Tóm tắt Luận văn Quan điểm lịch sử, cụ thể với vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã  
hội chủ nghĩa nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động  
kinh tế một cách văn minh.  
Sự thành công của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội  
chủ nghĩa là ở chỗ đem thành quả của tăng trưởng kinh tế cao đến  
với mọi người bằng cách không ngừng nâng cao đời sống nhân dân,  
bảo đảm tốt các vấn đề xã hội và công bằng, bình đẳng trong xã hội.  
Ngay trong từng bước phát triển. Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch  
Hồ Chí Minh coi sản xuất và đời sống nhân dân như nước với  
thuyền, "nước đẩy thuyền lên", tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ  
và công bằng xã hội, động viên, khuyến khích làm giàu hợp pháp gắn  
liền với xóa đói, giảm nghèo.  
Bản thân tôi nhận thức được vai trò và vị trí to lớn của vấn đề  
thực hiện công bằng xã hội ở nước ta nên tôi đã mạnh dạn chọn đề  
tài “Quan điểm lịch sử, cụ thể với vấn đề thực hiện công bằng xã hội  
ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành  
triết học.  
2. Tình hình nghiên cứu  
Về vấn đề công bằng xã hội thì đối với lĩnh lực này hiện nay  
có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết đề cập tới như:  
Công trình nghiên cứu của TS Nguyễn Minh Hoàn đã viết  
cuốn sách “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội” do Nhà xuất bản  
Chính trị quốc gia. Trong cuốn sách này tác giả đã đề cặp tới khái  
niệm, vị trí và vai trò của công bằng xã hội và việc thực hiện công  
bằng xã hội ở nước ta hiện nay một cách khá đầy đủ.  
2
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nội dung quan điểm lịch  
sử, cụ thể và thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện  
nay.  
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ giới hạn ở vấn đề về  
quan điểm lịch sử, cụ thể, cũng như sự vận dụng quan điểm đó vào  
việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
5.1. Cơ sở lý luận  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
Luận văn góp phần làm rõ nội dung quan điểm lịch sử, cụ thể,  
cũng như đánh giá một cách khoa học về thực trạng thực hiện công  
bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, đưa ra được các giải  
pháp có tính khả thi nhằm thực hiện tốt công bằng xã hội ở nước ta.  
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định  
chính sách xã hội, cho sinh viên, cũng như những ai quan tâm đến  
vấn đề này.  
7. Cấu trúc của đề tài  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung  
luận văn gồm 3 chương, 7 tiết, cụ thể:  
Chương 1: Lý luận về quan điểm lịch sử, cụ thể.  
Chương 2: Thực trạng công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay.  
Chương 3: Các giải pháp thực hiện công bằng xã hội ở Việt  
Nam hiện nay.  
3
CHƯƠNG 1  
LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ, CỤ THỂ  
1.1. QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ CỤ THỂ TRONG TRIẾT HỌC  
TRƯỚC MÁC  
1.1.1. Quan điểm lịch sử, cụ thể trong triết học thời cổ đại  
Triết học Ấn Độ ra đời sớm, đồ sộ về quy mô và số lượng tác  
phẩm, sự đa dạng các trường phái, sự phong phú cách thể hiện, sự  
sâu rộng nội dung phản ánh.  
Trong quá trình vận động và phát triển, nền triết học Ấn Độ  
cổ, trung đại chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo, nên  
giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt.  
Vấn đề con người và cuộc sống của con người, là vấn đề triết  
học Ấn Độ cổ trung đại rất quan tâm. Nhưng do ảnh hưởng tư tưởng  
luân hồi của kinh Upanisad, do hạn chế của lịch sử, các nhà tư tưởng  
đã không tìm thấy nguyên nhân đau khổ của con người là trong đời  
sống kinh tế – xã hội mà là trong nhận thức, do “Vô minh”. Vì thế,  
hầu hết các trường phái triết học đều tập trung giải quyết vấn đề nhân  
sinh bằng con đường “giải thoát” mang màu sắc duy tâm.  
