Ảnh hưởng của tưới ngập đến hàm lượng lưu huỳnh dễ tiêu trong đất lúa vùng đồng bằng sông Hồng

BÀI BÁO KHOA HỌC  
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỚI NGẬP ĐẾN HÀM LƯỢNG LƯU HUỲNH  
DỄ TIÊU TRONG ĐẤT LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG  
Đinh Thị Lan Phương1  
Tóm tắt: Lưu huỳnh (S) là một trong những nguyên tố dinh dưỡng quan trọng đối với cây trồng,  
đặc biệt là lúa gạo. Gần đây, mặc dù đã được bổ sung thường xuyên qua phân bón hóa học nhưng  
hàm lượng S trong đất canh tác lúa ở một số nơi vẫn thường bị thiếu hụt, làm ảnh hưởng đến năng  
suất và chất lượng lúa gạo. Ngập nước là một trong những nguyên nhân làm giảm nguồn cung cấp  
S cho lúa. Trong môi trường khử, lưu huỳnh thường ở dạng S2- gây độc cho rễ lúa. Nghiên cứu đã  
thực hiện các thí nghiệm trên cánh đồng trồng lúa vùng Tiên Lữ, Hưng Yên trong 2 vụ canh tác  
Đông xuân và Hè thu năm 2015. Khu thí nghiệm có môi trường đất trung tính (pH 6,5÷6,9), thành  
phần cơ giới thịt trung bình, chất hữu cơ 1,1%. Lưu huỳnh 11,53 mg/100g đất. Thí nghiệm được  
theo thực hiện chế độ nước ngập thường xuyên với lớp nước mặt ruộng 7÷10cm. Kết quả nghiên  
cứu cho thấy nếu đất ngập nước thường xuyên sẽ làm thế oxi hóa khử giảm mạnh (30÷50mV), hàm  
lượng lưu huỳnh dễ tiêu trong đất giảm (0,31÷0,58 mg/100g đất), hạn chế nguồn cung cấp lưu  
huỳnh cho cây lúa. Thời gian ngập nước càng lâu, môi trường khử càng gia tăng dẫn đến nguy cơ  
giảm mạnh lưu huỳnh dễ tiêu và làm tăng thêm các độc tố H2S, HS-, S2-... trong đất, hạn chế sinh  
trưởng và năng suất lúa.  
Từ khóa: Tưới ngập, dinh dưỡng, thế oxi hóa khử, lưu huỳnh dễ tiêu.  
như H2S, HS-, S2- và metyl mecaptan (S.Yoshida  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ1  
Nguyên tố lưu huỳnh xét về nhu cầu dinh và M.R. Chaudhry, 1979). Đây là những độc tố  
dưỡng cho cây trồng chỉ đứng thứ tư sau các có thể làm thối rễ, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng  
nguyên tố N, P, K. Lượng S trung bình mà cây và năng suất của lúa (S.Yoshida và M.R.  
trồng sử dụng để phát triển và sinh trưởng bằng Chaudhry, 1979).  
2/3 so với khối lượng lân (Papanicov, 1977).  
Trong môi trường đất lúa ngập nước, S vô cơ  
Khử sunphat xảy ra với sự tham gia của các  
vi khuẩn khử lưu huỳnh như vi khuẩn  
Deslufovibrio sử dụng sunphat làm chất nhận  
electron trong quá trình hô hấp kị khí:  
2-  
tồn tại phổ biến ở các dạng HS-, H2S, S2-, SO4 ;  
tại vùng đất phù sa trung tính ít có khả năng  
xuất hiện H2S, nhưng tại vùng đất chua thì có  
thể xuất hiện độc tố này. Dạng tồn tại của S phụ  
thuộc nhiều vào thế oxi hóa khử (Eh) và độ pH  
trong đất (F.N. Ponnamperuma, 1985). Ngập  
nước liên tục làm đất lúa luôn ở trạng thái no  
ẩm, khí oxi bị nước đẩy ra khỏi các lỗ rỗng của  
đất, dẫn tới thế oxi hóa khử của đất giảm mạnh.  
