu vƣc;  
- Hình thành nhóm làm việc chuyên sâu, phối hợp với chính quyền các tỉnh  
thành khảo sát và đề xuất phƣơng án đầu tƣ phát triển đô thị thông minh trong tƣơng  
lai.  
[8] Nguyễn Hữu Công (2016), Internet of Things và nền công nghiệp 4.0, Đại  
học Thái nguyên.  
Theo tác giả, IoT là sự hội tụ của công nghệ không dây, công nghệ vi cơ điện tử  
Internet và điện toán đám mây. Nói đơn giản là một tập hợp các thiết bị có khả năng  
kết nối với nhau, với Internet và với thế giới bên ngoài để thực hiện một công việc nào  
đó. Sau khi giới thiệu một số cách hiểu về IoT, tác giả giới thiệu về các ứng dụng của  
IoT trong một số lĩnh vực nhƣ: quản lý chất thải, quản lý đô thị, quản lý môi trƣờng,  
mua sắm thông minh, quản lý các thiết bị cá nhân, đồng hồ đo thông minh, tự động  
hóa ngôi nhà, học tập trực tuyến. Ở phần thứ hai trong bài viết, tác giả giới thiệu về  
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trong đó, có thể thấy một số con số đƣợc tác  
giả đề cập nhƣ 10% dân số mặc quần áo kết nối internet, 90% dân số lƣu trữ dữ liệu  
không giới hạn và miễn phí, 10% mắt kính kết nối internet vào năm 2025 và khẳng  
định đây là một thị trƣờng rất tiềm năng cho Việt Nam.  
7. BÀI HỌC KINH NGHIꢃM QUỐC Tꢁ VỀ ỨNG DỤNG INTERNET VẠN  
VꢀT KꢁT NỐI  
7.1. Tại các quốc gia tiên tiến  
 
17  
7.1.1. Liên minh Châu Âu  
Từ năm 2007, Liên minh châu Âu (EU) đã đƣa ra và bắt đầu thực hiện một loạt  
mục tiêu xây dựng thành phố thông minh. Theo Telefonica, một thành phố thông minh  
sẽ tiết kiệm đƣợc 15% lƣợng nƣớc tiêu thụ, giảm đƣợc 10% lƣợng điện tiêu thụ, giảm  
17% lƣợng khí thải CO2 và giảm gần 25% về nhu cầu giao thông vận tải. Tiêu chí  
đánh giá của EU đối với thành phố thông minh bao gồm 6 phƣơng diện là: Kinh tế  
thông minh, môi trƣờng thông minh, quản lý thông minh, giao thông thông minh, cuộc  
sống thông minh và con ngƣời thông minh.  
Hiện trên thế giới hiện có khoảng hơn 100 thành phố đã triển khai các cấp độ  
khác nhau của thành phố thông minh. Một số hình mẫu thành phố thông minh đi đầu  
có thể kể đến nhƣ Amsterdam (Hà Lan), Lyon (Pháp), Stokholm (Thụy Điển),  
Copenhagen (Đan Mạch), Phần Lan, Luxembourg, Bỉ và Áo có những thành phố có  
mức độ thông minh khá cao. Những kinh nghiệm của các nƣớc EU trong việc cải thiện  
giao thông, tăng cƣờng sử dụng năng lƣợng tiết kiệm và hiệu quả là những bài học bổ  
ích đối với các quốc gia khác.  
Lấy ví dụ về Thủ đô Stokholm của Thụy Điển. Thành phố này đã xử lý ùn tắc  
giao thông trong thành phố rất hiệu quả. Cụ thể, trên con đƣờng dẫn vào trung tâm  
thành phố đƣợc lắp đặt 18 máy giám sát, sử dụng công nghệ RFID với các hệ thống  
máy camera và máy quét (scanner) để nhận dạng tự động tất cả các phƣơng tiện. Với  
những thiết bị này, các phƣơng tiện đi vào hoặc đi ra khỏi thành phố trong thời gian từ  
06h30 đến 18h30 các ngày trong tuần (trừ thứ 7 và Chủ nhật) đều phải đóng phí ùn tắc  
giao thông, nhờ vậy, mức độ ùn tắc giao thông của thành phố đã giảm 25%, đồng thời  
lƣợng phát thải khí nhà kính giảm 40%.  