Tuy nhiên do thế giới quan duy tâm cùng phương pháp tư duy  
siêu hình đã không thể giúp cho các nhà triết học Trung hoa giải  
quyết các vấn đề của đời sống, con người trên quan điểm lịch sử, cụ  
thế. Chúng ta khảo sát các quan điểm của họ để khẳng định nhận  
định này.  
Nho giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên,  
dưới thời xuân thu, người sáng lập là Khổng Tử (551-479 trước CN).  
Đến thời Chiến Quốc, Nho giáo được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn  
thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy vật và duy tâm,  
4
trong đó dòng Nho giáo Khổng - Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài  
nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.  
"Trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh  
trưởng", " cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm  
không ngừng, không nghỉ".  
Trong học thuyết của Nho giáo kế thừa tư tưởng thời Chu,  
khái niệm "trời" có ý nghĩa bậc nhất. Nhưng khi giảng giải đạo lý  
của mình, Khổng Tử lại không nói rõ ràng và có hệ thống.  
Thế giới quan triết học của ông có lập trường dao động giữa  
chủ nghĩa duy vật của Đêmôcrit và chủ nghĩa duy tâm của Platon. Ở  
một số nội dung triết học ông thể hiện lập trường duy vật, một số nội  
dung khác lại thể hiện lập trường duy tâm. Trong lý luận nhận thức  
ông phê phán học thuyết ý niệm của Platon phê phán 3 điều qua đó  
thể hiện quan niệm của mình về nhận thức đó là:  
Qua sự phê phán này cho thấy lập trường duy vật có phần nào  
biện chứng trong vận đề nhận thức.  
1.1.2. Quan điểm lịch sử, cụ thể trong triết học trung đại  
Đặc điểm của triết học thời kỳ này là khuynh hướng phát triển  
của chủ nghĩa kinh viện. Vấn đề quan hệ giữa niềm tin tôn giáo và trí  
tuệ lý trí, giữa cái chung và riêng (giữa khái niệm và các sự đơn lẻ)  
là những vấn đề trung tâm của triết học.  
Trong lĩnh vực triết học. Tômát Đacanh có mưu đồ làm cho  
học thuyết của Arixtốt thích hợp với giáo lý đạo Thiên Chúa, biến  
triết học của mình thành cơ sở giáo lý của nhà thờ.  
Trong việc giải quyết vấn đề giữa lòng tin và lý trí, Tômát  
Đacanh đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy thực ôn hoà. Ông  
phân tích rõ ranh giới nhưng không đối lập. Theo ông, đối tượng của  
triết học là "chân lý của lý trí", đối tượng của thần học là "lòng tin  
5
tôn giáo". Còn Thượng đế là khách thể cuối cùng của cả triết học và  
thần học, là nguồn gốc của mọi chân lý; do đó không có sự đối lập  
căn bản giữa triết học và thần học. Nhưng là nhà thần học, Tômát  
Đacanh đã hạ thấp vai trò của triết học, coi triết học là kẻ tôi tớ của  
thần học, phụ thuộc vào thần học.  
Lý luận nhận thức của ông áp dụng học thuyết của Arixtốt về  
"hình dạng". Theo ông, nhận thức con người không tiếp thu bản thân  
sự vật vật chất, mà chỉ tiếp thu hình ảnh của sự vật (cái giống với chủ  
thể nhận thức).  
1.1.3. Quan điểm lịch sử cụ thể trong triết học cận đại  
Thế kỷ XV - XVI ở Tây Âu được gọi là thời kỳ Phục hưng với  
ý nghĩa là thời kỳ có sự khôi phục lại nền văn hoá cổ đại. Về mặt  
hình thái kinh tế - xã hội đó là thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến  
sang xã hội tư bản.  
Sự phát triển khoa học tự nhiên đã đòi hỏi có sự khái quát triết  
học, rút ra những kết luận có tính chất duy vật từ các tri thức khoa  
học cụ thể.  
