Báo cáo Đề tài Nghiên cứu tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thực phẩm chế biến trên địa bàn thành phố Hà Nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
------------o0o------------  
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU  
KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG  
Nghiên cứu tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu quả  
kinh doanh của các doanh nghiệp thực phẩm chế biến trên  
địa bàn thành phố Hà Nội  
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt  
Hà Nội, năm 2019  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
TIẾNG VIỆT  
STT Từ viết tắt  
Giải nghĩa đầy đủ  
1
2
CLCT  
DN  
Chiến lược cạnh tranh  
Doanh nghiệp  
Hợp tác xã  
3
HTX  
MPI  
QĐ  
4
Bộ kế hoạch đầu tư  
Quyết định  
5
6
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên  
7
TNXH  
VCCI  
VSATTP  
ATTP  
NĐ  
Trách nhiệm xã hội  
Phòng công nghiệp thương mại Việt Nam  
Vệ sinh an toàn thực phẩm  
An toàn thực phẩm  
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
Nghị định  
CP  
Chính phủ  
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn  
BYT  
BCT  
BTC  
SL  
Bộ Y tế  
Bộ Công thương  
Bộ Tài chính  
Số lượng  
TL  
Tỷ lệ  
TIẾNG ANH  
STT Từ viết tắt  
Tiếng anh  
Giải nghĩa tiếng Việt  
1
ANOVA Analysis Of Variance  
Phương pháp phân tích phương sai  
Association of Southeast Asian  
2
ASEAN  
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á  
Nations  
3
4
5
6
7
8
BCG  
BEF  
BIT  
DS  
Boston Consulting Group  
Basic Earning Power Ratio  
Bilateral Investment Treaties  
Diffirent Strategy  
Tập đoàn tư vấn Boston  
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản  
Hiệp định Đầu tư Song phương  
CLCT khác biệt hóa  
EFA  
FDI  
Exploratory Factor Analysis  
Foreign Direct Investment  
Phân tích nhân tố khám phá  
Đầu tư trực tiếp nước ngoài  
1
STT Từ viết tắt  
Tiếng anh  
Focus Strategy  
Giải nghĩa tiếng Việt  
CLCT tập trung  
9
FS  
FTA  
GDP  
LC  
10  
11  
12  
13  
14  
Free Trade Agreement  
Gross Domestic Product  
Low Cost  
Hiệp định Thương mại Tự do  
Tổng sản phẩm quốc nội  
CLCT chi phí thấp  
PB  
Business Performance  
Return On Assets  
Hiệu quả kinh doanh  
ROA  
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản  
Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ  
sở hữu  
15  
ROE  
Return on common equyty  
16  
17  
ROI  
Return On Investment  
Strategy Business Unit  
Small and medium sized  
enterprises  
Lợi tức đầu tư  
SBU  
Đơn vị kinh doanh chiến lược  
18  
19  
20  
SME’s  
JICA  
IFS  
Doanh nghiệp nhỏ và vừa  
Japan International Cooperation  
Agency  
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản  
Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế  
International Featured  
Standards  
Tiêu chuẩn toàn cầu về an toàn thực  
phẩm  
21  
22  
23  
24  
25  
BRC  
GMP  
British Retailer Consortium  
Good Manufacturing Practices Thực hành sản xuất tốt  
Hazard Analysis and Critical  
Control Points  
Phân tích mối nguy và điểm kiểm  
HACCP  
TQM  
soát tới hạn  
Total Quality Management  
Quản lý chất lượng toàn diện  
Organization for Economic Co- Tổ chức hợp tác và phát triển kinh  
OECD  
operation and Development  
tế  
Cục quản lý thực phẩm và dược  
phẩm  
26  
FDA  
Food and Drug Administration  
2
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài  
Toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay đã dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt hơn giữa  
các doanh nghiệp (DN) ở tất cả các ngành kinh doanh. Sự thay đổi trong môi trường  
kinh doanh đã buộc các DN phải phân tích nhiều hơn các hành vi cạnh tranh theo các  
chiến lược của các đối thủ khác nhau trên thị trường. Điều này có thể giải thích cho  
sự khác biệt về hiệu quả kinh doanh khi các DN áp dụng các loại hình chiến lược  
cạnh tranh (CLCT) khác nhau, từ đó quyết định được phương thức cạnh tranh hiệu  
quả nhất. Bàn về vai trò của CLCT trong thời đại hiện nay, các nhà kinh tế đều ủng  
hộ quan điểm các DN áp dụng CLCT có xu hướng mang lại hiệu quả kinh doanh cao  
hơn so với những DN không có CLCT. Theo Thompson và Strickland (2010), CLCT  
bao gồm tất cả những hành động mà DN đang triển khai nhằm thu hút người mua,  
chịu được áp lực cạnh tranh và cải thiện vị thế cạnh tranh trên thị trường. Lester  
(2009) cho rằng CLCT cho phép DN xác định được ngành kinh doanh cũng như các  
thị trường để khai thác và tìm kiếm lợi nhuận trong tương lai. Còn theo quan điểm  
của Porter (1985) CLCT xác định vị trí của DN trong một ngành kinh doanh dù lợi  
nhuận của nó là cao hay thấp hơn so với mức trung bình của ngành. Jegak, Haslinda  
& Alimin (2009) tiếp tục khẳng định rằng một DN mà thực hiện một điều gì đó đặc  
biệt và khó bắt chước có lợi thế cạnh tranh sẽ có nhiều lợi nhuận hơn so với đối thủ  
của mình. Lựa chọn CLCT là quyết định cấp kinh doanh của và có khả năng tác động  
đến hiệu quả kinh doanh của DN trong dài hạn, do đó việc xác định CLCT dựa trên  
các năng lực cạnh tranh nào là vấn đề trọng tâm đối với các DN.  
Thực phẩm là một trong những ngành công nghiệp quan trọng luôn chiếm tỷ  
trọng cao và có đóng góp giá trị đáng kể đối với ngành công nghiệp nói riêng và nền  
kinh tế Việt Nam nói chung. Với gần bảy nghìn DN đang hoạt động sử dụng trên  
hàng trăm nghìn lao động trong cả nước, các DN kinh doanh thực phẩm đã và  
đang đóng góp quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam. Trải qua nhiều năm xây dựng  
và phát triển, các DN thực phẩm chế biến của Việt Nam đã từng bước đáp ứng  
nhiều sản phẩm thiết yếu, phục vụ nhu cầu trong nước, thay thế nhập khẩu và tham  
gia xuất khẩu với sự đa dạng về mẫu mã, chủng loại. Các DN thực phẩm chế biến  
tại Hà Nội đang hướng đến mục tiêu chiến lược phát triển trên cơ sở sử dụng công  
nghệ tiên tiến, hiện đại, khai thác sử dụng tối đa nguyên liệu trong nước, tạo sản  
phẩm đa dạng, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt  
Nam và quốc tế, có khả năng cạnh tranh cao, để hình thành ngành kinh tế mạnh, hội  
3
nhập vững chắc với khu vực và thế giới, thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Điều này  
cần thiết các DN thực phẩm chế biến tại Hà Nội cần phải lựa chọn và triển khai các  
CLCT phù hợp, đảm bảo nâng cao cao năng lực cạnh tranh và từ đó nâng cao hiệu  
quả kinh doanh. Việc nghiên cứu CLCT của các DN thực phẩm chế biến sẽ xem xét  
các vấn đề liên quan đến quản trị CLCT và hiệu quả kinh doanh cũng như tác động  
của CLCT đến hiệu quả kinh doanh bởi các mục tiêu hiệu quả kinh doanh của DN  
phải dựa trên nền tảng xây dựng các năng lực cạnh tranh bền vững. Mỗi loại hình  
CLCT mà các DN thực phẩm chế biến tại Hà Nội áp dụng đều có khả năng mang lại  
những kết quả kinh doanh hoàn toàn khác biệt nhau, và hiệu quả CLCT cũng là một  
trong những tiêu chí quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của DN thực  
phẩm chế biến tại Hà Nội trong tương lai.  
