Bài giảng Kỹ năng làm việc nhóm - Đỗ Hải Hoàn

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG  
BỘ MÔN PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG  
****************  
BÀI GIẢNG  
KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM  
Ths. Đỗ Hải Hoàn  
0
PHẦN MỞ ĐẦU  
Có một điều rất thú vị mà giới trẻ chúng ta không mấy quan tâm, đó là tổ tiên  
chúng ta có thể sinh tồn qua hàng ngàn năm bởi vì họ “không hành động đơn độc” và  
loài người phát triển cho đến ngày nay phần lớn là do họ biết điều chỉnh và thích nghi  
với nhau. Những người thợ săn biết đồng tâm hợp lực với nhau sẽ nhanh chóng có  
được chiến lợi phẩm đồng thời họ tạo nên sức mạnh cộng hưởng để sẵn sàng đối phó  
với hiểm nguy và chống lại kẻ thù.  
Trong thời đại ngày nay, sự hội nhập và nền kinh tế thế giới trong xu thế toàn  
cầu hóa ngày càng sâu sắc khiến mọi cá nhân và tổ chức đều phải đối mặt với những  
áp lực to lớn: tính chất công việc phức tạp và tinh vi, tốc độ thay đổi về công nghệ  
nhanh đến chóng mặt, sự cạnh tranh gay gắt,…Vậy làm thế nào để mỗi con người,  
mỗi tổ chức có thể đương đầu với những thách thức, giải quyết khó khăn để được  
thành công? Giải pháp tốt nhất hiện nay là bắt tay với những người khác để cùng hành  
động hay nói cách khác tổ chức làm việc theo nhóm là con đường để hoàn thành mọi  
công việc một cách tốt nhất và nhanh nhất. Vì thế chúng ta dễ dàng nhận thấy nhiều tổ  
chức doanh nghiệp trên toàn thế giới đang nỗ lực triển khai hình thức làm việc nhóm  
nhằm tăng năng suất lao động, thúc đẩy các giá trị của tổ chức và tăng niềm hứng khởi  
cho người lao động.  
Ngày nay, làm việc nhóm trở thành một vấn đề của khoa học, các nhóm nhỏ trở  
thành đối tượng nghiên cứu khoa học. Rất nhiều tổ chức, doanh nghiệp và lớn hơn nữa  
là nhiều quốc gia đã thực sự quan tâm và thúc đẩy việc đào tạo kỹ năng làm việc  
nhóm. Ở Nhật Bản, các em học sinh nhỏ tuổi đã sớm được định hướng và rèn luyện  
tinh thần hợp tác, tương hỗ với những người khác. Còn người Mỹ thì khẳng định rằng  
để có một cường quốc Mỹ như ngày nay là vì mỗi công dân đều biết làm việc theo  
nhóm và hướng tới một mục tiêu chung. Tục ngữ Trung Quốc có câu: “Đằng sau một  
vị tướng tài là những nhân tài khác nữa” có ý nghĩa rằng ngay cả những nhân tài làm  
nên những điều vĩ đại cũng không bao giờ làm việc một mình, đằng sau họ là cả một  
ê-kíp.  
Albert Einstein, người đã tạo ra bước đột phá về khoa học trên thế giới đã  
khẳng định: “Cuộc sống của tôi và những thành tựu mà tôi đạt được nhờ sự đóng góp  
1
của rất nhiều người. Do đó, tôi phải sống và làm việc sao cho xứng đáng với những gì  
họ đã làm cho tôi”.  
Tổng thống Mỹ F. D. Roosevelt (1882-1945) khẳng định: “Khi người ta hành động  
cùng nhau với tư cách là một nhóm, họ có thể hoàn thành được những việc mà không  
một cá nhân rêng lẻ nào có thể thực hiện được”.  
Vì vậy, vấn đề làm việc theo nhóm không chỉ quan trọng đối với sự phát triển  
của từng cá nhân hay những nhóm khác nhau trong xã hội mà còn quan trọng đối với  
cả một quốc gia và rộng hơn nữa là toàn thế giới. Đặc biệt đối với tất cả các bạn trẻ,  
rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả giúp họ tối đa hóa cơ hội việc làm cho bản  
thân và tối ưu hóa những công việc mà họ tham gia. Tài liệu này cung cấp cho các bạn  
kiến thức và những kinh nghiệm làm việc theo nhóm, tạo nền tảng cho việc tham gia  
tích cực và hiệu quả vào các nhóm khác nhau: từ nhóm gia đình đến xã hội, từ nhóm  
học tập đến vui chơi giải trí, từ nhóm lao động đến sáng tạo,…Tác giả của tài liệu này  
đã cố gắng trình bày nội dung bài giảng một cách súc tích, dễ hiểu nhưng vì kiến thức  
và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận  
được những ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu và các em sinh  
viên.  