Thời kỳ này đã có những nhà khoa học và triết học tiêu biểu  
như: Nicôlai, Côpécních, Brunô, Galilê, Nicôlai Kuzan, Tômát  
Morơ, v.v....  
Brunô (1548 - 1600, nhà triết học Italia, người kế tục và phát  
triển học thuyết Côpécních. Khi tán đồng quan niệm củ Côpécních  
"mặt trời là trung tâm", Brunô đã bổ sung thêm rằng, có vô số thế  
giới, xung quanh trái đất có một bầu không khi cùng xoay với trái đất  
và mặt trời cũng đổi chỗ với các vì sao. Ông đã chứng minh về tính  
thống nhất vật chất của thế giới (vũ trụ. Teo ông có vô vàn thế giới  
giống thái dương hệ của chúng ta. Với học thuyết dó, Brunô đã bác  
bỏ một quan điểm cơ bản của tôn giáo về sự tồn tại của thế giới bên  
6
kia, thế giới thần linh. Ông còn cho rằng, thế giới vật chất vận động  
không ngừng.  
Triết học của Bêcơn đã đặt nền móng cho sự phát triển của chủ  
nghĩa duy vật siêu hình, máy móc thế kỷ XVII - XVIII ở Tây Âu.  
Đặc biệt, trong nền triết học cổ điển Đức, Hêghen là nhà triết  
học đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình của ông là  
người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới  
dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển  
không ngừng. Đồng thời trong khuôn khổ của hệ thống triế học duy  
tâm của mình Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như chất,  
lượng, phủ định, mâu thuẫn... mà còn nối đến cả các quy luật như  
"lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại", "phủ định của phủ định",  
và quy luật mâu thuẫn. Nhưng tất cả những cái đó chỉ là quy luật vận  
động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối. Trong  
hệ thống triết học của Hêghen, không phải ý thức, tư tưởng phát triển  
trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của tự nhiên và xã hội, mà  
ngược lại, tự nhiên, xã hội phát triển trong sự phụ thộc vào sự phát  
triển của ý niệm tuyệt đối. ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là tính  
thứ nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai, do ý niệm tuyệt đối và tinh  
thần thế giới sinh ra và quyết định, là một sự "tồn tại khác" của tinh  
thần sau khi trải qua giai đoạn "tồn tại khác" ấy, ý niệm tuyệt đối hay  
tinh thần thế giới mới trở lại "bản thân mình" và đó là giai đoạn cao  
nhất, giai đoạn tột cùng, được Hêghen gọi là 'tinh thần tuyệt đối".  
1.2. QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ CỤ THỂ TRONG TRIẾT HỌC  
MÁC – LÊNIN  
1.2.1. Cơ sở hình thành quan điểm lịch sử, cụ thể  
Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định  
rằng, liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác  
7
động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng  
hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.  
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ  
có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa  
dạng, phong phú.  
Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là  
vốn có của mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức  
của con người.  
Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật,  
hiện tượng nào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào  
cũng có mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác. Ngay trong  
cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu  
tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác.  
Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật  
khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian  
khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau. Có thể chia các  
mối liên hệ thành nhiều loại: mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên  
ngoài, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu, v.v.. Các mối liên hệ  
này có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự  
vật, hiện tượng.  
1.2.2. Nội dung và ý nghĩa của quan điểm lịch sử, cụ thể  
Nguyên tắc quyết định luận này đòi hỏi phải xem xét các sự  
vật trong sự tự vận động và phát triển, trong tính toàn vẹn, tính chỉnh  
thể cụ thể.  
Phương pháp lịch sử khoa học cho phép tái tạo lại sự phát triển  
của một hiện tượng xã hội nào đó, tìm ra mối liên hệ tất yếu giữa các  
sự kiện lịch sử và nhờ đó mà tạo điều kiện cho sự tồn tại của khoa  
8
học về xã hội – phương pháp lịch sử ấy không chỉ dựa trên cơ sở  
phép biện chứng.  
Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có thể rút ra ý  
nghĩa về phương pháp luận sau:  
Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy định  
lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính  
khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và  
hoạt động thực tiến con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện,  
phải tránh cách xem xét phiến diện  
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật  
trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các  
mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với  
các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp.  
Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.  
Vì các mối liên hệ có tính da dạng, phong phú - sự vật, hiện  
tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ  
biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động  
thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụ thể.  
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1  
9
CHƯƠNG 2  
THỰC TRẠNG CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở  
VIỆT NAM HIỆN NAY  
2.1. CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG BẰNG  
XÃ HỘI  
2.1.1. Quan niệm về công bằng xã hội  
Khi bàn về công bằng xã hội thì trong lịch sử nhân loại có rất  
nhiều tư tưởng bàn về công bằng xã hội ngay từ thời cổ đại.  
Đối với Platon trong tác phẩm Nhà nước và Luật lệ, Platon đã  
khẳng định rằng không thể có sự bình đẳng giữa những tầng lớp  
người khác nhau trong xã hội, bởi vậy, theo ông bản thân nhà nước  
xuất hiện từ chính sự đa dạng của nhu cầu con người. Do có sự đa  
dạng ấy về nhu cầu nên xã hội cần phải duy trì các hạng người khác  
nhau thực hiện các dạng phân công lao động khác nhau để thỏa mãn  
các nhu cầu của xã hội và do đó không thể có sự hoàn toàn bình đẳng  
giữa họ.  
Như vậy, trong quan niệm của Arixtốt dù công bằng là bình  
đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội hay bất bình đẳng của  
những người không có cùng địa vị xã hội thì cả sự bình đẳng và bất  
bình đẳng ấy đều là thước đo của sự công bằng.  
C.Mác cho rằng, quan điểm của những người soạn thảo Cương  
lĩnh Gôta về việc thực hiện nguyên tắc phân phối theo giá trị sức lao  
động không thể coi là công bằng, cho dù nguyên tắc phân phối ấy  
được thực hiện dựa vào một xuất phát điểm bình đẳng về sở hữu, thế  
nhưng nguyên tắc phân phối ấy lại không phải chỉ được áp dụng  
riêng đối với những người lao động thực sự mà còn được thực hiện  
cho mọi thành viên trong xã hội, kể cả những kẻ không lao động.  
10  
C.Mác cho rằng, một sự phân phối thực sự công bằng chỉ có  
thể là phân phối theo lao động. Vì sao vậy? Theo Mác, trước hết,  
việc thực hiện công bằng xã hội không phải chỉ phụ thuộc riêng vào  
lĩnh vực phân phối, mà nó còn bị chi phối bởi toàn bộ tính chất của  
phương thức sản xuất, vì rằng, “bất kỳ một sự phân phối nào về tư  
liệu tiêu dùng cũng chỉ là hậu quả của sự phân phối chính ngay  
những điều kiện sản xuất; nhưng sự phân phối những điều kiện sản  
xuất là một tính chất của chính ngay phương thức sản xuất”.[5; tr.36-  
37] Từ luận điểm trên, C.Mác đi đến phê phán những quan điểm nói  
đến công bằng xã hội nhưng lại muốn tách quan hệ phân phối khỏi  
quan hệ sản xuất của một phương thức sản xuất nhất định. C.Mác  
viết: “Chủ nghĩa xã hội tầm thường đã thừa hưởng được của những  
nhà kinh tế học tư sản cái thói xem xét và lý giải sự phân phối như  
một cái gì độc lập với phương thức sản xuất và vì thế mà họ quan  
niệm chủ nghĩa xã hội như là chủ yếu xoay quanh sự phân phối”. [5;  
tr.36-37]  
Trong quan điểm của Hồ Chí Minh thì việc thực hiện công  
bằng xã hội là một yêu cầu bức thiết, và yêu cầu đó lại càng bức thiết  
hơn khi cuộc sống còn nhiều khó khăn. Hồ Chí Minh căn dặn: Trong  
công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng phải luôn nhớ:  
“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng;  
Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” [12; tr 185].  