Một ví dụ khác là thành phố Copenhagen của Đan Mạch. Thành phố  
Copenhagen đƣợc biết đến nhƣ là một "thành phố xe đạp" đã đạt đƣợc những thành  
công trong việc phát triển giao thông xanh. Để tạo thuận lợi cho ngƣời dân sử dụng  
phƣơng tiện giao thông công cộng là đƣờng sắt có mức độ phát thải CO2 thấp, thành  
phố đã thông qua công tác quy hoạch để đảm bảo khoảng cách tiếp cận giao thông  
đƣờng sắt của ngƣời dân từ nơi ở của họ chỉ trong khoảng 1km. Để di chuyển quãng  
đƣờng 1km đó đến ga đƣờng sắt, phƣơng tiện chủ yếu là xe đạp. Bên cạnh đó, thành  
phố đã thêm 3 tuyến đƣờng dành cho xe đạp và các trạm dịch vụ sửa xe dọc theo tuyến  
đƣờng, đồng thời cung cấp các dịch vụ nhận dạng RFID và định vị toàn cầu cho xe  
18  
đạp để lƣu thông của ngƣời đi xe đạp không bị cản trở bởi hệ thống đèn tín hiệu giao  
thông.  
Hoặc một ví dụ khác là Amsterdam - thủ đô của Hà Lan. Thành phố này nằm  
trên bờ sông Amstel và mang dáng dấp của một thành phố cổ châu Âu điển  
hình.Amsterdam là một trong số ít các thành phố trên thế giới có xe đạp nhiều hơn dân  
số. Tƣơng tự nhƣ ở Đan Mạch, đi xe đạp là một phần của lối sống cƣ dân đô thị tại  
Amsterdam bởi thành phố đã xác định đây là bƣớc quan trọng và hợp lý đối với việc  
tạo ra một thành phố bền vững. Nhiều dự án đã thiết lập trong 4 lĩnh vực khác nhau:  
không gian công cộng bền vững, giao thông bền vững, cuộc sống bền vững và làm  
việc bền vững. Một trong những dự án tốt nhất là dự án “Climate Street” (tạm dịch là  
"Đƣờng phố vì khí hậu"). Trên các đƣờng phố này, đã có nhiều công nghệ khác nhau  
đƣợc ứng dụng sẽ đƣợc thử nghiệm để tạo ra các giải pháp bền vững. Ví dụ nhƣ công  
nghệ đo lƣờng mức tiêu thụ năng lƣợng, đèn thông minh tự động mở tắt khi không có  
ngƣời, tích hợp chiếu sáng đƣờng phố sử dụng bóng đèn tiết kiệm năng lƣợng,…  
Ngoài ra, Amsterdam rất quyết tâm trong đổi mới chính sách giao thông nhƣ nâng cấp  
và mở rộng hệ thống xe lửa, xe điện, tàu điện ngầm và cơ sở hạ tầng xe đạp, chú trọng  
không gian công cộng, khuyến khích công trình xanh...  
7.1.2. Mỹ  
Ngày 28/01/2009, ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã  
có cuộc gặp gỡ với ông Sam Palmisano của IBM - Giám đốc điều hành khi đó của Tập  
đoàn IBM. Tại buổi gặp gỡ này, IBM đã chính thức đƣa ra khái niệm "Hành tinh thông  
minh" và đề xuất với Chính phủ Mỹ một Dự án đầu tƣ xây dựng hạ tầng thông tin  
thông minh thế hệ mới.  
Tháng 9/2009 IBM và thành phố Dubuque - Bang Iowa cùng đƣa ra tuyên bố sẽ  
xây dựng thành phố Dubuque trở thành một thành phố thông minh đầu tiên ở Mỹ.  
