Tóm tắt Luận văn Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay

1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong đường lối cách mạng Việt Nam, Đảng ta khẳng định:  
con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh  
tế - xã hội. Đảng chủ trương lấy việc phát huy nguồn lực con người  
làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Quan điểm  
này đã đặt ra cho quá trình phát triển nguồn nhân lực ở nước ta nhiều  
nhiệm vụ to lớn, đặc biệt là việc chăm lo giáo dục thế hệ trẻ, trong đó  
giáo dục đạo đức đóng vai trò quan trọng. Thông qua giáo dục, con  
người sẽ học cách điều chỉnh hành vi, hoàn thiện dần nhân cách. Đặc  
biệt, đạo đức truyền thống có vai trò quan trọng trong việc giáo dục  
thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước.  
Trong lịch sử phát triển của dân tộc, những giá trị đạo đức  
truyền thống đã làm nên cốt cách, tinh thần và sức mạnh Việt Nam.  
Những giá trị đạo đức truyền thống tuy mang tính ổn định, bền vững  
nhưng không phải là nhất thành, bất biến mà luôn vận động, biến đổi  
cùng với sự vận động, biến đổi của lịch sử. Khi lịch sử bước sang  
một thời kỳ mới thì những giá trị đạo đức truyền thống cũ lại được  
thẩm định, chắt lọc và đổi mới cho phù hợp. Đồng thời, những giá trị  
mới dần được hình thành làm cho hệ thống giá trị truyền thống của  
dân tộc ngày càng phong phú.  
Hiện nay, những tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường  
đòi hỏi chúng ta một mặt, phải quan tâm tới phát triển kinh tế - xã  
hội, tạo ra cuộc sống đầy đủ cho nhân dân, mặt khác duy trì và phát  
huy giá trị đạo đức truyền thống, đặc biệt cho thế hệ trẻ. Trong xu  
thế phát triển và hội nhập quốc tế, thanh niên, sinh viên đang đứng  
trước những thời cơ, thuận lợi nhưng cũng phải sẵn sàng đối mặt với  
2
những thách thức, khó khăn. Việc tiếp thu những thành tựu khoa học  
công nghệ tiên tiến trên thế giới và mở rộng giao lưu hội nhập quốc  
tế đã giúp thanh niên, sinh viên có nhận thức, tư duy phát triển, thị  
hiếu thẩm mỹ nâng lên. Tuy nhiên, quá trình giao lưu hội nhập cùng  
với việc xây dựng nền kinh tế thị trường cũng là mảnh đất màu mỡ  
nảy sinh lối sống ích kỷ, vụ lợi, những thói hư tật xấu, những tệ nạn  
xã hội đã và đang từng ngày, từng giờ tác động đến đời sống tinh  
thần phá vỡ nhiều nét đẹp của văn hóa truyền thống. Mặt trái của cơ  
chế thị trường đã tạo ra một bộ phận không nhỏ lớp người trong xã  
hội nói chung, một bộ phận thanh niên, sinh viên nói riêng có lối  
sống chạy theo đồng tiền, buông thả, quay lưng với văn hóa, với  
truyền thống dân tộc.  
Trước những thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội, thang  
giá trị đạo đức của con người cũng có nhiều biến đổi theo cả hai  
hướng tích cực và tiêu cực. Bên cạnh việc đổi mới nội dung,  
phương pháp, chương trình của một số môn học, hình thức dạy và  
học cũng từng bước được cải tiến, hình thức đào tạo ngày một đa  
dạng và phong phú hơn thì việc nâng cao công tác giáo dục chính  
trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cần được quan tâm một cách đúng  
mức như nó cần phải có.  
Hiện nay, hầu hết sinh viên vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp  
của cha ông ta như yêu nước, đoàn kết, tôn sư trọng đạo, hiếu học,  
kính thầy, yêu bạn, lối sống giản dị, chăm chỉ. Tuy nhiên, vẫn còn  
một bộ phận không nhỏ sinh viên chỉ quan tâm đến bản thân và nhu  
cầu trước mắt, sống thực dụng, kém ý chí vươn lên, học đòi lối sống  
xa hoa, hưởng thụ, thiếu trung thực trong học tập, tha hóa nhân cách,  
sa vào tệ nạn xã hội. Thực tế này đòi hỏi cần phải tăng cường giáo  
dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên, tạo môi trường và  
3
khích lệ sinh viên tham gia xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh,  
phòng chống các tệ nạn, định hướng để sinh viên phấn đấu rèn luyện  
theo chuẩn mực đạo đức xã hội.  