Mặt khác, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, thực hiện công bằng xã  
hội với nguyên tắc ngang bằng nhau giữa người và người trong mối  
quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng  
thụ,...trong hoàn cảnh nước nhà còn nhiều khó khăn về kinh tế cũng  
không có nghĩa là có thể làm cho đời sống của nhân dân có ngay  
được sự no đủ. Do đó, không được coi việc thực hiện công bằng xã  
11  
hội như là một sự cào bằng trong nghèo khổ. Người khẳng định:  
“Không phải chúng ta ham chuộng khổ hạnh và bần cùng. Trái lại,  
chúng ta phấn đấu hy sinh, vì chúng ta muốn xây dựng một xã hội ai  
cũng ấm no, sung sướng”. [27; tr 568] Hơn nữa, với quan niệm coi  
công bằng xã hội thể hiện ở sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ,  
một lần nữa, Người nhấn mạnh: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít  
thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già  
cả, đau yếu và trẻ con”. [29; tr 226]  
Như vậy trong quan niệm của Hồ Chí Minh, công bằng và  
bình đẳng là một mục tiêu của sự sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội  
mới. Nó không phải là chủ nghĩa bình quân cào bằng trong sự nghèo  
khổ. Mục tiêu của chế độ xã hội mới là không ngừng nâng cao đời  
sống của dân, là phấn đấu:  
“Làm cho người nghèo có ăn.  
Người đủ ăn thì khá giàu  
Người khá giàu thì giàu thêm”. [25; tr 65]  
2.1.2. Vai trò của công bằng xã hội  
Trong bất cứ một chế độ xã hội nào thì công bằng xã hội luôn  
là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội như chế độ xã hội cộng  
sản nguyên thủy; chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến; chủ  
nghĩa tư bản và công bằng xã hội trong quá trình hình thành và phát  
triển của xã hội cộng sản chủ nghĩa.  
Trong xã hội thời cộng sản nguyên thủy thì thiết chế xã hội  
phổ biến lúc bấy giờ là các thị tộc, sự phân công lao động là hoàn  
toàn có tính chất tự nhiên, nó chỉ tồn tại giữa quan hệ giữa nam và  
nữ. Tương ứng với phương thức tổ chức sản xuất tập thể ấy trong  
tình trạng trình độ phát triển lực lượng sản xuất thì phương thức phân  
phối chỉ có thể là phân phối bình quân. Chính vì thế, như nhận xét  
12  
của Ph.Ăngghen, lúc bấy giờ, “trong nội bộ thị tộc, không hề có sự  
khác nhau nào giữa quyền lợi và nghĩa vụ”. [23; tr 234-237]  
Đó là một nguyên tắc phân phối bất công, bất bình đẳng giữa  
chủ nô và nô lệ. Còn nguyên tắc trao đổi ngang giá tuy còn ở vị trí  
thứ yếu so với nguyên tắc phân phối chủ đạo của chế độ chiếm hữu  
nô lệ, nhưng đó là nguyên tắc công bằng hơn so với nguyên tắc trao  
đổi ở dạng chưa phát triển ở chế độ cộng sản nguyên thủy, và lại  
càng là công bằng hơn sơ với nguyên tắc phân phối chủ đạo của  
chiếm hữu nô lệ.  
Như việc tạo ra một xuất phát điểm bình đẳng như nhau cho  
mọi cá nhân lại là công việc của cả cộng đồng, trong đó nhà nước  
đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Sự điều tiết của Nhà nước mới thực  
sự là “chìa khóa để đáp ứng những nhu cầu phức tạp và trái ngược  
nhau của xã hội”.  
