Tóm tắt Luận văn Ý thức pháp luật với việc thực hành dân chủ cơ sở ở tỉnh Quảng Nam hiện nay

1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Lịch sử phát triển dân chủ là lịch sử đấu tranh cho quyền  
sống, quyền mưu cầu tự do và hạnh phúc của con người, từng bước  
xây dựng một nền dân chủ theo lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng  
con người, đưa con người từ trói buộc đến tự do, từ nô lệ đến làm chủ,  
từ thụ động đến sáng tạo. Do đó, dân chủ là xu hướng, là khát vọng  
ngàn đời của con nguời. Dân chủ là động lực và mục tiêu của tiến bộ  
và phát triển. Đó không những là một lý tưởng cao đẹp của con  
người và loài người mà còn là con đường và phương thức phát triển  
của xã hội hiện đại.  
Ở Việt Nam, sau khi Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 30/CT-TƯ  
ngày 18/02/1998 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.  
Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã cụ thể hóa một bước chỉ thị này bằng  
các Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10, số 55/1998/NQ-  
UBQH10 và số 60/1998/NQ-UBTVQH10 về thực hiện dân chủ ở ba  
loại hình đơn vị cơ sở chủ yếu là đơn vị hành chính cấp cơ sở; các cơ  
quan nhà nước và các cơ sở kinh tế. Quốc hội khóa XIII đã ban hành  
Hiến pháp năm 2013 nhằm cụ thể Cương lĩnh xây dựng đất nước  
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó lần đầu tiên, một  
văn bản pháp lý cao nhất của nước ta quy định rõ ràng về việc kiểm  
soát quyền lực nhà nước: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự  
phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc  
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2). Kiểm  
soát quyền lực nhà nước là một tất yếu nhằm bảo đảm quyền lực nhà  
nước không vượt quá tầm kiểm soát của nhân dân, trở thành lực  
2
lượng đe dọa nhân dân - chủ sở hữu quyền lực nhà nước, xâm phạm  
đến quyền làm chủ và địa vị làm chủ của nhân dân.  
Tuy nhiên, bộ máy nhà nước hiện nay hoạt động còn kém hiệu  
quả, ý thức trách nhiệm của nhiều cán bộ công quyền chưa cao, nạn  
hách dịch, cửa quyền gây nhiều phiền hà và nhiều biểu hiện khác vi  
phạm quyền làm chủ của nhân dân, tệ quan liêu, nạn tham nhũng  
ngày càng nghiêm trọng và phức tạp. Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân  
dân làm chủ, Nhà nước quản lý vẫn chưa được thực hiện một cách  
nghiêm túc, phương châm "sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp  
luật" vẫn chưa đi vào cuộc sống, đời sống pháp luật thấp, ý thức  
pháp luật và dân chủ của nhân dân.  
Tình trạng này có nguyên nhân từ ý thức pháp luật thấp kém,  
pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa trở thành cái không  
thể thiếu khi điều chỉnh các quan hệ xã hội. Ý thức pháp luật của  
người dân còn nhiều hạn chế và bản thân hệ thống pháp luật chưa  
theo kịp sự phát triển của xã hội, mặt bằng dân trí thấp trình độ văn  
hóa pháp lý còn thấp kém.  
Ở Quảng Nam, từ khi tái lập tỉnh năm 1997 cho đến nay, việc  
triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở làm chuyển biến tích  
cực về nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, chính  
quyền, Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội về mở rộng dân chủ  
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên, việc xây dựng  
và thực hiện Quy chế dân chủ ở một số nơi vẫn còn bất cập, hình  
thức, không liên tục, hiệu quả chưa cao, chưa theo kịp đòi hỏi từ thực  
tiễn đặt ra. Từ những suy nghĩ trên, tôi chọn đề tài: "Ý thức pháp  
luật với việc thực hành dân chủ cơ sở ở tỉnh Quảng Nam hiện nay"  
3
làm chủ đề nghiên cứu luận văn Thạc sỹ khoa học Triết học của  
mình.  