Tổng quan các công trình nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng đến nay vẫn  
chưa tồn tại công trình nghiên cứu nào xem xét một cách toàn diện các năng lực  
cạnh tranh cấu thành các CLCT, tác động của CLCT đến hiệu quả kinh doanh và  
các yếu tố ảnh hưởng đến CLCT của DN, đặc biệt là các DN thực phẩm chế biến tại  
Hà Nội. Các nghiên cứu mới chỉ tập trung chủ yếu vào một khía cạnh nhất định của  
quản trị CLCT như hoàn thiện quy trình hoạch định CLCT. Ngoài ra, sự thiếu vắng  
của các nghiên cứu chuyên sâu về CLCT của các DN trong ngành thực phẩm Việt  
Nam cũng thể hiện khoảng trống nghiên cứu về vấn đề này. Các nghiên cứu trong  
nước cũng chỉ mới giải quyết chủ yếu vấn đề lựa chọn CLCT cho các DN ở một số  
ngành kinh doanh cụ thể mà chưa có công trình nghiên cứu nào trong nước tiếp cận  
một cách đầy đủ, toàn diện và cập nhật về CLCT theo hướng nâng cao năng lực  
cạnh tranh và nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN nói chung và DN thực phẩm  
chế biến nói riêng.  
Xuất phát từ những lập luận trên mà tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu đề  
tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu  
quả kinh doanh của các doanh nghiệp thực phẩm chế biến trên địa bàn thành phố  
Hà Nội”. Việc lựa chọn nghiên cứu đề tài với cách tiếp cận toàn diện về CLCT sẽ giúp  
các nhà quản trị, các nhà nghiên cứu có thể hiểu rõ hơn về vai trò, tầm quan trọng và ý  
nghĩa của CLCT đối với sự phát triển của DN trong tương lai.  
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu  
(1) Nghiên cứu về chiến lược cạnh tranh  
CLCT là một trong những chủ đề nghiên cứu quan trọng đối với các DN.  
Tuy vậy, hiện nay tồn tại khá nhiều quan điểm và cách tiếp cận về CLCT khác  
4
nhau. Trong đó phải kể đến nghiên cứu quan trọng đầu tiên của tác giả M. Porter  
(1980) với cuốn sách “Competitive strategy”. Đây là công trình nghiên cứu nổi  
tiếng thế giới về chiến lược nói chung và CLCT nói riêng. Nội dung cuốn sách tập  
trung làm rõ sự tồn tại của DN được quyết định bởi một trong hai yếu tố lợi thế  
gồm: chi phí thấp nhất và sự khác biệt hóa sản phẩm, từ đó tác giả đã phát triển  
thành ba loại hình CLCT chính cho các DN lựa chọn chính là: CLCT chi phí thấp,  
CLCT khác biệt hóa và CLCT tập trung. Tác giả đã phân tích về bản chất, đặc điểm,  
điều kiện phù hợp để lựa chọn và theo đuổi mỗi loại hình CLCT cũng như những  
thuận lợi và rủi ro đối với DN khi lựa chọn. Đây được coi là một trong những công  
trình nghiên cứu quan trọng để có thể hình thành được hệ thống cơ sở lý luận cho  
tác giả trong nghiên cứu đề tài. Dựa trên kết quả nghiên cứu về CLCT của M.  
Porter (1980), đã có rất nhiều các tác giả trên thế giới phát triển lý thuyết về CLCT  
như Gibert & Strerbel (1987,1989), Treacy & Wiersema (1995), Hax&Wilde  
(2001). Tuy nhiên hầu như các quan điểm về CLCT này đều có sự tương đồng về  
mặt ý tưởng đối với quan điểm của M. Porter đưa ra trước đây.  
Một quan điểm mới của Chan Kim và cộng sự (2004) được đưa ra để bàn về  
CLCT theo một quan điểm khác so với cách tiếp cận truyền thống. Trong công trình  
nghiên cứu “Ocean Blue Strategy” hai tác giả đã trình bày những nguyên lý cơ bản  
về CLCT trong giai đoạn mới, trong đó giả định các DN hoạt động trong các ngành  
kinh doanh hiện thời được ví như đang tham gia vào “đại dương đỏ” và CLCT tốt  
nhất dành cho DN đó là “chiến lược đại dương xanh”. Cũng theo quan điểm này,  
thay vì chỉ cạnh tranh dựa trên một lợi thế cạnh tranh đặc thù là chi phí thấp hoặc  
khác biệt hóa, DN có thể sử dụng CLCT dựa trên cả hai nguồn của lợi thế cạnh  
tranh là cả chi phí thấp và khác biệt hóa, tuy nhiên phải đáp ứng được những điều  
kiện, và nguyên tắc cụ thể.  
Sau này, Sanchez (2004) trong nghiên cứu “Understanding competence-  
based management: Identifying and managing five modes of competence” đã xây  
dựng một lý thuyết mới về CLCT dựa trên năng lực cạnh tranh của DN. Trong đó  
nhấn mạnh sự cạnh tranh của DN dựa trên các năng lực như sau: DN, thị trường và  
tương tác cạnh tranh. Ở đó nhấn mạnh chiến lược khả thi phải bao gồm cả các  
nguồn lực, những khả năng của DN trong việc sử dụng nguồn lực, quy trình quản lý  
để xác định, xây dựng năng lực và một chiến lược xác định trong quá trình triển  
khai khả năng nhằm theo đuổi các mục tiêu chiến lược cụ thể. Về cơ bản, cạnh tranh  
dựa trên nguồn lực cho rằng sự thành công bền vững của DN là từ lợi thế so sánh  
5
các nguồn lực trong khi cạnh tranh dựa trên năng lực lại khẳng định sự thành công  
là đạt được mục tiêu (có thể bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau như cung cấp lợi  
ích kinh tế, môi trường làm việc, kinh nghiệm chuyên môn và các lợi ích khác là cơ  
sở cho một cuộc sống tốt đẹp cho tất cả các bên liên quan, chứ không chỉ là các mục  
tiêu trong chiến lược để tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối đa hóa sự giàu có cổ đông).  