Bƣớc triển khai đầu tiên của thành phố Dubuque trong quá trình xây dựng thành  
phố thông minh là lắp đặt đồng hồ nƣớc sử dụng cảm biến lƣu lƣợng cho tất cả các hộ  
dân và các cửa hàng nhằm giảm thiểu sự sử dụng lãng phí và thất thoát nƣớc. Đồng  
thời, thành phố xây dựng một trung tâm quản lý tổng hợp, tại đó tiến hành phân tích  
dữ liệu theo thời gian thực, có thể tổng hợp số liệu và quản lý việc sử dụng nƣớc của  
toàn thành phố.  
19  
Một việc quan trọng hơn là thành phố Dubuque xuất bản các tài liệu tuyên  
truyền cho các cá nhân và doanh nghiệp để họ nâng cao nhận thức về phát triển bền  
vững và tăng cƣờng trách nhiệm sử dụng năng lƣợng hiệu quả. Để cải thiện năng lực  
vận tải cũng nhƣ chất lƣợng phục vụ của hệ thống giao thông công cộng, thành phố  
Dubuque hết sức chú trọng công tác quản lý và quy hoạch, đồng thời hợp tác với IBM  
trong việc ứng dụng công nghệ nhận dạng tần 2 số sóng vô tuyến (RFID) để theo dõi  
hoạt động của các tuyến xe buýt và sự di chuyển của hàng trăm hành khách tình  
nguyện tham gia Chƣơng trình. Các số liệu thu đƣợc sẽ đƣợc phân tích để xây dựng  
các giải pháp quy hoạch giao thông tốt hơn và nâng cao hiệu quả của hệ thống giao  
thông công cộng.  
Với mục tiêu xây dựng thành phố thông minh, Dubuque đã lập kế hoạch sử  
dụng công nghệ nối mạng để số hóa và kết nối các nguồn lực của thành phố (bao gồm  
cấp nƣớc, cấp điện, khí đốt, giao thông, các dịch vụ công cộng...), tiến hành quản lý,  
phân tích và tích hợp dữ liệu để đƣa ra sự đáp ứng một cách thông minh đối với các  
nhu cầu của cộng đồng, giảm thiểu chi phí và tiêu hao năng lƣợng của thành phố,  
khiến cho Dubuque trở thành một thành phố đáng sống và có môi trƣờng kinh doanh  
thuận lợi.  
7.1.3. Hàn Quốc  
Từ năm 2003, chính phủ Hàn Quốc đã đề ra chiến lƣợc phát triển “ U-Korea”,  
với hi vọng xây dựng Hàn Quốc trở thành một đất nƣớc thông minh. Chiến lƣợc phát  
triển này sử dụng hệ thống cảm biến không dây để thúc đẩy việc số hóa các tài  
nguyên, kết nối mạng, dễ sử dụng và thông minh, đã làm thay đổi đáng kể xã hội và sự  
phát triển kinh tế của Hàn Quốc.  
Chiến lƣợc này đƣợc thực hiện thông qua việc xây dựng chiến lƣợc vĩ mô của  
quốc gia “ U- city”. Trong các thành phố “U-city”, CNTT có mặt trong tất cả các bộ  
phận cấu thành của thành phố, để ngƣời dân có thể bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ chỗ nào và  
sử dụng bất kỳ thiết bị gì cũng có thể tiếp cận và sử dụng các dịch vụ đô thị. Dựa trên  
Chiến lƣợc xây dựng “U-city”, tháng 6/2011, thủ đô Seoul của Hàn Quốc đã đƣa ra kế  
hoạch “Seoul thông minh năm 2015” thể hiện tham vọng trở thành một thành phố  
thông minh tầm cỡ thế giới.  
Theo đó, từ năm 2012, ngƣời dân thành phố Seoul đã có thể tiếp cận các dịch  
vụ hành chính cơ bản nhƣ cấp chứng nhận, trả tiền thuế, thanh toán hóa đơn... thông  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 79 trang yennguyen 14700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Nghiên cứu về mạng lưới vạn vật kết nối Internet (Internet of things) và khả năng ứng dụng tại thị trường thương mại điện tử Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_nghien_cuu_ve_mang_luoi_van_vat_ket_noi_inter.pdf