Nhận thức và thái độ của người tiêu dùng đối với nhãn hàng riêng tại Việt Nam

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 18, SỐ Q3 - 2015  
NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI NHÃN HÀNG RIÊNG TẠI  
VIỆT NAM  
PERCEPTION AND ATTITUDE OF VIETNAMESE SHOPPERS TOWARDS PRIVATE LABELS  
Nguyễn Thị Mai Trang  
Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG HCM - Email: [email protected]  
(Bài nhận ngày 10 tháng 03 năm 2015, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 29 tháng 08 năm 2015)  
TÓM TẮT  
Trong những năm gần đây, nhãn hàng riêng đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà quản lý siêu thị  
cũng như nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Tại Việt Nam, thị trường nhãn hàng riêng rất phong phú  
và đã được xem như một trong những chiến lược phát triển nhãn hiệu của các nhà quản lý nhãn hàng  
riêng tại siêu thi. Sự phát triển mạnh mẽ của nhãn hàng riêng đã trở thành một cuộc cạnh tranh thật sự  
với các nhãn hàng của nhà sản xuất. Vì vậy, mục đích của nghiên cứu này xem xét mức độ ảnh hưởng  
của các yếu tố như quan tâm đến giá, người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu thị và tính cách tân  
của người tiêu dùng đến thái độ đối với nhãn hàng riêng tại siêu thị ở TP.HCM. Với cách chọn mẫu  
thuận tiện, dữ liệu thu thập được từ 196 người tiêu dùng mua sắm tại siêu thị ở TP.HCM được sử dụng  
để kiểm định mô hình hồi quy bội. Kết quả nghiên cứu cho thấy bốn yếu tố về nhận thức của người tiêu  
dùng về quan tâm đến giá, người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu thị và tính cách tân của người  
tiêu dùng đều có ảnh hưởng đến thái độ đối với nhãn hàng riêng. Trong đó, yếu tố quan tâm đến giá là  
yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ đối với nhãn hàng riêng. Trong khi, người tiêu dùng thông  
minh có ảnh hưởng thấp nhất đến thái độ đối với nhãn hàng riêng.  
Từ khóa: nhãn hàng riêng, quan tâm đến giá, tính cách tân, hình ảnh siêu thị, người tiêu dùng thông  
minh tự nhận thức, Việt Nam.  
ABSTRACT  
Private labels have attracted practioners as well as academics around the world in the past several  
years. In Vietnam, supermarkets have considered private labels as a key branding strategy. However,  
they are still under-investigated in the market. For that reason, this study attempts to examine the  
influence of some key factors such as price consciousness, smart shopper self-perception, supermarket  
image, and consumer innovativeness on attitude towards private labels. A convenience sample of 196  
interviewed shoppers in Ho Chi Minh City was used to test the model. The findings indicate that four  
hypotheses were supported, in which price consciousness has the strongest impact on attitude towards  
private labels whereas smart shopper self-perception has a least impact.  
Keywords: Private labels, price consciousness, consumer innovativeness, supermarket images, smart  
shopper self - perception, Vietnam.  
1. GIỚI THIỆU  
nhất trong khu vực là do cơ cấu dân số trẻ và  
sức mua ngày càng được cải thiện nhờ tầng lớp  
trung lưu bành trướng mạnh mẽ (Lê Phương  
2014). Theo Công ty Nghiên cứu thị trường  
Statista (Đức), thị trường bán lẻ Việt Nam có  
Việt Nam được xem là một trong những thị  
trường bán lẻ tiềm năng trong khu vực châu Á  
– Thái Bình Dương năm 2014. Sở dĩ thị trường  
bán lẻ tại Việt Nam được đánh giá cao vào bậc  
Trang 93  
Science & Technology Development, Vol 18, No Q3 - 2015  
nhãn hàng riêng chỉ chiếm 1% trong tổng  
thể đạt doanh thu trên 80 tỷ USD trong năm  
2014 và lên tới 100 tỷ USD vào năm 2016  
(Ngọc Trần 2014). Với sự tăng trưởng mạnh  
mẽ của thị trường bán lẻ cùng với sự thay đổi  
thói quen mua sắm của người tiêu dùng đã  
chứng minh được tiềm năng của thị trường bán  
lẻ hiện đại sẽ còn vươn xa hơn nữa so với chợ  
truyền thống, điều này được chứng minh là sự  
đổ bộ ồ ạt của các siêu thị như Aaeon, Lotte  
chiếm hơn 40% trong hơn 700 siêu thị và trung  
tâm thương mại trên khắp cả nước. Theo quy  
hoạch của bộ Công thương, từ nay tới năm  
2020, cả nước có khoảng 1.200 - 1.300 siêu thị,  
tăng gần 650 điểm so với năm 2011. Số trung  
tâm thương mại và trung tâm mua sắm cũng  
tăng lần lượt lên 180 và 157 điểm (Đời sống &  
Pháp luật 2014). Điều này đã cho thấy một viễn  
cảnh cạnh tranh vô cùng khốc liệt giữa các nhà  
kinh doanh siêu thị.  
doanh thu của loại sản phẩm thực phẩm  
(Burck, 1979). Tuy nhiên, vào năm 1980,  
doanh số của thực phẩm mang nhãn hàng riêng  
tại siêu thị bán nhãn hàng này đã tăng 10%.  
Trong thế kỷ 21, doanh số thực phẩm nhãn  
hàng riêng đã tăng lên 20% tại Hoa Kỳ  
(Goldsmith & ctg, 2010). Điều này chứng tỏ  
nhãn hàng riêng đã trở thành một trong những  
chiến lược về nhãn hiệu mà nhà quản lý bán lẻ  
cần đầu tư xây dựng thông qua hoạt động luôn  
cải tiến chất lượng, sản xuất sản phẩm nhãn  
hàng riêng đa dạng hơn và hỗ trợ các hoạt động  
tiếp thị cho sản phẩm nhãn hàng riêng.  
Theo báo cáo nghiên cứu về nhãn hàng  
riêng toàn cầu của Nielsen (2014) đã nhận định  
với tỷ lệ ngày càng tăng của mô hình cửa hàng  
bán lẻ hiện đại đang nổi lên khắp Đông Nam Á,  
nhận thức và niềm tin tiêu dùng đối với nhãn  
hàng riêng đang tăng dần lên. Đặc biệt kết quả  
nghiên cứu này nhấn mạnh nhận thức của  
người tiêu dùng hiện nay về chất lượng, giá trị,  
phân loại và đóng gói của nhãn hiệu riêng.  