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Giáo dục giá  
trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện  
nay” làm luận văn Thạc sĩ. Với mục đích nghiên cứu một cách tổng  
thể và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao chất  
lượng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Quảng  
Nam trong bối cảnh hiện nay.  
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
2.1. Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu và làm sáng tỏ những quan niệm về đạo  
đức trong lịch sử triết học và phân tích thực trạng giáo dục đạo đức  
truyền thống cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng ở Quảng  
Nam hiện nay, đề tài xây dựng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu  
quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Quảng Nam  
trong giai đoạn hiện nay.  
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Thứ nhất, nghiên cứu vấn đề lý luận chung về đạo đức và giáo  
dục đạo đức.  
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng nhận thức và công tác  
giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Quảng Nam.  
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo  
dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Quảng Nam trong giai  
đoạn hiện nay.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận chung về đạo đức và giáo dục  
giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Quảng Nam.  
4
- Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho  
sinh viên ở Quảng Nam từ nay đến năm 2020 (dự kiến khảo sát sinh  
viên từ 3 trường Đại học Quảng Nam, Trường Cao đẳng Kinh tế - kỹ  
thuật Quảng Nam và Trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam)  
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu  
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật  
lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt  
Nam về văn hóa, tư tưởng.  
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của  
phép biện chứng duy vật, luận văn sử dụng các phương pháp: lịch sử và  
lôgíc, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, điều tra xã hội học … nhằm  
thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra.  
5. Bố cục của đề tài  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,  
luận văn có 3 chương, 7 tiết.  
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
Đạo đức và giáo dục đạo đức là vấn đề từ lâu luôn được sự  
quan tâm của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và  
của toàn xã hội. Đã có nhiều công trình, bài viết của nhiều tác giả  
trong và ngoài nước nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức.  
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về đạo đức và giá trị  
truyền thống đạo đức đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến.  
Trong đó có các tác phẩm tiêu biểu sau:  
“Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của  
Trần Văn Giàu (chủ biên), (1980), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Tác giả đã phân tích các giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam, đặc  
biệt là chủ nghĩa yêu nước, cái làm nên cốt cách, tinh thần Việt Nam.  
Tác giả Phạm Minh Hạc (1996), với công trình “Phát triển  
5
giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”,  
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo  
dục – đào tạo trong việc phát triển con người trong sự nghiệp công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng  
cao chất lượng giáo dục Việt Nam để phục vụ hiệu quả việc phát  
triển con người.  
“Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu  
hoá” của Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên (chủ biên),  
(2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Các tác giả đã làm rõ nhiều  
vấn đề về giá trị truyền thống dân tộc và những vấn đề đặt ra trong  
xu thế toàn cầu hóa; việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa Việt  
Nam trong bối cảnh hiện nay.  
“Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa” của TS. Trịnh Duy Huy (2009), Nxb Chính  
trị Quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã phân tích tác động của kinh tế thị  
trường đối với đạo đức, nêu lên được thực trạng của đạo đức xã hội  
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở nước ta. Qua đó, tác  
giả đã đưa ra các giải pháp mang tính định hướng đối với việc xây  
đựng đạo đức mới trong điều kiện hiện nay.  
“Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam  
hiện nay” của TS. Lê Thị Tuyết Ba (2010), Nxb Khoa học xã hội, Hà  
Nội. Tác giả đã phân tích rõ quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử  
về ý thức đạo đức và vai trò của ý thức đạo đức; đặc biệt tác giả đã  
làm rõ những biến đổi của ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị  
trường và đưa ra các giải pháp mang tính định hướng nhằm xây dựng  
ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta.  
“Mấy vấn đề về đạo đức học Mácxít và xây dựng đạo đức  
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS.  