Năng lực cạnh tranh là cơ sở tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững của DN và trực  
tiếp phản ánh khả năng thay đổi trong cấu trúc nguồn lực của DN theo thời gian để  
thích nghi với môi trường. Điều này phù hợp với nghiên cứu cho thấy rằng trong  
môi trường thay đổi liên tục thì các năng lực cạnh tranh mới là nguồn gốc của lợi  
thế cạnh tranh mà các đối thủ cạnh tranh sẽ khó có thể bắt chước hoặc cải tiến trong  
dài hạn.  
Tại Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về chủ đề chiến lược và CLCT  
của DN. Tác giả Ngô Kim Thanh (2012), tác giả Nguyễn Hoàng Việt & Nguyễn  
Hoàng Long (2015) với giáo trình “Quản trị chiến lược” được sử dụng trong quá  
trình giảng dạy ở trường đại học. Đây là những công trình nghiên cứu cung cấp cơ  
sở lý luận một cách khoa học và hệ thống về chiến lược và CLCT của DN. Trong đó  
nhấn mạnh chiến lược là công cụ cạnh tranh hiệu quả của DN trong điều kiện toàn  
cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay, và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các DN trên  
thị trường. Nhờ có chiến lược mà các DN có thể tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho  
DN, giúp DN liên kết được các cá nhân và lợi ích khác cùng hướng tới một mục  
đích phát triển DN. Nghiên cứu cũng xây dựng một quy trình nhằm quản trị chiến  
lược hiệu quả, phù hợp và linh hoạt cho các DN có điều kiện chủ động thích ứng  
với sự biến động của thị trường. Trong hai công trình nghiên cứu này, tác giả cũng  
đã phân tích vai trò và tầm quan trọng của CLCT giúp cho DN định hướng hoạt  
động trong dài hạn và là cơ sở cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp, chiến  
lược cũng cho phép DN nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh đồng thời có  
được biện pháp chủ động thích nghi với sự thay đổi, biến động của môi trường và  
thị trường, mặt khác chiến lược góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực  
từ đó cho phép DN tăng cường vị thế cạnh tranh cũng như phát triển bền vững. Tác  
giả Phạm Thúy Hồng (2003) với đề tài luận án tiến sĩ “Phát triển chiến lược cạnh  
tranh cho các DN vừa và nhỏ Việt Nam trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế  
giới”. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ  
bản về phát triển CLCT của DN, tập trung vào hai khía cạnh chính là lựa chọn và  
triển khai CLCT gắn với các DN nhỏ và vừa tại Việt Nam. Tác giả đã tập trung  
6
hoàn thiện và phát triển CLCT theo các nội dung: Xác lập sứ mạng kinh doanh của  
DN, phân tích các nhân tố bên trong và bên ngoài, hoạch định các phương án chiến  
lược cụ thể, phân tích lựa chọn chiến lược tối ưu và chuẩn bị các điều kiện triển  
khai – thực thi và đánh giá chiến lược. Từ kết quả đánh giá thực trạng quy trình  
quản trị CLCT của các DN nhỏ và vừa, tác giả đã đề xuất một số giải pháp phát  
triển CLCT cho các DN nhỏ vừa và nhỏ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế  
trong đó nhấn mạnh áp dụng và triển khai ba loại hình CLCT điển hình: CLCT chi  
phí thấp, CLCT khác biệt hóa và CLCT tập trung. Đề tài nghiên cứu một cách có hệ  
thống về CLCT của DN, tuy nhiên mới chỉ chú trọng vào quy trình ra quyết định và  
lựa chọn CLCT thông qua một số công cụ phân tích điển hình mà chưa làm nổi bật  
được nội dung của CLCT cũng như các năng lực cạnh tranh quan trọng của các DN  
nhỏ và vừa tại Việt Nam. Cùng chủ đề nghiên cứu này, đề tài luận án tiến sĩ “Giải  
pháp xây dựng chiến lược cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên  
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trương Quang Thông (2004) xem xét  
vấn đề lựa chọn CLCT phù hợp cho các ngân hàng trong bối cảnh hội nhập và cạnh  
tranh ngày càng mạnh mẽ. Tác giả sử dụng cách tiếp cận truyền thống trong xây  
dựng và phát triển cơ sở lý luận về CLCT của DN. Trong đó, quy trình xây dựng  
CLCT của các ngân hàng bao gồm các nội dung: phân tích môi trường vĩ mô, phân  
tích môi trường ngành, phân tích mô hình chuỗi giá trị, phân tích năng lực cạnh  
tranh của DN và lựa chọn CLCT. Trong đó đề tài đã sử dụng các công cụ phổ biến  
trong phân tích và lựa chọn chiến lược như: các công cụ phân tích ma trận hình ảnh  
cạnh tranh, ma trận TOWS, ma trận định hướng chiến lược QSPM... để đề xuất xây  
dựng CLCT cho các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.  
Tuy nhiên, đề tài tiếp cận xây dựng CLCT theo quy trình quản trị chiến lược truyền  
thống bao gồm: Hoạch định chiến lược, thực thi chiến lược và triển khai chiến lược  
nhưng chưa định hình rõ về nội dung các CLCT đề xuất cho các DN ngân hàng,  
ngoài ra tác giả chỉ mới tập trung vào xây dựng và lựa chọn chiến lược, chưa nghiên  
cứu cụ thể về các hoạt động triển khai và đánh giá hiệu quả CLCT cho các ngân  
hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.  
Tác giả Nguyễn Hoàng Việt (2010) với công trình nghiên cứu “Phát triển  
chiến lược kinh doanh cho các DN ngành may Việt Nam” tập trung nghiên cứu về  
khái niệm, mô hình và quy trình phát triển chiến lược cho các DN thương mại nói  
chung và DN ngành may Việt Nam. Qua đó, đề tài hình thành nội dung phát triển  
chiến lược kinh doanh bao gồm: lựa chọn, cung ứng, truyền thông và thực hiện giá  
7
trị cho khách hàng mục tiêu để tạo lập sự cân bằng với môi trường, nâng cao hiệu  
quả kinh doanh của DN. Tuy nhiên đề tài mới chỉ nghiên cứu phát triển chiến lược  
kinh doanh trên cơ sở định hướng thị trường chứ chưa đi sâu và làm rõ về các  
phương thức cạnh tranh cũng như CLCT của các DN. Ngoài ra, tác giả Nguyễn  
Mạnh Hùng (2014) với luận án tiến sĩ “Chiến lược sản xuất kinh doanh cho các DN  
vận tải” đã tập trung làm rõ các quan điểm và quy trình và phương pháp hoạch định  
chiến lược sản xuất kinh doanh của DN nói chung và DN vận tải nói riêng như mô  
hình M/B; Mô hình chiến lược dựa trên giá trị của DN; Mô hình tăng trưởng BCG...  