2.2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT  
NAM HIỆN NAY  
2.2.1. Những thành tựu trong thực hiện công bằng xã hội  
*Về tăng trưởng kinh tế  
* Về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội  
2.2.2. Những hạn chế trong việc thực hiện công bằng xã hội  
ở Việt Nam hiện nay  
* Về kinh tế  
* Về xã hội  
2.2.3. Những nguyên nhân  
Công bằng xã hội là mục tiêu đã được Đảng ta xác định ngay  
từ những ngày đầu khi nước ta tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ  
nghĩa xã hội. Trong quá trình thực hiện mục tiêu xã hội to lớn đó,  
chúng ta đã trải qua hai giai đoạn phát triển cơ bản, đó là: thời kỳ  
13  
trước đổi mới và thời kỳ sau đổi mới đến nay. Các thời kỳ có các đặc  
điểm phát triển kinh tế xã hội khác nhau, cũng như có nhận thức  
khác nhau về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.  
Ở chặng đường đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù  
vấn đề thực hiện công bằng xã hội không được trực tiếp bàn đến  
trong những chủ trương của Đảng, nhưng xuất phát từ những quan  
điểm cho rằng chế độ tư hữu là nguồn gốc của sự bóc lột, của tình  
trạng bất công và bất bình đẳng xã hội, nên trong thực tiễn, việc xoá  
bỏ chế độ tư hữu đã trở thành nội dung chủ yếu trong hoạt động của  
Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện công bằng xã hội ở thời kỳ  
này. Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai  
mặt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”. [4; tr.531-532]  
Trước tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm  
70. đầu những năm 80 của thế kỷ XX, Đại hội lần thứ VI của Đảng  
trên tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ  
sự thật”, [7; tr.12] đã thẳng thắn tự phê bình về việc đã thực hiện  
nhiều chủ trương, chính sách sai lầm trong cải tạo và xây dựng chủ  
nghĩa xã hội. Báo cáo chính trị tại Đại hội đã vạch rõ những hạn chế  
và sai lầm trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cả về chế độ  
sở hữu, chế độ phân phối và cơ chế quản lý.  
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆC THỰC HIỆN  
CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
Những nội dung về thực hiện công bằng xã hội ở nước ta đã  
được vạch ra trong các Văn kiện Đại hội của Đảng. Vậy thì hình thức  
để thực hiện những nội dung đó như thế nào? Hay nói cách khác là  
những nội dung thực hiện công bằng xã hội ở trên được thực hiện  
dưới hình thức nào?.  
Trong thời kỳ trước đổi mới, nguyên tắc phân phối theo lao Từ  
14  
khi đổi mới đến nay, việc nhấn mạnh trở lại yêu cầu cần phải thực  
hiện nguyên tắc phân phối theo lao động vừa khắc phục được nguyên  
tắc bình quân, vừa khắc được sự bất công xã hội. Chính vì vậy,  
nguyên tắc phân phối công bằng mà chúng ta đang thực hiện trở  
thành động lực quan trọng thúc đẩy cho sự phát triển của nền sản  
xuất của nước ta, nâng cao và cải thiện đáng kể đời sống của người  
lao động ở cả nông thôn và thành thị.  
Kể từ khi đổi mới đến nay, việc thực hiện nguyên tắc phân  
phối theo mức đóng góp vốn đã khiến cho nhiều cá nhân và nhiều  
chủ thể sản xuất kinh doanh không ngại bỏ vốn, tài sản (dưới nhiều  
hình thức), thậm chí còn chấp nhận sự rủi ro để tham gia vào đầu tư,  
mở rộng, phát triển sản xuất. Trong nhiều năm qua, nhờ thu hút được  
nhiều nguồn lực nên chúng ta đã làm cho nền kinh tế của đất nước  
không ngừng có sự tăng trưởng. Đây chính là kết quả tất yếu của  
việc vận dụng nội dung mới của công bằng xã hội trong giai đoạn  
hiện nay.  