Tác giả  
2
MỤC LỤC  
PHẦN MỞ ĐẦU  
MỤC LỤC  
1
3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÓM  
1.1 Các khái niệm và tầm quan trọng của làm việc nhóm  
1.1.1 Các khái niệm  
5
5
5
1.1.2 Lợi ích của làm việc nhóm  
1.2 Quy mô và phân loại nhóm  
1.2.1 Quy mô nhóm  
9
10  
10  
11  
12  
14  
15  
16  
17  
17  
1.2.2 Phân loại nhóm  
1.3 Các giai đoạn hình thành và phát triển của nhóm  
1.4 Vai trò của các thành viên trong nhóm  
1.5 Đặc điểm tâm lý nhóm  
1.5.1 Hiện tượng lây lan tâm lý  
1.5.2 Dư luận tập thể  
1.5.3 Áp lực nhóm  
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG NHÓM LÀM VIỆC HIỆU QUẢ  
2.1 Xác định mục tiêu, phân công nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng  
2.1.1 Xây dựng mục tiêu  
19  
19  
19  
21  
22  
22  
25  
27  
27  
32  
33  
33  
35  
2.1.2 Phân công nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng  
2.2 Tạo lập môi trường làm việc hiệu quả  
2.2.1 Tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần  
2.2.2 Nguyên tắc làm việc nhóm  
2.3 Duy trì hoạt động truyền thông hiệu quả  
2.3.1 Các dạng truyền thông trong nhóm  
2.3.2 Lắng nghe – Chìa khóa của truyền thông  
2.4 Giải quyết mâu thuẫn trong nhóm  
2.4.1 Quan niệm mới về xung đột  
2.4.2 Nguồn gốc của xung đột  
3
2.4.3 Các biện pháp giải quyết mâu thuẫn  
2.5 Tăng cường động lực làm việc  
38  
40  
40  
44  
2.5.1 Một số vấn đề chung về động lực làm việc  
2.5.2 Một số cách thức tạo động lực phổ biến  
CHƯƠNG 3: LÃNH ĐẠO NHÓM  
3.1 Những vấn đề chung về lãnh đạo  
3.1.1 Khái niệm  
46  
46  
46  
47  
47  
47  
47  
51  
54  
3.1.2 Vai trò của người lãnh đạo  
3.1.3 Những tố chất cần thiết của một người lãnh đạo  
3.2 Một số kỹ năng cần thiết của người lãnh đạo nhóm  
3.2.1 Kỹ năng lập kế hoạch  
3.2.1 Kỹ năng tổ chức công việc  
3.2.3 Kỹ năng điều hành cuộc họp-thảo luận  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
57  
4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÓM  
1.1 Các khái niệm và tầm quan trọng của làm việc nhóm  
1.1.1 Các khái niệm  
Khái niệm Kỹ năng  
Sự thành công của con người ngày nay được đánh giá là dựa vào ba yếu tố căn  
bản: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Còn Ngân hàng Thế giới khẳng định rằng thế kỉ 21  
là “kỷ nguyên của một nền kinh tế dựa vào kỹ năng”. Việc tiếp thu kiến thức và vận  
dụng kiến thức vào đời sống thực tiễn là một khoảng cách rất lớn. Tuy nhiên, chỉ có  
vận dụng kiến thức vào thực tế hay việc thực hiện các kỹ năng mới đem lại một kết  
quả cụ thể. Bất kỳ một công việc hay một hoạt động nào đều đòi hỏi những kỹ năng  
tương ứng. Và để đạt hiệu quả cao trong các hoạt động hay công việc thì mỗi người  
đều cần phải rèn luyện các kỹ năng một cách thành thục, nhuần nhuyễn và hiệu quả.  
Các nước phát triển như Mỹ, Úc, Canada, Anh, Pháp, Singapore,… đều coi trọng việc  
rèn luyện và phát triển các kỹ năng nhằm xây dựng nguồn nhân lực mạnh, tăng cường  
hiệu suất làm việc và nâng cao chất lượng của cuộc sống. Kỹ năng được phân làm 2  
loại:  
- Kỹ năng nghề nghiệp: là các kỹ năng liên quan đến các ngành nghề cụ thể  
như kỹ năng lái xe, đánh máy, khoan, hàn, tiện, bán hàng, tư vấn, kế toán, giám sát,  
quản lý,…  
- Kỹ năng sống: là những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống hàng ngày như kỹ  
năng giao tiếp, ứng xử, lắng nghe, thuyết trình, hợp tác, chia sẻ, tư duy sáng tạo, học  
và tự học, quản lý bản thân, giải quyết vấn đề,…  
Vậy Kỹ năng là gì?  
Theo Từ điển tiếng Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thức  
thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”.  
Theo Từ điển giáo khoa tiếng việt: “Kỹ năng là khả năng thực hành thành thạo”.  
Tổng hợp các khái niệm trên, có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Kỹ năng  
là hành động tự động hóa một cách thành thục và hiệu quả nhờ quá trình học tập  
và rèn luyện”.  
Nguồn gốc hình thành nên “Kỹ năng” xuất phát từ lý thuyết Phản xạ có điều  
kiện và không có điều kiện. Con người từ khi sinh ra, lớn lên và tham gia vào các hoạt  
5
động trong đời sống thực tế đều hoạt động theo phản xạ. Phản xạ không điều kiện  
(gần như là theo bản năng) có ngay từ khi con người vừa mới sinh ra, không cần học  
tập. Còn phản xạ có điều kiện là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện trong đời  
sống thực tiễn. Vì vậy thực chất kỹ năng của mỗi cá nhân có nguồn gốc từ phản xạ có  
điều kiện. Bản thân chúng ta sinh ra đều chưa có bất kì một kỹ năng nào (ngoài bản  
năng). Thế nên để đạt được các kỹ năng thì tất cả mọi cá nhân đều phải học tập và rèn  
luyện. Đó là lí do khiến bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ngày nay đều chú trọng việc  
hình thành và phát triển các cơ sở đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng sống nhằm  
giúp con người sống và làm việc hiệu quả hơn.  
Khái niệm Nhóm  
Việc sử dụng nhóm trong các tổ chức trong những năm vừa qua được coi như  
một sự “bùng nổ ngoạn mục”. Liệu trên thế giới này có nơi nào đó mà cấu trúc nhóm  
trở nên vô nghĩa? Câu trả lời là: “Không!”. Ai cũng thấy sức mạnh của nhóm là rất lớn  
và xu hướng tăng cường, củng cố, thúc đẩy nhóm đang lan rộng ở hầu hết mọi nơi,  
mọi chỗ. Vậy nhóm có phải đơn thuần là nhiều người tập hợp lại với nhau không? Có  
rất nhiều khái niệm khác nhau được các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đưa ra:  
“Nhóm là một mô hình tổ chức bao gồm hai hay nhiều cá nhân tương tác và  
phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể”.  
“Nhóm là tập hợp những cá nhân có các kỹ năng bổ sung cho nhau và cùng  
cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục tiêu chung” .  
Trên cơ sở các khái niệm về nhóm, nhiều người công nhận rằng: Nhóm là một  
tập hợp những người có vai trò và trách nhiệm rõ ràng, có quy tắc chung chi phối  
lẫn nhau, thường xuyên tương tác với nhau và cùng nỗ lực để đạt được mục tiêu  
chung của cả nhóm.  
Trong xã hội luôn tồn tại rất nhiều kiểu nhóm khác nhau: nhóm gia đình, bạn  
bè, xóm giềng, học tập, nghiên cứu, sản xuất, vui chơi, thể thao,... Nhóm có thể được  
thành lập dựa trên mối quan hệ, sở thích hay mối quan tâm chung của các thành viên.  
