U xơ tử cung ký sinh vào phúc mạc thành bụng sau phẫu thuật nội soi bóc u xơ tử cung có dùng máy nghiền bệnh phẩm

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
U XƠ TỬ CUNG KÝ SINH VÀO PHÚC MẠC THÀNH BỤNG SAU  
PHẪU THUẬT NỘI SOI BÓC U XƠ TỬ CUNG CÓ DÙNG  
MÁY NGHIỀN BỆNH PHẨM  
Đặng Thị Hồng Thiện, Ngô Toàn Anh, Nguyễn Bảo Giang  
Bệnh viện Phụ sản Trung ương  
U xơ tử cung ký sinh vào phúc mạc thành bụng là bệnh lý hiếm gặp khi phát hiện nhiều khối u tế bào  
cơ trơn nằm rải rác trong khoang bụng. Đây là bệnh lý ít gặp. Chúng tôi xin báo cáo một ca bệnh U xơ tử  
cung ký sinh vào phúc mạc thành bụng xảy ra sau phẫu thuật nội soi bóc u xơ tử cung. Bệnh nhân 42 tuổi,  
có 2 con. Năm 2015 được mổ nội soi bóc u xơ tử cung. Năm 2020 đi khám bệnh vì đau bụng hạ vị. Siêu  
âm và chụp cộng hưởng từ tiểu khung nghĩ tới u xơ tử cung tái phát. Bệnh nhân được chỉ định mổ cắt tử  
cung. Mở bụng thấy tử cung bình thường, sát sừng trái tử cung dính vào thành bụng ở vị trí chọc trocart cũ  
có vài nhân xơ nhỏ 1-2cm. Trong bụng có nhiều khối u không liên tục với tử cung ở các vị trí sau phúc mạc  
thành bụng sát trực tràng và trước bàng quang. Kết quả giải phẫu bệnh là các khối u cơ nhẵn lành tính. Đây  
là một trường hợp được nhận định là u xơ ký sinh ở phúc mạc thành bụng sau phẫu thuật nội soi bóc u xơ  
tử cung có lấy bệnh phẩm bằng máy nghiền. Trường hợp này hiếm gặp. Khi lấy u xơ khỏi bụng bằng máy  
nghiền, những mảnh nhỏ của khối u đã phát tán ra ổ phúc mạc, ký sinh dưới phúc mạc thành bụng và phát  
triển thành những khối u to, được phát hiện sau 65 tháng. Khối u xơ tử cung ký sinh vào phúc mạc thành  
bụng thường phát triển không có triệu chứng. Sau phẫu thuật nội soi bóc u có sử dụng máy nghiền bệnh  
phẩm, khuyến cáo bệnh nhân phải khám phụ khoa định kỳ trong thời gian dài để phát hiện sớm bệnh lý này.  
Từ khóa: U xơ tử cung, u xơ tử cung ký sinh vào phúc mạc thành bụng, phẫu thuật nội soi bóc u xơ  
tử cung, máy nghiền bệnh phẩm.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
U xơ tử cung ký sinh vào phúc mạc thành  
bụng là một bệnh lý hiếm gặp và được mô tả lần  
đầu tiên bởi Willson and Peale vào năm 1952.1  
Cho đến hiện tại, trong y văn chỉ mô tả được  
khoảng hơn 200 ca bệnh và ở dưới dạng báo  
cáo các ca bệnh riêng biệt do tỷ lệ hiện mắc và  
tỷ lệ mới mắc rất thấp. Nghiên cứu tổng hợp lớn  
nhất là của tác giả Lete và cộng sự được thực  
hiện tại Tây Ban Nha tổng kết điều trị 274 bệnh  
nhân trong 103 nghiên cứu.2 Tuy nhiên, chưa  
có kết luận chính xác về cơ chế bệnh sinh của  
u xơ tử cung ký sinh vào phúc mạc cũng như  
cách thức điều trị có hiệu quả với bệnh lý này.  
U xơ tử cung ký sinh vào phúc mạc thành bụng  
thường không có triệu chứng lâm sàng. Triệu  
chứng thực thể thường không rõ ràng vì khối u  
có thể phát triển ở những vị trí khó có thể thăm  
khám tới mà chỉ có thể phát hiện bằng siêu âm  
hoặc chụp cộng hưởng từ.2 Các thức điều trị  
thường là phẫu thuật bóc u và gửi kết quả giải  
phẫu bệnh là khối u cơ trơn giống với u xơ tử  
cung thì chẩn đoán là u xơ tử cung ký sinh.  