Đất ngập nước luôn là môi trường hoạt động  
mạnh của các vi khuẩn yếm khí, vì vậy các hợp  
chất vô cơ, hữu cơ chứa S và S dễ tiêu bị vi  
khuẩn phân hủy thành các hợp chất dạng khử  
SO42- + 10H+ + 8e- H2S + 3H2O  
4H2 + SO42- H2S + 2H2O + 2OH-  
2CH3CHOHCOO- + SO42- + 3H+ 2CH3COO-  
-
+ 2CO2 + H2O + HS-  
CH3COO- + SO42- 2CO2 + 2H2O + HS-  
Thế oxi hóa khử của đất sẽ tăng lên khi mặt  
ruộng được rút cạn (do oxi không khí khuếch  
tán vào đất), lúc này các vi khuẩn háo khí (như  
vi khuẩn Beggiatoa mirabilis) hoạt động mạnh  
hơn, chuyển hóa các hợp chất chứa S lên dạng  
2-  
oxi hóa (SO4 ) là nguồn dinh dưỡng quan trọng  
1 Khoa Môi trường, Trường Đại học Thủy Lợi.  
cho cây lúa.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
3
Bảng 1. Thông số về tính chất lý hóa của đất  
Chỉ số Giá trị  
6,5 ÷ 6,9  
2H2S + O2 2H2O + S2  
2-  
2H2O + S2 + 3O2 4H+ + 2SO4  
Dựa theo kết quả nghiên cứu về S tổng số  
trong đất ở Việt Nam của các tác giả Bùi Thế  
Vĩnh, Cao Liêm, Vũ Hữu Yêm (1996) cho thấy  
đất phù sa sông Hồng có hàm lượng S tổng số  
vẫn ở mức trung bình thấp, khi tính cả lượng S  
bị rửa trôi lượng S cần hoàn trả cho đất có thể  
cần đến 60 ÷ 110 kg/ha. Lý do là S dễ tiêu được  
cây trồng hấp thu và dễ bị rửa trôi khỏi bề mặt  
tích điện âm của keo đất. Tuy nhiên, bón thừa S  
cũng có thể gây độc cho cây, thường ảnh hưởng  
thông qua tác động của sự hình thành H2S (Lê  
Văn Khoa, 2005).  
Bón phân trong canh tác lúa làm S tổng số  
trong đất dư thừa nhưng S dễ tiêu lại bị thiếu  
hụt, do: một phần là thức ăn cho cây lúa, một  
phần bị rửa trôi khỏi bề mặt tích điện âm của  
keo đất, một phần chuyển hóa thành S dạng khử  
(H2S, HS-, S2-) trong đất lúa ngập nước (Võ  
Minh Kha, 1980).  
pH  
Dung tích hấp phụ 14 meq/100g đất  
cation  
Hàm lượng hữu cơ  
Hàm lượng nitơ  
1,1%  
0,9%  
Thành phần cơ giới  
Đất thịt trung bình  
11,53 mg/100gam đất  
2-  
Sunphat (SO4 )  
2.2 Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Thí nghiệm trong phòng  
Mẫu đất được lấy trên nhiều thửa ruộng  
thuộc cánh đồng xã An Viên (Tiên Lữ), độ sâu  
0÷40cm. Đất sau khi lấy về được xử lí như sau:  
nhặt xác thực vật, trộn lẫn, phơi khô tự nhiên,  
sau đó nghiền mịn rồi cho qua rây 1mm. Thí  
nghiệm tiến hành trong chậu, cho đất ngập nước  
thường xuyên 4÷5 cm. Thời gian thực hiện thí  
nghiệm trong 2 đợt; đợt 1: từ tháng 2 ÷ 5/2015  
và đợt 2: từ tháng 6 ÷ 9/2015. Mẫu đất được tiến  
hành quan trắc và lấy mẫu phân tích theo chu kì  
15 ngày/lần. Số lần lặp của một đợt: 03, tổng số  
Tưới ngập truyền thống vẫn đang được duy  
trì trong canh tác lúa ở vùng đồng bằng sông  
Hồng. Đất lúa ngập nước là điều kiện thuận lợi lần lặp cả hai đợt 06.  