Một người có thể cùng lúc là thành viên của nhiều nhóm khác nhau. Nhưng một khi  
đã là thành viên của một nhóm nào đó, họ đều đảm nhận một vai trò nhất định và thể  
hiện tinh thần trách nhiệm đối với công việc cũng như với các thành viên khác trong  
nhóm. Mỗi người đều có ý nghĩa riêng của mình, mỗi người đều có lí do để tồn tại  
6
trong nhóm đó và mỗi người là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi liên kết  
nhóm. Chẳng hạn trong nhóm gia đình, các vai trò khác nhau như: ông, bà, bố, mẹ,  
con trai, con gái hay trong một nhóm thực hiện dự án xây dựng bao gồm chủ đầu tư,  
giám đốc dự án, kế toán, thư ký, nhân viên hành chính,… ; một nhóm thiết kế phần  
mềm mới bao gồm: quản lý dự án, trưởng nhóm, thiết kế hệ thống, lập trình viên,  
kiểm thử. Làm việc nhóm không phải là ỷ lại, dựa dẫm, đùn đẩy hay thậm chí phó  
mặc cho các thành việc khác trong nhóm. Người có trách nhiệm là người làm việc với  
tính tự giác và tinh thần kỷ luật cao độ. Họ biết mình cần phải đầu tư thời gian, công  
sức để hoàn thành nhiệm vụ, thậm chí đôi khi còn phải biết hy sinh “cái tôi” vì thành  
công chung của cả nhóm. Hơn ai hết, họ hiểu rằng khi một đội bóng chiến thắng, tất  
cả các thành viên đều chiến thắng và khi đội bóng bại trận, tất cả họ đều thua.  
Mỗi người là một tính cách, hoàn cảnh, khả năng, kỹ năng, kinh nghiệm khác  
nhau những khi đã là thành viên của một nhóm thì phải tuân thủ các quy tắc chung của  
nhóm. Quy tắc nhóm giúp cho một nhóm hoạt động chặt chẽ, .... Nếu không có quy  
tắc hoạt động chung, các thành viên trong nhóm thường có xu hướng hành động tự do  
theo ý muốn của cá nhân dẫn đến một nhóm hoạt động hời hợt, lỏng lẻo.  
Các thành viên trong nhóm được liên kết với nhau thông qua quá trình tương  
tác qua lại đa chiều, điều này tạo nên sức mạnh tổng hợp của nhóm và mang lại một  
kết quả lớn lao. Tương tác được biểu hiện thông qua sự trao đổi, trò chuyện, chia sẻ,  
thông báo, hội họp, thảo luận, thậm chí cả những cuộc tranh cãi, xung đột,... nhằm giải  
quyết những vấn đề chung của nhóm.Tương tác càng nhiều, các thành viên nhóm càng  
hiểu nhau hơn, tin tưởng hơn, gắn kết hơn và dễ đạt được sự đồng thuận.Vì vậy chất  
lượng của sự tương tác quyết định thành công của một nhóm.  
Bất cứ nhóm nào được thành lập cũng đều có lí do và mục tiêu nhóm là lí do  
hàng đầu để thành lập nhóm hoặc để cuốn hút các cá nhân gia nhập nhóm. Mục tiêu  
giúp cho nhóm xác định rõ nhiệm vụ cần phải làm và là nguồn năng lượng khơi dậy  
lòng nhiệt tình, tận tâm của mỗi thành viên. Là thành viên của một nhóm, cần phải  
cam kết phấn đấu để đạt được mục tiêu chung. Ví dụ nhóm các nhà khoa học Trường  
Đại học Pennsylvania (Mỹ) đã cho ra mắt chiếc máy tính điện tử đầu tiên trên thế giới  
năm 1946, nhóm kỹ sư hãng IBM đã nỗ lực mang đến cho loài người chiếc máy tính  
cá nhân đầu tiên năm 1981, nhóm Apollo đã đưa con người đặt chân lên mặt trăng lần  
7
đầu vào năm 1969 hay một đội bóng đặt mục tiêu phải giành được chiến thắng trong  
trận đấu sắp tới,.v.v.  
Khái niệm Kỹ năng làm việc nhóm  
Chắc hẳn ai cũng đã từng tham gia vào một trò chơi đồng đội nào đó như: bóng  
đá, bóng chuyền, bóng rổ, chèo thuyền, kéo co, đánh đu; các nhóm nhảy, múa, hát,  
đàn, ... Thành công của nhóm phụ thuộc vào quá trình tương tác và sự đóng góp của  
tất cả các thành viên. Một đội bóng thành công không có chỗ cho những kẻ lười biếng,  
trì trệ. Một nhóm hát không thể thành công nếu có những thành viên thiếu sự nhiệt  
tình, hăng say và hành động “lỗi nhịp” so với nhóm. Nhóm trong công việc cũng vậy,  
để đạt được thành công, không chỉ cần họ nói mà cần họ phải bắt tay với những người  
khác để triển khai hành động một cách nghiêm túc.  
Trên thực tế có những người không hề thích thú với việc bắt tay hợp tác với  
người khác, không thể hòa hợp với người khác, không biết cách tạo ra các mối quan  
hệ tốt đẹp, thậm chí thường gặp phải những rắc rối hay xung đột với các thành viên  
trong nhóm vì một lẽ họ chưa có Kỹ năng làm việc nhóm.  
Vậy Kỹ năng làm việc nhóm là gì ?  
Kỹ năng làm việc nhóm là khả năng tương tác giữa các thành viên trong một  
nhóm nhằm phát triển tiềm năng, năng lực của tất cả các thành viên và thúc đẩy  
hiệu quả công việc.  
Để đạt được kỹ năng làm việc nhóm thì bắt buộc mỗi cá nhân phải đảm bảo ba  
yếu tố sau:  
Thứ nhất, khả năng tương tác với các thành viên khác. Theo John C Maxwell  
thì cách thức để xây dựng và phát triển nhóm là giữa các cá nhân phải có sự tương tác  
với nhau như một chuỗi phản ứng hóa học. Vấn đề quan trọng của nhóm không phải là  
số lượng bao nhiêu người mà là sự tương tác như thế nào. Nhóm thực chất phải là  
nhóm những cá nhân luôn biết hợp tác, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, tạo động lực cho  
nhau phát triển. Sự tương tác là chất men gây tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và là  
chất xúc tác cho những hành động của mỗi cá nhân trong nhóm. Chỉ có sự tương tác  
mới có thể tạo ra sức mạnh lớn nhất của nhóm. Vì vậy nó có ý nghĩa rất lớn đối với  
thành công của từng thành viên cũng như của cả nhóm.  
8
Thứ hai, phát triển tiềm năng, năng lực của bản thân cũng như của tất cả các  
thành viên trong nhóm. Một người được coi là có kỹ năng làm việc nhóm nếu biết  
cách phát triển tiềm năng và năng lực của chính mình và đồng đội. Môi trường làm  
việc nhóm là nơi để mỗi thành viên thể hiện; khám phá, tìm hiểu chính mình và những  
người khác, từ đó biết phát huy những điểm mạnh, hạn chế điểm yếu và hoàn thiện  
bản thân.  
