Bài giảng Chuyển dạ bình thường - Bài: Cơ chế sanh ngôi chỏm. Đỡ sanh thường ngôi chỏm

Tín chỉ Sản Phụ khoa 1  
Bài giảng trực tuyến  
Bài Team-Based Learning 4-4: Chuyển dạ bình thường  
Cơ chế sanh ngôi chỏm. Đỡ sanh thường ngôi chỏm  
Bài Team-Based Learning 4-4: Chuyển dạ bình thường  
Cơ chế sanh ngôi chỏm.  
Đỡ sanh thường ngôi chỏm.  
Phạm Văn Đức 1, Âu Nhựt Luân 2  
Mục tiêu bài giảng  
Sau khi học xong, sinh viên có khả năng:  
1. Mô tả được hiện tượng lọt trong quá trình chuyển dạ sanh ngôi chỏm  
2. Mô tả được hiện tượng xuống trong quá trình chuyển dạ sanh ngôi chỏm  
3. Mô tả được hiện tượng xoay trong quá trình chuyển dạ sanh ngôi chỏm  
4. Mô tả được hiện tượng sổ trong quá trình chuyển dạ sanh ngôi chỏm  
5. Mô tả được cách đỡ đầu và đỡ vai trong một cuộc sanh ngôi chỏm  
Ngôi chỏm là một ngôi mà trong phần lớn các trường hợp sẽ sanh được qua đường âm đạo. Cơn co tử cung là động lực của quá  
trình sanh, nhờ đó mà thai nhi hoàn thành việc di chuyển qua đoạn đường trong khung chậu.  
Trong cuộc sanh ngôi chỏm, mỗi phần lớn nhất của thai nhi (đầu, vai, mông) đều phải lần lượt qua các eo của khung chậu: eo trên,  
eo giữa, eo dưới. Quá trình này được chia ra những thì tuần tự như sau: (1) qua eo trên gọi là thì lọt, (2) đi từ eo trên xuống eo  
dưới gọi là thì xuống và xoay, (3) qua eo dưới gọi là thì sổ. Người ta xếp các hiện tượng trên làm ba thì nhưng trong thực tế, các  
hiện tượng trên xảy ra kế tiếp nhau, hiện tượng này chưa hoàn tất thì hiện tượng sau đã bắt đầu. Do các hiện tượng chồng lấn lên  
nhau, không có sự phân định rõ ràng của từng giai đoạn hay hiện tượng, nên cũng có thể chia cơ chế sanh thành hai thì: (1) thì lọt  
và xuống, xảy ra ở các vị trí cao, và (2) thì xoay và sổ, xảy ra ở các vị trí thấp.  
Trước khi ngôi lọt, xảy ra các hiện tượng bình chỉnh, nhằm đưa phần thai có kích thước nhỏ nhất trình trước eo trên.  
Trong những tuần cuối cùng của thai kỳ, khi phần thân thai đã trở nên lớn hơn rất nhiều so với phần đầu thai, thì thân thai sẽ có xu  
hướng di chuyển lên phía đáy tử cung, là nơi rộng rãi hơn, còn đầu thai, do có kích thước nhỏ, sẽ hướng về phía dưới, là nơi có thể  
tích hẹp hơn. Hiện tượng này được gọi là sự bình chỉnh về ngôi đầu.  
Khi vào chuyển dạ, dưới tác dụng của cơn co tử cung, ngôi đầu sẽ bình chỉnh thêm một lần nữa. Trong lần bình chỉnh này, ngôi  
đầu sẽ cúi thêm đến mức tối đa theo trục dọc, để cằm chạm vào thân thai, hình thành ngôi chỏm. Hiện tượng này được gọi là sự  
bình chỉnh về ngôi chỏm (accomodation). Đồng thời với hiện tượng cúi đầu, vai của thai sẽ thu gọn lại để chuẩn bị cho cuộc sanh,  
gọi là hiện tượng thu hình (postural change). Hiện tượng bình chỉnh và thu hình có vai trò rất quan trọng, vì nó giúp ngôi sẽ định  
hướng để đưa phần thai có kích thước nhỏ nhất ra trình trước eo trên.  