Tổng số lần lấy mẫu thí nghiệm: 10, tổng số  
mẫu phân tích: 30.  
2.2.2. Thí nghiệm đồng ruộng  
Địa điểm thực hiện: Cánh đồng xã An Viên,  
Tiên Lữ, Hưng Yên  
cho vi khuẩn yếm khí phân hủy các chất hữu cơ,  
đây cũng là nguyên nhân chính làm phát thải khí  
nhà kính CH4 và tạo ra các độc tố HS-, S2-, Fe2+,  
Mn2+ gây hại cho lúa (S.Yoshida và M.R.  
Chaudhry, 1979).  
Bố trí thí nghiệm: Giống lúa Khang Dân 18  
có thời gian sinh trưởng 90÷100 ngày được gieo  
cấy trên khu thí nghiệm trong các vụ đông xuân  
và hè thu năm 2015. Mỗi ô ruộng có diện tích  
360m2, tổng số 02 ô ruộng. Chế độ phân bón và  
chăm sóc được áp dụng như sản xuất đại trà  
theo trung tâm khuyến nông tỉnh Hưng Yên  
khuyến cáo. Chế độ nước trong ruộng được duy  
trì lớp nước trung bình 7÷10 cm (kỹ thuật tưới  
tưới ngập) riêng thời điểm mưa, lớp nước trong  
ruộng có thể lên tới 10÷15cm. Lớp nước trên  
ruộng được đo tại mỗi lần lấy mẫu.  
Bài báo này đề cập đến ảnh hưởng của tưới  
ngập đến hàm lượng S dễ tiêu trong đất lúa phù  
sa trung tính, không được bồi hàng năm của  
vùng đồng bằng sông Hồng, thông qua thực  
nghiệm theo dõi diễn biến hàm lượng SO4  
trong công thức tưới ngập ngoài đồng ruộng và  
trong phòng.  
2-  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đất nghiên cứu là đất ruộng chuyên canh tác  
lúa tại cánh đồng lúa xã An Viên, huyện Tiên  
Lữ, tỉnh Hưng Yên.  
Các chỉ tiêu phân tích đất bao gồm Eh, pH,  
2-  
SO4 . Mẫu đất được lấy trong các ô ruộng thí  
Một số tính chất lý hóa của đất nghiên cứu  
được tóm tắt trong bảng sau:  
nghiệm để phân tích các chỉ tiêu trên vào 5 thời  
kỳ sinh trưởng của lúa: đổ ải, bén rễ hồi xanh,  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
4
đẻ nhánh, làm đòng và trỗ bông. Nghiên cứu canh tác: 10, tổng số mẫu phân tích: 100. Mỗi  
này đã thực hiện lấy mẫu đất vào các thời điểm mẫu được phân tích lặp lại 3 lần  
như sau: Vụ đông xuân: đổ ải (15/2/2015), bén  
rễ hồi xanh (25/2/2015), đẻ nhánh (12/3/2015), tích gồm: Eh, pH, SO4  
Các chỉ tiêu được tiến hành đo đạc và phân  
2-  
làm đòng (27/4/2015), trỗ bông (17/5/2015). Vụ  
Thế Eh và giá trị pH được đo bằng máy đo  
hè thu: đổ ải (10/6/2015), bén rễ hồi xanh điện cực ORP hãng Toledo.  
2-  
(20/6/2015), đẻ nhánh (5/7/2015), làm đòng  
(20/7/2015), trỗ bông (10/8/2015).  