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
2.1. Mục tiêu:  
Trên cơ sở làm rõ vai trò của ý thức pháp luật với việc thực  
hành dân chủ ở tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất những phương  
hướng và giải pháp để góp phần nâng cao ý thức pháp luật với việc  
thực hành dân chủ cơ sở ở tỉnh Quảng Nam thời gian tới.  
2.2. Nhiệm vụ:  
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn sẽ tập trung làm rõ:  
- Ý thức pháp luật và vai trò của nó trong quá trình thực hiện  
dân chủ ở nước ta hiện nay.  
- Khảo sát và phân tích ý thức pháp luật và những vấn đề đặt  
ra trong quá trình thực hiện dân chủ cơ sở ở tỉnh Quảng Nam.  
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp, khuyến nghị  
nâng cao ý thức pháp luật nhằm thực hiện dân chủ cơ sở ở tỉnh  
Quảng Nam thời gian tới.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Khái niệm về dân chủ rất rộng, do yêu cầu của luận văn,  
xin được đi sâu khía cạnh dân chủ là một hình thức nhà nước, nó có  
mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật.  
- Khái niệm ý thức pháp luật được hiểu rất rộng, kết cấu  
gồm: Hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Nội dung đề tài tập  
trung đi sâu một số khía cạnh tâm lý pháp luật: trình độ nhận thức  
am hiểu pháp luật, tình cảm thái độ chấp hành pháp luật của người  
dân.  
4
- Từ góc độ triết học, vấn đề ý thức pháp luật và dân chủ  
nghiên cứu thực hiện ở tỉnh Quảng Nam từ năm 1997 đến nay.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
4.1. Cơ sở lý luận  
- Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm cơ bản của chủ nghĩa  
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng  
sản Việt Nam trong các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.  
4.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Trên cơ sở phương pháp luận triết học mác xít, luận văn sử  
dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, hệ thống  
- cấu trúc, điều tra khảo sát, thống kê - so sánh trong nghiên cứu và  
trình bày.  
5. Bố cục đề tài  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo  
và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.  
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
Những nội dung liên quan đến vấn đề ý thức pháp luật, vấn  
đề dân chủ, đã được một số nhà nghiên cứu dưới những góc độ khác  
nhau. Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố  
dưới dạng đề tài khoa học, chuyên đề, khảo sát, luận án tiến sĩ, luận  
văn thạc sĩ và các bài đăng tải trên các tạp chí, sách báo. Các công  
trình nghiên cứu trên là cơ sở quý báu để tác giả luận văn đi vào  
nghiên cứu chủ đề này trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.  
5
CHƢƠNG 1  
Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP  
LUẬT TRONG XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XHCN  
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY  
1.1. Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SỰ  
PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI  
1.1.1. Ý thức pháp luật: quan niệm và kết cấu  
1.1.1.1. Một số quan niệm về ý thức pháp luật  
Quan niệm về ý thức pháp luật có nhiều điểm khác nhau, khi  
nó được nghiên cứu dưới những góc độ, những cách tiếp cận khác  
nhau của những ngành khoa học khác nhau, như triết học, luật học  
hay xã hội học pháp luật.  
Từ góc độ triết học, ý thức pháp luật được hiểu là một trong  
những hình thái của ý thức xã hội (ý thức chính trị, ý thức pháp  
quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo, ý thức xã  
hội). Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, ra đời từ  
thực tiễn đời sống xã hội và phản ánh tồn tại xã hội. Ý thức xã hội  
xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, phản ánh trực tiếp các  
quan hệ kinh tế - xã hội, mà trước hết, là những quan hệ sản xuất  
được thể hiện trong các luật lệ nhà nước. Ý thức pháp luật xuất hiện  
cùng với sự xuất hiện của pháp luật, nó là sản phẩm của quá trình  
phát triển xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các hệ tư tưởng, quan  
điểm, quan niệm trong xã hội.  
