Bài giảng Quản trị marketing - Bài 1: Bản chất của Marketing

Bài 1: Bản chất của Marketing  
BÀI 1: BẢN CHẤT CỦA MARKETING  
Nội dung  
Mục tiêu  
Các khái niệm cơ bản của marketing  
(nhu cầu tự nhiên, mong muốn, nhu cầu  
có khả năng thanh toán, sản phẩm, giá trị  
tiêu dùng, chi phí, sự thỏa mãn, trao đổi,  
giao dịch, thị trường, marketing).  
Học viên nắm được các khái niệm bổ trợ  
của marketing, qua đó nắm bắt được bản  
chất của marketing.  
Học viên nắm được khái niệm, nội dung  
của quản trị marketing và quy trình quản  
trị marketing.  
Quản trị marketing (khái niệm quản trị  
marketing, các quan điểm quản trị  
marketing, quy trình quản trị marketing).  
Học viên nắm được nội dung, triết lý, ưu,  
nhược điểm của từng quan điểm quản trị  
marketing.  
Thời lượng  
8 tiết học.  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
1
Bài 1: Bản chất của Marketing  
TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI  
Take away café  
Theo chân người Pháp, cà phê du nhập vào Việt Nam và trở  
thành thứ thức uống quen thuộc, một nét văn hoá của người  
Việt. Ngày nay, cái thú tiêu khiển cà phê sáng tuy vẫn còn  
duy trì nhưng nhịp sống công nghiệp đã làm cho nhiều  
người không có thời gian để nhâm nhi, thưởng thức bên  
tách café vào mỗi sáng. Thay vào đó nhiều người phải chấp  
nhận sử dụng café hòa tan mặc dù café hoa tan không mang  
lại được hết những hương vị đặc trưng vốn có của café.  
Nhận thức được điều này, các nhà đầu tư của Passino đã cho  
ra đời hệ thống cửa hàng cafe “take away”. Khác với các  
kiểu ăn café hòa tan, cafe này vẫn giữ khẩu vị như cafe  
phin, nhưng khách hàng không phải mất chờ đợi bên từng  
giọt café nhỏ xuống từ chiếc phin pha café. Khách hàng chỉ  
cần ghé qua cửa hàng đưa ra yêu cầu về loại café mà mình  
thích lập tức nhân viên bán hàng sẽ đưa cho khách hàng một  
túi café đã được pha sẵn phù hợp với khẩu vị của họ. Thực  
đơn của quán cũng phong phú. Khách có thể lựa chọn cà phê pha máy theo kiểu Passiopuccino  
(Cappuccino đá bông tuyết) hay cà phê pha kiểu truyền thống Việt Nam hay trà lạnh kết hợp  
kem. Món ăn chính là bánh panini, một loại bánh mì Ý những đã được làm cho phù hợp với  
người Việt Nam. Như vậy, khách hàng không cần mất thời gian chờ đợi mà vẫn có thể được  
nhâm nhi một li café phù hợp với khẩu vị của mình, thậm chí có một bữa sáng phù hợp với  
mong muốn và sở thích.  
Chính nhờ việc hiểu biết nhu cầu và mong muốn của khách hàng mà hệ thống cửa hàng  
Passino đã rất thành công trong kinh doanh. Người ta cho rằng, Passino đã thành công trong  
làm marketing. Vậy bản chất của marketing là gì?  
2
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
1.1.  
Các khái niệm cơ bản của Marketing  
Sự ra đời của Marketing  
1.1.1.  
Marketing ra đời gắn liền với sự xuất hiện của hàng hoá. Marketing xuất hiện khi có ít  
nhất một trong hai yếu tố là người bán và người mua phải cố gắng tìm mọi cách để  
bán, mua hàng hoá. Như vậy, Marketing xuất hiện khi trao đổi hàng hoá có cạnh  
tranh, hay nói cách khác nguyên nhân sâu xa làm xuất hiện Marketing là cạnh tranh.  
Trên thực tế, hành vi Marketing xuất hiện rõ nét từ khi nền đại công nghiệp cơ khí  
phát triển làm thúc đẩy tăng nhanh sức sản xuất và làm cho cung hàng hoá có chiều  
hướng vượt quá cầu. Điều này làm cho các nhà kinh doanh phải tìm những giải pháp  
tốt hơn để tiêu thụ hàng hoá. Ngay từ xa xưa, hành vi Marketing của các thương gia  
người Anh, Trung Quốc đã thực hiện như là những phương châm: “Hãy làm vui lòng  
khách hàng”, “Khách hàng mua phải hàng kém phẩm chất thì đổi lại cho họ”... Ngoài  
ra, các nhà kinh doanh còn sử dụng các biện pháp nhằm kích thích mua hàng như bán  
hàng kèm quà tặng, giải thưởng, mua nhiều giảm giá... Chính quá trình tìm kiếm các  
giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hoá làm cho hoạt động Marketing ngày càng  
phát triển và hình thành một khoa học hoàn chỉnh về Marketing.  
Lý thuyết Marketing xuất hiện trước hết ở Mỹ vào những năm đầu thế kỷ XX. Những  
bài giảng đầu tiên về môn học Marketing được giảng tại trường đại học Michigan,  
California, sau đó lan sang các trường đại học khác ở Mỹ và tất cả các nước có nền  
kinh tế thị trường. Lý thuyết Marketing không dừng lại ở vấn đề tiêu thụ mà còn bao  
quát cả những vấn đề trước đó như nghiên cứu thị trường, khách hàng, thiết kế, sản  
xuất sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng, định giá và tổ chức tiêu thụ.  
Marketing được ứng dụng đầu tiên ở các công ty sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng,  
đóng gói, các công ty sản xuất hàng tiêu dùng lâu bền và các công ty sản xuất hàng  
công nghiệp, tiếp đến là các lĩnh vực sản xuất vật liệu như thép, hoá chất, giấy...  
Trong những thập kỷ qua, Marketing được đánh giá cao trong các lĩnh vực kinh doanh  
dịch vụ, hàng không, ngân hàng. Các nghề tự do như luật sư, bác sỹ, kiểm toán đến  
với Marketing muộn màng nhất. Ngày nay, Marketing được áp dụng trong tất cả các  
lĩnh vực kinh doanh thương mại và phi thương mại.  