Phẫu thuật nội soi bóc u xơ tử cung sử dụng  
máy nghiền khối u (Morcellator) để cắt nhỏ  
bệnh phẩm và lấy khối u ra khỏi bụng là một  
giải pháp tiên tiến giúp phẫu thuật nội soi bóc  
u xơ thành công với can thiệp tối thiểu vào ổ  
Tác giả liên hệ: Ngô Toàn Anh  
Bệnh viện Phụ sản Trung ương  
Ngày nhận: 25/03/2021  
Ngày được chấp nhận: 12/04/2021  
188  
TCNCYH 140 (4) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
bụng.3 Gần đây, nhiều trường hợp báo cáo ca  
bệnh đều sử dụng biện pháp này để lấy khối u  
ra khỏi cơ thể người bệnh và ca bệnh có khối u  
kích thước lớn nhất 34 cm được phẫu thuật nội  
soi do tác giả Yoshino và cộng sự báo cáo năm  
2020.4 Tuy nhiên, việc sử dụng máy nghiền khối  
u này có nguy cơ làm phát tán những mảnh  
mô của khối u vào ổ bụng, những mảnh mô  
này có thể ký sinh vào phúc mạc thành bụng  
và phát triển thành các khối u xơ trong ổ bụng.  
Dưới đây chúng tôi xin được trình bày ca u xơ  
tử cung ký sinh vào phúc mạc thành bụng được  
mổ bằng phương pháp phẫu thuật nội soi có sử  
dụng máy nghiền bệnh phẩm.  
II. GIỚI THIỆU CA BỆNH  
Bệnh nhân V.T.T.H sinh năm 1978 có tiền sử 2 lần sinh thường, con khỏe mạnh. Tiền sử bản  
thân khỏe mạnh. Tháng 3 năm 2015 bệnh nhân đi khám phụ khoa vì rối loạn kinh nguyệt và được  
chẩn đoán.U xơ cơ tử cung kích thước 8cm ở vùng đáy tử cung. Chị H được phẫu thuật bóc u xơ tử  
cung bằng phẫu thuật nội soi, có dùng morcellator để lấy bệnh phẩm tại khoa Phụ ngoại, bệnh viện  
Phụ sản Trung ương. Kết quả giải phẫu bệnh lý là u cơ nhẵn typ gian tế bào (cellular leiomyoma).  
Tháng 8 năm 2020 chị H có đi khám phụ khoa vì đau bụng hạ vị, kinh nguyệt vẫn bình thường.  
Khám thấy ở hạ vị là khối u to nhiều thùy. Siêu âm thấy tử cung to, thành sau tử cung gần cùng đồ  
có khối u đặc kích thước 11x9,5cm. Trên phim cộng hưởng từ tiểu khung cho thấy nhiều khối u xơ  
dưới thanh mạc gây biến dạng hình thái tử cung.  
Hình 1. Kết quả phim chụp MRI tiểu khung của bệnh nhân H.  
TCNCYH 140 (4) - 2021  
189  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bệnh nhân được phẫu thuật mở bụng cắt tử cung tại khoa Phẫu thuật và Gây mê hồi sức, Bệnh  
viện Phụ sản Trung ương. Khi phẫu thuật thấy: tử cung kích thước bình thường, dính vào thành  
bụng trái chỗ chọc trocart cũ, có vài nhân xơ nhỏ 1-2cm ở vị trí này.  
(1); Bên trái tử cung có nhân xơ dưới thanh mạc kích thước 8x6cm.  
(2); phía sau tử cung không liên tục với tử cung, sát trực tràng có khối u nhiều thùy kích thước  
12x15cm.  
(3); thành bụng trước phía trên bàng quang có một khối u kích thước 6x5cm cách xa tử cung.  
(4); Bệnh nhân được cắt tử cung hoàn toàn kèm các nhân xơ tử cung bên trái. Sau khi cắt tử  
cung, kiểm tra khối u ở sát trực tràng và trên bàng quang không có liên quan về giải phẫu với tử  
cung. Mở phúc mạc thành bụng bóc các khối u. Kết quả giải phẫu bệnh của các khối u là u cơ  
nhẵn lành tính.  