Đường kính lọt lý thuyết của ngôi chỏm là đường kính lưỡng đỉnh. Trên lâm sàng, người ta dùng đường kính lưỡng đỉnh.  
Khi xuất hiện cơn co tử cung chuyển dạ, ngôi đã bình chỉnh bắt đầu tiến trình vượt qua eo trên. Ngôi sẽ vượt qua eo trên bằng  
đường kính nhỏ nhất có thể được. Ngôi gọi là lọt khi đường kính lọt của ngôi đã đi qua được măt phẳng của eo trên. Như vậy,  
ngôi muốn lọt qua eo trên thì đường kính lọt của ngôi phải đi qua một trong hai đường kính chéo của eo trên là 12.75 cm. Đường  
kính chéo là đường kính đi từ khớp cùng-chậu bên này sang gai mào chậu lược bên đối diện. Gọi là đường kính chéo phải hay  
chéo trái tùy thuộc vào đường kính đó đi qua khớp cùng-chậu bên phải hay bên trái.  
Ngôi chỏm gọi là lọt khi đường kính hạ chẩm thóp trước vượt qua khỏi bình diện của eo trên.  
Trong ngôi chỏm, đường kính lọt là đường kính hạ chẩm-thóp trước. Khi đầu cúi tối đa, ngôi sẽ đưa đường kính hạ chẩm thóp  
trước, có số đo 9.5cm, đi vào mặt phẳng của eo trên, rồi vượt qua được eo này. Đường kính hạ chẩm thóp trước là đường kính lọt  
lý thuyết của ngôi chỏm.  
Trên lâm sàng, do không thể khám được hạ chẩm, nên đường kính hạ chẩm-thóp trước không có ý nghĩa lâm sàng. Thay vào đó,  
người ta thường dùng một đường kính khác, ở cùng bình diện với đường kính hạ chẩm-thóp trước và có cùng số đo với đường  
kính hạ chẩm-thóp trước để đánh giá trên lâm sàng: đó chính là đường kính nối 2 ụ đỉnh, có số đo 9.5cm, gọi là đường kính lưỡng  
đỉnh. Trong trường hợp bình thường, mặt phẳng chứa cả hai đường kính lọt lưỡng đỉnh và hạ chẩm thóp trước sẽ đi vào eo trên.  
Uốn khuôn và lọt không đối xứng là các dấu chỉ của tình trạng bất xứng đầu-chậu.  
Nếu xảy ra tình trạng bất tương xứng giữa kích thước của eo trên và các kích thước của đầu thai, thì thai sẽ phản ứng bằng 2 cách:  
Chồng các xương sọ lên nhau. Do các xương sọ ở thai vẫn chưa liền, nên thai có khả năng chồng sọ để làm giảm các kích  
thước của đầu, uốn khuôn theo hình dạng của ống sanh. Ta gọi là hiện tượng uốn khuôn của đầu thai. Bất tương xứng giữa  
đầu thai và khung chậu càng nhiều thì hiện tượng uốn khuôn càng nặng nề. Sự uốn khuôn nhẹ không ảnh hưởng đến các cấu  
1
2
Giảng viên, Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. e-mail: phamvanduc1998@gmail.com  
Giảng viên, Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. e-mail: aunhutluan@gmail.com  
© Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tác giả giữ bản quyền  
1
Tín chỉ Sản Phụ khoa 1  
Bài giảng trực tuyến  
Bài Team-Based Learning 4-4: Chuyển dạ bình thường  
Cơ chế sanh ngôi chỏm. Đỡ sanh thường ngôi chỏm  
trúc nội sọ của thai, Tuy nhiên, nếu sự uốn khuôn nghiêm trọng và nặng nề thì có khả năng sẽ ảnh hưởng đến các cấu trúc nội  
sọ, nhất là các mạch máu của khoang dưới nhện.  