Chứng tỏ người tiêu dùng ngày càng thông  
minh trong việc mua sắm hàng hóa, đặc biệt  
mua sắm tại siêu thị. Ví dụ, 84% người tiêu  
dùng Việt Nam nói rằng nhận thức của họ về  
các thương hiệu riêng đã được cải thiện theo  
thời gian và được các nhà nghiên cứu khẳng  
định đây là mức cao nhất trên toàn cầu. Tỷ lệ  
này đạt 83% tại Thái Lan, 77% tại Philippines,  
70% tại Malaysia, 66% tại Indonesia và 64%  
tại Singapore, so với tỷ lệ trung bình là 71%  
của người tiêu dùng toàn cầu. Khi niềm tin tiêu  
dùng đối với sản phẩm nhãn hàng riêng ngày  
càng tăng cao, điều này cho thấy rằng người  
tiêu dùng sẵn sàng trả thêm tiền cho các sản  
phẩm nhãn hàng riêng mà họ thích. Philippines  
là nước đứng đầu trên toàn cầu, với gần ba  
phần tư (72%) cho rằng họ sẵn sàng trả bằng  
hoặc cao hơn cho các sản phẩm nhãn hàng  
riêng mà họ thích, kế tiếp là 69% người Việt  
Để tồn tại trong thị trường cạnh tranh khốc  
liệt này, các nhà quản lý siêu thị thường xuyên  
tổ chức hoạt động khuyến mãi để thu hút khách  
hàng. Đặc biệt là việc giới thiệu nhãn hàng  
riêng đến khách hàng nhằm đẩy mạnh doanh  
thu. Nhãn hàng riêng (private label brands,  
store brands, own brands, hoặc house brands)  
được định nghĩa là thương hiệu “thuộc độc  
quyền một siêu thị nào đó mà siêu thị này sở  
hữu, bán, và phát triển nhãn hiệu này và cạnh  
tranh với nhiều sản phẩm cùng loại với nhãn  
hiệu nhà sản xuất” (Semeijin 2004, trang 247).  
Khái niệm “nhãn hàng riêng” khởi xướng đầu  
tiên ở Hoa Kỳ. Nhãn hàng riêng xuất hiện đầu  
tiên ở các siêu thị tại Hoa Kỳ vào năm 1970 ở  
dạng bao bì rất đơn giản, chỉ có màu trắng và  
màu đen. Đặc điểm của nhãn hàng riêng lúc đó  
được mô tả như giá của nhãn hàng riêng thấp  
hơn nhãn hàng của nhà sản xuất, không nhận  
được hoặc nhận được rất ít sự hỗ trợ của hoạt  
động quảng cáo, chất lượng của sản phẩm nhãn  
hàng riêng cũng thấp hơn nhãn hiệu của nhà  
sản xuất. Lúc này, doanh thu của sản phẩm  
Trang 94  
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 18, SỐ Q3 - 2015  
Nam- đứng hàng thứ 5 cao nhất trên toàn cầu  
kiếm thông tin của sản phẩm mới và chấp nhận  
sản phẩm mới (tính cách tân người tiêu dùng)  
cũng như mua sắm tại siêu thị, người tiêu dùng  
thể hiện được sự thông minh trong mua sắm  
sản phẩm. Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này  
nhằm xem xét các yếu tố như quan tâm đến giá,  
người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu thị  
và tính cách tân của người tiêu dùng ảnh hưởng  
đến thái độ đối với nhãn hàng riêng của người  
tiêu dùng đi mua sắm tại siêu thị.  
(Thúy Hà, 2014). Thông qua thông tin trên đây,  
chúng ta thấy được, đối với thị trường nhãn  
hàng riêng, người tiêu dùng Việt Nam đã thể  
hiện sự quan tâm đến giá, sẵn sàng chấp nhận  
sản phẩm mới trên thị trường (đó là tính cách  
tân của người tiêu dùng), hơn nữa khi mua sản  
phẩm nhãn hàng riêng chỉ mua được tại siêu  
thị, nên hình ảnh của siêu thị cũng góp phần tạo  
ra thái độ của họ đối với nhãn hàng riêng.  
Các nhà nghiên cứu hàn lâm cũng đã tập  
trung vào nghiên cứu nhãn hàng riêng, cụ thể  
là: quan tâm đến giá, tính cách tân của người  
tiêu dùng (Jin and Suh, 2005), hình ảnh siêu  
thị, người tiêu dùng thông minh, trung thành  
với siêu thị, rủi ro cảm nhận (ví dụ, Hoch &  
Banerji 1993; Richardson & ctg, 1996; Burton  
& ctg, 1998; Sinha & Bata, 1999; Garretson&  
ctg, 2002). Các nghiên cứu trước đây đều tập  
trung nghiên cứu nhiều ở các nước phát triển  
(Hoa Kỳ, Châu Âu) có lịch sử về nhãn hàng  
riêng tương đối lâu dài hơn so với các nước  
Châu Á, trong đó thị trường nhãn hàng riêng tại  
Việt Nam thì còn tương đối non trẻ. Trong số  
những yếu tố này, nhận thức của khách hàng về  
giá là một trong những nguyên nhân quan trọng  
nhất để họ mua sản phẩm nhãn hàng riêng  
(Nielsen 2014). Hơn nữa, tính cách tân của  
người tiêu dùng và người tiêu dùng thông minh  
cũng là các yếu tố cần đề cập đến khi xem xét  
thái độ của người tiêu dùng đối với nhãn hàng  
riêng, đặc biệt trong thị trường sản phẩm nhãn  
hàng riêng còn sơ khai tại thị trường mới nổi  
như Việt Nam. Đặc thù của nhãn hàng riêng là  
khách hàng chỉ mua được sản phẩm nhãn hàng  
riêng tại siêu thị nơi mà họ mua sắm, do đó  
hình ảnh của siêu thị cũng có ảnh hưởng đến  
thái độ của người tiêu dùng đối với nhãn hàng  
riêng. Như đã thảo luận ở phần trên, thị trường  
bán lẻ ở Việt Nam đã và đang phát triển khá  
tốt, người tiêu dùng đã hình thành thói quen  
mua sắm tại siêu thị, thông qua đó, việc tìm  
Cấu trúc của bài viết như sau. Phần tiếp  
theo của bài viết sẽ trình bày cơ sở lý thuyết  
cùng mô hình nghiên cứu. Sau đó, tác giả sẽ  
mô tả phương pháp nghiên cứu. Tiếp theo, kết  
quả nghiên cứu sẽ được thảo luận. Cuối cùng,  
hàm ý cho nhà quản lý, hạn chế cũng như  
hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ được trình bày.  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1. Thái độ đối với nhãn hàng riêng  
Khái niệm thái độ đối với sản phẩm là khái  
niệm quan trọng trong tiếp thị. Do đó, việc các  
nhà quản lý nhãn hàng riêng xem xét và đánh  
giá thái độ của người tiêu dùng đối với nhãn  
hàng riêng của mình như thế nào sẽ quyết định  
sự thành công hay thất bại của nhãn hàng này.  
Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết hành động  
hợp lý của Ajzen and Fishbein (1980) để xem  
xét mối quan hệ giữa nhận thức (perception) và  
thái độ (attitude). Thái độ đối với nhãn hàng  
riêng được định nghĩa là “xu hướng hành vi  
phản ứng thích (hoặc không thích) đối với sản  
phẩm nhãn hàng riêng dựa trên việc đánh giá  
sản phẩm, đánh giá việc mua sản phẩm nhãn  
hàng riêng” (Burton & ctg, 1998, trang 294).  
Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa trên vì  
định nghĩa này có thể được sử dụng chung cho  
sản phẩm nhãn hàng riêng nói chung, chứ  
không cần một mặt hàng cụ thể. Nếu khách  
hàng có thái độ tích cực đối với nhãn hàng  
riêng, họ có xu hướng mua nhãn hàng đó  
(Semeijn & ctg, 2004).  
Trang 95  
Science & Technology Development, Vol 18, No Q3 - 2015  
2.2. Quan tâm đến giá (Price consciousness)  
đối với nhãn hàng riêng cũng như chương trình  
giá khuyến mãi các nhãn hàng của nhà sản  
xuất. Tuy nhiên, nhận thức người tiêu dùng  
thông minh có ảnh hưởng lớn hơn với chương  
trình khuyến mãi nhãn hàng của nhà sản xuất  
so với nhãn hàng riêng. Nhưng do chương trình  
khuyến mãi nhãn hàng của nhà sản xuất không  
thường xuyên và đúng vào thời điểm người tiêu  
dùng thông minh đi mua sắm, nên để thỏa mãn  
lợi ích mua sắm khôn ngoan của mình, họ tìm  
cách tiết kiệm chi phí mua sắm thông qua việc  
mua nhãn hàng riêng (Garretson & ctg, 2002).  
Do đó:  
Do giá của nhãn hàng riêng thường rẻ hơn  
nhãn hàng của nhà sản xuất từ 10 - 20%, nên  
nhãn hàng riêng thường thu hút phân khúc  
khách hàng quan tâm đến giá (Jin & Suh,  
2005). Quan tâm đến giá được định nghĩa là  
mức độ mà khách hàng ra quyết định mua sản  
phẩm nào đó chủ yếu tập trung vào giá  
(Lichtenstein & ctg, 1997). Trong khi đó, Sinha  
& Batra (1999) cho rằng khi khách hàng quan  
tâm đến giá khi mua một sản phẩm nào đó  
trong một tập sản phẩm cùng loại thì họ chọn  
sản phẩm nào có giá thấp nhất trong số những  
sản phẩm cùng loại. Theo kết quả nghiên cứu  
của Batra và Sinha (2000) quan tâm đến giá là  
một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh  
nhất đến ý định mua nhãn hàng riêng. Dựa trên  
những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên,  
chúng ta có giả thuyết:  
H2: Nhận thức người tiêu dùng thông minh  
có ảnh hưởng tích cực đến thái độ đối với nhãn  
hàng riêng.  
2.4. Hình ảnh siêu thị (Supermarket  
image)  
Khái niệm hình ảnh siêu thị xuất phát từ lý  
thuyết về hình ảnh cửa hàng (store image). Do  
đó, trong nghiên cứu này, hai thuật ngữ này  
được sử dụng nhưng diễn tả ngữ nghĩa chung,  
đó là ấn tượng của nhà bán lẻ trong tâm trí của  
khách hàng (Ailawadi & Keller, 2004). Hình  
ảnh cửa hàng được phản ảnh thông qua phương  
tiện vật chất của cửa hàng. Các nghiên cứu  
trước đây cho thấy hình ảnh cửa hàng có ảnh  
hưởng đến suy đoán của khách hàng về chất  
lượng sản phẩm bán tại cửa hàng đó và thái độ  
của khách hàng đánh giá các thương hiệu đang  
bán trong cửa hàng đó (Collins - Dodd &  
Lindley, 2003, Semeijn & ctg, 2004).  
H1: Quan tâm đến giá có ảnh hưởng tích  
cực đến thái độ đối với nhãn hàng riêng.  
2.3. Nhận thức của người tiêu dùng thông  
minh (Smart shopper self - perception)  
Người tiêu dùng được coi là thông minh khi  
họ nắm bắt và xem xét kỹ lưỡng những lợi ích  
khác nhau khi mua sắm, ví dụ như cảm giác  
hoàn thiện công việc mua sắm một cách tốt  
đẹp, hoặc niềm tự hào trong ứng xử khéo léo  
khi đi mua hàng (Schindler, 1988). Người tiêu  
dùng được đánh giá là thông minh trong mua  
sắm khi họ biết đánh giá giá trị của hàng hóa  
cần xem xét khi mua, có sự so sánh giữa chi  
phí với chất lượng sản phẩm và cuối cùng là họ  
thường cân nhắc giữa lợi ích và những dịch vụ  
đi kèm khi mua sản phẩm, ví dụ: lợi ích chức  
năng và lợi ích tiêu khiển (Holbrook, 1994).  