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2  
15  
CHƯƠNG 3  
CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI  
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
3.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN  
CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
3.1.1. Bối cảnh trong nước  
Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của công bằng xã  
hội trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay được thể hiện qua  
cách vận hành của nội dung và hình thức một cách đan xen lẫn nhau,  
tác động qua lại lẫn nhau. Những nội dung mà Đảng và Nhà nước ta  
vạch ra về việc thực hiện công bằng xã hội và đi đôi với nó là hình  
thức tồn tại và vận hành của những nội dung về công bằng xã hội  
trong nền kinh tế thị trường hiện nay.  
Ở đây chúng ta không nên hiểu công bằng về cơ hội theo  
nghĩa là tạo cơ hội như nhau cho mọi người mà quan trọng hơn là cơ  
hội đó phải phù hợp với mỗi chủ thể. Nói cách khác, công bằng về cơ  
hội phải được hiểu là tạo ra cơ hội phù hợp với mỗi cá nhân, mỗi chủ  
thể. Điều đó sẽ hạn chế được cái gọi là cơ hội như nhau nhưng chỉ  
với những cá nhân này thì phát huy được lợi thế, còn đối với những  
cá nhân khác lại là sợ bất lợi. Một khi mỗi cá nhân đều có cơ hội phù  
hợp với mình, thì khi đó mỗi cá nhân mới thực sự phát huy cao nhất  
được khả năng của mình để cùng vươn đến được sự hưởng thụ tương  
xứng. Đây mới là sự công bằng về cơ hội cho mọi cá nhân.  
Xuất phát từ những chủ trương của Đảng về thực hiện công  
bằng xã hội, thêm nữa, nếu tính đến sự cống hiến cho sự phát triển xã  
hội là một quá trình thì thực hiện công bằng xã hội không chỉ dựa  
vào kết quả đã và đang có sự cống hiến để làm thước đo thực hiện  
16  
phân phối, mà còn cần phải tính đến cả kết quả sẽ có của sự công  
hiến để phân phối. Nhưng muốn thực hiện sự phân phối công bằng  
kết quả sẽ có của sự cống hiến, thì phải tạo ra cơ hội phù hợp cho  
mỗi cá nhân để mỗi cá nhân đều có điều kiện được cống hiến và phát  
huy được khả năng của mình, rồi sau đó có được sự hưởng thụ tương  
xứng với cống hiến ấy. Đó mới chính là thực hiện một sự công bằng  
xã hội thực sự vì sự phát triển ngày càng toàn diện phẩm giá con  
người.  
Như vậy, việc phấn đấu xây dựng một nền giáo dục theo  
hướng công bằng đảm bảo phát triển quy mô và chất lượng chính là  
nhằm tạo nhiều cơ hội khác nhau phù hợp cho mọi người dân đều  
được học tập, phát huy năng, sở trường của mình, góp phần phát  
triển nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,  
hiện đại hoá nói riêng và mục tiêu phát triển ngày càng toàn diện con  
người nói chung.  
Tóm lại, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục là một  
phần của nội dung thực hiện công bằng xã hội ở nước ta trong điều  
kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.  
Mục tiêu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta hiện nay là  
đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài. Việc thực  
hiện mục tiêu đó là để đáp ứng các yêu cầu về phát triển lực lượng  
sản xuất xã hội (bồi dưỡng tài nguyên con người), đảm bảo phúc lợi  
xã hội (vai trò Nhà nước tạo cơ hội bình đẳng học tập cho mỗi người  
dân), và thực hiện dịch vụ xã hội (thực hiện xã hội hoá giáo dục, thu  
hút mọi nguồn lực vật chất và trí tuệ phát triển nền giáo dục). Do đó,  
thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục cũng chính là sự tác động  
trực tiếp nhằm đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu giáo dục nói  
riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung  
17  
3.1.2. Bối cảnh quốc tế  
Công bằng không có nghĩa là cào bằng từ trên xuống, đánh  
đồng, bắt mọi người ai cũng giống nhau. Tiếp tục nhìn vào thực tế,  
trong nền kinh tế thị trường thời mở cửa, sự phân hoá giàu nghèo  
không hoàn toàn là biểu hiện của sự không công bằng.  