Đi vào theo một mặt phẳng khác. Trong trường hợp này, ngôi thai sẽ nghiêng đầu sang bên, để lách tuần tự từng bưới đỉnh  
vượt qua lối vào hẹp. Hệ quả là mặt phẳng lọt của đầu không còn song song với mặt phẳng của eo trên nữa. Khi quan sát, ta  
chỉ thấy có một bướu đỉnh trình trước eo trên. Ta gọi là hiện tượng lọt không đối xứng.  
Như vậy, các hiện tượng biến hình, gồm uốn khuôn và lọt không đối xứng là các dấu chỉ của tình trạng bất tương xứng giữa khung  
chậu mẹ và các đường kính lọt của thai nhi.  
Có hai cách chẩn đoán hiện tượng lọt, một qua khám bụng và một qua khám âm đạo.  
Chẩn đoán lọt là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất phải thực hiện trong chuyển dạ. Nhận định sai về hiện tượng lọt có thể  
dẫn đến các sai lầm chết người trong theo dõi chuyển dạ và đỡ sanh ngôi chỏm.  
Có thể chẩn đoán hiện tượng lọt qua khám bụng hay khám âm đạo.  
Chẩn đoán lọt qua khám bụng dựa vào đánh giá phần đầu thai nhi còn nằm trên xương vệ, thể hiện bằng số các khoác ngón  
tay cần thiết để che được phần đầu thai nhi còn đang ở trên vệ. Phần đầu thai nhi còn trên xương vệ tương ứng độ rộng bao  
nhiêu ngón tay khép lại sẽ tương ứng với độ lọt bao nhiêu phần năm . Nếu toàn bộ đầu thai nhi nằm trên xương vệ, tương ứng  
với chiều rộng của năm ngón tay khi khép lại, ta nói đầu ở vị trí 5/5. Nếu toàn bộ thai nhi đã xuống dưới xương vệ, ta nói đầu  
ở vị trí 0/5. Ngôi thai lọt sẽ có vị trí khoảng 2/5.  
Chẩn đoán lọt qua khám âm đạo dựa vào việc xác định vị trí của phần thấp nhất của xương sọ thai so với mức của hai gai  
hông.  
Khoảng cách từ hai gai hông tới ngang gờ vô danh chia làm ba đoạn như nhau, có tính chất tương đối.  
Tương tự, khoảng cách từ hai gai hông tới âm hộ chia làm ba đoạn như nhau, có tính chất tương đối.  
o
o
Thai lọt được qui ước có vị trí 0.  
Khi ngôi thai chưa lọt, phần thấp nhất của xương đầu sẽ vẫn ở trên vị trí của gai hông, được đánh giá -1, -2, -3.  
o
Khi ngôi thai đã lọt, phần thấp nhất của xương đầu sẽ vượt khỏi vị trí của gai hông, được đánh giá +1, +2, +3.  
Thông thường khám âm đạo để chẩn đoán vị trí lọt khá chính xác. Tuy nhiên, nếu đầu thai nhi uốn khuôn dài, hay có bướu huyết  
thanh to ảnh hưởng đến khoảng cách từ phần thấp nhất của xương sọ đến ụ đỉnh, làm cho khoảng cách này dài ra, thì xác định độ  
lọt qua khám âm đạo sẽ đễ bị sai lệch. Trong trường hợp này, nên kết hợp thêm với khám bụng để có ý niệm chính xác hơn về vị  
trí và độ lọt của ngôi chỏm.  
Hiện tượng xuống là sự di chuyển của ngôi trong tiểu khung sau khi ngôi đã lọt.  
Sau khi đã lọt qua mặt phẳng của eo trên, ngôi chỏm sẽ di chuyển trong tiểu khung theo một quỹ đạo hình ống cong hướng ra  
trước, với:  
Lỗ vào là eo trên, với đường kính ngang thường lớn hơn đường kính trước sau.  