6
Nguyễn Thế Kiệt (2012), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
Tác giả đã khẳng định vai trò to lớn của đạo đức mới trong việc xây  
dựng chủ nghĩa xã hội; làm rõ sự biến đổi thang giá trị đạo đức dưới  
tác động của kinh tế thị trường ở Việt Nam, sự cần thiết phải có  
những giải pháp mang tính định hướng nhằm xây dựng đạo đức mới  
gắn liền với việc đấu tranh chống lại sự thoái hóa biến chất về đạo  
đức, lối sống hiện nay.  
Ngoài ra, còn có các công trình “Tìm hiểu giá trị văn hóa  
truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của  
Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Qúy (Đồng chủ biên)  
(2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Duy Qúy (2006),  
“Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay, vấn đề và giải pháp”, Nxb  
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Lý (2013), “Kế thừa và đổi  
mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang  
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia – Sự  
thật, Hà Nội … đã đề cập đến vấn đề tiếp thu, kế thừa và phát triển  
các giá trị đạo đức truyền thống trong điều kiện mới.  
Các đề tài luận văn, luận án viết về đạo đức sinh viên như:  
Luận án tiến sĩ của Võ Minh Tuấn (2004), “Ý thức đạo đức sinh viên  
Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ triết học của Vũ Thanh Hương  
(2004),“Đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện  
nay ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp (qua khảo sát một số  
trường Đại học và Cao đẳng ở Hà Nội); Đề tài cấp bộ của Huỳnh  
Văn Sơn (2009), “Sự lựa chọn các giá trị đạo đức và nhân văn trong  
định hướng lối sống của sinh viên”. Luận án tiến sĩ của Phạm Huy  
Thành (2014),“Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống với việc hình  
thành và phát triển nhân cách cho sinh viên khu vực Tây Nguyên  
trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay”. Đại học Khoa học xã hội và  
7
nhân văn. Các đề tài trên đã phân tích làm rõ thực trạng của giáo dục  
giá trị đạo đức truyền thống hiện nay. Qua đó, đề xuất các quan điểm  
định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục  
đạo đức cho sinh viên hiện nay.  
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu về giáo dục  
đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay đăng  
trên các Tạp chí triết học, Kỷ yếu hội thảo khoa học như: “Bảo vệ  
giá trị truyền thống dân tộc” (1994) của Nguyễn Tài Thư, Tạp chí  
Triết học, số 6; Nguyễn Văn Huyên (1998), “Giá trị truyền thống,  
nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đât nước, dân tộc”  
(1998), Tạp chí Triết học, số 4; “Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức  
truyền thống trong nền kinh tế thị trường Việt Nam”(1999) của TS.  
Lê Thị Tuyết Ba, Tạp chí Triết học, số 1; “Thực trạng giáo dục giá  
trị truyền thống cho học sinh THPT qua hoạt động giáo dục ngoài  
giờ lên lớp”(2003) của Đặng Thúy Anh, Tạp chí Triết học, số 3;  
“Chuẩn mực đạo đức trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường ở  
nước ta hiện nay” của TS. Lê Thị Tuyết Ba (2003), Tạp chí Triết học  
Yếu Hội Thảo Khoa Học; “Tác động toàn cầu hoá đến đạo đức sinh  
viên hiện nay”(2004) của Võ Minh Tuấn; “Tư tưởng đạo đức Hồ  
Chí Minh và vấn đề giáo dục thanh niên hiện nay”của PGS.TS. Lê  
Hữu Ái, TS. Ngô Văn Hà, TS. Lê Thị Tuyết Ba (2008); “Đạo đức  
sinh viên trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay” của Phạm Huy  
Thành (2010), Tạp chí Giáo dục lý luận …  
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên, từ nhiều góc  
8
độ khác nhau, đã làm sáng tỏ tác động hai mặt của bối cảnh toàn cầu  
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tới sự biến đổi của đạo đức xã hội ở  
nước ta trong quá trình đổi mới, đề ra một số phương hướng và giải  
pháp nâng cao giáo dục giá trị đạo đức trong bối cảnh mới. Tuy  
nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về  
giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng  
Nam, đó là lý do tôi chọn đề tài “Giáo dục giá trị đạo đức truyền  
thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay” làm luận văn  
tốt nghiệp của mình.  