Nghiên cứu của Garretson & ctg (2002) thực  
hiện so sánh giữa chương trình khuyến mãi  
nhãn hàng của các nhà sản xuất và nhãn hàng  
riêng. Kết quả nghiên cứu của Garretson & ctg  
(2002) cho thấy là nhận thức người tiêu dùng  
thông minh có ảnh hưởng tích cực đến thái độ  
Hình ảnh cửa hàng được hình thành qua trải  
nghiệm mua sắm của khách hàng hoặc thông  
tin từ nhà bán lẻ thông qua các nguồn như tin  
tức hoặc truyền miệng. Ailawadi và Keller  
(2004) xem hình ảnh cửa hàng là khái niệm  
tổng hợp nhiều đặc điểm/ thuộc tính của cửa  
hàng và là khái niệm đa hướng, gồm có: chất  
lượng hàng hóa, môi trường cửa hàng, tiếng  
tăm của nhà bán lẻ, tiện lợi, mức giá và sự đa  
Trang 96  
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 18, SỐ Q3 - 2015  
dạng về chủng loại (Ailawadi & Keller, 2004;  
Tính cách tân của người tiêu dùng được cho  
là đặc tính của cá nhân, đặc biệt là đối với việc  
chấp nhận sản phẩm mới. Tính cách tân của  
người tiêu dùng được định nghĩa là xu hướng  
của người tiêu dùng sử dụng sản phẩm, thương  
hiệu mới, hoặc tham gia vào trải nghiệm mới  
hơn là duy trì những chọn lựa thương hiệu hay  
sản phẩm trước đây của mình. Các nghiên cứu  
trước đây đã cho thấy tính cách tân có quan hệ  
tích cực với việc chấp nhận rủi ro (Steenkamp,  
Hofstede & Wedel, 1999). Do đó, khách hàng  
có tính cách tân càng cao, họ càng có xu hướng  
sẵn lòng chịu rủi ro về việc sử dụng sản phẩm  
hay thương hiệu hoàn toàn không quen thuộc  
từ trước đến nay. Vì vậy, khái niệm tính cách  
tân của người tiêu dùng có thể phù hợp trong  
bối cảnh sản phẩm nhãn hàng riêng. Người tiêu  
dùng có tính cách tân cao mà khi họ bắt gặp  
nhãn hiệu mới trên thị trường, họ sẵn lòng thử  
dùng nhãn hiệu mới này. Nghiên cứu của Jin và  
Suh (2005) phỏng vấn người tiêu dùng tại Hàn  
quốc đã cho thấy tính cách tân của người tiêu  
dùng là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến  
thái độ đối với nhãn hàng riêng ở hai ngành  
hàng: thực phẩm và gia dụng tại thị trường Hàn  
Quốc. Do đó:  
Dodds, Monroe & Grewal, 1991).  
Nghiên cứu của Semeijin và ctg (2004) cho  
thấy một siêu thị có môi trường thoải mái và dễ  
chịu có ảnh hưởng tích cực đến việc đánh giá  
và ý định mua nhãn hàng riêng. Baker, Grewal,  
và Parasuraman (1994) phân tích môi trường  
của cửa hàng và cho thấy khách hàng kỳ vọng  
sản phẩm tại một cửa hàng sẽ không có chất  
lượng tốt khi cửa hàng đó không tạo được môi  
trường mua sắm thân thiện và lịch sự. Nói cách  
khác, kết quả nghiên cứu của Baker và cộng sự  
(1994) đã tìm ra mối liên hệ giữa môi trường  
trong cửa hàng bán lẻ (như âm nhạc, ánh sáng,  
tinh thần phục vụ của nhân viên) và cảm nhận  
của người tiêu dùng về chất lượng hàng hóa  
trưng bày trong cửa hàng đó. Do đó, khách  
hàng phán đoán chất lượng của nhãn hàng  
riêng thông qua hình ảnh của siêu thị. Điều này  
có thể lý giải là khách hàng sử dụng hình ảnh  
siêu thị như là một tín hiệu bên ngoài để phán  
đoán nhãn hàng riêng cung cấp bởi siêu thị này  
(Ailawadi & Keller, 2004; Collins - Dodd &  
Kindley, 2003). Theo lý thuyết sử dụng tín hiệu  
(the cue utilization theory) hình ảnh cửa hàng  
có thể là yếu tố giúp khách hàng xác định chất  
lượng sản phẩm bán tại cửa hàng đó (Collins -  
Dodd & Kindley, 2003). Do đó, khách hàng sẽ  
có thái độ tích cực với nhãn hàng riêng tại siêu  
thị có hình ảnh tốt (high - image supermarket)  
vì khách hàng nghĩ rằng siêu thị này sẽ bán sản  
phẩm có chất lượng cao hơn là siêu thị có hình  
ảnh thấp (low - image supermarket). Vì vậy:  
H4: Tính cách tân của người tiêu dùng có  
ảnh hưởng tích cực với thái độ đối với nhãn  
hàng riêng.  
Dựa trên thảo luận trên đây, mô hình  
nghiên cứu được đề xuất. Hình 1 dưới đây  
minh họa mối quan hệ giữa các khái niệm  
nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của các khái  
niệm nghiên cứu này đến thái độ đối với nhãn  
hàng riêng. Bốn biến độc lập xem xét trong mô  
hình nghiên cứu đề xuất đó là: quan tâm đến  
giá, người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu  
thị và tính cách tân của người tiêu dùng.  
H3: Hình ảnh của siêu thị có ảnh hưởng  
tích cực với thái độ đối với nhãn hàng riêng.  
2.5. Tính cách tân của người tiêu dùng  
(Consumer innovativeness)  
Trang 97  
Science & Technology Development, Vol 18, No Q3 - 2015  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
(1998). Quan tâm đến giá được đo lường bằng  
ba biến quan sát. Thang đo này được sử dụng  
từ nghiên cứu của Sinha & Batra (1999). Nhận  
thức người tiêu dùng thông minh được đo  
lường bằng hai biến quan sát và sử dụng thang  
đo từ nghiên cứu của Garretson & ctg (2002).  