Thứ ba, thúc đẩy hiệu quả công việc. Một thành viên tốt luôn đặt hiệu quả công  
việc lên hàng đầu. Vì vậy, họ sẵn sàng chấp nhận những ràng buộc của nhóm về các  
quy tắc, quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm; cam kết hành động, nỗ lực hết mình để  
công việc tiến triển và đạt được kết quả mong muốn. Một nhóm không thể thành công  
nếu như mỗi thành viên không biết tập trung vào hiệu quả công việc mà bị phân tán  
bởi các yếu tố ngoài lề.  
1.1.2 Tầm quan trọng của làm việc nhóm  
Con người sinh ra là để hợp tác cùng nhau. Những mối quan hệ tốt đẹp mang  
lại cho chúng ta niềm vui, hạnh phúc, những trải nghiệm thú vị, giúp nâng cao giá trị  
bản thân mỗi người cũng như giá trị cuôc sống. Theo nghiên cứu, khi ở bên cạnh  
những người khác, chúng ta có xu hướng cười nhiều hơn gấp 30 lần khi ở một mình,  
tình trạng một số bệnh trở nên dịu đi. Những người cảm nhận được tình đồng đội sẽ  
gắn bó hơn với công việc, duy trì năng suất làm việc cao, phát huy sự sáng tạo, tạo ra  
lợi nhuận cho công ty và nâng cao mức độ hạnh phúc cho chính bản thân họ. Việc có  
thêm những người cộng sự sẽ làm thay đổi nhận thức và cách thức hành động của con  
người. Trong một cuộc thí nghiệm, người ta đề nghị các tình nguyện viên ước tính  
trọng lượng của giỏ khoai tây trước khi nhấc nó lên. Một số người được rỉ tai rằng sẽ  
có người giúp nhấc giỏ khoai đó đã ước lượng giỏ khoai nhẹ hơn so với những người  
biết chắc rằng họ phải tự nhấc lên một mình. Trong một cuộc nghiên cứu khác, nhà xã  
hội học đã yêu cầu 200 sinh viên sắp xếp các đồ vật theo trọng lượng và khi tính toán  
con số ước tính của cả nhóm, nhà xã hội học thấy nó chính xác tới 94%, chính xác hơn  
tất cả, trừ năm số ước tính cá nhân. Trên truyền hình Mỹ có một chương trình trò chơi  
“Ai là triệu phú”. Khi người chơi lúng túng để lựa chọn câu trả lời, anh ta có 3 sự trợ  
giúp: 50/50 (loại bỏ 2/4 đáp án), gọi điện thoại cho người thân và thăm dò ý kiến khán  
9
giả trong trường quay. Theo khảo sát của các chuyên gia, sự trợ giúp từ phía khán giả  
- tập hợp ngẫu nhiên những người rỗi rãi vào một buổi chiều cùng xem trực tiếp  
chương trình lại có câu trả lời đúng tới 91% số lần trả lời, trong khi ý kiến từ những  
người thân – những cá nhân có thể nói là “có hiểu biết” đã được người chơi lựa chọn  
từ trước đưa ra câu trả lời đúng 65% lần. Rất nhiều nghiên cứu tương tự đã chứng tỏ  
rằng, nếu tập hợp một nhóm lại để trả lời một câu hỏi hoặc giải quyết một vấn đề, thì  
giải pháp của nhóm sẽ tốt hơn hẳn so với đại đa số cá nhân trong nhóm, nếu có nhiều  
đáp án để lựa chọn, nhóm sẽ đưa ra được câu trả lời sát với câu trả lời tối ưu. Một ví  
dụ đơn giản, nếu một ngày bạn đang chuẩn bị ra đường mà nhìn thấy bầu trời âm u,  
bạn không biết có nên mặc áo mưa hay không thì tốt nhất bạn nên nhìn ra đường để  
xem mọi người qua lại có mặc áo mưa không, từ đó có thể đưa ngay ra quyết định cho  
mình. Rõ ràng, khi chúng ta sống và làm việc trong một cộng đồng lớn hay một nhóm  
nhỏ thì những người xung quanh luôn mang lại những lợi ích thiết thực cho chúng ta.  
Có thể tổng hợp lại 7 lợi ích mà nhóm mang lại cho mỗi cá nhân cũng như cho  
cả nhóm như sau:  
- Thỏa mãn nhu cầu thể hiện và khẳng định mình của mỗi thành viên (khi họ  
đứng một mình khó mà thể hiện được).  
- Cái “tôi” cá nhân bị phá vỡ, sự thân thiện và cởi mở được thúc đẩy.  
- Môi trường hứng khởi và giàu động lực.  
- Nhiều ý tưởng sáng tạo, nhiều cơ hội phát triển.  
- Công việc được thực hiện tốt hơn vì có kiến thức và kinh nghiệm rộng hơn,  
khả năng giải quyết vấn đề nhanh chóng, hiệu quả.  
- Luôn sẵn sàng phản ứng trước những thay đổi và nguy cơ rủi ro.  
- Chia sẻ trách nhiệm công việc và cam kết vì mục tiêu chung của cả nhóm. Ủy  
thác công việc hiệu quả.  
1.2 Quy mô và phân loại nhóm  
1.2.1 Quy mô nhóm  
Chúng ta hiểu sức mạnh tổng hợp của nhóm có thể tạo nên kết quả phi thường.  
Như vậy nhóm có phải càng đông thành viên càng tốt ? Câu trả lời là không có con số  
nào là lý tưởng. Số thành viên của nhóm nên tùy thuộc vào mục tiêu và công việc phải  
10  
làm để đạt được mục tiêu đó. Theo các nhà nghiên cứu, nhóm nhỏ (dưới 10 người)  
thường đạt hiệu quả cao hơn khi họ có nhiều cơ hội để tiếp xúc “mặt đối mặt”. Các  
nhóm lớn (trên 10 người) chỉ có thể thành công nếu nhiệm vụ đơn giản, ngược lại, họ  
dễ thất bại nếu công việc đòi hỏi sự phức tạp và nhiều kỹ năng cụ thể. Lí do căn bản là  
vì nhóm càng đông thì tính liên kết càng bị suy yếu, dễ gây chia rẽ, bè phái và tự tạo  
các nhóm nhỏ.  
Như vậy quy mô của nhóm có thể linh động tăng hoặc giảm theo tính chất công  
việc. Theo các nhà nghiên cứu về nhóm thì số lượng thành viên trong nhóm thông  
thường nên bố trí như sau:  
- Các nhóm vui chơi giải trí: có thể lên đến 10 – 20 người hoặc hơn nữa. Trong  
công việc hạn chế tối đa các nhóm lớn như vậy.  