1.1.1.2. Kết cấu của ý thức pháp luật  
Ý thức pháp luật là cơ sở hình thành văn hóa pháp lý của chủ  
thể pháp luật, giúp cho chủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng cơ  
chế điều chỉnh pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho  
6
bản thân mình, cho Nhà nước và cho xã hội, nhằm xử sự đúng đắn và  
phù hợp trong các mối quan hệ. Ý thức pháp luật được tạo nên bởi hệ  
tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.  
1.1.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội  
1.1.2.1. Ý thức pháp luật với sự tồn tại và phát triển của xã  
hội  
Thứ nhất, ý thức pháp luật trong đời sống kinh tế: Ý thức  
pháp luật góp phần thúc đẩy đời sống kinh tế phát triển. Bởi ý thức  
pháp luật là tiền đề trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống  
pháp luật nhà nước. Đồng thời pháp luật là công cụ pháp lý kinh tế  
của đất nước thông qua việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch  
phát triển thành hệ thống quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý  
cho các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả.  
Thứ hai, ý thức pháp luật trong đời sống chính trị: Giữ vị trí  
quan trọng là bộ phận ý thức xã hội chủ đạo trong hệ thống ý thức xã  
hội. Ý thức pháp luật giúp con người có khả năng nhận thức, đánh  
giá về đời sống pháp luật với các vấn đề như tình trạng pháp chế,  
công tác tổ chức áp dụng và thi hành pháp luật của các cơ quan nhà  
nước, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của cá nhân,  
sự công bằng trong việc áp dụng pháp luật đối với các cơ quan tổ  
chức xã hội.  
Thứ ba, ý thức pháp luật trong đời sống văn hóa – tư tưởng:  
Những quan điểm tư tưởng pháp luật tiến bộ, khoa học góp phần  
củng cố, phát huy nhân tố tích cực ở các hình thái ý thức xã hội khác,  
đồng thời khắc phục những quan niệm không phù hợp, ảnh hưởng  
xấu đến lợi ích của các giai cấp, đến đời sống của cộng đồng và tiến  
bộ xã hội. Ý thức pháp luật là cơ sở văn hóa của con người khi con  
7
người có ý thức tôn trọng nhau thông qua việc nghiêm chỉnh chấp  
hành, tuân thủ pháp luật.  
1.1.2.2. Ý thức pháp luật với sự hình thành nhân cách con  
người  
Nhân cách là những phẩm chất mang tính đặc trưng của mỗi  
cá nhân được biểu hiện ra bên ngoài thông qua những hành vi cụ thể  
của chủ thể. Bởi con người luôn luôn tự chủ và ý thức được hành  
động của mình, và mỗi một hành vi của con người khi tham gia vào  
đời sống thực tiễn đều thể hiện quy mô và năng lực tư duy của mình.  
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách là một quá trình lâu dài,  
đầy biến động phức tạp của con người. Nhân cách chính là thước đo  
của quá trình nhận thức của con người khi hòa nhập vào cuộc sống  
cộng đồng. Trong quá trình đó, ý thức pháp luật có tác dụng điều  
chỉnh hành vi con người thông qua yếu tố tư tưởng, tâm lý. Bởi hành  
vi pháp lý của con người bao giờ cũng cần đến tư duy nhận thức và  
xây dựng pháp luật.  
1.2. VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG XÂY  
DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA  
1.2.1. Nội dung cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa  
1.2.1.1. Khái niệm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa  
Dân chủ là một phạm trù chính trị - xã hội xuất hiện khá  
sớm trong nền văn minh nhân loại, gắn liền với tiến bộ xã hội và sự  
phát triển lịch sử qua các thời đại, các chế độ xã hội khác nhau, nó là  
một vấn đề rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.  