Hình ảnh siêu thị phản ảnh ấn tượng của khách  
hàng đối với siêu thị bán lẻ thông qua hàng hóa  
và cách trang trí nội thất của cửa hàng. Thang  
đo hình ảnh siêu thị được kế thừa từ nghiên cứu  
của Collins - Dodd & Lindley (2003) và bao  
gồm 4 biến quan sát. Cuối cùng là thang đo  
khái niệm tính cách tân của người tiêu dùng (3  
biến quan sát), thang đo này lấy từ nghiên cứu  
của Manning & ctg (1995) và Jin & Suh  
(2005).  
3.1. Mẫu nghiên cứu  
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện với 250  
bảng câu hỏi được phát ra cho 50 sinh viên để  
các sinh viên này tiến hành gửi bảng câu hỏi  
đến người quen hoặc người thân trong gia đình.  
Đối tượng khảo sát là người có đi mua sắm tại  
siêu thị và có biết nhãn hàng riêng của siêu thị  
đó. Hai trăm năm mươi bảng câu hỏi được phát  
ra, nhưng 54 bảng câu hỏi bị loại do người trả  
lời khoanh chỉ vào một con số trong tất cả các  
câu hỏi. Cuối cùng, 196 bảng câu hỏi hợp lệ và  
được sử dụng để xử lý tiếp theo. Để tạo điều  
kiện dễ dàng cho người trả lời, phần đầu của  
bảng câu hỏi mô tả chi tiết định nghĩa của nhãn  
hàng riêng và minh họa hình ảnh của nhãn  
hàng riêng để đảm bảo người trả lời hiểu đúng  
khái niệm về nhãn hàng riêng.  
Thang đo của các khái niệm nghiên cứu  
trong mô hình đều là thang đo nhiều biến quan  
sát và sử dụng thang đo Likert với điểm từ 1  
(hoàn toàn phản đối) và 5 (hoàn toàn đồng ý).  
3.2. Thang đo  
Mô hình (Hình 1) gồm bốn biến độc lập:  
quan tâm đến giá, người tiêu dùng thông minh,  
hình ảnh siêu thị và tính cách tân của người  
tiêu dùng và 1 biến phụ thuộc đó là: thái độ đối  
với nhãn hàng riêng. Tất cả thang đo cho khái  
niệm này đều sử dụng từ các nghiên cứu trước  
đây. Biến phụ thuộc là thái độ đối với nhãn  
hàng riêng được đo lường bằng hai biến quan  
sát và kế thừa từ nghiên cứu của Burton & ctg  
3.3. Đặc điểm mẫu  
Số lượng bảng câu hỏi phát ra là 250, thu về  
235 bảng câu hỏi, trong đó có 196 bảng câu hỏi  
hợp lệ. Đặc điểm của mẫu gồm có 165 (84,2%)  
người là nữ và 31 (15,8%) người trả lời là nam.  
Trong đó 110 (56,2%) người có độ tuổi từ 20 -  
35, 67 (34%) người trong mẫu có độ tuổi từ 35  
- 50 và chỉ có 9,7% có độ tuổi trên 50. Về thu  
Trang 98  
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 18, SỐ Q3 - 2015  
nhập cá nhân, 81 người (41,3%) có thu nhập  
alpha và tiếp tục được kiểm định thông qua  
phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA  
(Principal Components với phép quay  
Varimax).  
dưới 10 triệu/ tháng, 56 (28,6%) người trả lời  
có thu nhập từ 10 - dưới 20 triệu đồng/tháng,  
và trên 20 triệu đồng/tháng có 18 (9,2%) người.  
Có 41 (20,9%) người không muốn trả lời về  
thu nhập cá nhân hàng tháng. Việc thiếu thông  
tin này không ảnh hưởng gì đến các phần khác  
nên bảng câu hỏi vẫn được xem là hợp lệ và  
thông tin của 41 mẫu này vẫn được sử dụng để  
tiến hành các phương pháp xử lý tiếp theo.  
Kết quả cho thấy Cronbach alpha của các  
thang đo đều đạt yêu cầu (  0,65). Kết quả  
EFA cho thấy 5 nhân tố trích giải thích được  
68,87% phương sai các biến quan sát tại eigen -  
value là 1,16. Kiểm tra hệ số tương quan giữa  
các khái niệm nghiên cứu cũng cho thấy chúng  
đều nhỏ hơn 1. Vì vậy, các thang đo đều đạt  
yêu cầu về giá trị hội tụ và phân biệt. (Xem  
Bảng 1).  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO  
LUẬN  
4.1. Đánh giá đo lường  
Các thang đo khái niệm nghiên cứu trước  
tiên được đánh giá bằng độ tin cậy Cronbach  
Bảng 1. Trung bình, độ lệch chuẩn, và trọng số EFA  
Biến quan sát  
Trung  
bình  
Độ  
lệch  
chuẩn  
Trọng số  
EFA  
Thái độ đ/v nhãn hàng riêng: Cronbach a=.0.87  
4,58  
1,38  
Tôi rất thích khi nhãn hàng riêng luôn sẵn có cho các chủng loại  
hàng hóa tôi mua  
4,58  
1,58  
0,73  
0,76  
Đối với hầu hết các chủng loại hàng hóa, nhãn hàng riêng thường  
là sự lựa chọn tốt nhất  
4,57  
1,41  
Quan tâm đến giá: Cronbach a=.87  
4,49  
4,11  
1,18  
1,29  
Tôi có dự định mua nhãn hàng có giá thấp phù hợp với nhu cầu  
của tôi  
0,86  
Khi mua một thương hiệu, tôi tìm nhãn hiệu rẻ nhất  
Giá là yếu tố quan trọng nhất khi tôi chọn nhãn hiệu để mua sắm.  
Người tiêu dùng thông minh, Cronbach a=.65  
4,49  
4,89  
4,23  
4,37  
1,30  
1,38  
1,17  
1,35  
0,86  
0,80  
Tôi tin rằng tôi có quyết định sáng suốt khi mua sắm tai siêu thị  
X
Khi mua được một sản phẩm với giá thấp nhất, tôi thấy mình là  
người chiến thắng.  