- Các nhóm thảo luận: 5 đến 7 người là lý tưởng (không nên nhiều hơn 7- 9  
người), để tạo điều kiện cho tất cả mọi người tham gia đóng góp ý kiến, nhiều ý tưởng  
và giải pháp được đề xuất, có thể đạt được sự gắn kết và nhất trí.  
- Nhóm đưa ra quyết định: thường là một nhóm nhỏ 2 - 4 người để dễ đạt được  
sự đồng cảm và nhất trí cao. Nhóm này thường được áp dụng trong những công việc  
cực kì phức tạp, đòi hỏi các thành viên phải có nhiều kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng  
và khả năng phối hợp chặt chẽ, ăn ý với nhau. Ví dụ: nhóm các nhà sáng lập công ty,  
nhóm phát minh sáng chế,.....  
- Các nhóm giải quyết vấn đề tâm lý: càng ít càng tốt (chỉ nên 2 người) để  
thành viên nhận được đầy đủ sự quan tâm cần thiết, sự tiếp xúc mặt đối mặt giúp giải  
quyết vấn đề nhanh chóng và hiệu quả.  
1.2.2 Phân loại nhóm  
Có thể kể ra hàng trăm lí do để hình thành nên các nhóm như: nhóm bạn để tâm  
giao, nhóm cùng chơi thể thao, nhóm múa, nhóm trao đổi học tập, nhóm nghiên cứu  
thị trường, nhóm thiết kế sản phẩm mới, nhóm đồng hương, nhóm ở cùng phòng,  
nhóm thích gây hấn, nhóm vô gia cư ... Nhưng như vậy không có nghĩa là có hàng  
trăm loại nhóm khác nhau. Các nhà nghiên cứu tổng hợp lại hai loại nhóm cơ bản:  
nhóm chính thức và nhóm không chính thức.  
- Nhóm chính thức: là nhóm được hình thành dựa trên nhu cầu của một tổ chức,  
trên cơ sở quyết định của các cấp lãnh đạo nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức đó.  
11  
Ví dụ: nhóm Taurus thiết kế mẫu xe mới của Ford, nhóm Appollo, nhóm dược sĩ  
nghiên cứu bào chế loại thuốc mới,...  
- Nhóm không chính thức: được hình thành một cách tự nhiên dựa trên những  
mối tương đồng của các cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội của họ. Chẳng hạn  
nhóm bạn bè có một hoặc nhiều đặc điểm chung như sau: cùng học tập, cùng tuổi tác,  
cùng sở thích, cùng vui chơi, cùng quan điểm, ở cùng phòng,...  
Trong các tổ chức, giữa các nhóm chính thức cũng có thể xuất hiện những  
nhóm không chính thức. Ví dụ trong một cơ quan, các nhân viên trong các phòng ban  
khác nhau có thể tự hình thành nên các nhóm không chính thức để cùng trao đổi, trò  
chuyện, cùng đi ăn trưa, cùng mối quan tâm, cùng quan điểm bảo vệ quyền lợi cá  
nhân,...  
Như vậy, các nhóm có thể tồn tại chồng chéo lên nhau, và mỗi cá nhân có thể  
cùng lúc chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhóm khác nhau. Trên thực tế, nhiều khi ảnh  
hưởng của nhóm không chính thức còn mạnh mẽ và rõ nét hơn nhóm chính thức. Vì  
thế, các nhà quản lý cần nỗ lực để tác động tích cực theo định hướng của tổ chức tới  
các nhóm.  
1.3 Các giai đoạn hình thành và phát triển nhóm  
Sự hình thành nhóm thường bắt nguồn từ mục tiêu của nhóm nhưng nó có phát  
triển được hay không còn phụ thuộc vào những hoạt động của các thành viên trong  
nhóm. Bất kì một cá nhân nào muốn phát triển cũng phải trải qua một quá trình tìm  
hiểu, học hỏi, điều chỉnh và dần hoàn thiện bản thân. Nhóm cũng vậy. Nó cũng phải  
trải qua các giai đoạn nhất định mà trong đó các hành vi cá nhân sẽ quyết định sự  
thành công hay thất bại của nhóm. Tác giả Bruce W. Tuckman (Mỹ) là người đầu tiên  
đưa ra mô hình 5 giai đoạn phát triển nhóm được sử dụng rộng rãi từ năm 1965 cho  
đến nay:  
Giai đoạn hình thành: Đây là giai đoạn các thành viên trong nhóm làm quen  
với nhau, tìm hiểu và thăm dò nhau. Mỗi người đều mang đến nhóm một tính cách, kỹ  
năng, kiến thức khác nhau và họ cần có thời gian để bộc lộ mình và hiểu về người  
khác. Tuy nhiên, do mọi thứ còn mới lạ nên mọi người vẫn còn giữ thái độ e dè,  
12  
gượng gạo, thận trọng, ít chia sẻ. Mối quan hệ giữa các thành viên nhóm vẫn lỏng lẻo  
và chưa ăn nhập với nhau.  
Giai đoạn bão táp: Đây là giai đoạn khó khăn và phức tạp nhất vì xung đột,  
mâu thuẫn dễ dàng bùng nổ trong hầu hết mọi vấn đề của nhóm. Các thành viên vẫn  
chưa đạt được sự cởi mở, thân thiện, đồng cảm, tin tưởng; mặt khác họ lại muốn thể  
hiện “cái tôi” nhằm khẳng định vai trò và tầm quan trọng của mình. Những tính cách  
và quan điểm khác nhau làm nảy sinh tranh luận, tranh cãi, thậm chí mất đoàn kết và  
có thể xảy ra rối loạn. Nếu nhóm không biết cách sớm định hướng mục tiêu, đề ra các  
quy tắc và tạo tinh thần hợp tác thì nhóm rất dễ tan rã.  
Giai đoạn chuẩn hóa: Chính sự khác biệt, những tranh luận, bất đồng trong  
giai đoạn bão táp đã giúp mọi người hiểu nhau hơn và từng bước điều chỉnh để tìm  
được sự thống nhất. Trong giai đoạn chuẩn hóa, mọi người cần phải hiểu và nắm rõ  
những quy định, quy chế, và nguyên tắc làm việc để từ đó có những ứng xử và hành  
động phù hợp với chuẩn mực chung của nhóm. Hoạt động nhóm dần đi vào sự ổn định,  
bắt đầu có sự cởi mở, chia sẻ, tin tưởng, hợp tác giữa các thành viên. Đây là mốc khởi  
đầu của sự liên kết nhóm. Các thành viên tìm thấy sự an toàn  
Giai đoạn thành công: Các thành viên cảm thấy tự do, thoải mái, an toàn khi  
trao đổi quan điểm với nhau. Mối quan hệ giữa các thành viên trở nên gắn bó, khăng  
khít. Sự liên kết ngày càng chặt chẽ. Mỗi người đều cố gắng phát huy hết tiềm năng  
của bản thân, tập trung vào hiệu quả công việc, hạn chế mâu thuẫn. Nhóm dễ dàng đạt  
được sự đồng thuận và nhất trí cao. Cả nhóm có thể tự hào về kết quả mà nhóm đã đạt  
được cùng nhau.  