3
2
1
4
Hình 2. Hình ảnh khối u sau phẫu thuật.  
III. BÀN LUẬN  
gốc từ u xơ tử cung phát tán trong ổ bụng và  
cấy vào phúc mạc thành bụng, buồng trứng và  
mặt trước đại trực tràng.1  
Đây là một trường hợp được nhận định là  
u xơ ký sinh ở phúc mạc thành bụng sau phẫu  
thuật nội soi bóc u xơ tử cung có lấy bệnh  
phẩm bằng máy nghiền. Trường hợp này hiếm  
gặp. Khi lấy u xơ khỏi bụng bằng máy nghiền,  
những mảnh nhỏ của khối u đã phát tán ra ổ  
phúc mạc, ký sinh dưới phúc mạc thành bụng  
và phát triển thành những khối u to, được phát  
hiện sau 65 tháng. Có hai vị trí u xơ đã làm tổ  
và phát triển dưới phúc mạc cách xa tử cung là  
vị trí trước trực tràng và trên bàng quang. Kết  
quả xét nghiệm giải phẫu bệnh lý của các khối  
u này là u cơ nhẵn lành tính.  
Theo phân tích tổng hợp của Darii và cộng  
sự, kích thước của các khối u xơ tử cung mắc  
phải do bệnh nhân có tiền sử mổ nội soi cắt u  
xơ tử cung thường nhỏ hơn 10 cm.5 Ca bệnh  
của chúng tôi có kích thước khối u lớn nhất là  
15cm. Y văn còn ghi nhận những ca bệnh có  
kích thước u xơ lên đến trên 30 cm.4,6 Những  
ca bệnh trên có kích thước u xơ tử cung rất  
lớn có thể do những nguyên nhân sau:  
(1) bệnh nhân không cảm nhận được bất  
thường trong thời gian dài (112 tháng),  
U xơ ký sinh ở phúc mạc thành bụng là  
bệnh cảnh được báo cáo lần đầu tiên từ năm  
1952 với phát hiện tổn thương lành tính nguồn  
(2) khối u nằm gần những mạch máu lớn.  
Dễ dàng nhận thấy rằng trong báo cáo này, khối  
190  
TCNCYH 140 (4) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
u lớn nhất có nhiều thuỳ kích thước 12x15cm  
nằm ở vị trí sát trực tràng có nhiều mạch máu  
nuôi dưỡng nên kích thước lớn hơn các khối  
u khác nằm ở dưới thanh mạc và thành bụng  
trước. Nghiên cứu của Dashraath ghi nhận khối  
u lớn có kích thước 30x30x25cm được các  
mạch máu của mạc nối lớn nuôi dưỡng dẫn  
đến việc gia tăng kích thước khối u rất nhanh.7  
ổ bụng như ở mặt trước trực tràng, phía trên  
bàng quang, và các khối u này cách xa vị trí tử  
cung; kết quả giải phẫu bệnh của các khối u là  
u cơ nhẵn lành tính. Những khối u như thế này  
thường âm thầm phát triển thậm chí là không  
có triệu chứng rõ ràng kể cả khi khối u đã có  
kích thước đáng kể. Do đó, chúng tôi khuyến  
cáo các phẫu thuật viên sau khi thực hiện phẫu  
thuật cho bệnh nhân thì nên hẹn bệnh nhân  
khám lại định kỳ trong thời gian dài ít nhất là 5  
năm sau. Việc chỉ định cho bệnh nhân làm các  
phương pháp chẩn đoán hình ảnh vùng tiểu  
khung và ổ bụng như siêu âm, CT hoặc MRI là  
bắt buộc vào mỗi lần thăm khám vì khối u xơ to  
thường phát triển ở nền dây chằng rộng.6  
Một nghiên cứu ở bệnh viện đại học Trịnh  
Châu Trung Quốc từ năm 2012 đến năm 2016  
có 10 bệnh nhân được chẩn đoán U xơ tử cung  
ký sinh vào phúc mạc thành bụng sau phẫu  
thuật nội soi bóc u xơ tử cung có dùng máy  
nghiền bệnh phẩm.8 Trong đó có 2 trường hợp  
đi khám vì đau bụng hạ vị, 8 trường hợp được  
chẩn đoán khi đi khám phụ khoa. Thời gian từ  
lần mổ trước đến lần phát hiện u là 1,3 đến  
8,1 năm. Các khối u ký sinh ở nhiều vị trí khác  
nhau trong ổ bụng, trong đó cả 10 ca đều có  
khối u ở vùng túi cùng Douglas. Giải pháp điều  