9
CHƢƠNG 1  
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ  
ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG  
1.1. ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG  
1.1.1. Quan niệm về đạo đức  
Các nhà triết học trước Mác kể cả triết học phương Đông và  
phương Tây khi bàn về đạo đức đã có những đóng góp nhất định, nhưng  
nhìn chung đều rơi vào quan điểm duy tâm. Họ không nhìn thấy đạo  
đức được hình thành từ trong lao động và là sản phẩm của hoạt động có  
ý thức của con người, của loài người. Hạn chế lớn nhất của các nhà triết  
học trước Mác là không nhìn thấy được mối quan hệ biện chứng giữa  
tồn tại xã hội và ý thức xã hội, vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối  
với ý thức xã hội, không thấy được cơ sở kinh tế trong các quan hệ đạo  
đức xã hội.  
Khác với tất cả các quan niệm trước đó, C. Mác và Ph. Ăngghen  
dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã xây  
dựng một học thuyết đạo đức có tính cách mạng. C.Mác và  
Ph.Ăngghen đã khẳng định, đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống  
xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử. C.Mác và Ph.Ăngghen đã  
chứng minh rằng: trước khi sáng lập các lý luận và nguyên tắc, bao gồm  
cả triết học và lý luận học, con người đã hoạt động, tức là sản xuất ra các  
tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Xuất phát từ vai trò của lao động  
đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người. C. Mác đi đến  
quan niệm về tính quy định của phương thức sản xuất đối với toàn bộ  
hoạt động của con người, của xã hội loài người.  
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức là một  
hình thái ý thức xã hội, phán ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực  
10  
đời sống xã hội.  
Ngày nay, đạo đức được hiểu là một trong những phương thức  
cơ bản điều tiết chuẩn mực hoạt động của con người, là một hình thái  
ý thức xã hội, là một dạng của quan hệ xã hội (quan hệ đạo đức) là  
đối tượng nghiên cứu của đạo đức học.  
Như vậy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một trong  
những giá trị tinh thần mà xã hội loài người đã sáng tạo ra. Đó là một  
hệ thống chuẩn mực, quan niệm, giá trị và nguyên tắc được hình  
thành trong đời sống xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người,  
qua đó điều chỉnh mối quan hệ giữa người này với người khác, giữa  
cá nhân với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền  
thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội.  
1.1.2. Giá trị đạo đức truyền thống  
Giá trị đạo đức truyền thống là toàn bộ những tư tưởng, tình  
cảm, những chuẩn mực, quy tắc, phong tục, tập quán đạo đức được  
truyền từ đời này sang đời khác và được mọi người hay một cộng  
đồng người nhất định tự nguyện noi theo.  
Nói đến các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là nói  
đến đặc thù của đạo đức Việt Nam với những phẩm chất đạo đức tốt  
đẹp đã hình thành và bảo lưu cho đến thời điểm hiện tại. Đó là các  
giá trị nhân văn mang tính cộng đồng, tính ổn định tương đối, được  
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện trong các chuẩn  
mực mang tính phổ biến có tác dụng điều chỉnh hành vi giữa cá nhân  
và cá nhân, giữa cá nhân và xã hội.  
Các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc hình thành gắn với  
điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch  
sử. Đó là kết quả và động lực to lớn của quá trình dựng nước, giữ  
nước và phát triển đất nước. Đồng thời là kết quả của quá trình  
11  
tiếp thu sáng tạo tinh hoa của nhiều trào lưu tư tưởng, văn hóa lớn  
của thế giới để bồi đắp thêm cho những giá trị đạo đức – văn hóa  
vốn có của mình.  
Chủ nghĩa yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung  
thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để  
phục vụ lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Tình yêu là tình cảm phổ  
biến của nhân dân các dân tộc trên thế giới. V.I. Lênin đã từng khẳng  
định: “chủ nghĩa yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất  
đã được củng cố qua hàng năm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ  
quốc biệt lập” [38, tr.226]. Song sự hình thành sớm hay muộn, nội  
dung cụ thể, hình thức và mức độ biểu hiện của nó tùy thuộc vào  
điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc.  