Phân tích chỉ tiêu SO4 trong đất được áp  
dụng phương pháp đo độ đục dựa trên sự hình  
Mẫu đất được lấy ở độ sâu 10 cm so với tầng thành BaSO4 dạng keo sau khi đưa BaCl2 với  
đất mặt, cách lấy mẫu ngẫu nhiên theo phương chất đệm là axit citric vào mẫu, sau đó thực hiện  
pháp đường chéo (5 vị trí/1 ô ruộng). Mỗi lần so màu trên máy đo quang DR 2700.  
lấy mẫu tại 10 vị trí/2 ô ruộng.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Lớp nước mặt ruộng  
Tổng số lần lấy mẫu thí nghiệm trong hai vụ  
Bảng 2. Lớp nước mặt ruộng đo được tại các thời kì sinh trưởng của lúa  
Lớp nước ngập trên mặt  
ruộng vụ Đông xuân (cm)  
7,5  
Lớp nước ngập trên mặt ruộng vụ  
TT  
Thời kì  
Hè thu (cm)  
Đổ ải  
7,0  
1
2
Bén rễ hồi xanh  
7
6,5  
(10 ngày sau cấy)  
Đẻ nhánh (25 ngày)  
Làm đòng (40 ngày)  
Trỗ (60 ngày)  
8,5  
9,5  
8
9,5  
10,5  
10  
3
4
5
Diễn biến lớp nước ngập trên mặt ruộng  
trong quá trình sinh trưởng và phát triển của lúa  
trong hai vụ được tổng hợp trên đồ thị sau:  
Như vậy trong giai đoạn sinh trưởng, lớp  
nước mặt ruộng tại các thời kì đổ ải, bén rễ, đẻ  
nhánh, làm đòng và trỗ bông luôn ở mức ngập  
sâu hơn 7cm, cao nhất tại thời kì làm đòng, lớp  
nước sâu đến 10,5cm tại vụ Hè thu, do có mưa  
vào tháng 8 với lượng mưa trên 100 mm (Trạm  
khí tượng Thường Tín, 2015)  
3.2. Kết quả thí nghiệm trong phòng  
Bảng 3. Kết quả đo Eh, pH, SO42- trung bình của công thức thí nghiệm trong phòng  
2-  
Thời gian  
ngập nước  
15 ngày  
30 ngày  
45 ngày  
SO4  
(mg/100g đất)  
11,37  
Độ lệch  
chuẩn (σ)  
0,01  
Hệ số tương quan  
Eh (mV)  
pH  
pearson r  
0,85  
-203  
-215  
-235  
-246  
-256  
6,69  
6,34  
6,28  
6,25  
6,21  
11,20  
11,08  
10,92  
10,79  
0,01  
0,01  
0,02  
0,01  
0,82  
0,87  
0,89  
0,80  
60 ngày  
75 ngày  
Các giá trị Eh, pH, SO42- trung bình của công thức thí nghiệm trong phòng được biểu diễn trên  
các đồ thị 1a và 1b.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
5
Hình 1a. Diễn biến thế Eh của công thức đất ngập nước trong phòng.  
Hình 1b. diễn biến pH và nồng độ SO42- của công thức đất ngập nước trong phòng  
Sau khi ngập nước 15 ngày, Eh đất ở mức - giảm càng mạnh. Sau 75 ngày ngập nước, pH  
203mV, pH = 6,69; [SO42-] = 11,37 ± 0,01 giảm từ 6,69 xuống 6,21; Eh giảm từ -203 mV  
2-  
mg/100g. Sau 30 ngày Eh giảm xuống -215mV; xuống còn -256 mV; [SO4 ] giảm từ 11,37 xuống  
[SO42-] = 11,20 ± 0,01 mg/100g. Cho thấy, Eh, pH còn 10,79 mg/100g. Hệ số tương quan Pearson  
và nồng độ SO42- đều có xu hướng giảm trong đất trong khoảng 0,80 ÷ 0,92 cho thấy mối tương  
ruộng ngập nước. Thời gian ngập càng lâu thì các quan khá chặt chẽ giữa thế Eh và hàm lượng SO42.  