Luận án cũng xây dựng các nguyên tắc, yêu cầu trong xây dựng chiến lược cho DN  
gắn với đặc thù của các DN vận tải. Nhưng cũng như các đề tài nghiên cứu về chiến  
lược kinh doanh và CLCT trước đây, luận án mới chỉ tập trung về mặt quy trình và  
các công cụ trong hoạch định và lựa chọn CLCT, chưa hình thành được một chiến  
lược có nội dung cụ thể gắn với sản phẩm, thị trường của DN. Dưới cách tiếp cận  
của triển khai chiến lược, tác giả Đỗ Thị Bình (2016) nghiên cứu đề tài “Triển khai  
chiến lược kinh doanh tai các DN phát điện thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam”.  
Tác giả xem xét cứu nội dung triển khai chiến lược kinh doanh nói chung và đối với  
các DN trong ngành điện trong bối canh cạnh tranh ngày nay. Tác giả xây dựng mô  
hình nghiên cứu trong đó tập trung nhận dạng và đánh giá sự tác động của các yếu  
tố đến hiệu quả triển khai chiến lược kinh doanh của các DN thuộc Tập đoàn Điện  
lực Việt Nam. Các biến được đưa vào đo lường gồm: Chất lượng quản trị thông tin  
và thực hành các công cụ phân tích triển khai chiến lược kinh doanh; Chất lượng  
định vị trên thị trường cạnh tranh; Chất lượng định hướng cho các chiến lược chức  
năng tương thích với thị trường cạnh tranh; Chất lượng thực hành quan hệ đối tác và  
liên minh chiến lược chuỗi cung ứng; Chất lượng triển khai chiến lược tạo nguồn  
lợi thế cạnh tranh bền vững và chất lượng triển khai nâng cấp năng lực, nguồn lực  
và xây dựng các năng lực cốt lõi chiến lược kinh doanh. Thành công của đề tài là  
bao quát được các nhân tố có thể ảnh hưởng đến hiệu suất triển khai chiến lược kinh  
doanh của doan nghiệp, nhưng ngành điện là ngành cạnh tranh độc quyền do đó  
chưa có sự rõ nét về các loại hình CLCT của DN.  
(2) Nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp  
Bàn về hiệu quả kinh doanh của DN, đã có nhiều công trình khoa học trên  
thế giới nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của các DN ở các lĩnh vực kinh doanh  
khác nhau như sản xuất, dịch vụ, ngân hàng, dệt may... Các nghiên cứu đã đề xuất  
hệ thống các tiêu chí đo lường hiệu quả kinh doanh của DN trong đó có Kaplan &  
8
Norton (1992); Neely (1995); Waal & Coevert (2007); Consuegra (2008) và  
Laihonen (2014). Một nghiên cứu gần đây của nhóm tác giả Hiap & cộng sự (2006)  
có chủ đề “A balanced scorecard appproach to measuring industry performance”  
đã xác định sáu khía cạnh đo lường hiệu quả kinh doanh của DN xây dựng bao  
gồm: Tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển, hoạt động và độ  
an toàn. Trong đó khía cạnh tài chính được đo lường bằng các chỉ tiêu như lợi  
nhuận, ROE, sự hài lòng của khách hàng, thời gian cung ứng sản phẩm dịch vụ... Ở  
trong nước, nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thanh Hương (2016) với đề tài “Ảnh  
hưởng của đa dạng hóa tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam”. Tác  
giả quan niệm hiệu quả kinh doanh là một khái niệm đa chiều, mỗi chiều của hiệu  
quả được đo lường bằng các chỉ số tài chính hay dữ liệu dựa trên thị trường, do đó  
trong nghiên cứu tác giả đã xem xét các phương pháp và chỉ số đo lường hiệu quả  
kinh doanh của DN bao gồm: ROA ROI, ROE. Trong khi đề tài luận án tiến sĩ  
“Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại tổng công ty Bưu điện Việt Nam” của  
tác giả Phạm Anh Tuấn (2017) tiếp cận đo lường hiệu quả kinh doanh của DN  
ngành Bưu điện là khả năng sinh lời trên vốn kinh doanh của DN hay chính là lợi  
nhuận thu được so với số vốn kinh doanh sử dụng của DN. Tác giả cũng xây dựng  
hệ thống tiêu chí đo lường hiệu quả kinh doanh bao gồm các tiêu chí chính: ROS  
(Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần); BEF (Tỷ suất sinh lời kinh tế của  
tài sản); ROA (Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh); ROE (tỷ suất lợi nhuận trên  
vốn chủ sở hữu) và các chỉ tiêu phụ bao gồm: Mức độ cân bằng tài chính; Mức độ  
tự chủ tài chính; Hệ số khả năng thanh toán; Vòng quay vốn kinh doanh; Tốc độ sử  
dụng vốn lưu động...  
(3) Các nghiên cứu về tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu quả  
kinh doanh của doanh nghiệp  
Các nghiên cứu về tác động của CLCT đến hiệu quả kinh doanh của DN chủ  
yếu là các nghiên cứu nước ngoài. Trong đó mô hình đánh giá tác động chủ yếu tập  
trung xem xét tác động của các CLCT theo quan điểm của M.Porter đến hiệu quả tài  
chính của các DN.  
Đầu tiên phải kể đến Porter (1980) với nghiên cứu “Competitive strategy:  
techniques for analyzing industries and competitors” trong đó nghiên cứu một cách  
tổng quan về mối quan hệ giữa CLCT và hiệu quả kinh doanh của DN. Trong bốn  
chiến lược được đưa vào nghiên cứu gồm: CLCT chi phí thấp, CLCT khác biệt hóa,  
CLCT tập trung và CLCT mắc kẹt (hay còn gọi là CLCT không rõ ràng) đều giúp  
9
các DN cải thiện hiệu quả kinh doanh. Nghiên cứu này chỉ ra những DN không có  
CLCT rõ ràng thường kéo theo sự sụt giảm về hiệu quả kinh doanh, CLCT khác  
biệt hóa và CLCT tập trung giúp DN có khả năng gia tăng về lợi nhuận, ROI còn lại  
CLCT chi phí thấp khiến các DN cải thiện tốt về doanh thu và thị phần trên thị  
trường. Sau này, một số nhà kinh tế học khác đã tiếp cận và phát triển lý thuyết này  
như: Reitsperger & cộng sự (1993) với nghiên cứu “Product quality and cost  
leadership: compatible strategies” và Wright (1987) trong nghiên cứu “Research  
notes and communication: A refinement of Porter's strategies”. Tuy nhiên, theo các  
tác giả này, mối quan hệ giữa CLCT và hiệu quả kinh doanh của DN được chia  
thành ba nhóm chính: (1) CLCT tập trung có mối quan hệ tác động cùng chiều với  
lợi nhuận và ROI của DN; (2) CLCT chi phí thấp và CLCT khác biệt hóa có tác  
động tích cực đến hiệu quả kinh doanh là doanh thu và thị phần của DN và (3)  
CLCT mắc kẹt (CLCT không rõ rệt) có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh  
của DN.  