0,85  
0,81  
4,10  
1,38  
Hình ảnh siêu thị, Cronbach a=.74  
5,11  
4,96  
5,24  
5,31  
0,89  
1,22  
1,23  
1,08  
Siêu thị X cung cấp sản phẩm đa dạng  
Sản phẩm bán tại siêu thị X có giá thấp  
Sản phẩm bán tại siêu thị X mua đáng đồng tiền  
0,70  
0,72  
0,80  
Trang 99  
Science & Technology Development, Vol 18, No Q3 - 2015  
Biến quan sát  
Trung  
bình  
Độ  
lệch  
chuẩn  
Trọng số  
EFA  
Tôi có cảm giác dễ chịu với cách trang trí nội thất của X  
Tính cách tân của người tiêu dùng, Cronbach a=.77  
Tôi thường tìm kiếm thông tin về sản phẩm mới  
4,91  
1,20  
0,69  
3,93  
3,99  
3,96  
3,63  
1,08  
1,32  
1,44  
1,43  
0,77  
0,88  
0,81  
Tôi thường mua sắm nhiều nhãn hàng riêng hơn bạn bè của mình  
Tôi là một trong những người đầu tiên mua nhãn hàng riêng mới  
giới thiệu tại X  
4.2. Kiểm định giả thuyết  
Giả thuyết H1 phát biểu về mối quan hệ  
giữa quan tâm về giá và thái độ đối với nhãn  
hàng riêng. Kết quả của hồi quy bội ủng hộ giả  
thuyết này (β = 0,35, p < 0,05). Người tiêu  
dùng thông minh có quan hệ tích cực với thái  
độ đối với nhãn hàng riêng (β = 0,14, p < 0,05),  
giả thuyết H2 được ủng hộ. Giả thuyết H3 phát  
biểu về hình ảnh siêu thị có ảnh hưởng tích cực  
đến thái độ đối với nhãn hàng riêng (β = 0,30, p  
< 0,05), theo kết quả của hồi quy bội thì giả  
thuyết H3 được ủng hộ. Cuối cùng là H4: Tính  
cách tân của người tiêu dùng có quan hệ tích  
cực với thái độ đối với nhãn hàng riêng. Giả  
thuyết này được ủng hộ (β = 0,25, p < 0,05).  
Bảng 2 trình bày tóm tắt kết quả của hồi quy  
bội về việc kiểm định các giả thuyết.  
Biến tổng (tổng các biến quan sát đo lường  
các khái niệm nghiên cứu) được sử dụng trong  
xử lý mô hình hồi quy. Để xác định tầm quan  
trọng của từng biến độc lập vào biến phụ thuộc  
là thái độ đối với nhãn hàng riêng, mô hình hồi  
quy bội được sử dụng để kiểm định giả thuyết  
của mô hình. Kết quả của mô hình hồi quy bội  
(Bảng 2) cho thấy bốn biến: quan tâm đến giá,  
nhận thức của người tiêu dùng thông minh,  
hình ảnh siêu thị và tính cách tân của người  
tiêu dùng giải thích được 50,5% phương sai  
thái độ đối với nhãn hàng riêng. Tất cả các biến  
độc lập đều có ảnh hưởng tích cực đến biến  
phụ thuộc, thái độ đối với nhãn hàng riêng. Hệ  
số VIF đều nhỏ hơn 2 cho thấy hiện tượng đa  
cộng tuyến không đáng kể.  
Bảng 2. Kết quả kiểm định giả thuyết  
Beta  
chưa  
chuẩn  
hóa  
Độ  
lệch  
chuẩn  
Beta  
chuẩn  
hóa  
Giá trị  
Giá  
trị p  
Giả thuyết  
t
H1: Quan tâm đến giá Thái độ đ/v NHR  
H2: Người tiêu dùng thông minh Thái độ đ/v  
NHR  
0,40  
0,17  
0,46  
0,32  
0,07  
0,06  
0,09  
0,07  
0,35  
0,14  
0,30  
0,25  
6,022 0,000  
2,665 0,008  
5,277 0,000  
4,641 0,000  
H3: Hình ảnh siêu thị Thái độ đ/v NHR  
H4: Tính cách tân của người tiêu dùng Thái độ  
đ/v NHR  
Trang 100  
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 18, SỐ Q3 - 2015  
4.3. Hàm ý cho nhà quản lý  
đồng/lần mua, người tiêu dùng sẽ nhận được  
phiếu mua hàng ưu đãi từ siêu thị cho việc mua  
Kết quả của nghiên cứu cho thấy tầm quan  
trọng của cả 4 yếu tố: quan tâm đến giá, hình  
ảnh siêu thị, tính cách tân của người tiêu dùng  
và người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu  
thị và tính cách tân của người tiêu dùng đều  
ảnh hưởng đến thái độ đối với nhãn hàng riêng.  
Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả  
nghiên cứu của Batra & Sinha (2000) và Lin &  
ctg (2009). Theo kết quả nghiên cứu của Batra  
& Sinha (2000), quan tâm đến giá có ảnh  
hưởng mạnh nhất đến ý định mua nhãn hàng  
riêng thực phẩm tại Hoa Kỳ. Nghiên cứu của  
Lin & ctg (2009) cũng tìm ra mối quan hệ  
dương giữa quan tâm đến giá và thái độ đối với  
nhãn hàng riêng của người tiêu dùng Đài Loan  
trong đó sản phẩm nghiên cứu là thực phẩm.  
Theo nghiên cứu của Goldsmith & ctg (2010)  
cho thấy là một khi người tiêu dùng sử dụng  
nhãn hàng riêng, một số người tiêu dùng này có  
xu hướng trung thành với nhãn hàng riêng, do  
đó, Goldsmith & ctg (2010) có kiến nghị nhà  
quản lý siêu thị nên sử dụng mẫu thử của nhãn  
hàng riêng đính kèm với nhãn hàng của nhà sản  
xuất nổi tiếng.  
hàng tiếp theo trong đó có sản phẩm nhãn hàng  
riêng của siêu thị.  
Hình ảnh siêu thị có tác động tích cực đối  
với thái độ đối với nhãn hàng riêng. Kết quả  
này ủng hộ kết quả nghiên cứu của Semeijn &  
ctg (2004). Kết quả này dẫn hàm ý cho nhà  
quản lý siêu thị là phải chú ý đến việc thiết kế  
và xây dựng hình ảnh siêu thị. Cụ thể là nhà  
quản lý siêu thị phải tập trung vào những khía  
cạnh như môi trường siêu thị phải thông thoáng  
và mát mẻ, hàng hóa trong siêu thị phải đa  
dạng và nhiều chủng loại (Semeijn & ctg  
2004). Do đó, nếu xây dựng được hình ảnh siêu  
thị tốt trong tâm trí khách hàng thì kết quả của  
hoạt động này không chỉ có tác động đến cảm  
nhận về chất lượng của một sản phẩm cụ thể  
mà hình ảnh siêu thị tốt sẽ làm gia tăng tính  
hấp dẫn nhãn hàng riêng của siêu thị đó.  