chỉ tiêu Eh, pH và nồng độ SO42- đều có xu hướng  
3.3. Kết quả thí nghiệm đồng ruộng  
Bảng 4. Kết quả Eh, pH, SO42- trung bình của công thức  
thí nghiệm đồng ruộng trong hai vụ  
2-  
Eh  
(mV)  
-230  
SO4  
Độ lệch chuẩn  
Hệ số tương  
quan pearson r  
0,92  
Thời kì  
(1) Đổ ải  
(2) Bén rễ hồi xanh  
(10 ngày sau cấy)  
pH  
(mg/100g đất)  
10,86  
(σ)  
0,01  
6,54  
6,43  
-239  
11,01  
0,01  
0,89  
(3) Đẻ nhánh (25 ngày)  
(4) Làm đòng (40 ngày)  
(5) Trỗ (60 ngày)  
-245  
-253  
-260  
6,35  
6,28  
6,22  
10,79  
10,27  
10,31  
0,02  
0,01  
0,01  
0,90  
0,87  
0,85  
Các kết quả Eh, pH, SO42- trung bình của công thức thí nghiệm đồng ruộng trong 2 vụ được biểu  
diễn trên các đồ thị 2a và 2b dưới đây.  
Hình 2a. Diễn biến thế pH và nồng độ SO42- của ruộng tưới ngập.  
Hình 2b. Diễn biến thế Eh trong ruộng tưới ngập.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
6
2-  
Diễn biến của Eh, pH và hàm lượng SO4  
trong đất ruộng ngập nước đều có xu hướng  
tưới – Srửa trôi – Scây hấp thụ  
.
Khi ruộng luôn ở trong trạng thái ngập nước,  
giảm dần. Cụ thể là tại thời kì đổ ải, các giá trị đất sẽ thiếu hụt S dễ tiêu. Nếu bổ sung S dễ tiêu  
2-  
Eh, pH và [SO4 ] lần lượt là: -230mV; 6,55; thông qua phân bón thì chỉ một phần được lúa  
10,86 ± 0,01mg/100g. Thời kì bén rễ hồi xanh hấp thụ, còn lại bị rửa trôi hoặc chuyển thành  
2-  
(sau 1 tuần) Eh, pH, [SO4 ] xác định được các dạng độc tố cho lúa. Vì vậy, có thời gian rút  
tương ứng là: -239mV; 6,43 và 11,01 ± nước phơi ruộng sẽ hạn chế được môi trường  
2-  
0,01mg/100g. Hàm lượng SO4 tăng lên khử, giảm phát thải khí nhà kính CH4, giảm bớt  
0,15mg/100g so với diễn biến công thức trong độc tố gây hại mà lại tăng hàm lượng dinh  
phòng do thời điểm này ruộng vừa được bón lót dưỡng S dễ tiêu cho đất lúa.  
và bón thúc lần một.  
4. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu được thực hiện cả thí nghiệm  
2-  
Sau 25 ngày ngập nước, hàm lượng SO4  
giảm xuống mức 10,79 ± 0,02mg/100g; so với trong phòng và thí nghiệm đồng ruộng trong suốt  
2-  
công thức trong phòng thì lượng SO4 ở mức 2 vụ lúa Đông xuân và Hè thu 2015, trên vùng  
thấp hơn. Sở dĩ có sự chênh lệch với thí nghiệm canh tác lúa đất phù sa sông Hồng trung tính  
2-  
trong phòng là do cây lúa tiêu thụ SO4 và đất vùng Tiên Lữ, Hưng Yên. Kết quả nghiên cứu  
ruộng còn bị chi phối bởi các điều kiện khác cho thấy, nếu đất ngập nước thường xuyên sẽ  
như: phân bón, nước tưới, rửa trôi, sự vận làm cho thế oxi hóa khử giảm mạnh, làm suy  
chuyển oxi vào trong đất của rễ lúa... Đến thời giảm hàm lượng dinh dưỡng lưu huỳnh dễ tiêu  
kì trỗ bông, thế Eh giảm xuống mức -230mV; trong đất canh tác, hạn chế nguồn cung cấp lưu  
2-  
pH = 6,22; [SO4 ] = 10,31 ± 0,01mg/100g.  