1.1.2.  
Các khái niệm của Marketing  
1.1.2.1. Khái niệm Marketing  
Người ta thường cho rằng: Marketing là hệ thống  
các biện pháp mà người bán hàng sử dụng nhằm  
bán được hàng hoá và thu tiền về. Người ta lầm  
tưởng rằng Marketing chẳng qua là bán hàng, tiếp  
thị và kích thích tiêu thụ.  
Nếu một sản phẩm có chất lượng kém, một sản  
phẩm không phù hợp với đòi hỏi của người tiêu  
dùng, có giá cả bất hợp lý thì có thuyết phục được  
khách hàng không? Câu trả lời là không, bởi vì khách hàng chỉ ưu tiên lựa chọn những  
sản phẩm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu và mong muốn của họ.  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
3
Bài 1: Bản chất của Marketing  
Vì vậy, các hoạt động bán hàng, tiếp thị và kích thích tiêu thụ không phải là là vấn đề  
mấu chốt quyết định thành công của việc bán hàng. Thực ra tiêu thụ chỉ là một khâu  
của hoạt động Marketing, hơn nữa nó lại không phải khâu quan trọng nhất. Vậy  
Marketing là gì?  
Khái niệm: Marketing là quá trình làm việc với thị trường nhằm thoả mãn những  
nhu cầu và mong muốn của con người, hoặc Marketing là một dạng hoạt động của  
con người (bao gồm cả các tổ chức) nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn thông  
qua trao đổi.  
Bản chất của Marketing: Là những hoạt động của con người diễn ra trong mối  
quan hệ với thị trường. Marketing có nghĩa là làm việc với thị trường để biến  
những trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục đích thoả mãn những nhu cầu, ước  
muốn của con người.  
Trong quá trình trao đổi, bên nào tích cực tìm kiếm cách trao đổi hơn so với bên  
kia thì được gọi là người làm Marketing, bên kia được gọi là khách hàng. Như vậy,  
không chỉ có người bán mới làm Marketing mà người mua cũng làm Marketing.  
Tuy nhiên, trong khuôn khổ môn học này chúng tôi chỉ tập trung giới thiệu về  
Marketing của người bán.  
Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của Marketing chúng ta cần hiểu rõ một số khái  
niệm dưới đây.  
1.1.2.2. Nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán  
Người ta thường hiểu một cách đơn giản nhu cầu thị trường là sự đòi hỏi của thị  
trường về một sản phẩm nào đó. Thực tế nhu cầu thị trường là một thuật ngữ bao gồm  
ba mức độ. Nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán.  
Nhu cầu tự nhiên: Là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người có thể cảm  
nhận được.  
Nhu cầu tự nhiên là vốn có của con người, nó xuất phát từ những quy luật tâm sinh  
lý của con người. Thoả mãn nhu cầu tự nhiên là cách thức để con người tồn tại  
trong môi trường sống.  
Người làm Marketing không thể tạo ra nhu cầu tự nhiên mà chỉ có thể tìm ra  
những nhu cầu tự nhiên mới. Thoả mãn nhu cầu tự nhiên là tiền đề có thể gây cho  
sự quan tâm chú ý, sự ưa chuộng về những gì doanh nghiệp cung ứng trên  
thị trường. Việc phát hiện ra những nhu cầu chưa được thoả mãn cũng đồng thời là  
phát hiện những cơ hội kinh doanh tiềm ẩn.  
Tuy nhiên, nếu nhà kinh doanh chỉ sản xuất ra những sản phẩm phù hợp với nhu  
cầu tự nhiên không thì chưa đủ. Trên thị trường cạnh tranh có nhiều sản phẩm  
cùng đáp ứng được nhu cầu tự nhiên, song làm thế nào để người tiêu dùng lựa  
chọn sản phẩm của doanh nghiệp mà không lựa chọn sản phẩm của đối thủ thì  
chúng ta cần tìm hiểu nhu cầu ở mức độ cao hơn đó là mong muốn.  
Mong muốn (ước muốn): Là nhu cầu tự nhiên ở dạng đặc thù đòi hỏi được đáp  
lại bằng một hình thức đặc thù phù hợp với trình độ văn hoá và tính cách cá nhân  
của con người.  
Nhu cầu tương đối ổn định nhưng ước muốn thì không ngừng thay đổi. So với nhu  
cầu, ước muốn phong phú và đa dạng hơn nhiều. từ một nhu cầu tự nhiên khi  
4
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
chuyển thành một ước muốn cụ thể chịu ảnh hưởng của các kích thích bên ngoài:  
Cung ứng, định chế xã hội, văn hoá, trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và  
đặc tính của mỗi con người.  
Trên thực tế việc phát hiện ra nhu cầu tự nhiên thường không khó nhưng để tìm ra  
mong muốn về từng khía cạnh của nhu cầu thường khó khăn và đòi hỏi phải  
nghiên cứu tỉ mỉ. Đôi khi mong muốn của con người dưới dạng tiềm ẩn mà chính  
họ cũng không nhận biết được nhưng nếu nhà kinh doanh gợi mở thì nó sẽ bùng  
phát nhanh và biến thành sức mua mạnh mẽ. Việc phát hiện ước muốn giúp nhà  
kinh doanh trả lời câu hỏi sản xuất, kinh doanh cái gì? Việc phát hiện ra nhu cầu tự  
nhiên chưa được thỏa mãn sẽ giúp nhà kinh doanh biết được nên kinh doanh chủng  
loại sản phẩm nào. Hiểu được ước muốn của người tiêu dùng sẽ giúp nhà kinh  
doanh biết được nên kinh doanh sản phẩm cụ thể nào, đặc tính của sản phẩm cung  
ứng là gì.  
Ví dụ: Nhu cầu ăn sáng với mỗi người có thể có nhiều mong muốn khác nhau: phở  
bánh mỳ, bún…  
Marketing khẳng định có khả năng tạo ra và thay đổi ước muốn bằng những hoạt  
động chức năng của mình và đó cũng chính là nhiệm vụ quan trọng của Marketing  
là biến cơ hội kinh doanh tiềm ẩn thành cơ hội kinh doanh thực sự người làm  
Marketing cần nắm rõ nhu cầu tự nhiên và ước muốn của con người là vô hạn song  
khả năng mua của khách hàng lại bị giới hạn bởi khả năng thanh toán của họ.  