Giai đoạn kết thúc: Các nhiệm vụ đã hoàn tất và mục tiêu đã hoàn thành. Các  
thành viên không còn ràng buộc hay phụ thuộc với nhau nữa. Họ có thể ngồi lại với  
nhau để đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm cho việc tham gia vào các nhóm mới  
trong tương lai.  
Trên đây là mô hình tổng quát tiến trình của một nhóm nhưng thực tế không  
phải bất cứ nhóm nào cũng trải qua 5 giai đoạn. Có nhóm vừa mới hình thành đã tan  
rã, có nhóm đang giai đoạn hoạt động ổn định cũng có thể bị “treo”, có nhóm cùng lúc  
trải qua nhiều giai đoạn đan xen nhau.v.v. Bởi vì trong cuộc sống mọi thứ đều không  
ngừng thay đổi và phát triển, nguy cơ luôn tiềm ẩn, những xung đột có thể xảy ra bất  
13  
cứ lúc nào. Nếu các thành viên vượt qua được tất cả để tiến đến sự đồng thuận thì  
nhóm sẽ được nâng lên một tầm cao mới và sẽ gặt hái được thành công.  
1.4 Vai trò của các thành viên trong nhóm  
Vai trò là tập hợp các chuẩn mực hành vi mà một người nắm giữ một vị trí nhất  
định trong nhóm cần phải tuân thủ. Mỗi người đều có thể đảm nhận cùng lúc nhiều vai  
trò khác nhau. Chẳng hạn một người phụ nữ ở cơ quan vừa có vai trò là Trưởng phòng  
Hành chính vừa giữ chức Chủ tịch công đoàn công ty; về nhà chị đóng vai trò là mẹ,  
là vợ, là con; chị còn là thành viên của một Câu lạc bộ Yoga. Khi ở cơ quan, chị thể  
hiện là một người đĩnh đạc, nghiêm túc, tuân thủ các quy định và nguyên tắc làm việc  
của công ty, chị luôn ăn mặc trang trọng, lịch sự, nói năng hòa nhã và cẩn trọng. Khi  
về nhà, chị ăn mặc rất thoải mái, nói năng hoạt bát, cởi mở, hành động tự do, thân  
thiện như ôm hôn các con, múa hát cùng con,... Khi đến CLB Yoga, chị mặc bộ đồ thể  
thao, hoạt động mạnh mẽ và khỏe khoắn,... Như vậy, vai trò là sự biểu hiện thái độ,  
hành vi và các giá trị. Đặc biệt, vai trò có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của mỗi cá  
nhân, hay nói cách khác, hành vi của con người thường thay đổi theo vai trò của họ.  
Vì vậy, để có thể nắm bắt được hành vi của ai đó, cần phải biết được vai trò của họ  
trong những tình huống cụ thể.  
Trong một nhóm làm việc, mỗi thành viên có một vai trò nhất định phù hợp với  
vị trí mà họ đảm nhận. Ví dụ, một phòng chức năng thông thường sẽ có các vị trí như:  
Trưởng phòng, phó phòng, các nhân viên,... Mỗi vị trí sẽ thực hiện những hành động  
cụ thể và có những biểu hiện hành vi khác nhau. Những hành động hay hành vi này  
tạo nên vai trò của vị trí đó. Có ba kiểu vai trò như sau:  
Một là vai trò thúc đẩy công việc: thành viên nỗ lực hoàn thành công việc có  
thể đóng vai trò là người khởi xướng, người thực hiện, người thông tin, người làm  
sáng tỏ, người phân tích, người hỗ trợ,...  
Hai là vai trò gắn kết mối quan hệ: các thành viên giữ gìn, củng cố và gắn kết  
mối quan hệ đồng chí, đồng đội nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nhóm làm việc hiệu  
quả. Những người này thường đóng vai trò là người khuyến khích, người hài hước,  
người khởi xướng, người tác động, người hòa giải, người chia sẻ, người hỗ trợ, người  
giải tỏa áp lực,...  
14  
Thứ ba là vai trò gây cản trở nhóm: Đây là nhóm người tiêu cực thường đóng  
các vai trò như: người phụ thuộc, người lười biếng, người áp đặt, người chỉ tay năm  
ngón, người phá đám, người gây rối, người chống đối, người chia rẽ, người bắt lỗi,...  
Một nhóm muốn phát triển cần phải khích lệ, động viên các thành viên giữ các  
vai trò tích cực trong nhóm vai trò thứ nhất và thứ hai, hạn chế và loại bỏ những người  
thuộc nhóm ba. Phương pháp tốt nhất để hạn chế những vai trò tiêu cực là đặt ra  
những quy tắc, quy định chung để các thành viên nhóm tuân theo. Trong trường hợp  
thành viên nào đó cứ khư khư giữ vai trò tiêu cực, không chịu thay đổi và tuân thủ quy  
tắc thì nhóm không nên tiếp tục dung nạp thành viên đó nữa.  
1.5 Đặc điểm tâm lý nhóm  
Chúng ta thường nói đến khái niệm “tâm lý” để chỉ tâm tư, tình cảm, ý muốn  
con người. Một số thuật ngữ khác cũng thường được dùng song song với “tâm lý” như  
là tâm hồn, tinh thần, nhân tâm, lòng người đều được hiểu là những ý nghĩ, tư tưởng, ý  
thức, ý chí, thế giới nội tâm, thế giới bên trong của con người. Vì vậy, tâm lý là một  
hiện tượng vừa hết sức gần gũi, quen thuộc với con người nhưng cũng vô cùng phức  
tạp và bí ẩn. Nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học và giúp ích  
rất nhiều trong việc quản lý con người, mang lại những hiệu quả lớn lao trong đời  
sống xã hội cũng như về kinh tế. Vì thế, Khoa học về tâm lý hay Tâm lý học  
(Psychologie) ngày càng được quan tâm và phát triển trong thế giới hiện đại. Chúng ta  
hiểu một cách khái quát nhất về Tâm lý là những hiện tượng tinh thần xảy ra trong bộ  
não của con người, nó gắn liền và điều khiển hành vi của con người. Hiểu được tâm lý  
con người sẽ giúp chúng ta hiểu được chính mình, hiểu về những người khác và từ đó  
có những ứng xử phù hợp để được thành công hơn trong cuộc sống và trong công việc.  