Trong luận văn này, tác giả đề cập tới dân chủ là một hiện  
thực toàn vẹn (hay nền dân chủ). Dân chủ được thể chế hoá thành  
chế độ dân chủ và chế độ dân chủ được thực hành trong đời sống xã  
8
hội thành nền nếp, thành lối sống, thành văn hóa... thì đó là nền dân  
chủ. Nghĩa là nói đến nền dân chủ là nói đến một cơ cấu xã hội với  
tư cách là một hệ thống, một chỉnh thể được vận hành theo quy trình,  
cơ chế và nguyên tắc khách quan nhất định. Từ việc xây dựng những  
quyền dân chủ đến thiết chế dân chủ, rồi đến nền dân chủ: Từ dân  
chủ trong chính trị đến dân chủ trong kinh tế, trong đời sống văn hóa  
xã hội: từ ý thức, khái niệm dân chủ đến năng lực làm chủ... là một  
quá trình lâu dài.  
1.2.1.2. Đặc trưng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa  
Theo chúng tôi, dân chủ XHCN có những đặc trưng cơ bản  
sau đây:  
1- Dân chủ XHCN là Nhà nước của nhân dân lao động,  
là quyền lực thực sự của nhân dân lao động  
2- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mà ở  
đó bản chất giai cấp và bản chất nhân loại thống nhất với nhau  
3- Nền dân chủ XHCN không đối lập tuyệt đối với dân  
chủ tư sản mà có sự kế thừa theo tinh thần phủ định biện chứng  
nền dân chủ tư sản hiện đại  
1.2.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình xây  
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa  
1.2.2.1. Vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng nền  
dân chủ  
Dân chủ không thể tách rời pháp luật, bởi vì pháp luật là  
công cụ hữu hiệu nhất điều chỉnh mọi quan hệ xã hội để cho nền dân  
chủ đó được tồn tại và phát triển. Để có được pháp luật tốt thì ý thức  
pháp luật phải ở trình độ cao, sự phản ánh đời sống pháp luật phải  
chân thực, có như vậy hệ thống pháp luật mới xây dựng theo hướng  
9
tích cực phù hợp với nền dân chủ chân chính của dân, do dân và vì  
dân. Ngược lại, hiện thực khách quan cũng có lúc bị phản ánh sai  
lệch không chân thực, chính vì thế, trong thực tiễn đã có những quy  
định pháp lý không phù hợp. Điều đó càng chứng tỏ vai trò to lớn  
của ý thức pháp luật trong việc đảm bảo quyền tự do dân chủ của  
công dân. Và ngày nay chúng ta đang thực hiện nền dân chủ XHCN  
thì ý thức pháp luật lại có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.  
1.2.2.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng nền  
dân chủ xã hội chủ nghĩa  
Vai trò của hệ tư tưởng pháp luật  
Quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN không thể tách rời  
pháp luật XHCN. Bởi vì, pháp luật XHCN là công cụ hữu hiệu nhất  
để cho nền dân chủ XHCN tồn tại và phát triển. Song pháp luật  
XHCN ra đời, tồn tại và phát triển thông qua ý thức pháp luật XHCN  
(trong đó hệ tư tưởng pháp luật giữ vị trí quyết định). Do đó, hệ tư  
tưởng pháp luật trong xã hội XHCN có vai trò vô cùng quan trọng  
trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN.  
Vai trò của tâm lý pháp luật  
Tâm lý pháp luật luôn giữ một vai trò quan trọng không thể  
thiếu được trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN. Hiện nay  
chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do  
dân và vì dân, trong Nhà nước ấy pháp luật thể hiện ý chí của nhân  
dân, là công cụ đảm bảo quyền tự do bình đẳng cho mọi người, pháp  
luật ấy thật sự có hiệu quả đi vào cuộc sống theo chiều hướng tích  
cực thì hiển nhiên không thể không tính đến vai trò của ý thức pháp  
luật trong đó có tâm lý pháp luật.  
10  
CHƢƠNG 2  
THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH  
QUẢNG NAM HIỆN NAY  
2.1. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN Ý THỨC PHÁP  
LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở  
TỈNH QUẢNG NAM  
2.1.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và truyền thống  
văn hóa của tỉnh Quảng Nam  
2.1.1.1. Điều kiện địa lý – tự nhiên:  
Quảng Nam được tái lập tỉnh năm 1997, là tỉnh ven biển miền  
Trung, nằm giữa trung độ cả nước, cách Hà Nội hơn 800 km về phía  
Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh hơn 900 km về phía Bắc, hội đủ  
các yếu tố tự nhiên về rừng núi, gò đồi, đồng bằng ven biển và hải  
đảo, với diện tích tự nhiên 10.438 km2.  
Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành  
phố, 1 thị xã và 15 huyện với 247 xã, phường, thị trấn. Tỉnh lỵ của  
Quảng Nam đặt tại thành phố Tam Kỳ. Có 02 di sản được UNESCO  
công nhận di sản văn hóa thế giới.  
2.1.1.2. Dân số và nguồn nhân lực  
Dân số Quảng Nam hiện nay là 1,5 triệu người, có lực lượng  
lao động dồi dào, với trên 887.000 người (chiếm 62% dân số toàn  
tỉnh), trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 61,57%, ngành  
công nghiệp và xây dựng là 16,48% và ngành dịch vụ là 21,95%.  
11  
2.1.1.3. Truyền thống lịch sử - văn hóa:  
Quảng Nam còn có bề dày truyền thống lịch sử - văn hoá, đó  
là sự đúc kết và phát triển liên tục của dòng chảy lịch sử dựng nước  
và giữ nước.  
Trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược,  
nhân dân Quảng Nam đã đi đầu, lập công ngay từ khi thực dân liên  
quân Pháp - Tây Ban Nha nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược nước ta ở  
Đà Nẵng (1-9-1858). Quảng Nam còn là địa phương sớm có tổ chức  
Đảng cộng sản hoạt động.  
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Nam “trung  
dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”, đã lập được nhiều chiến công và  
đóng góp những bài học kinh nghiệm đánh Mỹ giải phóng hoàn toàn  
miền Nam, thống nhất đất nước.  
2.1.1.4. Kinh tế  
Tỉnh Quảng Nam phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp trước  
năm 2020. Năm 2016, Tỉnh có cơ cấu kinh tế: Công nghiệp và dịch  
vụ chiếm 85%, Nông-Lâm-Ngư nghiệp 15%. Tỉnh có tốc độ tăng  
trưởng kinh tế cao, bình quân giai đoạn 2010-2015 là 16,3%. Quảng  
Nam có 13 khu công nghiệp, kinh tế mở (Khu kinh tế mở Chu Lai).  
2.1.2. Những nhân tố ảnh hƣởng đến ý thức pháp luật ở  
Quảng Nam  
2.1.1.1. Ảnh hưởng của lệ làng  
Nói đến Quảng Nam là nói đến vùng đất hội tụ và kết tinh  
của nhiều nền văn hóa khác nhau, mảnh đất có nhiều di tích văn hóa,  
lịch sử, nơi đã sản sinh ra nhiều thế hệ danh nhân; mảnh đất “Trung  
dũng kiên cường” giàu lòng yêu nước và truyền thống cách mạng.  
Miền núi Quảng Nam, địa bàn cư trú lâu đời của các tộc người thiểu  
12  
số như Cơ-tu, Cor (Koh), Gié-Triêng, Xê-đăng… nét đặc trưng trong  
văn hóa tộc người Cơ tu như Gươl, cồng chiêng, nói lý, hát lý… đến  
các nghi lễ, tập quán, nghệ thuật diễn xướng của đồng bào Cor,  
Cadong, Xêđăng... những giá trị văn hoá đặc sắc (phong tục, tập  
quán, lễ hội...) tạo ra một bức tranh sinh động, đa sắc về văn hóa phi  
vật thể đang hiện hữu trong đời sống của nhân dân các vùng, miền  
làm cho văn hóa Quảng Nam thêm phong phú và đa dạng. Nó không  
chỉ ẩn chứa những triết lí sâu xa về triết học, mà còn có ý nghĩa quan  
trọng trong hoạt động xây dựng pháp luật.  