Nhu cầu có khả năng thanh toán: Là nhu cầu tự  
nhiên và mong muốn phù hợp với khả năng mua  
sắm. Nhu cầu tự nhiên và mong muốn mua sắm có  
thể gọi chung là nhu cầu tiềm năng.  
Muốn biến nhu cầu tiềm năng thành cầu cần có hai  
điều kiện:  
o Có đủ nguồn lực để thanh toán;  
o Có khả năng tiếp cận.  
Khác với nhu cầu và ước muốn, cầu là đại lượng có thể  
xác định được. Trong kinh doanh, việc xác định cầu thị trường là tiền đề để cung ứng  
giá trị, việc phán đoán sai về cầu sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh. Chính vì vậy,  
người làm Marketing cần dự đoán chính xác trạng thái của cầu và tìm mọi cách thay  
đổi trạng thái của cầu tiến tới những trạng thái có lợi cho doanh nghiệp.  
1.1.2.3. Khái niệm Sản phẩm  
Là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra  
chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.  
Khái niệm này mở rộng quan niệm về sản phẩm. Sản phẩm bao gồm: Sản phẩm hữu  
hình, sản phẩm vô hình, bao gồm cả các yếu tố vật chất và phi vật chất gắn liền với  
sản phẩm. Sản phẩm không chỉ bao gồm bản thân hàng hoá vật chất và dịch vụ mà nó  
còn bao gồm cả những phương tiện, yếu tố hỗ trợ khác để làm tăng khả năng chào bán  
và thoả mãn nhu cầu.  
Marketing coi sản phẩm là phương tiện thoả mãn nhu cầu, vì vậy khi thiết kế sản  
phẩm phải tạo ra những đặc tính, lợi ích phù hợp với nhu cầu và phong muốn của  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
5
Bài 1: Bản chất của Marketing  
khách hàng sản phẩm đó mới được ưa chuộng. Theo quan niệm Marketing, doanh  
nghiệp không bán sản phẩm mà bán những giá trị lợi ích do sản phẩm mang lại.  
1.1.2.4. Giá trị, chi phí và sự thỏa mãn  
Trên thực tế có nhiều loại hàng hóa cùng thỏa mãn nhu  
cầu của người tiêu dùng nhưng vấn đề tại sao người ta  
chọn mua hàng hóa này mà không chọn mua hàng hóa  
khác. Đó là vì người ta kỳ vọng vào những lợi ích do  
việc tiêu dùng hàng hóa đem lại. Việc chọn mua sản  
phẩm của người tiêu dùng liên quan trực tiếp đến khả  
năng thỏa mãn nhu cầu của sản phẩm. Chính điều này  
đã hình thành nên khái niệm giá trị tiêu dùng.  
Giá trị tiêu dùng của một sản phẩm: Là sự đánh  
giá của người tiêu dùng về khả năng của sản phẩm  
trong việc thỏa mãn nhu cầu đối với họ.  
Đánh giá giá trị của sản phẩm đối với mỗi người tiêu dùng là khác nhau. Sản phẩm  
nào càng được nhiều người tiêu dùng đánh giá có giá trị tiêu dùng cao thì cơ hội  
thị trường càng lớn.  
Giá trị tiêu dùng của sản phẩm và giá trị theo nghĩa chi phí có quan hệ mật thiết  
với nhau nhưng là hai phạm trù khác nhau. Để quyết định mua hàng thì ngoài việc  
đánh giá giá trị tiêu dung, người tiêu dùng còn quan tâm đến chi phí đối với sản  
phẩm định mua.  
Chi phí đối với một hàng hóa: Là tất cả những hao tổn mà người tiêu dùng phải  
bỏ ra để có được những lợi ích do tiêu dùng hàng hóa đó mang lại.  
Chi phí tiêu dùng không chỉ bao gồm tiền bạc mà bao gồm cả thời gian, sức lực,  
thậm chí cả những chi phí khắc phục những hậu quả phát sinh do việc tiêu dùng  
hàng hóa mang lại – chi phí mua sắm, sử dụng và đào thải sản phẩm.  
Chi phí tiêu dùng là cơ sở để khách hàng lựa chọn những hàng hóa thỏa mãn cùng  
một nhu cầu. Tuy nhiên khi lựa chọn hàng hóa, bên cạnh việc đánh giá giá trị tiêu  
dùng và chi phí đối với từng hàng hóa, người tiêu dùng còn đánh giá khả năng thỏa  
mãn nhu cầu của hàng hóa đối với họ.  
Sự thỏa mãn: Là mức độ về trạng thái của người tiêu dùng bắt nguồn từ việc so  
sánh kết quả thu được do tiêu dùng sản phẩm với những kỳ vọng của họ.  
1.1.2.5. Trao đổi, giao dịch  
Marketing xuất hiện khi người ta quyết định thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông  
qua trao đổi. Vậy trao đổi là gì?  
Trao đổi: Là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ một người nào đó  
bằng cách đưa cho họ một thứ khác.  
Trao đổi là một trong những cách thức để có thể thoả mãn được nhu cầu, ước muốn  
và là cách tốt nhất.  
Các điều kiện tiền đề của trao đổi:  
o Ít nhất phải có 2 bên;  
o Mỗi bên cần có 1 cái gì đó có giá trị đối với bên kia;  
6
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
o Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao thứ mình có;  
o Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay từ chối đề nghị của bên kia;  
o Mỗi bên đều tin chắc là mình nên hay muốn giao dịch với bên kia.  
Trên đây là 5 điều kiện tiền đề của trao đổi, nếu thiếu một trong năm điều kiện này  
thì không thể có trao đổi. Trao đổi chỉ trở thành hiện thực khi các bên tiến hành  
thương lượng và thỏa thuận được với nhau về điều kiện trao đổi.  
Với Marketing, khái niệm trao đổi được coi là khái niệm quyết định và tạo nền  
móng cho hoạt động Marketing. Marketing chỉ thực sự xuất hiện khi con người  
quyết định thoả mãn nhu cầu thông qua trao đổi. Marketing chỉ tồn tại trong nền  
kinh tế thị trường. Mọi hoạt động Marketing xoay quanh hoạt động trao đổi.  