huỳnh cho cây lúa. Thời gian ngập nước càng lâu  
Xu hướng giảm dần của các giá trị Eh, pH và thì môi trường khử càng gia tăng dẫn đến nguy cơ  
2-  
[SO4 ] cả ở công thức trong phòng và công thức giảm lưu huỳnh dễ tiêu càng thể hiện rõ và càng  
đồng ruộng cho thấy đất lúa ngập nước tạo môi làm tăng các độc tố H2S, HS-, S2-, CH3SH... trong  
trường yếm khí, tăng độ chua và giảm nguồn đất hạn chế sinh trưởng và năng suất lúa. Kỹ thuật  
dinh dưỡng S dễ tiêu. Theo định luật bảo toàn tưới làm giảm lớp nước mặt ruộng, tạo điều kiện  
khối lượng, khi tổng lượng S trong đất không cho mặt ruộng có thời gian thoáng khí sẽ không  
2-  
thay đổi, nếu hàm lượng SO4 giảm thì hàm chỉ tiết kiệm nước, hạn chế phát thải khí nhà kính  
lượng các độc tố H2S, HS-, S2-, CH3SH (methyl mà còn cải thiện điều kiện dinh dưỡng đất, bảo vệ  
captan)... sẽ tăng lên. Trong đất ruộng trồng lúa, môi trường đất lúa, góp phần giảm thiểu tác động  
tổng S = Stổng trong đất + S phân bón+ rơm rạ vụ cũ + Snước biến đổi khí hậu toàn cầu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Lê Văn Khoa, (2005) “Đất ngập nước”, NXB Giáo dục.  
Shouichi Yoshida & M.R. Chaudhry (1979). “Sulfur nutrition of rice”, Soil Science and Plant  
Nutrition, 25(1), 121-134.  
International rice resarch institute (1985). “Wetland soils: Characterization, classification, and  
utilization”.  
F.N. Ponnamperuma (1985), “Chemical kinetics of wetland rice soils relative to soil fertility”,  
Wetland soils: characterization, classification, and utilization (workshop of The International Rice  
Research Institute, 1985).  
Số liệu khí tượng thủy văn (2015), Trạm Thủy Văn Thường Tín, Hà Nội.  
Võ Minh Kha (1980), “Bảo vệ và nâng cao độ màu mỡ đất phù sa sông Hồng”, Tuyển tập công  
trình nghiên cứu khoa học, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
7
Abstract:  
INFLUENCE OF FLOOD IRRIGATION ON DIGESTIBLE SULFUR  
IN THE RED RIVER DELTA PADDY SOIL  
Among the essential elements, sulfur is very much beneficial for increasing the production of rice.  
Recently, sulfur deficiencies in rice fields have been reported in different areas of Viet Nam  
reducing rice production and quality. Sulphur deficiency mainly arises under water-logged rice  
cultivation land. Sulfur is a sulfide form under anoxic conditions in submerged paddy soils. Free  
hydrogen sulphide is generated and inhibits the rice root growth in paddy soils. The experiments  
were laid out on paddy soil in Tien Lu, Hung Yen district during cultivated seasons of 2015. The  
soil was silt loam having pH 6.5÷6.9, organic matter 1.1%, available S 11.53mg/100g soil. The  
experiments are carried under continuous water- logged condition (flood irrigation) with water  
level of 7÷10cm from field surface. The results reveal a reduced redox potential under water-  
logged condition (30÷50mV) and a reduction of soil digestible sulfur (0.31÷0.58 mg/100g soil) that  
limits sulfur nutrient source for rice. A more serious sulfur nutrient deficiency might occur due to  
anoxic conditions in submerged paddy soils by longer time. Soil toxics including H2S, HS-, S2-  
generated have negative effects on rice yield and growth.  
Keywords: Flood irrigation, nutrition, redox potential, sulphate, digestible sulfur  
BBT nhận bài: 09/3/2016  
Phản biện xong: 08/4/2016  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
8
pdf 6 trang yennguyen 16140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của tưới ngập đến hàm lượng lưu huỳnh dễ tiêu trong đất lúa vùng đồng bằng sông Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_tuoi_ngap_den_ham_luong_luu_huynh_de_tieu_tron.pdf