2.1.1.2. Ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến Trung Quốc  
Quảng Nam, nơi giằng co qua lại mấy trăm năm trong quá  
trình Nam tiến của dân tộc; vùng đất chịu nhiều biến động, kinh qua  
các cuộc chiến tranh tranh giành, đô hộ của các thế lực ngoại bang,  
nơi giao thoa văn hóa giữa các nền văn minh khác nhau, với năm  
trăm năm đằng đẳng của lịch sử với biết bao thăng trầm. Và, tất  
nhiên không tránh khỏi sự ảnh hưởng của các tư tưởng phong kiến  
Trung Quốc trong bối lịch sử chung của dân tộc Việt Nam. Các yếu  
tố bên ngoài, kết hợp với văn hoá nội sinh bản địa, tạo ra những giá  
trị văn hoá vừa có cội nguồn từ nền văn hoá Việt Nam, vừa có sắc  
thái địa phương với những giá trị đặc trưng, từ văn hoá vật thể đến  
văn hoá phi vật thể, có ảnh hưởng đến văn hoá khu vực miền Trung  
và cả nước.  
2.1.1.3. Ảnh hưởng của tư tưởng thực dân  
Ý thức pháp luật của người dân Việt Nam nói chung và  
Quảng Nam nói riêng dưới thời Pháp thuộc nhìn chung là ý thức  
chống đối, phản kháng pháp luật của thực dân. Một mặt chống lại  
những quy định pháp luật phản động, thối nát, đi ngược lại lợi ích  
13  
của nhân dân, mặt khác ủng hộ đối với những đạo luật cơ bản tiến bộ  
và biết sử dụng nó, lợi dụng nó để đấu tranh cho lợi ích của dân tộc.  
Dưới thời Pháp thuộc thì người dân lại tiếp xúc nhiều với pháp luật  
tư sản, tuy về bản chất có tính phản động, song có tiến bộ ở kỹ thuật  
lập pháp, ở nội dung pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật, chính vì  
vậy nhận thức pháp luật được nâng lên, tư tưởng pháp luật cùng tâm  
lý pháp luật của họ có sự tiến bộ hơn.  
2.1.1.4. Ảnh hưởng của chiến tranh  
Quảng Nam là vùng đất “đầu sóng ngọn gió”, “phên dậu phía  
Nam” của Tổ quốc trong suốt thời kỳ mở cõi về phương Nam.  
Nguyễn Hoàng coi Quảng Nam là “đất yết hầu của miền Thuận  
Quảng”, là “đất dụng võ của kẻ anh hùng”. Năm 1602, Nguyễn  
Hoàng cho lập dinh trấn tại Thanh Chiêm.  
Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Quảng Nam là  
vùng trọng điểm, nhân dân các dân tộc chịu nhiều đau thương, hy  
sinh, mất mát, có hơn 65.000 liệt sĩ và nhiều người con ưu tú ở mọi  
miền đất nước đã ngã xuống trên đất Quảng Nam, toàn tỉnh đến nay  
đã có 11.234 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và hàng trăm tập thể, cá  
nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ  
trang nhân dân; hàng chục ngàn người là thương binh, bệnh binh, gia  
đình có công với cách mạng. Và với những đóng góp của mình,  
Quảng Nam được Trung ương khen tặng là quê hương “Trung dũng,  
kiên cường đi đầu diệt Mỹ”,  
2.1.1.5. Ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu, mệnh  
lệnh hành chính  
Trong giai đoạn quản lý xã hội bằng mệnh lệnh hành chính  
là chủ yếu, người dân thờ ơ, xa rời, thiếu tin tưởng vào pháp luật, bởi  
14  
vì pháp luật không phù hợp với thực tế cuộc sống của bản thân họ, ý  
thức tuân thủ pháp luật giai đoạn này có bước thụt lùi, dẫn đến tình  
trạng coi thường pháp luật. Nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp  
làm nảy sinh ý thức pháp luật yếu kém, sự thờ ơ với pháp luật, không  
coi trọng việc thực thi pháp luật.  