Lỗ ra là eo dưới với đường kính trước sau hơi lớn hơn đường kính ngang.  
Thành trước của ống là bờ sau xương vệ, cao 4cm.  
Thành sau của ống là mặt trước xương cùng, cao 12-14cm.  
Hai thành bên của ống cao 8-10cm.  
Hiện tượng xuống sẽ xảy ra ngay tiếp sau hiện tượng lọt và cũng theo đường kính chéo của tiểu khung.  
Hệ quả của xoay trong là ngôi hướng được đường kính sổ của mình trùng với đường kính trước sau của eo dưới.  
Khi ngôi xuống đến khúc quanh của quỹ đạo hình ống cong, ngôi sẽ chịu các lực cản khác nhau từ các hướng khác nhau của thành  
ống sanh. Các lực cản khác nhau này gồm trở kháng của phần mềm, của đai xương, do các thành không cao bằng nhau, nơi rộng  
nơi hẹp … nên ngôi thai sẽ chịu tác động của một hệ mô-men lực, gây nên hiện tượng xoay trong. Xuống sâu trong ống sanh và  
xoay trong là hai hiện tượng gắn liền nhau, cùng xảy ra đồng thời trong tiểu khung. Khi ngôi xuống sâu hơn nữa, nó sẽ va phải  
kháng trở của tầng sinh môn. Lực cản này tác động lên ngôi thai sẽ giúp thai hoàn thành việc xoay trong về chẩm vệ, tức hướng  
đường kính lọt của nó vào đường kính rộng nhất của eo dưới là đường kính trước sau.  
Hiện tượng sổ thai qua eo dưới có điểm tựa bờ dưới khớp vệ. Ngôi sẽ thực hiện động tác sổ trên điểm tựa này.  
Khi hiện tượng xoay trong hoàn tất, ngôi thai đã ở kiểu thế chẩm vệ. Lúc này, ngôi sẵn sàng sổ qua eo dưới. Dưới tác động của  
cơn co tử cung phối hợp thêm sức rặn của người mẹ, ngôi được tống xuất qua eo dưới. Trong quá trình này, ngôi phải cúi thêm tối  
đa để thu nhỏ đường kính sổ. Khi hạ chẩm ra đến bờ dưới khớp vệ thì hạ chẩm sẽ tựa vào đó để thực hiện động tác ngửa đầu. Đầu  
thai sẽ ngửa dần để sổ từng phần một, lần lượt là đỉnh, trán, rồi mặt. Như vậy, ngôi không sổ toàn bộ ngôi cùng một lúc, điều này  
giúp ngăn chặn được tổn thương của tầng sinh môn.  
Sau khi đầu thai đã thoát âm, nó sẽ tự động quay về vị trí nguyên thủy của nó đã có trước khi xảy ra xoay trong. Hiện tượng này  
gọi là hiện tượng xoay ngoài.  
Sanh vai cũng diễn tiến theo các thì tuần tự như trên.  
Sau khi đầu sổ, đến lượt vai cũng lọt vào tiểu khung. Vai sẽ thu nhỏ lại, để hướng đường kính lưỡng mỏm vai vào đường kính  
chéo của eo trên, sau đó cũng lọt, xuống, xoay và sổ. Trong đa phần các trường hợp, sanh vai không gặp khó khăn.  
Điều cần lưu ý rằng việc can thiệp vội vã lên thì sanh đầu, hay can thiệp không đúng trên sanh vai sẽ không cho phép thai đưa các  
kích thước tối ưu của vai vào eo trên, và có thể biến cuộc sanh vai thành một thảm họa. Sanh khó do vai là một trong những biến  
chứng đáng sợ nhất của sanh thai to.  
© Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tác giả giữ bản quyền  
2
Tín chỉ Sản Phụ khoa 1  
Bài giảng trực tuyến  
Bài Team-Based Learning 4-4: Chuyển dạ bình thường  
Cơ chế sanh ngôi chỏm. Đỡ sanh thường ngôi chỏm  
Đỡ sanh ngôi chỏm thao tác đỡ quan trọng là đỡ đầu và vai, còn phần còn lại dễ dàng  
Trong cuộc sanh ngôi chỏm, người đỡ sanh không được can thiệp gì cả cho đến thời điểm cần can thiệp.  
Lọt, xuống, xoay xảy ra mà không cần bất cứ can thiệp nào từ bên ngoài, ngoại trừ các trường hợp sanh khó.  
Người đỡ đẻ chỉ can thiệp khi có đủ tất cả các điều kiện sau:  
o
o
o
Ngôi đã xuống đến eo dưới, hoàn thành xoay về chẩm vệ.  
Ngôi đã sẵn sàng để sổ, ở vị trí +3 là căng phồng tầng sinh môn, âm hộ nhìn về phí trần nhà  
Hai âm môi bé tách rộng ra  
Khi đó, nhiệm vụ của người đỡ sanh là giúp đầu cúi thật tốt. Người đỡ sanh dùng ba ngón tay giữa của tay phải đè vào vùng  
thượng chẩm để cho đầu cúi thêm, cho tới khi hạ chẩm ra đến bờ dưới khớp vệ. Song song với giúp đầu cúi bằng tay phải,  
người đỡ sanh tay trái đè vào vùng tầng sinh môn tránh rách thêm tầng sinh môn.  
Khi hạ chẩm ra đến bờ dưới khớp vệ, bắt đầu dùng tay phải kiểm soát tốc độ ngửa của đầu khi thực hiện sổ trán. Tay còn lại  
giữ tầng sinh môn. Nếu thấy tầng sinh môn quá căng thì có thể thực hiện thủ thuật cắt tầng sinh môn lúc này.  
Khi đầu đã sổ, nếu thấy dây rốn quấn cổ lỏng, tháo dây rốn qua đầu thai ngay. Nếu dây rốn quấn cổ chặt quấn chặt thì kẹp cắt  
dây rốn ngay tại vùng cổ thai.  
Sau khi đầu sổ hoàn toàn, để đầu tự xoay ngoài về vị trí nguyên thủy của nó, chờ thêm để cho cơn co tự nhiên đưa vai lọt vào  
tiểu khung. Khi vai đã lọt, đường kính lưỡng mỏm vai đi vào đường kính chéo của eo trên và xoay. Vai xoay trong sẽ làm cho  
đầu xoay ngoài thêm một thì nữa, gọi là xoay ngoài thì 2nd. Cuối thì xoay ngoài 2nd, vai đã vào đến đường kính trước sau eo  
dưới, và đầu đã đến vị trí chẩm ngang. Người đỡ sanh có thể giúp thai hoàn thành thì xoay ngoài thứ nhì, rồi bắt đầu đỡ vai.  
Đỡ vai trước: người đỡ sanh dùng hai tay ôm hai bên đầu thai nhi, vùng đỉnh, kéo đầu thai về phía chân mình và hơi xuống  
phía dưới để mỏm vai trước ra hẳn cho đến khi bờ dưới cơ delta tì dưới khớp vệ.  
Đỡ vai sau: sau khi vai trước đã sổ hoàn toàn, người đỡ kéo ngược thai lên trên, vai trước sát vùng tiền đình, thân thai nhi sẽ  
cong lại và vai sau sẽ sổ nhẹ nhàng, không làm rách âm tầng sinh môn. Nhớ chú ý giữ tầng sinh môn khi sổ vai sau.  
Phần còn lại của thai và mông sẽ dễ dàng. Bàn tay trái đỡ cổ thai nhi, bàn tay phải vuốt dọc lưng thai nhi tới chân, nắm hai  
chân bằng cách cầm hai bàn chân bằng ba ngón cái, trỏ và giữa bàn tay phải. Để đầu thai nhi thấp hơn bàn sanh.  