Từ những nghiên cứu tiên khởi này, các nghiên cứu về tác động của CLCT  
đến hiệu quả kinh doanh của DN mới được triển khai ở các quốc gia, các ngành  
kinh doanh ở một số quốc gia trên thế giới. Jennings (2003), “Strategy-performance  
relationships in service firmsꢀ: A test for equifinality” nghiên cứu về mối quan hệ  
giữa CLCT (CLCT chi phí thấp, CLCT khác biệt hóa) và hiệu quả kinh doanh (ROI,  
ROS) của 410 DN dịch vụ bao trong các ngành ngân hàng, y tế, bảo hiểm và khách  
sạn. Kết quả nghiên cứu định lượng của đề tài cho thấy, các CLCT đều có sự ảnh  
hưởng tích cực và giúp các DN này cải thiện hiệu quả kinh doanh. Trong đó, CLCT  
khác biệt hóa tạo ra mức độ ảnh hưởng và có khả năng nâng cao hiệu quả kinh  
doanh tốt nhất cho các DN kinh doanh dịch vụ. Một nghiên cứu khác “Competitive  
strategy and performance measurement in the Malaysian context: An exploratory  
study” của tác giả Jusoh and Parnell (2008) đã tìm ra sự ảnh hưởng của các CLCT  
tổng quát của M. Porter (CLCT chi phí thấp, CLCT khác biệt hóa và CLCT tập  
trung) của các DN sản xuất tại Malaysia đến hiệu quả kinh doanh (Tổng thu nhập,  
tăng trưởng doanh thu, ROI, lưu chuyển tiền tệ) tốt hơn so với các DN nước ngoài.  
Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tính kinh tế nhờ quy mô là yếu tố quan trọng trong  
cạnh tranh dựa trên chi phí của các DN trong so với các DN nước ngoài. Bên cạnh  
đó, tác giả Richard S. Allen, Marilyn M. Helms (2013) với nghiên cứu “Linking  
Strategic Practices and Organizational Performance to Porter's Generic  
Strategies” đã đưa ra quan điểm về các CLCT tổng quát của M.Porter đã được kiểm  
10  
chứng và chấp nhận rộng rãi trong thực thế các DN. Nhưng trong các nghiên cứu  
trước đây chưa chỉ ra mối quan hệ thực tiễn giữa CLCT và hiệu quả chung của tổ  
chức. Do đó nhóm tác giả đã xây dựng và kiểm định hai giả thuyết nghiên cứu bao  
gồm: (1) Các chiến lược tác nghiệp có liên quan đến CLCT tổng quát của Porter; (2)  
Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa hiệu quả kinh doanh của DN với các CLCT. Với  
mẫu nghiên cứu bao gồm 226 DN hoạt động trong các ngành kinh doanh khác nhau,  
kết quả nghiên cứu thu được đã chỉ ra hiệu quả kinh doanh (gồm các tiêu chí ăng  
trưởng doanh thu, tăng trưởng lợi nhuận, ROA) của tổ chức được cải thiện hiệu quả  
đáng kể khi DN áp dụng CLCT khác biệt hóa, tiếp đến là tập trung vào chi phí thấp.  
Ngoài ra nghiên cứu cũng nhấn mạnh CLCT tổng quát của DN quyết định đến các  
chiến lược tác nghiệp và hiệu quả kinh doanh của tổ chức nói chung.  
Một nghiên cứu khác “The effect of competitive strategies on performance of  
dairy firms in Kenya” của Maluku Waema (2013). Tác giả xây dựng mô hình  
nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu về sự tác động của các CLCT chi phí thấp,  
khác biệt hóa và tập trung đến hiệu quả kinh doanh của 27 DN ngành sữa bao gồm:  
Thị phần, doanh thu, lợi nhuận và sự thỏa mãn của nhân viên trong DN. Kết quả  
phân tích hồi quy cho thấy hiệu quả kinh doanh của DN bị tác động bởi các CLCT  
và môi trường kinh doanh của DN. Trong đó CLCT chi phí thấp có mức độ tác  
động cao nhất đối với hiệu quả kinh doanh của các DN sữa ở Kenya, việc áp dụng  
CLCT chi phí thấp giúp hiệu quả kinh doanh của DN được cải thiện đáng kể nhất,  
sau đó đến CLCT tập trung và CLCT khác biệt hóa. Ngoài ra nghiên cứu cũng chỉ  
ra mức độ tác động không tích cực của nhân tố môi trường kinh doanh đến hiệu quả  
kinh doanh của các DN sữa tại Kenya, cụ thể môi trường kinh doanh càng biến  
động càng làm hiệu quả hoạt động kinh danh bị giảm sút. Nghiên cứu này mới chỉ  
đề cập đến các loại hình CLCT của DN và sự tác động của nó đến hiệu quả kinh  
doanh của DN mà chưa có sự phân biệt sự khác nhau giữa các nhóm DN nuôi trồng,  
chế biến hay kinh doanh sữa.  
Cùng chủ đề nghiên cứu này, tác giả Madara M.Ogot (2014) trong đề tài  
nghiên cứu “Generic competitive business strategies and performance of micro and  
small enterprises in Nairobi: An empirical validation or te MSE typology” đã tiếp cận  
nghiên cứu mối quan hệ giữa CLCT với hiệu quả kinh doanh của các DN nhỏ và vừa  
trong ngành thực phẩm đang hoạt động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại  
Nairobi. Nghiên cứu đã chỉ ra đối với các DN nhỏ và vừa hoạt động trong khu vực  
kinh tế phi chính thức thì việc kết hợp giữa lý thuyết về CLCT tổng quát của M.  
11  
Porter (1986) và lý thuyết liên minh CLCT sẽ phù hợp và mang lại hiệu quả hơn so  
với việc chỉ sử dụng phương pháp truyền thống. Tác giả đã luận giải về hai loại hình  
CLCT điển hình của M. Porer gồm: CLCT tập trung chi phí thấp và CLCT tập trung  
vào khác biệt hóa và liên minh bốn CLCT gồm: chi phí thấp, dẫn đạo khác biệt hóa,  
ngang bằng chi phí và ngang bằng khác biệt hóa. Qua kết quả nghiên cứu định lượng  
trên 239 DN và kiểm định mô hình giả thuyết cho thấy, các DN áp dụng các chiến  
lược phân biệt bao gồm khác biệt ngang bằng, chi phí ngang bằng, dẫn đầu khác biệt  
và dẫn đầu chi phí đều mang lại hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt hơn so với các DN  
áp dụng CLCT tập trung vào chi phí và CLCT tập trung khác biệt theo quan điểm của  
M. Porter. Kết quả cũng chỉ ra DN nhỏ và vừa áp dụng CLCT kết hợp thường mang  
lại hiệu quả kinh doanh cao hơn đối với DN chỉ áp dụng duy nhất một loại hình  
CLCT điển hình. Nghiên cứu của Caxton Munyoki (2015) về “Competitive  
strategies, organizational autonomy, positioning and performance of Kenyan state  
corporations” đã xây dựng mô hình nghiên cứu về tác động của CLCT (Chi phí thấp,  
khác biệt hóa, tập trung) đến hiệu quả kinh doanh (hiệu quả tài chính - ROA, ROE,  
doanh thu, lợi nhuận, giảm chi phí/ hiệu quả phi tài chính – mức độ hài lòng của nhân  
viên, năng lực công nghệ...). Kết quả nghiên cứu mẫu 118 DN nhà nước ở Kenya đã  
chỉ ra các CLCT (gồm CLCT chi phí thấp, CLCT khác biệt hóa, CLCT tập trung,  
chiến lược định vị cạnh tranh) đều có tác động tích cực và đánh kể trong cải thiện  
hiệu quả kinh doanh (ROA, ROE, hiệu quả kinh doanh tổng thể) của các tập đoàn nhà  
nước tại Kenya, trong đó CLCT tập trung có tác động tích cực quan trọng nhất đến  
hiệu quả kinh doanh, tiếp đến là CLCT chi phí thấp. Riêng với CLCT khác biệt hóa  
lại có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh khi mà các DN áp dụng CLCT này  
đều có xu hướng bị giảm về hiệu quả kinh doanh.  