2.2. Ý THỨC PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG  
NAM  
2.2.1. Mặt tích cực: thực trạng và nguyên nhân  
Đối với tỉnh Quảng Nam, công tác chỉ đạo cho hoạt phổ  
biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân và đồng bào dân tộc thiểu số  
được thể hiện thông qua việc triển khai thực hiện Chương trình hành  
động của Tỉnh ủy và Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh. Tình hình  
tội phạm và tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh được kiềm chế, không để  
gia tăng, tỷ lệ điều tra khám phá án tăng, các loại án nghiêm trọng,  
đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận được  
điều tra, làm rõ và xử lý kịp thời, từ đó tạo niềm tin trong quần chúng  
Nhân dân, góp phần đảm bảo an ninh trật tự trong tình hình mới. Đặc  
biệt, vai trò lãnh đạo, điều hành của các cấp ủy Đảng, chính quyền và  
người đứng đầu các ngành, đoàn thể trong đấu tranh phòng, chống  
tội phạm ngày càng đi vào chiều sâu, thể hiện sự thống nhất trong chỉ  
đạo tổ chức thực hiện từ tỉnh đến cơ sở, phát huy tốt vai trò của từng  
tổ chức cơ sở Đảng, huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính  
trị, thay đổi một cách căn bản trong nhận thức, ý thức tuân thủ pháp  
luật và hành động của toàn xã hội, thể hiện rõ trách nhiệm của mọi  
cấp, mọi ngành và mọi người.  
2.2.2. Thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế, yếu  
kém  
15  
Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, mặt trái của cơ chế  
thị trường đã và đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với công  
tác đảm bảo an ninh, trật tự của tỉnh. Hoạt động xâm phạm an ninh  
quốc gia của các tổ chức chính trị phản động, đối tượng chính trị, cơ  
hội lợi dụng các vấn đề về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”,  
“tôn giáo”... diễn ra nhiều hơn và ngày càng phức tạp, khó lường.  
Chủ yếu vẫn là các hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng, xuyên  
tạc đường lối, chính sách của Đảng, tác động chia rẽ nội bộ; móc nối  
lôi kéo người tham gia các tổ chức phản động để phát triển lực  
lượng; tán phát tài liệu để tuyên truyền chiến tranh tâm lý, kích động  
chống Đảng, chống Nhà nước. Tình hình tranh chấp, khiếu kiện còn  
diễn ra nhiều; trong đó, có một số vụ khiếu kiện kéo dài, vượt cấp  
chưa được giải quyết dứt điểm.  
2.3. THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA  
TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TỈNH  
QUẢNG NAM  
2.3.1. Quá trình thực hiện dân chủ cơ sở ở tỉnh Quảng Nam  
2.3.1.1. Quá trình triển khai thực hiện  
- Công tác quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực  
hiện của cấp ủy đảng  
- Việc triển khai thực hiện của các cấp chính quyền  
- Hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội  
2.3.1.2. Kết quả và những nguyên nhân của nó  
* Kết quả xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở xã,  
phường, thị trấn.  
* Kết quả xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt  
động của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.  
16  
* Kết quả xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các  
loại hình doanh nghiệp.  
2.3.1.3. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế  
* Những hạn chế  
- Một số nơi cấp ủy đảng, chính quyền chưa thật sự quan tâm  
công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện, có biểu hiện “khoán  
trắng” cho Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội và ban chỉ đạo  
thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; công tác kiểm tra, giám sát, sơ  
kết, tổng kết rút kinh nghiệm, nhân rộng điển hình, biểu dương, khen  
thưởng việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở chưa thường xuyên.  
- Việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở một số nơi  
vẫn còn hình thức, làm lướt, không liên tục, hiệu quả chưa cao, chưa  
theo kịp đòi hỏi từ thực tiễn đặt ra.  
- Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách,  
quy định về thực hiện dân chủ chưa thực hiện thường xuyên; tài liệu  
tuyên truyền chưa phong phú.  