Khi các bên thoả thuận được với nhau về các điều kiện của trao đổi thì người ta  
nói là giao dịch đã hoàn thành. Giao dịch là đơn vị đo lường cơ bản của trao đổi.  
Giao dịch: Là một cuộc trao đổi mang tính chất thương mại giữa những vật có giá  
trị giữa các bên cách thức giao dịch: hàng – hàng, hàng – tiền...  
Điều kiện của giao dịch thương mại:  
o Ít nhất có 2 vật có giá trị;  
o Những điều kiện thực hiện giao dịch đã được thoả thuận;  
o Thời gian thực hiện đã được thỏa thuận;  
o
Địa điểm thực hiện đã được thỏa thuận;  
Những thỏa thuận này có thể được thể hiện trong cam kết bằng các hợp đồng  
giữa các bên trên cơ sở ràng buộc của 1 hệ thống luật pháp.  
.
Mục tiêu của các bên tham gia trao đổi phải thông qua từng giao dịch: cần  
thực hiện Marketing trong từng giao dịch.  
.
Nếu mở rộng khái niệm trao đổi ta thấy trao đổi là quá trình tạo ra giá trị  
gia tăng.  
1.1.2.6. Thị trường  
Khái niệm: Thị trường theo quan điểm  
Marketing bao gồm tất cả những khách hàng  
tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn  
cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao  
đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó.  
Quy mô thị trường tùy thuộc:  
o Số người có cùng nhu cầu;  
o Những nguồn lực hay khả năng thanh toán;  
o Sự sẵn sàng tham gia trao đổi của những  
người có nhu cầu.  
Như vậy, theo quan điểm Marketing, thị trường đồng nghĩa với cầu, quy mô của  
thị trường đồng nghĩa với quy mô của cầu. Thuật ngữ thị trường dùng để ám chỉ  
một nhóm khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định, đòi hỏi được thỏa mãn  
bằng một loại sản phẩm cụ thể, họ có đặc điểm giới tính hay tâm sinh lý nhất định,  
độ tuổi nhất định và sinh sống ở một vùng cụ thể.  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
7
Bài 1: Bản chất của Marketing  
1.1.3.  
Vị trí của Marketing trong các hoạt động chức năng cốt yếu của Doanh nghiệp  
1.1.3.1. Vai trò của marketing đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp  
Marketing kết nối các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường  
nhằm đảm bảo doanh nghiệp hướng theo thị trường, lấy nhu cầu và ước muốn của  
khách hàng làm chỗ dựa vững chắc cho mọi quyết định kinh doanh.  
Ngày nay doanh nghiệp khi bắt tay vào kinh doanh đều phải tìm cách gắn hoạt động  
kinh doanh của mình với thị trường vì chỉ có như vậy mới mong tồn tại và phát triển  
trong cơ chế thị trường. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có sự trao đổi  
thường xuyên liên tục với thị trường với quy mô càng lớn càng tốt.  
Đối với một doanh nghiệp có các hoạt động chức năng như sản xuất, tài chính, quản  
trị nhân lực..., để có thể tồn tại và phát triển trên thị trường thì cần có một bộ phận  
chức năng để kết nối hoạt động của doanh nghiệp với thị trường, đó chính là chức  
năng quản lý Marketing.  
1.1.3.2. Mối quan hệ giữa Marketing và các bộ phận chức năng khác trong  
doanh nghiệp  
Marketing phản ánh một chức năng cơ bản của kinh doanh. Cũng giống như sản xuất,  
tài chính, nhân lực, Marketing là một bộ phận tất yếu về mặt tổ chức của doanh  
nghiệp.  
Nhiệm vụ cơ bản của Marketing là tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp. Xét về yếu tố  
cấu thành nội dung quản lý doanh nghiệp thì Marketing là một chức năng có mối liên  
hệ thống nhất hữu cơ với các chức năng khác. Nó là đầu mối quan trọng trong một cơ  
thể quản lý thống nhất.  
Xét về mặt quan hệ chức năng thì Marketing vừa chi phối vừa bị chi phối của các yếu  
tố khác. Chức năng Marketing của doanh nghiệp luôn chỉ cho doanh nghiệp biết rõ  
những nội dung cơ bản sau:  
Khách hàng của doanh nghiệp là ai? Họ sống và mua hàng ở đâu? Họ là nam hay  
nữ, già hay trẻ? Họ mua bao nhiêu? Họ mua vì cái gì?  
Họ cần những loại hàng hóa nào? Loại hàng hóa đó có những đặc trưng gì? Vì sao  
họ cần đặc tính đó? Bao gói như thế nào? Hàng hóa của doanh nghiệp có ưu điểm và  
hạn chế gì so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh? Có cần thay đổi hàng hóa hay  
không? Nên thay đổi yếu tố, đặc tính nào? Thay đổi thì ảnh hưởng đến vấn đề gì?  
Giá của hàng hóa của doanh nghiệp nên quy định là bao nhiêu? Tại sao lại quy  
định mức giá đó? Mức giá trước đây còn phù hợp hoặc không? Nên tăng giá hay  
giảm giá? Khi nào tăng, giảm giá và tăng giảm giá bao nhiêu? Tăng giảm giá ở  
đâu? Tăng giảm giá đối với ai?  
Doanh nghiệp nên tổ chức lực lượng bán hàng hay dựa vào lực lượng khác? Lựa  
chọn hệ thống bán hàng như thế nào? Dựa vào những ai? Dựa vào lực lượng bán  
hàng trong nước hay ngoài nước? Khi nào đưa hàng hóa ra thị trường, đưa khối  
lượng là bao nhiêu?  
Làm thế nào để khách hàng biết, mua và yêu thích hàng hóa của doanh nghiệp?  
Dùng phương thức nào để tiếp cận khách hàng? Dùng phương tiện nào để giới  
8
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
thiệu sản phẩm của doanh nghiệp cho khách hàng mục tiêu? Hàng hóa của đối thủ  
cạnh tranh giới thiệu cho công chúng như thế nào? Tại sao đối thủ cạnh tranh làm  
như vậy?  