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc, là một giá trị  
được tạo nên từ trong chiều sâu văn hóa dân tộc, là nhân tố tinh thần  
hợp thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử dân tộc.  
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm là một giá trị đạo đức  
truyền thống của dân tộc ta, được hình thành do điều kiện sản xuất và  
đấu tranh xã hội trong lịch sử dân tộc. Cần cù là biểu hiện thái độ của  
con người trong hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất, tinh thần và  
các mặt hoạt động khác của con người. Nó là kết quả và điều kiện  
không thể thiếu được trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội  
loài người. Đối với mỗi người Việt Nam, cần cù, siêng năng, sáng  
tạo, tiết kiệm trong lao động là điều phải làm vì có như vậy mới có  
của cải vật chất.  
Truyền thống hiếu học của người Việt Nam được hình thành  
từ nhiều thế hệ là một trong những giá trị truyền thống dân tộc, nó  
luôn được kế thừa phát huy. Đảng ta luôn ý thức sâu sắc rằng “giáo  
dục là quốc sách hàng đầu” là một trong những động lực quan trọng  
12  
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.  
Việt Nam từ xưa tới nay. Ngay từ rất sớm con người đã nhận  
thức được học hành không chỉ là quyền lợi mà còn nghĩa vụ của mỗi  
cá nhân. Người xưa từng nói: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất  
học, bất tri đạo” (ngọc không mài dũa thì không thành đồ dùng được,  
người không học thì không biết đạo).  
1.2. VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG HIỆN  
NAY  
1.2.1. Quan niệm về giáo dục đạo đức  
Giáo dục đạo đức là một bộ phận của giáo dục, là quá trình  
chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành  
những phẩm chất đạo đức nhân cách cho mỗi người, hình thành ở  
mỗi người thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện  
các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của  
pháp luật.  
1.2.2. Vai trò của giáo dục đạo đức truyền thống hiện nay  
Giáo dục đạo đức truyền thống sẽ góp phần chuyển các quan  
niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động,  
không ngừng nâng cao trình độ nhận thức các giá trị đạo đức cho  
mỗi người từ trình độ nhận thức thông thường lên trình độ nhận thức  
khoa học.  
Giáo dục đạo đức không chỉ nâng cao trình độ nhận thức đạo  
đức, giữ gìn những giá trị, chuẩn mực đạo đức đã được các thế hệ  
trước tạo nên, nó còn góp phần tạo ra những giá trị đạo đức mới, xây  
dựng những quan điểm, phẩm chất đạo đức mới, quan niệm sống tích  
cực cho mỗi đối tượng giáo dục.  
Thông qua giáo dục đạo đức, các giá trị đạo đức truyền thống  
của dân tộc được thế hệ trẻ tiếp nhận, kế thừa.  
13  
Giáo dục đạo đức truyền thống có vai trò quan trọng trong sự  
hình thành nhân cách và phát triển nhân cách.  
Như vậy, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống có ảnh hưởng  
không nhỏ tới sự hình thành và phát triển nhân cách. Chúng tạo ra  
“bản sắc” của mỗi người, mỗi cộng đồng người, mỗi vùng, miền,  
mỗi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, sự hình thành  
nhân cách là một quá trình lâu dài, chứ không phải hình thành một  
lần là xong xuôi. Nhân cách là một quá trình luôn đòi hỏi sự trau dồi  
thường xuyên.  
14  
CHƢƠNG 2  
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIÁO  
DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN  
Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY  
2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI GIÁO DỤC GIÁ TRỊ  
ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY  
2.1.1. Điều kiện tự nhiên  
Với diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.438 km2 (năm 2014),  
Quảng Nam là tỉnh ven biển, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm  
miền Trung. Tỉnh Quảng Nam được tách ra từ tỉnh Quảng Nam – Đà  
Nẵng từ năm 1997.  
Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây  
sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung  
du, vùng đồng bằng và ven biển;  
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ  
có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông  
lạnh miền Bắc. Nhiệt độ trung bình năm 20 – 210C, không có sự cách  
biệt lớn giữa các tháng trong năm.  