trị là phẫu thuật lấy u và các ca đều có tiên  
lượng tốt. Trường hợp ca bệnh của chúng tôi  
cũng trong bệnh cảnh tương tự: có tiền sử mổ  
nội soi bóc u xơ tử cung trước đó 65 tháng;  
trong phẫu thuật có dùng máy nghiền bệnh  
phẩm để làm nhỏ bệnh phẩm và lấy ra khỏi  
ổ bụng; người bệnh được phát hiện ra khối u  
ký sinh phúc mạc thành bụng vì triệu chứng  
đau bụng hạ vị.Năm 2016, Lu B và cộng sự ở  
Australia báo cáo một nghiên cứu trên 6 bệnh  
nhân bị u xơ ký sinh ở phúc mạc thành bụng  
sau phẫu thuật nội soi bóc u xơ tử cung có  
lấy bệnh phẩm bằng máy nghiền 39 đến 132  
tháng trước đó3. Các khối u ký sinh ở nhiều  
vị trí trong ổ bụng, kích thước từ 1 đến 6cm.  
Các bệnh nhân được phẫu thuật lấy bỏ các  
khối u và kết quả giải phẫu bệnh lý của các u  
ký sinh này là lành tính. Ca bệnh trong nghiên  
cứu phát hiện ra khối u trong 65 tháng và trong  
suốt thời gian đó bệnh nhân không phát hiện  
bất cứ dấu hiệu nào của khối u. Ca bệnh của  
chúng tôi cũng thấy u cấy ở nhiều vị trí trong  
Tác giả Lete I và cộng sự đã truy xuất tóm  
tắt của 756 bài báo từ PubMed, Embase và  
Google Scholar với các từ khóa là u xơ tử  
cung, bóc u xơ tử cung qua phẫu thuật nội soi  
hoặc mở bụng, cắt tử cung, khối u ký sinh trong  
ổ phúc mạc. Trong số đó có các bài báo về u  
xơ tử cung ký sinh. Họ đã chỉ ra bệnh u xơ tử  
cung ký sinh ổ bụng đã được mô tả sớm từ  
năm 1909. Những năm gần đây, do chỉ định  
phẫu thuật nội soi và lấy bệnh phẩm bằng máy  
nghiền nên bệnh lý này được báo cáo nhiều  
hơn. Tổng số có 274 bệnh nhân được chẩn  
đoán u xơ tử cung ký sinh, trong đó có 106  
người (39%) có tiền sử được phẫu thuật dùng  
máy nghiền để lấy bệnh phẩm.2  
Chẩn đoán bệnh u xơ ký sinh ở phúc mạc  
thành bụng sau phẫu thuật nội soi bóc u xơ  
tử cung vẫn là một thách thức với y học ngày  
nay vì người bệnh không có triệu chứng hoặc  
có các triệu chứng mơ hồ như đau bụng, ra  
máu âm đạo bất thường. Trường hợp này còn  
tử cung thì trước phẫu thuật không có căn cứ  
nào gợi ý cho bác sĩ nghĩ đến tình huống u xơ  
ký sinh vào phúc mạc, mà với kết quả siêu âm  
và chụp cộng hưởng từ chỉ giúp cho các bác sĩ  
đặt ra chẩn đoán u xơ tử cung tái phát. Tác giả  
Yang Lei MD và cộng sự đã báo cáo ba trường  
TCNCYH 140 (4) - 2021  
191  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
hợp được chẩn đoán u xơ tử cung ký sinh vào  
phúc mạc thành bụng (năm 2020) trong đó cả  
ba ca có tiền sử phẫu thuật nội soi bóc u xơ  
tử cung có dùng máy nghiền bệnh phẩm, sau  
đó đi khám định kỳ phát hiện khối u, các triệu  
chứng lâm sàng mơ hồ như đau bụng, tương  
tự ca bệnh của chúng tôi báo cáo ở đây.9 Với  
những bệnh nhân khám thấy có khối u ở tiểu  
khung và có tiền sử phẫu thuật bóc u xơ nội  
soi thì u xơ ký sinh vào phúc mạc thành bụng  
có thể được coi là một chẩn đoán phân biệt  
và nên thực hiện phẫu thuật cắt bỏ khối u dù  
có nghi ngờ ác tính hay không. Thậm chí với  
những khối u có kích thước rất lớn, phẫu thuật  
cắt bỏ u thường không làm tổn thương đến  
các cơ quan khác.4,6 Tuy nhiên, phẫu thuật  
viên vẫn cần tư vấn kỹ về khả năng phải cắt  
bỏ nếu nghi ngờ có di căn sang các bộ phận  
quanh vùng tiểu khung.  