Hàng hóa của doanh nghiệp có cần dịch vụ sau khi bán không? Loại dịch vụ nào  
doanh nghiệp có khả năng cung cấp nhất? Vì sao doanh nghiệp lựa chọn loại dịch  
vụ đó?  
Đó là những vấn đề mà không ai khác ngoài bộ phận Marketing có trách nhiệm trả lời.  
Điều này phản ánh tính chất độc lập của chức năng Marketing so với các chức năng  
quản lý khác của doanh nghiệp và chỉ có Marketing mới giải quyết được khách quan  
và thỏa đáng những vấn đề đó. Nhưng đồng thời Marketing cũng không thể tách khỏi  
khả năng của các yếu tố: sản xuất, công nghệ, tài chính, nhân lực...  
Để đạt được mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là lợi nhuận thì hệ thống Marketing có  
nhiệm vụ đảm bảo sản xuất cung ứng những mặt hàng hấp dẫn có sức cạnh tranh cao  
cho các thị trường mục tiêu. Tuy nhiên, sự thành công của chiến lược và sách lược  
Marketing còn phụ thuộc vào sự vận hành của các chức năng khác trong doanh  
nghiệp. Hơn nữa, nếu các hoạt động chức năng đó không nhằm vào những khách hàng  
và thị trường thì hoạt động của nó trở nên mất phương hướng. Đó là mối quan hệ hai  
mặt vừa thể hiện tính thống nhất vừa thể hiện tính độc lập giữa chức năng Marketing  
với các chức năng của doanh nghiệp theo hướng thị trường. Giữa chúng có mối liên hệ  
chặt chẽ với nhau nhưng hoàn toàn không thể thay thế cho nhau.  
1.2.  
Quản trị Marketing  
1.2.1.  
Quản trị Marketing là gì?  
Marketing là một dạng hoạt động chức năng đặc thù của doanh nghiệp. Nó bao gồm  
nhiều hành vi bộ phận tác nghiệp khác nhau của các công đoạn hoạt động Marketing  
nhưng đều chung một mục tiêu: thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng  
một cách ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh để thực hiện thành công mục tiêu kinh  
doanh của doanh nghiệp. Điều này liên quan đến hoạt động quản trị Marketing.  
Theo Philip Kotler: “Quản trị Marketing là phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và  
kiểm tra việc thi hành các biện pháp nhằm thiết lập, củng cố và duy trì những cuộc  
trao đổi có lợi với những người mua đã được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đã  
định của doanh nghiệp”.  
Quản trị Marketing liên quan trực tiếp đến:  
Gợi mở và điều hòa nhu cầu của khách hàng;  
Phát hiện thay đổi tăng hoặc giảm của mức cầu;  
Chủ động đề ra các chiến lược và biện pháp để tác động lên mức độ thời gian và  
tính chất của nhu cầu sao cho doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu định trước;  
Kiểm tra việc thực hiện các chiến lược, kế hoạch và các biện pháp Marketing.  
1.2.2.  
Các quan điểm quản trị Marketing  
Marketing hiện đại và quản trị kinh doanh theo quan điểm Marketing là phương pháp  
cốt yếu và phổ biến trong quản trị kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp trong nền  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
9
Bài 1: Bản chất của Marketing  
kinh tế thị trường, cho mọi loại hình kinh doanh, thậm chí cả trong lĩnh vực chính trị  
xã hội.  
Để phát triển thành một lý thuyết hoàn chỉnh như ngày nay, lý thuyết Marketing đã  
trải qua quá trình phát triển. Quá trình đó gắn liền với việc tìm kiếm các phương pháp  
quản trị doanh nghiệp hướng theo thị trường.  
Người ta đã tổng kết được 5 quan điểm quản trị Marketing sau đây:  
1.2.2.1. Quan điểm tập trung vào sản xuất  
Bối cảnh ra đời: Quan điểm này ra đời bắt đầu  
với cuộc cách mạng công nghiệp. Đặc điểm thị  
trường ở giai đoạn này là cầu lớn hơn cung.  
Hàng hoá trao đổi chỉ để thoả mãn những nhu  
cầu cơ bản, sức mua thấp, cạnh tranh trên thị  
trường không đáng kể. Trong quan hệ trao đổi,  
quyền thương lượng thuộc về người bán, nhu  
cầu và mong muốn của khách hàng chỉ được coi  
là thứ yếu.  
Triết lý marketing: Người tiêu dùng sẽ ưa thích nhiều sản phẩm được bán rộng rãi  
với giá hạ. Vì vậy, những nhà quản trị các doanh nghiệp cần phải tập trung vào việc  
tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm chi phí, phân phối đại trà. Mục  
tiêu của doanh nghiệp là sản xuất được nhiều sản phẩm và bán với giá thấp.  
Chức năng của Marketing: Chỉ cung cấp thông tin về những sản phẩm một cách  
đơn giản, sản phẩm không cần phải độc đáo mà chỉ chạy theo thiết kế những sản  
phẩm sản xuất đồng loạt. Nguồn lực dành cho Marketing ở giai đoạn này rất ít vì  
nó không được coi là quan trọng.  
Đánh giá: Quan điểm này phù hợp với giai đoạn phát triển thấp của nền kinh tế và  
nó chỉ thực sự đưa lại thành công cho doanh nghiệp trong 2 trường hợp:  
o Kinh doanh ở những thị trường có sức mua thấp, nhu cầu về mua sắm sản  
phẩm giản đơn và nhu cầu vượt quá khả năng cung ứng;  
o Giá thành sản phẩm sản xuất hiện còn cao và có thể hạ xuống được nhờ lợi thế  
về quy mô (giai đoạn đầu của chu kỳ sống của sản phẩm).  
Hạn chế  
o Khả năng thoả mãn nhu cầu và ước muốn thấp;  
o Khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp.  
1.2.2.2. Quan điểm hoàn thiện sản phẩm  
Bối cảnh ra đời: Sản xuất và tiêu dùng đã phát triển, khả năng sản xuất cao hơn,  
nhu cầu tiêu dùng không chỉ dừng lại ở những sản phẩm hiện có mà còn mong  
muốn những sản phẩm có chất lượng cao.  