Chẳng hạn trong việc xây dựng chính sách thuế: Những người  
có khả năng ngang nhau cần phải đóng một khoản thuế ngang nhau  
(công bằng theo chiều ngang), và những người có khả năng hay thu  
nhập không ngang nhau cần phải áp dụng những khoản thuế khác  
nhau (công bằng theo chiều dọc).  
Bình đẳng là yếu tố cơ bản hợp thành sự công bằng. Không ở  
đâu luật pháp qui định “mọi người đều bình đẳng”, vì điều đó không  
thể có, nhưng gần như pháp luật của quốc gia nào cũng qui định  
“mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Bình đẳng trước pháp  
luật là điều kiện cơ bản để đạt đến sự công bằng.  
Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn về nhân  
quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đều đề cao giá trị bình đẳng,  
công bằng, mục đích là chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên sự  
khác biệt về nguồn gốc xuất thân, chủng tộc, màu da, giới tính, xu  
hướng tình dục, ngôn ngữ, tôn giáo, thế giới quan chính trị, nguồn  
gốc xuất thân, tài sản hay các điều kiện khác. Nguyên tắc bình đẳng  
trước pháp luật bị vi phạm khi công quyền hành xử tùy tiện, đối xử  
bất công hơn đối với một nhóm người này so với một nhóm người  
khác, không dựa trên căn cứ pháp lý nào cả, mặc dù giữa hai nhóm  
này không có bất cứ một sự khác biệt nào về mặt địa vị pháp lý.  
Ngày 26.11.2007, trong khóa họp thứ 62 Đại Hội đồng Liên  
Hiệp Quốc đã thông qua "Nghị quyết 62/10", quyết định lấy ngày 20  
tháng 2 hàng năm - bắt đầu từ năm 2009 – làm "Ngày Công bằng xã  
18  
hội thế giới", kêu gọi các nước thành viên đưa ra các sáng kiến ở cấp  
quốc gia để hỗ trợ các mục tiêu mà "Hội nghị thượng đỉnh thế giới về  
Phát triển xã hội" tại Copenhagen (từ ngày 6-12.3.1995) và Nghị  
quyết ở khóa họp đặc biệt thứ 24 của "Đại Hội đồng Liên Hiệp  
Quốc" tại Genève, mang tên "World Summit for Social Development  
and future years: achieving social development for all people in a  
globalized world" (Hội nghị thượng đỉnh Xã hội + 5) đặt ra.  
Như Hội nghị thượng đỉnh thế giới đã công nhận, việc phát  
triển xã hội hướng tới mục tiêu công bằng xã hội,đoàn kết, hòa hợp  
và bình đẳng bên trong và giữa các quốc gia và công bằng xã hội,  
bình đẳng và công tâm (không thiên vị) tạo thành các giá trị cơ bản  
của tất cả các xã hội.  
3.2. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT  
NAM VỀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XàHỘI  
3.3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT CÔNG BẰNG  
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
3.3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực  
hiện công bằng xã hội  
Tình hình thực tế và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới  
đòi hỏi. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, vì đó là  
quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Phải hết sức coi trọng công  
tác tư tưởng và lý luận, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho toàn  
Đảng, đấu tranh làm thất bại mọi luận điệu phản động, mọi âm mưu  
“diễn biến hòa bình”, đấu tranh phê phán những biểu hiện “tự diễn  
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phải hết sức coi trọng kiện toàn  
tổ chức Đảng, từ Trung ương đến cơ sở. Thật sự phát huy dân chủ  
trong sinh hoạt Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ,  
chống quan liêu, bè phái, cục bộ địa phương... Đặc biệt, chúng ta  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 21700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Quan điểm lịch sử, cụ thể với vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_quan_diem_lich_su_cu_the_voi_van_de_thuc_hi.pdf