Một nghiên cứu điển hình khác “The impact of generic competitive strategies  
on organizational performance – The evidence from Albanian context” của Enida  
Pulaj, Vasilika Kume và Amali Cipi (2015). Qua nghiên cứu 125 DN xây dựng tại  
Albanian cho thấy, một số DN chưa có CLCT rõ ràng (CLCT chi phí thấp, CLCT  
khác biệt hóa, CLCT tập trung, CLCT mắc kẹt ) thường có hiệu quả kinh doanh  
(Tăng trưởng doanh thu, Tăng trưởng lợi nhuận, Thị phần, Hiệu quả kinh doanh  
tổng thể) thấp hơn so với các DN có CLCT bài bản và các DN xây dựng tại  
Anbania lựa chọn CLCT kết hợp thường thành công hơn so với các DN sử dụng  
một chiến lược duy nhất.  
12  
Cuối cùng, nhóm tác giả Parnell & cộng sự (2015) với bài viết “Competitive  
strategy, capabilities and uncertainty in small and medium sized enterprises (SMEs)  
in China and the United States”. Bài báo công bố kết quả nghiên cứu so sánh hiệu  
quả CLCT của 176 DN nhỏ và vừa tại Trung Quốc và Mỹ, trong đó CLCT tập trung  
phát huy hiệu quả tốt hơn so với các CLCT còn lại tại các DN nhỏ và vừa. Các DN  
áp dụng CLCT tập trung vào phân khúc thị trường cụ thể với sản phẩm có lợi thế  
cạnh tranh giúp các DN nhỏ và vừa nâng cao được lợi nhuận, doanh thu và hiệu quả  
kinh doanh tổng thể. Nghiên cứu cũng chỉ ra ở thị trường Trung Quốc hiệu quả  
CLCT chi phí thấp mang lại cao hơn so với các DN của Mỹ.  
(4) Các nghiên cứu về doanh nghiệp thực phẩm chế biến Việt Nam  
Trong nghiên cứu “Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam” tác giả Ngô  
Đình Giao (1998) đã trình bày một cách có hệ thống về vai trò, tầm quan trọng cũng  
như đặc điểm nổi bật của ngành thực phẩm Việt Nam. Sau hơn 10 năm đổi mới,  
ngành đã mang lại hiệu quả đáng kể cho phát triển kinh tế và xã hội thể hiện qua tỷ  
lệ đóng góp vào tổng GDP quốc gia và tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động.  
Xuất phát từ kết quả nghiên cứu về thực trạng ngành thực phẩm Việt Nam trong 10  
năm đổi mới, từ kết quả điều tra 800 DN thuộc các thành phần kinh tế, kết hợp với  
các chủ trương, đường lối, phương hướng phát triển ngành công nghiệp thực phẩm  
Việt Nam, tác giả đã đề xuất hàng loạt các chính sách ở tầm vĩ môi nhằm tạo điều  
kiện thuận lợi để nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như  
phát triển bền vững lĩnh vực này. Những gợi ý giải pháp của tác giả có ý nghĩa thực  
tiễn sâu sắc và phù hợp với bối cảnh hoạt động manh mún, nhỏ lẻ, thiếu tính chiến  
lược, sức cạnh tranh yếu trên cả thị trường trong nước và quốc tế của các DN kinh  
doanh thực phẩm Việt Nam hiện nay.  
Dưới cách góc độ tiếp cận của kinh doanh quốc tế, tác giả Lê Thị Thu Thủy  
(2007) với công trình nghiên cứu “Xây dựng chiến lược phát triển quốc tế cho các  
doanh nghiệp chế biến thực phẩm”, tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề liên  
quan đến chiến lược phát triển quốc tế của các DN kinh doanh thực phẩm Việt Nam  
bao gồm: hoạch định chiến lược quốc tế, tổ chức thực hiện chiến lược và kiểm tra đánh  
giá quá trình thực hiện chiến lược quốc tế. Gắn với bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu  
của Việt Nam, việc xây dựng chiến lược quốc tế được coi là công cụ hiệu quả giúp các  
DN kinh doanh thực phẩm có thể xác lập được vị thế và nâng cao hiệu quả cạnh tranh  
trên thị trường quốc tế. Với giới hạn nghiên cứu đối với ba sản phẩm chính là thịt, sữa  
và rau quả, tác giả đã gợi ý một số chiến lược quốc tế phù hợp với bối cảnh và đặc thù  
13  
của các DN kinh doanh thực phẩm Việt Nam bao gồm: Chiến lược xuyên quốc gia,  
chiến lược đa quốc gia, chiến lược toàn cầu, tuy nhiên khía cạnh cạnh CLCT trên thị  
trường quốc tế không được tác giả đề cập đến trong nghiên cứu này.  
Theo quan điểm của các chuyên gia thuộc tổ chức JICA Nhật Bản (2012)  
trong “Báo báo tổng kết về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành chế biến  
thực phẩm Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012”, ngành thực phẩm Việt Nam là một  
ngành có tiềm năng phát triển lớn trong tương lai sẽ mang lại cơ hội đầu tư tốt cho  
cả DN trong nước và quốc tế. Báo cáo đã đánh giá về thực trạng thu hút đầu tư, các  
dự án đầu tư nước ngoài và hiệu quả của các dự án cũng như đóng góp cho sự phát  
triển kinh tế của các tổ chức, DN của Nhật Bản nói riêng và các nước nói chung vào  
một số phân ngành như chế biến gạo, thịt, rau quả, thủy sản và sữa của Việt Nam  
trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng chỉ ra những vấn đề tồn tại  
của ngành thực phẩm Việt Nam bao gồm: chất lượng sản phẩm chưa đảm bảo, năng  
lực cạnh tranh của các DN trong nước còn thấp, chưa xây dựng được thương hiệu,  
thiếu chiến lược kinh doanh… Từ kết quả đánh giá, báo cáo đã một số các kịch bản  
phát triển cho ngành thực phẩm Việt Nam đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh tập  
trung cho nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN trong ngành, cải thiện công tác  
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này nhằm đẩy mạnh tăng trưởng  
kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế của  
ngành thực phẩm. Kết quả nghiên cứu này đã cho thấy một cái nhìn tổng quan nhất  
về môi trường kinh doanh, tình hình kinh doanh, thực trạng cạnh tranh của DN  
trong một số ngành thực phẩm cụ thể góp phần quan trọng cho việc định hướng và  
hoạch định CLCT của các DN sau này.  