Triết lý marketing: Người tiêu dùng luôn ưa thích những sản phẩm có chất lượng  
cao nhất, hình thức phong phú, nhiều công dụng và tính năng mới. Vì vậy các nhà  
quản trị doanh nghiệp muốn thành công phải luôn tập trung mọi nguồn lực vào  
việc tạo ra các sản phẩm có chất lượng hoàn hảo nhất và thường xuyên cải tiến  
10  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
chúng. Quan điểm này coi chất lượng và tính năng sản phẩm là chìa khoá cho sự  
thành công của doanh nghiệp.  
Đánh giá: Việc nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua việc nâng cao chất lượng  
sản phẩm là hoàn toàn đúng và rất có hiệu quả trong điều kiện chất lượng sản  
phẩm thấp trong khi yêu cầu hội nhập cao. Quan niệm này tiến bộ hơn hẳn quan  
niệm tập trung vào sản xuất.  
o Thể hiện sự quan tâm hơn đến nhu cầu, ước muốn của khách hàng:  
o Tạo ra những biến đổi phù hợp với thị trường.  
Hạn chế: Quan niệm này mới chỉ dừng lại ở việc tập trung vào hoàn thiện sản phẩm  
mà chưa quan tâm đến sự đánh giá của khách hàng về chất lượng và tính năng của  
sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sản phẩm với các sản phẩm thay thế thấp.  
1.2.2.3. Quan điểm tập trung bán hàng (quan điểm Marketing truyền thống)  
Bối cảnh ra đời: Quan điểm này ra đời cùng với sự phát triển của công nghệ sản  
xuất và cạnh tranh (lúc này cung đã  
vượt quá cầu), cơ hội lựa chọn của  
người mua cao hơn, quyền thương  
lượng của người mua cao hơn. Người  
cung ứng lúc này đã gặp khó khăn  
trong tiêu thụ sản phẩm, họ nhận ra  
rằng cần phải có những nỗ lực trong  
việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.  
Triết lý marketing: Người tiêu dùng thường bảo thủ do đó có sức ỳ hay thái độ  
ngần ngại, chần chừ trong việc mua sắm hàng hóa. Vì vậy để thành công, doanh  
nghiệp cần tập trung mọi nguồn lực và sự cố gắng vào việc thúc đẩy tiêu thụ:  
Quảng cáo, khuyến mại, tuyển dụng đào tạo đội ngũ nhân viên bán hàng, tìm kiếm  
các phương pháp bán hàng để bán được nhiều hàng và thu được tiền.  
Đánh giá: Vai trò của Marketing bắt đầu trở nên quan trọng, doanh nghiệp đã tập  
trung nhiều nguồn lực hơn cho hoạt động Marketing. Quan điểm này rất có ý nghĩa  
trong việc bán những sản phẩm mà người mua có nhu cầu thụ động (bảo hiểm, một  
số loại sách...) và những mặt hàng chậm luân chuyển.  
Hạn chế: Quan điểm này vẫn ưu tiên cho nhu cầu và mong muốn của người bán.  
Khi ứng dụng quan điểm này người ta lạm dụng các kỹ thuật Marketing như quảng  
cáo lăng xê, lạm dụng khuyến mại, bán hàng nài nỉ, thiếu trung thực...  
1.2.2.4. Quan điểm marketing  
Bối cảnh ra đời: Quan điểm này ra đời trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt. Nhờ  
sự phát triển của khoa học công nghệ, cung đã vượt quá cầu rất nhiều. Tất cả các  
công ty đều nhận thấy nếu chỉ tập trung vào hoạt động bán thì khó có thể bán được  
hàng vì các khách hàng chỉ ưu tiên lựa chọn những mặt hàng thoả mãn tốt nhất nhu  
cầu, ước muốn của họ.  
Triết lý marketing: Chìa khóa để đạt được những mục tiêu trong kinh doanh của  
doanh nghiệp là doanh nghiệp phải xác định đúng những nhu cầu và mong muốn  
của thị trường mục tiêu. Từ đó tìm mọi cách đảm bảo sự thỏa mãn nhu cầu và  
mong muốn đó bằng những phương thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh.  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
11  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
Quan điểm Marketing và quan điểm tập trung vào bán hàng có những sự khác biệt  
rất rõ rệt.  
Bảng so sánh quan điểm bán hàng và quan điểm Marketing:  
Chỉ tiêu  
Quan điểm  
Điểm xuất  
Trung tâm  
chú ý  
Biện pháp  
Mục tiêu  
phát  
Tăng lợi nhuận nhờ  
tăng lượng bán  
Kích động  
mua sắm  
Bán hàng  
Nhà máy  
Sản phẩm  
Tăng lợi nhuận nhờ  
thỏa mãn tốt hơn  
nhu cầu khách hàng  
Thị trường mục  
Hiểu biết nhu  
cầu khách hàng  
Marketing  
hỗn hợp  
Marketing  
tiêu  
Quan điểm Marketing hiện đại đưa ra bốn định hướng cho hoạt động Marketing:  
o Marketing hiện đại bao giờ cũng tập trung vào những khách hàng nhất định  
được gọi là thị trường mục tiêu có nhu cầu và ước muốn phù hợp với khả năng  
cung ứng của doanh nghiệp. Sau khi đã xác định được thị trường mục tiêu thì  
tập trung mọi nguồn lực để thoả mãn và khai thác tối đa thị trường đó.  
o Vấn đề cốt lõi của Marketing hiện đại là hiểu biết chính xác nhu cầu của khách  
hàng, coi việc thoả mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng vừa là mục tiêu  
vừa là phương tiện để đạt được mục đích kinh doanh.  
o
Để nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing, doanh nghiệp phải sử dụng tổng  
hợp và phối hợp các biện pháp: Phối hợp giữa bộ phận chức năng của  
Marketing với các bộ phận chức năng khác trong doanh nghiệp, phối hợp có  
tính chất hệ thống giữa công ty và các đối tác để tạo ra năng lực cạnh tranh của  
cả hệ thống.  
o
Ứng dụng Marketing hiện đại vào kinh doanh tất nhiên phải tính đến khả năng  
sinh lời và khả năng gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Quan điểm mấu chốt  
liên quan đến việc tăng lợi nhuận của quan điểm Marketing hiện đại là: Việc  
tăng lợi nhuận chỉ đặt ra trên cơ sở tăng mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách  
hàng. Ưu tiên phát triển những khách hàng có khả năng sinh lời, biến những  
khách hàng không sinh lời thành những khách hàng sinh lời. Người làm  
Marketing phải dự báo những thay đổi của thị trường để nắm bắt cơ hội và  
phòng ngừa những rủi ro.  