2.1.2. Điều kiện kinh tế  
Sau hai mươi năm tái lập tỉnh (1997 - 2017) nền kinh tế đã có  
nhiều đổi thay, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Quy mô kinh tế tăng  
trưởng nhanh, trong đó, công nghiệp - dịch vụ có sự thay đổi mạnh  
trong cơ cấu kinh tế với giá trị sản xuất công nghiệp tăng hơn nhiều  
lần so với năm đầu tái lập  
Quảng Nam có 13 khu công nghiệp, đặc biệt khu kinh tế mở  
Chu Lai đã được thành lập từ năm 2003 (QĐ 108 của Thủ tướng  
Chính phủ) và khu kinh tế Cửa khẩu Nam Giang vừa được thành lập  
15  
năm 2006 (QĐ 211 của Thủ tướng Chính phủ) tạo động lực để  
Quảng Nam tăng tốc và cất cánh.  
Trong một nền kinh tế có nhiều chuyển đổi, tồn tại nhiều  
thành phần kinh tế đan xen như hiện nay có ảnh hướng không nhỏ  
đến đời sống tinh thần, trong đó có đạo đức sinh viên.  
2.1.3. Ảnh hƣởng của môi trƣờng văn hóa – xã hội  
Văn hóa Quảng Nam được chọn lọc, kế thừa và phát huy các  
yếu tố bên ngoài, kết hợp với văn hóa nội sinh bản địa tạo ra những  
giá trị văn hóa vừa có cội nguồn từ nền văn hóa Việt Nam, vừa có  
sắc thái địa phương với những giá trị đặc trưng riêng. Con người xứ  
Quảng đã biết kế thừa và phát triển “tô điểm” được đặc tính văn hóa  
riêng biệt của người Quảng Nam.  
Vùng văn hóa Quảng Nam được hình thành trong tổng thể  
vùng văn hóa miền Trung. Địa hình nằm ở chính trung điểm đất  
nước theo trục Bắc - Nam, đây là nơi giao hòa của những sắc thái  
văn hóa giữa hai miền và giao lưu văn hóa với bên ngoài, điều này  
góp phần làm cho Quảng Nam giàu truyền thống và độc đáo về bản  
sắc văn hóa …  
Nói đến vùng đất Quảng Nam chúng ta không thể không biết  
đến phố cổ, đến Chùa Cầu, đến những món ăn đặc trưng của vùng  
đất này cùng với những món ăn nổi tiêng như cao lầu, mỳ quảng …  
tất cả làm nên một địa danh nổi tiếng khắp nơi không chỉ trong nước  
mà còn vang xa ra bên ngoài thế giới.  
2.2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN  
THỐNG CHO SINH VIÊN Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY  
2.2.1. Những mặt tích cực trong giáo dục giá trị đạo đức  
truyền thống cho sinh viên ở Quảng Nam hiện nay  
Thứ nhất, đa số sinh viên Quảng Nam đều có lòng yêu nước và  
16  
lòng tự hào, tự tôn, tự trọng dân tộc sâu sắc. Đây là một truyền thống  
đạo đức vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam nói chung và của  
người dân Quảng Nam nói riêng.  
Thứ hai, họ là những người sống có mục đích, có lý tưởng  
cao đẹp.  
Thứ ba, đại đa số sinh viên đều có ý thức chủ động, tích cực học  
tập, nghiên cứu khoa học vì ngày mai lập thân, lập nghiệp.  
Thứ tư, phần lớn sinh viên dễ thích nghi trước những biến đổi  
về kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước, họ rất năng động, nhạy cảm  
với cái mới, biết hướng hoạt động sống của mình về một tương lai tốt  
đẹp, nhiệt tình với các hoạt động của xã hội, có tinh thần tương thân  
tương ái vì cộng đồng.  
Bên cạnh nhà trường, bản thân sinh viên, những chuyển biến  
theo hướng tích cực trong đạo đức của sinh viên phải nói đến vai trò  
của gia đình. Gia đình có vai trò rất lớn trong việc hình thành nhân  
cách của mỗi cá nhân, đặc biệt là trong vấn đề giáo dục đạo đức cho  
con cái. Truyền thống đạo đức của gia đình có ảnh hưởng sâu sắc và  
trực tiếp đến con cái. Dưới sự định hướng của gia đình, kết hợp với  
truyền thống đạo đức của gia đình, sẽ tác động rất tích cực tới đời  
sống và các hành vi đạo đức của các em.  