Tính cách tân của người tiêu dùng có mối  
quan hệ tích cực với thái độ đối với nhãn hàng  
riêng. Kết quả nghiên cứu này trùng với kết  
quả nghiên cứu của Jin & Suh (2005) với 168  
khách hàng Hàn Quốc cho hai loại sản phẩm là  
thực phẩm và đồ gia dụng. Nhà quản lý siêu thị  
nên thường xuyên nghiên cứu để đưa ra sản  
phẩm nhãn hàng riêng mới và tập trung vào  
phân khúc người tiêu dùng có tính cách tân cao  
để giới thiệu sản phẩm.  
Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu này  
cũng đưa ra một số hàm ý cho nhà quản lý siêu  
thị, đặc biệt là nhà quản lý siêu thị nhãn hàng  
riêng. Trước tiên, kết quả nghiên cứu đã cho  
thấy là người tiêu dùng càng quan tâm đến giá  
thì họ càng có thái độ tích cực đối với nhãn  
hàng riêng. Nhà bán lẻ siêu thị thường có động  
cơ ưu tiên cho nhãn hàng riêng vì đóng góp vào  
doanh thu của mặt hàng này cũng như thu hút  
được một lượng lớn khách hàng đến với siêu  
thị của mình. Đối với nhà quản lý nhãn hàng  
riêng, hàm ý rất rõ ràng là doanh nghiệp cần  
định giá sản phẩm nhãn hàng riêng hợp lý, mở  
rộng dòng sản phẩm nhãn hàng riêng và giới  
thiệu tích cực nhãn hàng riêng của siêu thị đến  
người mua sắm tại siêu thị. Ví dụ: trong các đợt  
khuyến mãi, khách hàng mua trên 500.000  
Kết quả cuối cùng cũng cho thấy người tiêu  
dùng thông minh có tác động tích cực đến thái  
độ đối với nhãn hàng riêng. Nghiên cứu trước  
đây cho thấy doanh thu của nhãn hàng riêng có  
mối tương quan với tình hình của nền kinh tế  
(lạm phát hay suy thoái) (Lamey & ctg, 2007).  
Khi nền kinh tế suy thoái thì thị phần của sản  
phẩm có nhãn hàng riêng tăng đáng kể. Điều  
này cho thấy nhóm khách hàng ủng hộ nhãn  
hàng riêng thấy được lợi ích kinh tế khi mua  
sản phẩm này. Hơn nữa, khách hàng mua nhãn  
hàng riêng dường như thỏa mãn với chất lượng  
Trang 101  
Science & Technology Development, Vol 18, No Q3 - 2015  
của người tiêu dùng TP.HCM và người tiêu  
và giá cả hiện tại của nhãn hàng riêng, do đó  
một hàm ý cho nhà quản lý nhãn hàng riêng tại  
siêu thị là không nên chỉ chú ý nhấn mạnh hoàn  
toàn đến yếu tố giá rẻ. Nếu có thể, cách thức  
phù hợp để quảng bá sản phẩm nhãn hàng riêng  
là nên quảng bá sản phẩm này có thể thỏa mãn  
nhu cầu và phong cách sống của người tiêu  
dùng, đặc biệt là nhấn mạnh sự thông minh  
trong mua sắm khi các bà nội trợ chọn lựa mua  
sản phẩm nhãn hàng riêng. Sự thông minh  
trong mua sắm của khách hàng cần được nhấn  
mạnh trong các thông điệp khi quảng bá nhãn  
hàng riêng vì khách hàng đã mua được món  
hàng giá trị và đáng đồng tiền bỏ ra (good  
value for money). Trong trường hợp một số sản  
phẩm, khách hàng không nhận diện được hoặc  
ít quan tâm đến thương hiệu khi mua sắm, thì  
đây là khoảng trống để nhà quản lý nhãn hàng  
riêng có thể tận dụng để quảng bá sản phẩm  
nhãn hàng riêng.  
dùng của các tỉnh thành khác ở Việt Nam.  
Nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng đối tượng  
khảo sát về thái độ của người tiêu dùng đối với  
nhãn hàng riêng tại các thành phố lớn khác tại  
Việt Nam như Hà nội, Cần Thơ và Đà Nẵng.  
Thứ hai, khái niệm nhãn hàng riêng được áp  
dụng trong nhiều ngành hàng khác nhau, ví dụ:  
quần áo, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, thực  
phẩm và sản phẩm chăm sóc cá nhân. Nhưng  
nghiên cứu này chỉ tập trung vào nhãn hàng  
riêng nói chung, một số nghiên cứu trước đây  
cho thấy người tiêu dùng quan tâm đến giá đối  
với từng loại hàng cụ thể (specific category  
product). Do đó nghiên cứu tiếp theo nên nhãn  
hàng riêng, cụ thể như mặt hàng thực phẩm  
như rau, thực phẩm nước giải khát, hoặc sản  
phẩm chăm sóc cá nhân. Thứ tư, thang đo của  
hai khái niệm nghiên cứu trong mô hình là thái  
độ đối với nhãn hàng riêng và người tiêu dùng  
thông minh chỉ có hai biến quan sát cho nên  
không đánh giá được độ tin cậy. Cuối cùng,  
nghiên cứu chỉ xem xét bốn yếu tố như: quan  
tâm đến giá, người tiêu dùng thông minh, hình  
ảnh siêu thị và tính cách tân của người tiêu  
dùng. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập  
trung xem xét thêm các yếu tố như rủi ro, trung  
thành với siêu thị, chất lượng cảm nhận, ….  
4.4. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp  
theo  
Nghiên cứu này có một số hạn chế. Trước  
tiên, nghiên cứu này chỉ thu thập dữ liệu tại TP.  