Hình 1.1: Bình chỉnh và biến hình  
Hình 1.5: Sổ đầu  
Khi vào chuyển dạ, dưới tác dụng của cơn co tử  
cung, ngôi đầu sẽ bình chỉnh thêm một lần nữa.  
Trong lần bình chỉnh này, ngôi đầu sẽ cúi thêm đến  
mức tối đa theo trục dọc, để cằm chạm vào thân  
thai, hình thành ngôi chỏm. Hiện tượng này được  
gọi là sự bình chỉnh về ngôi chỏm (accomodation).  
Đồng thời với hiện tượng cúi đầu, vai của thai sẽ thu  
gọn lại để chuẩn bị cho cuộc sanh, gọi là hiện tượng  
thu hình (postural change). Hiện tượng bình chỉnh  
và thu hình có vai trò rất quan trọng, vì nó giúp ngôi  
sẽ định hướng để đưa phần thai có kích thước nhỏ  
nhất ra trình trước eo trên.  
Dưới tác động của cơn co tử cung phối hợp thêm  
sức rặn của người mẹ, ngôi được tống xuất qua eo  
dưới. Trong quá trình này, ngôi phải cúi thêm tối đa  
để thu nhỏ đường kính sổ. Khi hạ chẩm ra đến bờ  
dưới khớp vệ thì hạ chẩm sẽ tựa vào đó để thực hiện  
động tác ngửa đầu. Đầu thai sẽ ngửa dần để sổ từng  
phần một, lần lượt là đỉnh, trán, rồi mặt. Như vậy,  
ngôi không sổ toàn bộ ngôi cùng một lúc, điều này  
giúp ngăn chặn được tổn thương của tầng sinh môn.  
Hình 1.2: Hiện tượng lọt  
Hình 1.6: Xoay ngoài thì 2nd  
Trong ngôi chỏm, đường kính lọt là đường kính hạ  
chẩm-thóp trước. Khi đầu cúi tối đa, ngôi sẽ đưa  
đường kính hạ chẩm thóp trước, có số đo 9.5cm, đi  
vào mặt phẳng của eo trên, rồi vượt qua được eo  
này. Đường kính hạ chẩm thóp trước là đường kính  
lọt lý thuyết của ngôi chỏm.  
Trên lâm sàng, người ta thường dùng đường kính  
lưỡng đỉnh. Trong trường hợp bình thường, mặt  
phẳng chứa cả hai đường kính lọt lưỡng đỉnh và hạ  
chẩm thóp trước sẽ đi vào eo trên.  
Sau khi đầu thai đã thoát âm, nó sẽ tự động quay về  
vị trí nguyên thủy của nó đã có trước khi xảy ra  
xoay trong. Hiện tượng này gọi là hiện tượng xoay  
ngoài thì 1st.  
Khi vai đã lọt, đường kính lưỡng mỏm vai đi vào  
đường kính chéo của eo trên và xoay. Vai xoay  
trong sẽ làm cho đầu xoay ngoài thêm một thì nữa,  
gọi là xoay ngoài thì 2nd. Cuối thì xoay ngoài 2nd,  
vai đã vào đến đường kính trước sau eo dưới, và đầu  
đã đến vị trí chẩm ngang.  
Hình 1.3: Hiện tượng xuống và xoay trong  
Khi ngôi xuống đến khúc quanh của quỹ đạo hình  
ống cong, ngôi sẽ chịu các lực cản khác nhau từ các  
hướng khác nhau của thành ống sanh. Các lực cản  
khác nhau này gồm trở kháng của phần mềm, của  
đai xương, do các thành không cao bằng nhau, nơi  
rộng nơi hẹp … nên ngôi thai sẽ chịu tác động của  
một hệ mô-men lực, gây nên hiện tượng xoay trong.  