Đánh giá: Quan điểm marketing được coi là quan điểm tồn tại và tăng trưởng  
trong nền kinh tế thị trường, nó làm đảo lộn nhưng quan điểm về quy trình kinh  
doanh. Theo quan điểm Marketing, quá trình kinh doanh là quá trình cung ứng giá  
trị bao gồm ba bước: lựa chọn giá trị – tạo ra giá trị – cung ứng giá trị. Điều này có  
nghĩa là theo marketing hiện đại thì Marketing có trước sản xuất.  
1.2.2.5. Quan điểm Marketing hướng tới sự kết hợp lợi ích người tiêu dùng, nhà  
kinh doanh và xã hội (quan điểm Marketing đạo đức xã hội)  
Bối cảnh ra đời: Khi vận dụng Marketing một cách rộng rãi cho hoạt động kinh  
doanh, người ta thấy hoạt động này đã góp phần tạo cho xã hội loài người những  
vấn nạn trên phạm vi toàn cầu như bùng nổ dân số, huỷ hoại tài nguyên thiên  
nhiên, môi trường, lãng phí tài nguyên, huỷ hoại đạo đức xã hội...  
12  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
Triết lý của quan điểm: Nhiệm vụ của doanh  
nghiệp là xác định đúng đắn những nhu cầu,  
mong muốn và lợi ích của thị trường mục tiêu.  
Trên cơ sở đó tìm cách thỏa mãn nhu cầu và  
mong muốn một cách hữu hiệu và hiệu quả hơn  
đối thủ cạnh tranh nhưng không làm phương  
hại đến lợi ích xã hội, đến sự tồn tại vĩnh cữu  
của xã hội loài người. Theo quan điểm này  
người làm Marketing khi ra các quyết định  
Marketing phải quan tâm trực tiếp đến ba loại  
lợi ích cụ thể: Lợi nhuận của doanh nghiệp, sự  
thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách  
hàng lợi ích của xã hội.  
Thực chất, đây là quan điểm kinh doanh theo tư duy Marketing nhưng vẫn đảm  
bảo sự vĩnh cửu của xã hội loài người, hạn chế những tác động xấu của nền kinh tế  
thị trường thuần tuý.  
Tóm lại, trên đây là các quan điểm quản trị Marketing. Ở Việt Nam, lý thuyết  
Marketing mới thâm nhập trong những năm gần đây. Có rất nhiều người thậm chí  
là các doanh nhân không hiểu một cách đầy đủ về Marketing. Do nhận thức thiếu  
đúng đắn người ta thường lẫn lộn giữa quan điểm Marketing hiện đại và quan  
điểm Marketing tập trung vào bán hàng.  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
13  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
TÓM LƯỢC CUỐI BÀI  
Marketing không chỉ là những biện pháp nhằm bán được hàng và thu được tiền. Marketing là một  
dạng hoạt động của con người (bao gồm cả các tổ chức) nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn  
thông qua hoạt động trao đổi. Để hiểu được một cách đầy đủ và chính xác khải niệm marketing,  
chúng ta cần nắm rõ các khái niệm: nhu cầu tự nhiên, mong muốn, nhu cầu có khả năng thanh  
toán, sản phẩm, giá trị, chi phí, sự thỏa mãn, trao đổi, giao dịch, thị trường.  
Quản trị marketing là phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra việc thi hành các biện pháp  
nhằm thiết lập, quy trì các cuộc trao đổi có lợi với những người mua đã được định trước nhằm  
đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Quá trình phát triển tư duy quản trị marketing đã tồn tại  
năm quan điểm quản trị marketing: Quan điểm tập trung vào sản xuất, quan điểm tập trung vào  
hoàn thiện sản phẩm, quan điểm, tập trung vào bán hàng, quan điểm marketing hiện đại và quan  
điểm marketing đạo đức xã hội.  
Triết lý của marketing đã làm đảo lôn tư tưởng về quá trình kinh doanh. Quá trình kinh doanh  
theo quan điểm marketing là quá trị cung ứng giá trị cho người tiêu dung. Trong quá trình này,  
người quản trị marketing phải thực hiện thông qua năm bước: Phân tích các cơ hội marketing,  
phân đoạn và lựa chọn thị trường trường mục tiêu, thiết lập chiến lược marketing, hoạch định  
marketing mix, tổ chức thực hiện và kiểm tra marketing.  
14  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
CÂU HỎI ÔN TẬP  
1. Hãy trình bày nội dung quan điểm Marketing hiện đại. Cho ví dụ về một doanh nghiệp cụ thể  
ứng dụng quan điểm Marketing hiện đại trong kinh doanh.  
2. Có quan điểm cho rằng “Để bán được sản phẩm, người làm Marketing chỉ cần tập trung vào  
các biện pháp kích thích tiêu thụ”. Hãy cho biết đánh giá của anh, chị về quan điểm trên.  
3. Hãy trình bày khái niệm giá trị tiêu dùng. Cho ví dụ minh hoạ.  
4. Hãy trình bày khái niệm giá chi phí. Cho ví dụ minh hoạ.  
5. Nhu cầu tự nhiên là gì? Người làm marketing có thể tạo ra nhu cầu tự nhiên hay không?  
6. Ước muốn là gì? Câu nói “Người làm marketing có thể tạo ra và thay đổi ước muốn” đúng  
hay sai? Tại sao?  
7. Trao đổi là gì? Nêu các điều kiện tiền đề của trao đổi?  
8. Hãy trình bày khái niệm thị trường theo quan điểm marketing và so sánh với khái niệm này  
theo quan điểm kinh tế học.  
9. Bản chất của marketing là gì?  
10. Hãy trình bày nội dung cơ bản của tiến trình quản trị marketing?  
BÀI TẬP  
Bài tập 1.1  
DẦU GỘI ĐẦU X-MEN  
Công ty TNHH Hàng Gia dụng Quốc tế ICP (bây giờ là công ty cổ phần), lúc đó mới chỉ có hai  
sản phẩm là nước rửa rau quả Vegy và sản phẩm vệ sinh nhà cửa OCleen. Chưa có nhãn hiệu  
dầu gội đầu nào, không phải cạnh tranh với các loại dầu gội đầu phổ dụng, phân khúc dầu gội  
đầu dành riêng cho phái mạnh thực sự là một “đại dương xanh” tuyệt vời cho ICP vẫy vùng.  