HCM, do đó người đọc phải thận trọng khi  
tổng quát hóa kết quả nghiên cứu. Có thể có sự  
khác biệt giữa thái độ đối với nhãn hàng riêng  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Ailawadi, K. L., & Keller, K. Understanding retail branding: conceptual insights and research  
priorities. Journal of Retailing, 80(4), 331-342 (2004).  
[2]. Ailawadi, K. L., Neslin, S. A., & Gedenk, K. Pursuing the value-conscious consumer: Store  
brands versus national brand promotions. Journal of Marketing, 65(January), 71-89 (2001).  
[3]. Ailawadi, K. L., Pauwels, K., & Steenkamp, J.-B. E. M. Private-label use and store loyalty.  
Journal of Marketing, 72(November), 19-30 (2008).  
[4]. Ajzen, I. and Fishbein, M. Understanding Attitudes and Predicting Social Behaviour, Upper  
Saddle River, New Jersey: Prentice - Hall (1980).  
[5]. Baker, J., Grewal, D., & Parasuraman, A. The influence of store environment on quality  
inferences and store image. Journal of the Academy of Marketing Science, 22, 328-339 (1994).  
[6]. Batra, R. & Sinha, I. Consumer - level factors moderating the success of private label brands,  
Journal of Retailing, 76(2), 175-191 (2000).  
Trang 102  
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 18, SỐ Q3 - 2015  
[7]. Burton, S., Lichtenstein, D. R., Netemeyer, R.G. and Garretson, J.A. A Scale for Measuring  
Attitude Toward Private Label Products and an Examination of Its psychological Behavioral  
Correlates, Academy of Marketing Science Journal, 26, 293-306 (1998).  
[8]. Collins-Dodd, C., &Lindley, T. Store brands and retail differentiation: the influence of store  
image and store brand attitude on store own brand perceptions. Journal of Retailing and  
Consumer Services, 10(6), 345-352 (2003).  
[9]. Dodds, W. B., Monroe, K. B., & Grewal, D. Effects of price, brand, and store information on  
buyers’ product evaluations. Journal of Marketing Research, 28(August), 30-319 (1991).  
[10]. Đời sống & Pháp luật, Đại gia bán lẻ nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam (2014), truy cập tại  
(20.12.2014).  
[11]. Garretson, J. A., Fisher, D., & Burton, S. Antecedents of Private Label Attitude and National  
Brand Promotion Attitude: Similarities and Differences, Journal of Retailing, 78(2), 91-99  
(2002).  
[12]. Goldsmith, R.E., Flynn, L.R., Goldsmith, E., & Stacey, E.C. Consumer attitudes and loyalty  
towards private brands, International Journal of Consumer Studies, 34, 339-348 (2010).  
[13]. Hoch, S. J. & Banerji, S. When Do Private Labels Succeed?,Sloan Management Review,  
Summer, 34 (4), 57-67 (1993).  
[14]. Jin, B. & Suh, Y.G. Integrating effect of consumer perception factors in predicting private brand  
purchase in a Korean discount store context. Journal of Consumer Marketing, 22, 62-71 (2005).  
[15]. Lamey, L., Deleersnyder, B., Dekimpe, M.G.,& Steenkamp, J.-B.E.M. How business cycles  
contribute to private-label success: evidence from the United States and Europe. Journal of  
Marketing, 71, 1-15 (2007).  
[16]. Lê Phương, Việt Nam lọt top thị trường bán lẻ sôi động nhất châu Á - Thái Bình Dương (2014),  
[17]. Lichtenstein, D. R., Bloch, P H., & Black, W. C. Correlates of Price Acceptability, Journal of  
Consumer Research, 15(2), 243-252 (1988).  
[18]. Lichtenstein, D.R., Burton, S., & Netemeyer, R. G. An Examination of Deal Proneness Across  
Sales Promotion Types: A Consumer Segmentation Perspective, Journal of Retailing, 73 (2), 283  
-297 (1997).  
[19]. Lin, C-Y., Marshall, D., & Dawson, J. Consumer attitudes towards a European retailer’s private  
brand food products: an integrated model of Taiwanese consumers, Journal of Marketing  
Management, 25(9-10), 875-891 (2009).  
[20]. Ngọc Trần (2014), Bán lẻ Việt Nam đạt 100 tỷ USD vào năm 2016, truy cập tại http://kinh  
doanh.vnexpress.net/tin-tuc/hang-hoa/ban-le-viet-nam-dat-100-ty-usd-vao-nam-2016-  
3094074.html (20.12.2014).  
[21]. Nielsen. Reports on Private labels in 2014. Truy cập tại http://www.nielsen.com /vn /vi /insights  
/2014/2014-private-label.html (20.12.2014).  
[22]. Richardson, P. S., Jain, A. K. and Dick, A. Household Store Brand Attitude: A Framework,  
Journal of Retailing, 72, 159-185 (1996).  
[23]. Schindler, R.M. The Role of ego-expressive factors in the consumer's satisfaction with price.  
Journal of Consumer Satisfaction, Dissatisfaction, and Complaining Behavior, 1(1):34 - 39  
(1998).  
Trang 103  
Science & Technology Development, Vol 18, No Q3 - 2015  
[24]. Semeijn, J., Van Riel, A.C.R., & Ambrosini, A.B. Consumer evaluations of store brands: effects  
of store image and product attributes. Journal of Retailing and Consumer Services, 11(1), 247-  
258 (2004).  
[25]. Sethuraman, R. & Cole, C. Factors influencing the price premiums that consumers pay for  
national brands over store brands. Journal of Product & Brand Management, 8, 340 (1999).  
[26]. Sinha, I., & Batra, R. The effect of consumer price consciousness on private label purchase.  
International Journal of Research in Marketing, 16(3), 237-251 (1999).  
[27]. Steenkamp, J.-B., Hofstede, F., Wedel, M. A cross-national investigation into the individual and  
national cultural antecedents of consumer innovativeness. Journal of Marketing, 63(April), 55–  
69 (1999).  
[28]. Thúy Hà. Hàng nhãn riêng- Cuộc chiến của các thương hiệu mạnh (2014). Truy cập tại  
334435/ (30.12.2014).  
Trang 104  
pdf 12 trang yennguyen 12940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận thức và thái độ của người tiêu dùng đối với nhãn hàng riêng tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_thuc_va_thai_do_cua_nguoi_tieu_dung_doi_voi_nhan_hang_r.pdf