- Chưa quan tâm xây dựng quy chế về thực hiện dân chủ ở các  
loại hình cơ sở khác như quy chế thực hiện dân chủ trong công tác  
đền bù, giải phóng mặt bằng thu hồi đất, tái định cư; trong công tác  
quy hoạch xây dựng và thực hiện dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã  
hội; trong các đơn vị sự nghiệp tư…  
- Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung quy chế, quy định, quy ước,  
hương ước một số nơi còn rập khuôn, chưa phù hợp với Hiến pháp,  
pháp luật, thực tiễn đổi mới của đất nước, nhất là trong xây dựng  
nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa…  
- Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở một số địa  
phương chậm đổi mới nội dung kiểm tra, chủ yếu là kiểm tra việc  
17  
chấp hành, hồ sơ, văn bản liên quan, chưa chú trọng kiểm tra theo  
chuyên đề trên các lĩnh vực thường xảy ra đơn thư khiếu kiện, gây  
bức xúc trong nhân dân.  
- Hoạt động ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng  
đồng một số nơi chưa phát huy hiệu quả, thường chạy theo sự vụ, sự  
việc, chủ yếu là tham gia cùng các ngành chức năng giải quyết  
những vụ tranh chấp, khiếu nại, phát sinh ở cơ sở, chưa thể hiện  
được vai trò chủ động giám sát của mình.  
- Việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở một số nơi  
chưa gắn với phát triển kinh tế, xã hội, cải cách hành chính, giải  
quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.  
* Nguyên nhân của những hạn chế  
- Trước hết là do vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng, chính  
quyền, Mặt trận và các đoàn thể còn chưa thật tốt; nhận thức về vai  
trò, tầm quan trọng QCDC chưa sâu sắc; chỉ đạo thực hiện thiếu cụ  
thể.  
- Thứ hai: Trình độ dân trí đã từng bước được nâng lên. Song,  
để đáp ứng với việc thực hiện tốt QCDC thì vẫn còn nan giải. Nhân  
dân chưa hiểu biết được nhiều về văn hóa dân chủ, văn hóa pháp  
luật, chưa hiểu hết nội dung, ý nghĩa, mục đích của QCDC  
- Thứ ba: Do kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm. Một số cán bộ,  
đảng viên thoái hóa, biến chất đã lợi dụng để tham nhũng, vụ lợi, làm  
giàu bất chính; độc đoán, chuyên quyền, thành kiến, trù dập nhân  
dân... vẫn chưa được xử lý nghiêm minh.  
- Thứ tư: Công tác sơ kết, tổng kết chưa thành nề nếp, còn  
chậm, còn sơ sài, không sâu sắc, nên không rút được những bài học  
bổ ích cho quá trình chỉ đạo.  
18  
- Thứ năm: Điều kiện vật chất, kinh phí, tài liệu phục vụ cho  
quá trình thực hiện QCDC còn kém cỏi, chất lượng chưa cao.  
2.3.2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện dân  
chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.  
Để thực hiện tốt hơn QCDC cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng  
Nam; địa phương cần tiếp tục giải quyết những vấn đề sau:  
- Chưa gắn được việc thực hiện QCDC ở cơ sở với phát triển  
kinh tế - xã hội.  
- Hệ thống chính trị ở cơ sở còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém  
+ Một số tổ chức cơ sở đảng chưa thực hiện tốt nguyên tắc tập  
trung dân chủ, thường chỉ nhấn mạnh đến tập trung, vì thế đã làm  
hạn chế tính năng động, sáng tạo của cán bộ, đảng viên và nhân dân.  
+ Bộ máy chính quyền cơ sở chưa đủ mạnh, hiệu lực, hiệu quả  
quản lý, điều hành kinh tế - xã hội còn chưa đáp ứng được cầu phát  
triển.  
- Công tác vận động quần chúng chưa đồng đều trong hệ thống  
chính trị, nhất là trong các cơ quan nhà nước.  
- Việc thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân  
kiểm tra” còn nhiều thiếu sót.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 12340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Ý thức pháp luật với việc thực hành dân chủ cơ sở ở tỉnh Quảng Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_y_thuc_phap_luat_voi_viec_thuc_hanh_dan_chu.pdf