Năm 2003, ICP đã giới thiệu dầu gội đầu X-Men với định vị “đàn ông đích thực”  
Có chiến lược kinh doanh phù hợp, chỉ trong vòng 3 – 4 năm, chú tí hon X-Men đã trở thành  
người khổng lồ, là đối trọng trực tiếp với các đại gia Unilever và P&G. Theo ACNielson, tính  
đến tháng 11/2007; X-Men hiện đứng 5 trong tổng ngành hàng dầu gội, chiếm 7,5% thị phần.  
Nói cách khác, X-Men chiếm 60% trong phân khúc dầu gội thông thường dành cho nam  
Nam giới hiện đang chiếm khoảng 50% dân số nước ta nhưng thị phần dầu gội thông thường  
dành cho nam hiện chỉ chiếm hơn 12%. Một báo cáo gần đây nhất vào năm 2008, thị phần của  
X-Men trên thị trường dầu gội đầu dành cho nam giới là 55% trong khi đó Romano chỉ có 34%.  
Câu hỏi  
1. Đâu là quan điểm quản trị kinh doanh mà X-Mem đã sử dụng để đem lại sự thành công cho  
doanh nghiệp?  
2. X-Men đem lại những giá trị gì cho khách hàng?  
Bài 1.2  
Mai Linh cung cấp dịch vụ vận tải hành khách tuyến đường Hà Nội - Việt Trì  
Dịch vụ  
Sau khi điều tra nghiên cứu thị trường, công ty Mai Linh quyết định cung cấp dịch vụ vận tải  
hành khách tuyến đường Hà Nội – Việt Trì. Cụ thể như sau:  
Đưa xe khách vào hoạt động trên tuyến đường Hà Nội - Việt Trì. Xe sẽ chạy cả hai chiều đi  
và về.  
o Loại xe: Xe khách 24 chỗ ngồi.  
o Số lượng xe: 2 xe  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
15  
Bài 1: Bản chất của Marketing  
o Chiều từ Hà Nội đi Việt Trì: Điểm đón khách: Bến xe Mĩ Đình  
Điểm trả khách: Bến xe Việt Trì  
o
Chiều từ Việt Trì đi Hà Nội: Điểm đón khách: Bền xe Việt Trì  
Điểm trả khách: bến xe Mĩ Đình  
o Dịch vụ đi kèm trên xe: 1 nước uống, 1khăn lạnh/1 hành khách.  
1 thùng rác/1xe.  
o Phong cách phục vụ: Lái xe và phụ xe mặc đồng phục truyền thống của công ty, phục vụ  
theo phương châm của Mai Linh.  
Giá  
Qua kết quả nghiên cứu thị trường Mai Linh đưa ra mức giá vé cho tuyến Hà Nội - Việt Trì  
là 40.000đ/người/lượt.  
Phân phối  
o Nhà xe bán vé tại bến xe khách Mĩ Đình và bến xe Việt Trì.  
o Nhà xe có dịch vụ bán vé qua điện thoại và khách hàng có thể gọi điện và đặt vé ngày giờ  
muốn đi (vào những giờ cố định mà nhà xe quy định).  
4. Xúc tiến hỗn hợp  
o Quảng cáo  
.
.
Mai Linh đưa ra chương trình quảng cáo trên đài truyền hình Phú Thọ một ngày một  
lần vào giờ vàng khoảng 19 giờ hàng ngày, tiến hành trong 30 ngày kể từ trước khi  
khởi hành tuyến xe 1 tuần.  
Quảng cáo bằng quà tặng, Mai Linh tặng cho những khách hàng đi xe khách tặng  
phẩm nho nhỏ như cuốn sổ tay hoặc lịch có gắn hình ảnh chiếc xe khách MaiLinh và  
số điện thoại của nhà xe nhằm cho khách hàng liên lạc đặt vé khi cần thiết nhằm định  
vị hình ảnh xe khách Mai Linh trong tâm trí khách hàng vào tuần đầu tiên khi đưa xe  
khách đi vào hoạt động và một số ngày đặc biệt như lễ tết.  
.
Ngoài ra còn đưa thông tin cũng như quảng cáo trên web của Mai Linh.  
o Kích thích tiêu thụ:  
.
Trong tuần đầu tiên khi đưa xe vào vận hành thì thực hiện chương trình khuyến mãi  
cụ thể là Mai Linh đưa ra chương trình khuyến mãi 40% giá xe cho khách hàng đi xe  
Mai Linh.  
.
Sau một tuần khuyến mãi thì sẽ có một tuần đưa ra chương trình quay số trúng  
thưởng, trong mỗi vé xe của Mai Linh sẽ có những con số có cơ hội dành những phần  
thưởng hấp dẫn.  
o Quan hệ công chúng và tuyên truyền:  
.
Một phần không thể thiếu và đóng vai trò hết sức quan trọng đó là sử dụng thông tin  
truyền miệng. Một khi cảm nhận của khách hàng với nhà xe tốt thì thông tin này theo  
cơ chế lan truyền gây ảnh hưởng tới một lượng lớn khách hàng tạo được niềm tin cũng  
như sự trung thành của khách hàng tới xe khách Mai Linh.  
.
Trong mỗi chuyến xe chạy dành 5 phút cho giới thiệu về công ty Mai Linh nhằm nâng  
cao hình ảnh của Mai Linh trong tâm trí khách hàng.  
Câu hỏi  
1. Hãy phân tích nhu cầu tự nhiên mong muốn, nhu cầu có khả năng thanh toán của khách hàng  
xe Mai Linh?  
2. Chỉ ra các giá trị mà Mai Linh cung cấp cho khách hàng  
16  
MAR201_Bai1_v2.0014101209  
pdf 16 trang yennguyen 71961 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Quản trị marketing - Bài 1: Bản chất của Marketing", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_quan_tri_marketing_bai_1_ban_chat_cua_marketing.pdf