Dưới góc độ người tiêu dùng, tác giả Nguyễn Mai Phương (2015) với luận án  
tiến sĩ “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm Việt Nam –  
Tiếp cận từ góc độ người tiêu dùng” đã xem xét vai trò vấn đề trách nhiệm xã hội  
trong các DN kinh doanh thực phẩm Việt Nam đối với sự hài lòng của khách hàng  
và cạnh tranh. Trong ngành thực phẩm, tác giả nhấn mạnh trách nhiệm xã hội là  
một mục tiêu phát triển quan trọng, là một tiêu chí để đo lường hiệu quả kinh doanh  
của DN cũng là một công cụ giúp cho DN có thể giúp DN cạnh tranh hiệu quả  
thông qua sự hài lòng của khách hàng. Luận án sử dụng một bộ tiêu chí đánh giá về  
mức độ hài lòng của khách hàng về các vấn đề trách nhiệm xã hội của DN kinh  
doanh thực phẩm Việt Nam, từ đó chỉ ra rằng khách hàng tiêu dùng thực phẩm hiện  
nay thường có xu hướng đề cao về vấn đề trách nhiệm xã hội khi lựa chọn và ra  
14  
quyết định mua sản phẩm của các DN. Các DN kinh doanh thực phẩm thể hiện  
được vai trò của mình trong việc cải thiện an sinh xã hội, phúc lợi cộng đồng và bảo  
vệ môi trường càng rõ ràng càng dễ thu hút và làm hài lòng khách hàng. Kết quả  
nghiên cứu đã một lần nữa nhấn mạnh tính tất yếu của xu hướng cạnh tranh ngày  
nay, không chỉ cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ hay giá bán  
mà còn cạnh tranh cả về khía cạnh trách nhiệm xã hội của DN.  
Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu khoa học “Năng lực đổi mới sáng tạo  
của doanh nghiệp chế biến thực phẩm Việt Nam” của tác giả Lê Thị Mỹ Linh  
(2017) một lần nữa nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của ngành thực phẩm Việt  
Nam đối với sự phát triển công nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.  
Tác giả nhấn mạnh, để phát triển các DN này theo hướng bền vững, cần không  
ngừng áp dụng công nghệ, kỹ thuật mới, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới để  
nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh. Từ đó đề tài đã hệ thống hóa  
cơ sở lý luận về năng lực đổi mới sáng tạo trong DN, nghiên cứu các bài học kinh  
nghiệp quốc tế về nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và từ đó đánh giá thực trạng  
năng lực đổi mới sáng tạo của các DN kinh doanh thực phẩm Việt Nam. Với quan  
điểm cạnh tranh dựa trên năng lực của DN, tác giả cho rằng hiệu quả cạnh tranh và  
hiệu quả kinh doanh của các DN kinh doanh thực phẩm Việt Nam hiện nay phụ  
thuộc quan trọng vào năng lực đổi mới sáng tạo. Điều này cũng gợi ý cho các DN  
trong ngành triển khai các CLCT khác nhau cần phải xác định được những năng lực  
đổi mới sáng tạo ở mức độ phù hợp để mang lại hiệu quả cao nhất cho DN.  
3. Mục tiêu nghiên cứu  
Thứ nhất, đề tài tổng hợp, phân tích và hệ thống hóa cơ sở lý luận về CLCT  
và tác động của CLCT đến hiệu quả kinh doanh của DN.  
Thứ hai, đề tài đánh giá thực trạng CLCT và phân tích tác động của các loại  
hình CLCT đến hiệu quả kinh doanh của các DN thực phẩm chế biến trên địa bàn  
thành phố Hà Nội.  
Thứ ba, đề tài đề xuất quan điểm và một số giải pháp hoàn thiện CLCT nhằm  
nâng cao năng lực cạnh tranh và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DN thực phẩm  
chế biến trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn đến 2025 và tầm nhìn 2030.  
4. Phạm vi nghiên cứu  
Về nội dung nghiên cứu  
Giới hạn nghiên cứu về nội dung của đề tài bao gồm:  
15  
+ Về loại hình CLCT: Hiện nay tồn tại nhiều quan điểm và phân loại các loại  
hình CLCT của DN, tuy nhiên quan điểm tiếp cận về loại hình CLCT của M.Porter  
(1985) vẫn được ứng dụng một cách phổ biến nhất tại các DN ở Việt Nam và trên  
thế giới. Đây cũng là vấn đề nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn của nhiều nhà  
khoa học trên thế giới và Việt Nam. Do đó, đề tài tiếp cận các loại hình CLCT theo  
quan điểm của M. Porter (1985) bao gồm: CLCT chi phí thấp; CLCT khác biệt hóa  
và CLCT tập trung.  
+ Đề tài tiếp cận nghiên cứu nội dung CLCT của các DN thực phẩm chế biến  
theo các năng lực cạnh tranh cấu thành CLCT.  
+ Đề tài tiếp cận nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của các DN thực phẩm chế  
biến dựa trên các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính như: ROA, ROE, tốc độ tăng  
trưởng doanh thu và lợi nhuận.  
Về khách thể nghiên cứu  
Thực phẩm là sản phẩm thiết yếu, được chế biến, sản xuất, kinh doanh bởi  
nhiều đối tượng khác nhau như: hộ gia đình, hợp tác xã, DN các loại phân bổ ở  
khắp các tỉnh thành phố trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh thành phố lớn. Mặt khác,  
trong kinh doanh mặt hàng thực phẩm, các DN chế biến thể hiện rõ nhất vai trò kết  
nối giữa đầu vào và đầu ra của sản phẩm, đồng thời vừa thực hiện chức năng sản  
xuất vừa thực hiện chức năng kinh doanh, đây cũng là chủ thể mà luôn đặt trọng  
tâm đến việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng. Do  
đó, khách thể nghiên cứu của đề tài là các DN thực phẩm chế biến trên địa bàn  
thành phố Hà Nội,  
Về không gian thị trường  
Các DN thực phẩm chế biến tại Hà Nội phân bổ khá đồng đều ở các quận  
huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, do đó đề tài lựa chọn không gian nghiên cứu  
là toàn bộ thị trường Việt Nam và hoạt động kinh doanh thực phẩm của các DN  
thực phẩm chế biến trên phạm vi thị trường nội địa.  
Về thời gian  
Đề tài nghiên cứu tác động của CLCT đến hiệu quả kinh doanh của các DN  
thực phẩm chế biến trên địa bàn thành phố Hà Nội thông qua dữ liệu được thu thập  
trong giai đoạn 2013 – 2018 và các giải pháp đề xuất cho giai đoạn đến năm 2025,  
tầm nhìn đến năm 2030.  