Các nhà khoa học nghiên cứu hiện tượng tâm lý con người dựa trên hai đối tượng: cá  
nhân và nhóm xã hội. Trong khuôn khổ tài liệu này, chúng ta chỉ đề cập đến một số  
hiện tượng tâm lý nhóm để phần nào hiểu được những hành vi mà các thành viên  
trong một nhóm có thể thực hiện. Nắm bắt được tâm lý nhóm, nhận định, đánh giá,  
phán đoán các hành vi của nhóm giúp chúng ta ứng xử phù hợp và sẵn sàng ứng phó  
hiệu quả trước bất kì tình huống hay hoàn cảnh nào có thể xảy ra trong nhóm.  
15  
1.5.1 Hiện tượng lây lan tâm lý  
Lây lan tâm lý là quá trình lan tỏa trạng thái cảm xúc từ người này sang người  
khác một cách nhanh chóng và nằm ngoài cấp độ ý thức, tư tưởng. Đây là một hiện  
tượng tâm lý được hình thành trên cơ sở của sự bắt chước vô ý thức, khi tình cảm lấn  
át ý chí dẫn đến những hành vi bột phát của con người. Chúng ta thường thấy hiện  
tượng lây lan tâm lý rõ nét nhất trong một đám đông đang tụ tập hoặc một nhóm  
người đang hành động cùng mục đích nào đó. Chẳng hạn sự phấn khích, cuồng nhiệt  
từ những cổ động viên xem trận đấu bóng trên khán đài ; sự náo nức, hồ hởi, hân hoan  
của những người tham gia lễ hội ; sự phẫn nộ, bức bối, quyết liệt phản đối của một  
đám đông biểu tình,…  
Sự lây lan tâm lý bắt đầu từ cảm xúc của con người trước một sự việc, hiện  
tượng nào đó và lan truyền sang trạng thái cảm xúc của người khác khiến họ cũng có  
cùng một cảm xúc và những biểu hiện hành vi không kiểm soát nổi. Nguyên nhân dẫn  
đến những cảm xúc lây lan đó rất đa dạng, phong phú. Đơn giản có thể chỉ là một sự  
hài hước, vui nhộn, một nụ cười tươi tắn, một tinh thần thoải mái, sự nhiệt tình, hăng  
hái, một vẻ mặt sầu não, một giọng nói gắt gỏng cũng khiến người khác dễ bị «lây».  
Những cảm xúc mạnh mẽ hơn sự sợ hãi, kinh hoàng trước một cảnh tượng nào đó ; sự  
kích động, quá khích ; hò hét, la ó ; … cũng tác động đến cảm xúc và hành vi của  
những người xung quanh. Như vậy, những nguyên nhân tạo nên cảm xúc của con  
người gây ra sự lan truyền tâm lý có thể xuất phát từ cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực.  
Nếu là cảm xúc tích cực, nó giống như một sức mạnh cộng hưởng giúp con người  
sống và làm việc hiệu quả hơn, hạnh phúc hơn. Ngược lại, những cảm xúc tiêu cực  
giống như đám cháy đang lan rộng sẽ tàn phá cuộc sống của con người bao gồm : sức  
khỏe, công việc, các mối quan hệ, những thành tựu.  
Trong một nhóm, sự lây lan tâm lý diễn ra trong quá trình giao tiếp giữa các cá  
nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với tập thể. Hiểu được cơ chế này, mỗi thành viên  
trong nhóm muốn đem lại lợi ích cho nhóm thì cần phải hướng đến những cảm xúc  
tích cực để tạo lập một môi trường tập thể lành mạnh, an toàn, đồng thời cần hạn chế,  
ngăn chặn những cảm xúc tiêu cực, không cho nó có cơ hội bộc lộ, phát triển làm ảnh  
hưởng xấu đến bầu không khí trong nhóm và hiệu quả công việc của nhóm.  
16  
1.5.2 Dư luận trong nhóm  
Dư luận trong nhóm là những nhận định, đánh giá, bình luận của số đông người  
trong nhóm về những sự việc, hiện tượng, hành vi diễn ra trong quá trình làm việc  
hoặc sinh hoạt nhóm.  
Có dư luận chính thức hoặc không chính thức. Dư luận chính thức là khi người  
lãnh đạo đồng tình, nhất trí, công khai còn dư luận không chính thức được các thành  
viên trong nhóm ngầm truyền cho nhau mà không có sự hưởng ứng của người lãnh  
đạo.  
Dư luận thường xuất phát từ những thái độ, hành vi, sự việc, hiện tượng bất  
thường do một cá nhân hay một số người trong nhóm gây ra. Những sự việc, hiện  
tượng đó tác động lên ý thức của người xung quanh làm nảy sinh những cảm xúc,  
hành vi thể hiện phản ứng của người xung quanh. Những phản ứng đó nếu diễn ra  
đồng thời, đống nhất thì tạo thành dư luận trong nhóm.  
Dư luận có thể có những tác động tích cực hoặc tiêu cực. Ví dụ dư luận trong  
nhóm nổi lên khi họ chứng kiến một hành vi « phá đám » của anh A, một phát ngôn  
ngông cuồng của anh B, lối sống xa hoa của anh C, quyết định mới của lãnh đạo, một  
dự thảo chính sách mới… Dư luận có một sự tác động mạnh mẽ, thậm chí có thể làm  
thay đổi cả suy nghĩ, thái độ, hành vi của con người. Vì vậy, lãnh đạo và các thành  
viên trong nhóm có thể tận dụng điều này để thăm dò dư luận và thông qua đó có thể  
điều chỉnh, định hướng tác động vào dư luận nhằm củng cố, phát triển nhóm.  
Do sức mạnh của dư luận, sự ảnh hưởng ghê ghớm của dư luận khiến con  
người muốn tạo được dư luận tốt thì phải có những thái độ, hành vi tốt ; ngược lại,  
người có những biểu hiện trái với chuẩn mực sẽ phải hứng chịu dư luận xấu.  