phẩm đặt trong một túi nhựa cho 4 bệnh nhân  
được chẩn đoán sarcoma tử cung và thời gian  
trung bình để nghiền bệnh phẩm là 48 phút,  
không có biến chứng của phẫu thuật.11  
Khuyến cáo các phẫu thuật viên đối với mổ  
nội soi bóc u xơ tử cung và lấy bệnh phẩm  
bằng Morcellator thì ngay khi lấy khối u ra khỏi  
ổ bụng cần soi lại để quan sát toàn bộ ổ bụng  
để tránh bỏ sót bệnh phẩm, đổi vị trí camera  
để quan sát chân lỗ trocart trước khi rút vừa  
kiểm tra chảy máu vừa tránh sót mảnh khối u  
ở chân trocart để tránh biến chứng hiếm gặp  
này cho bệnh nhân.  
IV. KẾT LUẬN  
U xơ tử cung ký sinh vào phúc mạc thành  
bụng là một bệnh lý lành tính nhưng hiếm gặp.  
Phẫu thuật nội soi bóc u xơ tử cung với lấy  
bệnh phẩm bằng máy nghiền có nguy cơ làm u  
phát tán và ký sinh vào phúc mạc thành bụng.  
Kỹ thuật nội soi bóc u xơ tử cung và lấy  
bệnh phẩm bằng máy nghiền đem lại nhiều lợi  
ích cho người bệnh như xâm lấn tối thiểu, thời  
gian nằm viện ngắn, hồi phục sức khỏe nhanh  
hơn. Nhược điểm của phẫu thuật này là thời  
gian phẫu thuật dài hơn, lượng máu mất nhiều  
hơn, tăng nguy cơ tái phát, tăng nguy cơ vỡ tử  
cung khi có thai. Một nguy cơ nữa mà ngày nay  
rải rác có những báo cáo ca bệnh là khả năng  
lan tràn tế bào u trong ổ bụng khi dùng máy  
nghiền bệnh phẩm, sau đó những tế bào này  
ký sinh ở phúc mạc và phát triển thành khối u.  
Để giảm thiểu tai biến u xơ tái phát do những  
mảnh u nhỏ phát tán trong quá trình nghiền u  
và lấy bệnh phẩm người ta đã đưa ra giải pháp  
là nghiền u trong một cái túi chuyên dụng (In-  
bag morcellation).10 Năm 2014, US Food and  
Drug Administration đã đưa ra khuyến cáo các  
nhà khoa học về nguy cơ phát tán u sarcoma  
tử cung do phẫu thuật nội soi bóc u xơ tử cung  
và lấy bệnh phẩm bằng máy nghiền. Họ đã ứng  
dụng một kỹ thuật mới dùng máy nghiền bệnh  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Willson JR, Peale AR. Multiple Peritoneal  
Leiomyomas Associated with a Granulosa-Cell  
Tumor of the Ovary**Presented at a meeting of the  
Philadelphia Obstetrical Society, Jan. 3, 1952. Am  
J Obstet Gynecol. 1952;64(1):204-208. doi:https://  
doi.org/10.1016/S0002-9378(16)38757-9.  
2. Lete I, González J, Ugarte L, Barbadillo N,  
LapuenteO, Álvarez-SalaJ. Parasiticleiomyomas:  
a systematic review. Eur J Obstet Gynecol  
org/10.1016/j.ejogrb.2016.05.025.  
3. Lu B, Xu J, Pan Z. Iatrogenic parasitic  
leiomyoma and leiomyomatosis peritonealis  
disseminata following uterine morcellation. J  
Obstet Gynaecol Res. 2016;42(8):990-999.  