5. Kết cấu đề tài  
16  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được kết  
cấu thành bốn chương nội dung bao gồm:  
Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược cạnh tranh và tác động của chiến lược  
cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp  
Chương 2: Thực trạng tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu quả kinh  
doanh của các doanh nghiệp thực phẩm chế biến trên địa bàn thành phố Hà Nội  
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chiến lược cạnh tranh nhằm nâng cao  
hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thực phẩm chế biến trên địa bàn thành  
phố Hà Nội.  
17  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH VÀ TÁC  
ĐỘNG CỦA CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH  
CỦA DOANH NGHIỆP  
1.1. Một số khái niệm cơ bản  
1.1.1. Chiến lược cạnh tranh  
CLCT là một phạm trù thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu  
bởi vai trò và tầm quan trọng của nó đối với hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu  
quả cạnh tranh nói riêng. Theo Miles và Snow (1978), CLCT của DN được áp dụng  
nhằm thích nghi với môi trường cạnh tranh đầy biến động. Có bốn loại hình CLCT  
chính mà Miles và Snow đưa ra bao gồm: Tấn công, thích nghi, phản ứng và phân tích.  
Chiến lược tấn công là chiến lược trong đó DN liên tục đổi mới, tìm tòi và khai thác  
các sản phẩm mới, cơ hội mới. Lợi thế cạnh tranh của của các DN tấn công xuất phát  
từ việc đánh giá những xu thế mới của thị trường và môi trường, liên tục tạo ra các sản  
phẩm, dịch vụ mới mà đối thủ cạnh tranh không thể biết trước được. Trong khuôn khổ  
xác định DN của Albell (1980), CLCT là một số tổ chức áp dụng dựa trên ba yếu tố cơ  
bản: đặc trưng nhóm khách hàng, đặc trưng nhu cầu của nhóm khách hàng mục tiêu và  
năng lực đáp ứng của DN. Quan điểm này lấy khách hàng là tâm điểm của mọi hoạt  
động kinh doanh của DN, nên phạm vi cạnh tranh và mức độ khác biệt về sản phẩm,  
dịch vụ sẽ xác lập loại hình CLCT cho DN. M. Porter (1985) lập luận rằng hiệu quả  
hoạt động kinh doanh của DN có thể đạt được trong một ngành nhờ theo đuổi một  
CLCT chung bao gồm chiến lược dẫn đạo về chi phí, CLCT khác biệt hóa, CLCT tập  
trung. Nếu DN không theo đuổi một trong những loại hình chiến lược trên, nó sẽ rơi  
vào tình trạng mắc kẹt và không có lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong  
ngành. Do đó, theo M. Porter, CLCT là những nỗ lực của DN nhằm thu hút được  
khách hàng, nâng cao được vị thế cạnh tranh trên thị trường. Lợi thế cạnh tranh bền  
vững được sinh ra từ năng lực lõi, năng lực đó mang lại lợi ích lâu dài cho DN. Nguồn  
lợi thế cạnh tranh bao gồm các sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ khách hàng tốt hơn và  
đạt được chi phí thấp hơn các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Để thành công trong  
việc xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững, DN phải cố gắng cung cấp những gì người  
mua sẽ cảm nhận được giá trị vượt trội. Điều này đòi hỏi một sản phẩm chất lượng tốt  
với mức giá thấp hoặc sản phẩm chất lượng tốt hơn nhưng giá cao hơn.  
Mintzberg (2001) tiếp cận với quan điểm chiến lược toàn diện trên cơ sở lý  
thuyết CLCT của Porter (1985). Theo quan điểm này, CLCT nên xuất phát từ việc định  
vị hoạt động kinh doanh của DN, tiếp đến là định hướng sự phát triển của nó trong dài  
18  
hạn, sau đó phân tích cạnh tranh để quyết định cách thức cạnh tranh với các đối thủ  
cạnh tranh trên thị trường. Đối với mỗi phân đoạn thị trường, DN cần cơ cấu lại chuỗi  
hoạt động theo hướng chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Chan Kim (2005) đã hình thành  
quan điểm mới về CLCT của DN. Với nguyên lý xây dựng lại ranh giới thị trường để  
thoát ra cạnh tranh, chiến lược đại dương xanh đã hình thành. Cạnh tranh bằng chiến  
lược đại dương DN cần thực hiện các nguyên tắc: Tạo ra thị trường không có cạnh  
tranh; Làm cho việc cạnh tranh không cần thiết; tạo ra và nắm bắt nhu cầu mới; phá vỡ  
sự cần bằng của giá trị - chi phí và theo đuổi cả hai mục tiêu khác biệt hóa và chi phí  
thấp. Để triển khai được chiến lược đại dương xanh các DN cần định hướng về các sản  
phẩm thay thế, định hướng theo các nhóm chiến lược trong ngành, đáp ứng nhu cầu  
của các nhóm khách hàng khác nhau, định hướng theo các sản phẩm dịch vụ bổ sung,  
chú trọng tới mức độ hấp dẫn về chức năng hoặc cảm xúc với người mua và định  
hướng theo thời gian. Theo Nguyễn Bách Khoa (2004), CLCT còn được gọi là chiến  
lược kinh doanh hay đơn giản là chiến lược định vị, được hiểu là một cấu trúc các công  
cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập định vị chiến lược nhằm đạt được các mục tiêu dài  
hạn của DN. CLCT liên quan tới việc lựa chọn các lĩnh vực kinh doanh, các hoạt động  
kinh doanh và làm thế nào có thể cạnh tranh thành công ở các lĩnh vực, hoạt động kinh  
doanh đó, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ  
hội mới.  
Có nhiều quan điểm khác nhau về CLCT của các DN, tùy theo đặc thù của  
ngành kinh doanh, giai đoạn phát triển, bối cảnh và tình thế kinh doanh cụ thể mà  
có những cách hiểu khác nhau. Trong đề tài này, CLCT của DN được hiểu là một  
tập hợp các năng lực, công cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập vị thế cạnh tranh của  
DN trên thị trường mục tiêu, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN.  
2.1.2. Các cấp chiến lược  
Thomas H. Davenport (2006) chia chiến lược của DN thành 4 cấp độ: Cấp  
chức năng, cấp kinh doanh, cấp DN và cấp hệ thống. Trong đó:  
+ Cấp chức năng: Bao hàm các nhân tố liên quan tới các kỹ năng chuyên  
biệt, những chức năng cụ thể trong DN như sản xuất, nhân sự, R&D…  
+ Cấp kinh doanh: Là sự kết hợp giữa các chức năng cho từng cặp sản phẩm,  
dịch vụ riêng biệt hướng tới một nhóm khách hàng mục tiêu cụ thể (cấp SBU).  
+ Cấp DN: Đối với các DN hoạt động trong nhiều ngành kinh doanh cần  
phải có chiến lược cấp DN để tạo ra sự thống nhất và phù hợp trong toàn bộ DN để  
phát huy tối đa hiệu quả các hoạt động.  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 137 trang yennguyen 23500 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Nghiên cứu tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thực phẩm chế biến trên địa bàn thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_nghien_cuu_tac_dong_cua_chien_luoc_canh_tranh.pdf