Xuống sâu trong ống sanh và xoay trong là hai hiện  
tượng gắn liền nhau, cùng xảy ra đồng thời trong  
tiểu khung.  
Hình 1.7: Sổ vai trước  
Đỡ vai trước: người đỡ sanh dùng hai tay ôm hai  
bên đầu thai nhi, vùng đỉnh, kéo đầu thai về phía  
chân mình và hơi xuống phía dưới để mỏm vai  
trước ra hẳn cho đến khi bờ dưới cơ delta tì dưới  
khớp vệ.  
Hình 1.4: Hoàn thành xoay trong  
Hình 1.8: Sổ vai sau  
Khi ngôi xuống sâu hơn nữa, nó sẽ va phải kháng  
trở của tầng sinh môn. Lực cản này tác động lên  
ngôi thai sẽ giúp thai hoàn thành việc xoay trong về  
chẩm vệ, tức hướng đường kính lọt của nó vào  
đường kính rộng nhất của eo dưới là đường kính  
trước sau. Khi hiện tượng xoay trong hoàn tất, ngôi  
thai đã ở kiểu thế chẩm vệ. Lúc này, ngôi sẵn sàng  
sổ qua eo dưới.  
Sau khi vai trước đã sổ hoàn toàn, người đỡ kéo  
ngược thai lên trên, vai trước sát vùng tiền đình,  
thân thai nhi sẽ cong lại và vai sau sẽ sổ nhẹ nhàng,  
không làm rách âm tầng sinh môn. Nhớ chú ý giữ  
tầng sinh môn khi sổ vai sau.  
© Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tác giả giữ bản quyền  
3
Tín chỉ Sản Phụ khoa 1  
Bài giảng trực tuyến  
Bài Team-Based Learning 4-4: Chuyển dạ bình thường  
Cơ chế sanh ngôi chỏm. Đỡ sanh thường ngôi chỏm  
Hình 2.1:  
Hình 2.2:  
Hiện tượng xuống và xoay trong,  
Chẩm Phải Sau  
Hiện tượng xuống và xoay  
trong, Chẩm Phải Trước  
Ngôi chỏm kiểu thế Chẩm Chậu Phải  
Sau sẽ thực hiện một góc xoay trong  
+135về Chẩm Vệ. Trong các kiểu thế  
sau, hiện tượng xoay trong thường  
hoàn tất rất muộn, khi ngôi đã xuống  
rất sâu, và gặp phải trở kháng đáng kể  
của tầng sinh môn.  
Hình dạng khung chậu bất thường, hẹp  
eo giữa là những trở ngại cho xoay  
trong +135của ngôi chỏm, kiểu thế  
chẩm Chậu Phải Sau. Trong trường  
hợp này ngôi sẽ xoay trong -45về  
chẩm cùng.  
Ngôi chỏm kiểu thế Chẩm Chậu  
Phải Trước sẽ thực hiện một góc  
xoay trong +45về Chẩm Vệ.  
Trong các kiểu thế trước, hiện  
tượng xoay trong thường bắt đầu  
sớm, ngay sau khi bắt đầu  
xuống, nhưng chỉ hoàn tất khi  
ngôi đã xuống rất sâu, và gặp  
phải trở kháng đáng kể của tầng  
sinh môn.  
Hình 3.1: Xác định độ lọt qua khám âm đạo  
Chẩn đoán lọt qua khám âm đạo dựa vào việc xác định vị trí của phần thấp nhất của xương sọ thai so với mức của  
hai gai hông.  
Khoảng cách từ hai gai hông tới ngang gờ vô danh chia làm ba đoạn như nhau, có tính chất tương đối.  
Tương tự, khoảng cách từ hai gai hông tới âm hộ chia làm ba đoạn như nhau, có tính chất tương đối.  
Thai lọt được qui ước có vị trí 0.  
Khi ngôi chỏm chưa lọt, phần thấp nhất của xương đầu vẫn ở trên gai hông, được đánh giá -1, -2, -3.  