4.Yoshino Y, Yoshiki N, Nakamura R, Iwahara  
Y, Ishikawa T, Miyasaka N. Large leiomyomatosis  
peritonealis disseminata after laparoscopic  
192  
TCNCYH 140 (4) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
after laparoscopic uterine  
myomectomy: A case report with literature review.  
Int J Surg Case Rep. 2020;77:866-869. doi:https://  
doi.org/10.1016/j.ijscr.2020.12.005.  
disseminate  
myomectomy in ten cases]. Zhonghua Fu Chan  
Ke Za Zhi. 2017;52(8):533—538. doi:10.3760/  
cma.j.issn.0529-567x.2017.08.006.  
5. Darii N, Anton E, Doroftei B, et al. Iatrogenic  
parasiticmyomaandiatrogenicadenomyomaafter  
laparoscopic morcellation: A mini-review. J Adv  
jare.2019.04.004.  
9. Yang L, Liu N, Liu Y. Leiomyomatosis  
peritonealis disseminata: Three case reports.  
Medicine (Baltimore). 2020;99(41). https://  
journals.lww.com/md-journal/Fulltext/2020/10090/  
Leiomyomatosis_peritonealis_disseminata__  
Three.70.aspx.  
6. Kumar S, Sharma JB, Verma D, Gupta P,  
Roy KK, Malhotra N. Disseminated peritoneal  
leiomyomatosis: an unusual complication of  
laparoscopic myomectomy. Arch Gynecol  
10. Zapardiel I, Boria F, Halaska MJ, Santiago  
JD. Laparoscopic Power Morcellation: Techniques  
to Avoid Tumoral Spread. J Minim Invasive  
org/10.1016/j.jmig.2020.09.012.  
Obstet.  
2008;278(1):93-95.  
doi:10.1007/  
s00404-007-0536-9.  
7. Dashraath P, Lim LM, Huang Z, Ilancheran  
A. Parasitic leiomyoma. Am J Obstet Gynecol.  
11. Leal MA, Piñera A, Santiago J de,  
Zapardiel I. Novel Technique for Contained Power  
Morcellation through Umbilicus with Insufflated  
Bag. Gynecol Obstet Invest. 2016;82:205-207.  
2016;215(5):665.e1-665.e2.  
org/10.1016/j.ajog.2016.07.017  
8. Wang K, Guo R, Yuan Z, et al. [Clinical  
analysis of leiomyomatosis peritonealis  
Summary  
LEIOMYOMATOSIS PERITONEALIS DISSEMINATA (LPD) AFTER  
LAPAROSCOPIC MYOMECTOMY USING MORCELATOR  
Leiomyomatosis peritonealis disseminata (LPD) is an uncommon disease featured by the  
presence of multiple nodules of smooth muscle cells scattered in the abdominal cavity. We report  
a case of recurrent LPD after laparoscopic myomectomy. 42-year-old woman who had 2 children,  
were indicated for laparoscopic myomectomy surgery in 2015. In 2020, she went to her gynecologist  
complaining of abdominal pain. A MRI and ultrasound were performed and reported multiple pelvic  
masses, subsequently excised during laparotomy. The histological exam confirms LPD diagnosis.  
An exploratory laparotomy revealed nodules on the peritoneum, greater omentum and terminal  
ileum. We surgically removed all visible nodules. This is a rare condition which is uncommon in our  
routine practice. The reason is small pieces of nodules were scattered to the peritoneum during  
morcellation, then developed silently in size and diagnosed after 65 months. A large LPD is not  
always symptomatic. After a laparoscopic myomectomy, especially with power morcellation, long-  
term follow-up is necessary to detect LPD.  
Keywords: Leiomyoma, Leiomyomatosis peritonealis disseminata (LPD), Laparoscopic  
myomectomy, morcellator.  
TCNCYH 140 (4) - 2021  
193  
pdf 6 trang yennguyen 9480 Free
Bạn đang xem tài liệu "U xơ tử cung ký sinh vào phúc mạc thành bụng sau phẫu thuật nội soi bóc u xơ tử cung có dùng máy nghiền bệnh phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfu_xo_tu_cung_ky_sinh_vao_phuc_mac_thanh_bung_sau_phau_thuat.pdf