1.5.3 Áp lực nhóm  
Áp lực có thể được tạo ra từ phía nhóm hoặc nó nảy sinh từ chính nhận thức  
của mỗi cá nhân. Nhận thức ở đây bao gồm sự nhìn nhận, đánh giá sự việc và khả  
năng ứng phó của bản thân. Do tính phụ thuộc vào nhận thức của từng người nên một  
vấn đề có thể là áp lực đối với người này nhưng lại là vấn đề bình thường với người  
khác. Ví dụ lãnh đạo giao nhiệm vụ cần phải hoàn thành trong vòng 3 ngày một mẫu  
thiết kế sản phẩm mới có thể gây ra áp lực lớn đối với anh A nhưng lại là việc đơn  
giản đối với anh B. Hoặc việc viết báo cáo và trình bày trước lãnh đạo và tập thể  
17  
nhóm có thể gây áp lực về tâm lý đối với anh C làm anh cảm thấy lo lắng, bồn chồn,  
căng thẳng nhưng việc này lại là sở trường đối với anh D khiến anh cảm thấy thoải  
mái, tự tin.  
Trong quá trình làm việc nhóm, áp lực thường xuất hiện từ các nhân tố cụ thể  
như : áp lực về thời gian, áp lực về độ phức tạp của công việc, áp lực trong quá trình  
tương tác, áp lực nảy sinh từ xung đột về vai trò giữa các thành viên, áp lực về điều  
kiện làm việc, về tâm lý cá nhân,…Trong quá trình làm việc nhóm, nhóm thường gây  
áp lực đối với các thành viên nhằm định hướng họ ứng xử và hành động theo chuẩn  
mực, nguyên tắc chung của nhóm nhằm đạt được mục tiêu nhóm. Nhóm có thể sử  
dụng các hình thức thưởng phạt nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên. Đối với  
một vài người, áp lực nhóm có thể có những tác động tích cực khi đặt họ vào tình thế  
cần phải nỗ lực hết mình, tăng cường sức mạnh của cơ bắp và trí tuệ để hoàn thành  
công việc, thậm chí trong tình huống khó khăn, nguy nan, áp lực nhóm có thể giúp họ  
tạo ra kết quả phi thường. Ngược lại, đối với một số người khác, áp lực nhóm khiến  
họ cảm thấy nặng nề, khó chịu, căng thẳng, mệt mỏi, chán nản ảnh hưởng xấu đến kết  
quả công việc hoặc không thể hoàn thành nổi nhiệm vụ được giao.  
Như vậy, có áp lực tích cực và có áp lực tiêu cực. Áp lực tích cực giúp con  
người vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời nó còn khuấy  
động cuộc sống lối mòn, nhàm chán, mở ra những hướng đi mới, những cơ hội mới để  
con người tự khám phá chính mình, phát triển bản thân. Ngược lại, áp lực tiêu cực  
khiến người ta không có động lực để cố gắng, không tin vào chính mình và tập thể,  
không thể hòa nhập với nhóm và khó hoặc không thể hoàn thành được mục tiêu đề ra.  
Đã là thành viên của một nhóm, cần phải chấp nhận và sẵn sàng đón nhận  
những áp lực có thể xảy ra. Thay vì chống lại áp lực nhóm, chúng ta nên điều hòa các  
mối quan hệ, điều hòa công việc và cuộc sống, tăng cường thương lượng và lập kế  
hoạch để kiểm soát được tình trạng mất cân bằng, giải tỏa áp lực cho chính mình.  
18  
CHƯƠNG 2 : XÂY DỰNG NHÓM LÀM VIỆC HIỆU QUẢ  
Chúng ta đều nhận thấy hình thức nhóm hiện diện trong mọi mặt của đời sống  
xã hội và tấn công ngày càng mạnh mẽ vào các tổ chức, doanh nghiệp vì nó đã chứng  
tỏ được hiệu quả của nó không hề nhỏ. Tuy nhiên không phải cứ khi nào một nhóm  
được thành lập là ngay lập tức đạt được hiệu quả như mong muốn, thậm chí nhóm có  
khi là một giải pháp sai lầm, có khi rơi vào tình trạng trì trệ bế tắc, có khi sóng gió  
triền miên hoặc sớm tan rã,… Vậy làm thế nào để một nhóm hoạt động hiệu quả và  
đạt được những thành công mong đợi? Trong thập niên vừa qua, hàng nghìn nghiên  
cứu về nhóm đã được tiến hành, chẳng hạn như những nhóm giải quyết vấn đề, nhóm  
lực lượng đặc nhiệm, nhóm sinh viên, nhóm công nhân, nhóm trẻ em, nhóm quản trị  
cấp cao,… bất kì một hình thức nhóm nào, các thành viên cũng phải tìm cách hợp tác  
với nhau để đóng góp cho nhóm ở mức cao nhất. Muốn vậy, họ cần hiểu được những  
vấn đề cơ bản của nhóm, cần thể hiện những thái độ và hành vi ứng xử phù hợp đồng  
thời liên tục cải thiện các kỹ năng cần thiết để đưa nhóm lên tầm cao mới và tạo nên  
những điều kì diệu. Chương này sẽ đề cập đến năm yếu tố quan trọng nhất, từ đó mỗi  
thành viên có thể tận dụng một cách tối đa hiệu suất của cá nhân cũng như của nhóm  
để có thể đạt được thành công trong cuộc sống và trong công việc.  
2.1 Xác định mục tiêu, phân công nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng  
2.1.1 Xác định mục tiêu  
Trong cuộc hành trình đi đến thành công, việc xác định mục tiêu được coi là  
những bước đi đầu tiên đặt nền móng vững chắc cho những bước tiến trong tương lai.  
Cho dù là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức, nếu không biết xác định mục tiêu  
thì sẽ chẳng khác nào người đi lạc trong rừng, dò dẫm, vô định, vô phương hướng và  
có thể rơi vào bất cứ tình huống nào tồi tệ nhất. Nếu không xác định một hướng đi  
chung, mỗi thành viên ttrong nhóm sẽ đi theo hướng của riêng mình và nhóm sẽ chẳng  
còn có ý nghĩa gì, tan rã là điều tất yếu. Vậy chúng ta thường thấy một nhóm tụ hợp  
lại với nhau vì mục đích gì? Vì họ cùng theo đuổi một đam mê, một sở thích, một  
điểm tương đồng, một mối quan tâm và họ cùng nhau hành động để đạt được một kết  
quả nhất định nào đó. Đối với một nhóm thực thụ thì lí do để nhóm tồn tại không gì  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 59 trang yennguyen 28561 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Kỹ năng làm việc nhóm - Đỗ Hải Hoàn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_ky_nang_lam_viec_nhom_do_hai_hoan.pdf