Khi ngôi thai đã lọt, phần thấp nhất của xương đầu sẽ vượt khỏi gai hông, được đánh giá +1, +2, +3.  
Thông thường khám âm đạo để chẩn đoán vị trí lọt khá chính xác. Tuy nhiên, nếu đầu thai nhi uốn khuôn dài, hay  
có bướu huyết thanh to ảnh hưởng đến khoảng cách từ phần thấp nhất của xương sọ đến ụ đỉnh, làm cho khoảng  
cách này dài ra, thì xác định độ lọt qua khám âm đạo sẽ đễ bị sai lệch.  
Hình 3.2: Xác định độ lọt qua khám bụng  
Chẩn đoán lọt qua khám bụng dựa vào đánh giá phần đầu thai nhi còn nằm trên xương vệ, thể hiện bằng số các  
khoác ngón tay cần thiết để che được phần đầu thai nhi còn đang ở trên vệ.  
Phần đầu thai nhi còn trên xương vệ tương ứng độ rộng bao nhiêu ngón tay khép lại sẽ tương ứng với độ lọt bao  
nhiêu phần năm . Nếu toàn bộ đầu thai nhi nằm trên xương vệ, tương ứng với chiều rộng của năm ngón tay khi  
khép lại, ta nói đầu ở vị trí 5/5. Nếu toàn bộ thai nhi đã xuống dưới xương vệ, ta nói đầu ở vị trí 0/5. Ngôi thai lọt  
sẽ có vị trí khoảng 2/5.  
Hình 4: Hiện tượng lọt bất đối xứng  
Nếu xảy ra tình trạng bất tương xứng giữa kích thước của eo  
trên và các kích thước của đầu thai, thì thai sẽ phản ứng bằng  
cách đi vào tiểu khung theo một mặt phẳng khác. Trong  
trường hợp này, ngôi thai sẽ nghiêng đầu sang bên, để lách  
tuần tự từng bưới đỉnh vượt qua lối vào hẹp. Hệ quả là mặt  
phẳng lọt của đầu không còn song song với mặt phẳng của eo  
trên nữa. Khi quan sát, ta chỉ thấy có một bướu đỉnh trình  
trước eo trên. Ta gọi là hiện tượng lọt không đối xứng.  
Như vậy, lọt không đối xứng là dấu chỉ của tình trạng bất  
tương xứng giữa khung chậu mẹ và các đường kính lọt của  
thai nhi.  
Hình 5: Hiện tượng chồng sọ và uốn khuôn  
Nếu xảy ra tình trạng bất tương xứng giữa kích thước của eo trên và các kích thước của đầu thai, thì  
thai sẽ phản ứng bằng cách chồng các xương sọ lên nhau. Do các xương sọ ở thai vẫn chưa liền, nên  
thai có khả năng chồng sọ để làm giảm các kích thước của đầu, uốn khuôn theo hình dạng của ống  
sanh. Ta gọi là hiện tượng uốn khuôn của đầu thai. Bất tương xứng giữa đầu thai và khung chậu càng  
nhiều thì hiện tượng uốn khuôn càng nặng nề. Sự uốn khuôn nhẹ không ảnh hưởng đến các cấu trúc  
nội sọ của thai, Tuy nhiên, nếu sự uốn khuôn nghiêm trọng và nặng nề thì có khả năng sẽ ảnh hưởng  
đến các cấu trúc nội sọ, nhất là các mạch máu của khoang dưới nhện.  
Như vậy, uốn khuôn là dấu chỉ của tình trạng bất tương xứng giữa khung chậu mẹ và các đường kính  
lọt của thai nhi.  
© Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tác giả giữ bản quyền  
4
pdf 4 trang yennguyen 18880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Chuyển dạ bình thường - Bài: Cơ chế sanh ngôi chỏm. Đỡ sanh thường ngôi chỏm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_chuyen_da_binh_thuong_bai_co_che_sanh_ngoi_chom_do.pdf