2.2.2. Những hạn chế trong giáo dục giá trị đạo đức truyền  
thống cho sinh viên ở Quảng Nam và nguyên nhân của nó  
Xem xét và đánh giá một cách toàn diện, bên cạnh những mặt  
tích cực của công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên,  
chúng ta không thể không thừa nhận vẫn còn tồn tại những hạn chế,  
thiếu sót nhất định.  
Thứ nhất, trong nhận thức đôi khi chúng ta chưa thấy hết tính  
cấp thiết, tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức truyền  
17  
thống, còn xem nhẹ công tác giáo dục văn hóa, đạo đức, lối sống mà  
chỉ quan tâm chú trọng vào phát triển kinh tế, tạo ra sự phát triển  
thiếu đồng bộ.  
Thứ hai, khi đất nước chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp  
sang cơ chế thị trường, chúng ta không lường hết được cả những tác  
động tích cực, lẫn tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, và mở cửa  
giao lưu quốc tế đến sự phát triển của đạo đức.  
Thứ ba, vấn đề môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và  
xã hội giữ vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục đạo đức cho  
sinh viên.  
Thứ tư, việc chúng ta phải chứng kiến những hiện tượng vi  
phạm pháp luật, vi phạm những chuẩn mực đạo đức truyền thống của  
dân tộc là những sinh viên còn ngồi trên ghế trường Đại học, Cao  
đẳng đã gây nên sự bất bình trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của  
mọi người đối với thế hệ mai sau.  
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nhân tố cả chủ  
quan lẫn khách quan:  
Thứ nhất, trình độ nhận thức: Đạo đức lối sống của sinh viên  
vừa chịu sự tác động trực tiếp của nền kinh tế thị trường vào các  
quan hệ xã hội giữa người với người, vừa chịu ảnh hưởng do lối sống  
thiếu gương mẫu, thiếu trách nhiệm của người lớn với lớp trẻ.  
Thứ hai, trong mối quan hệ gia đình: Gia đình là nhân tố tích  
cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, thông qua việc thực hiện các  
chức năng quan trọng: tái sản xuất ra con người, nuôi dưỡng chăm  
sóc, giáo dục các thành viên.  
Thứ ba, Nhà trường: Nhà trường giữ vai trò hết sức đặc biệt, là  
thiết chế xã hội có chức năng chuyên trách về giáo dục tri thức, nhân cách  
cho sinh viên.  
18  
Thứ tư, môi trường xã hội: là nơi sinh viên có thể thể hiện,  
khẳng định bản thân mình. Đó là đoàn thể xã hội mà các em tham gia,  
cộng đồng các em sinh sống, câu lạc bộ, nơi vui chơi giải trí ... ở  
những nơi ấy, mỗi sinh viên lại có những mối quan hệ khác nhau và có  
cả sự ganh ghét, gian xảo, vụ lợi ... ;  
Một nguyên nhân hết sức quan trọng xuất phát từ chính bản  
thân sinh viên – đối tượng giáo dục. Bên cạnh những mặt tích cực,  
một bộ phận sinh viên tỏ ra thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng phẩm  
chất đạo đức.  
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ  
ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN Ở QUẢNG  
NAM HIỆN NAY  
2.3.1. Những bất cập trong giáo dục đạo đức ở trƣờng học  
và bản thân sinh viên  
Thứ nhất, chú trọng giáo dục tri thức khoa học, công nghệ mà  
coi nhẹ giáo dục đạo đức, cho rằng chỉ cần phát triển kinh tế thì trình  
độ đạo đức xã hội sẽ được nâng lên.  
Thứ hai, công tác giáo dục đạo đức có xu hướng tách rời thực  
tế khá nghiêm trọng.  
Các hình thức giáo dục đạo đức cơ bản:  
Một là, giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy học tập các môn  
học lý thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.  
Hai là, giáo dục qua tuần giáo dục công dân, tuyên truyền,  
giáo dục phẩm chất đạo đức lối sống và truyền thống dân tộc.  
Ba là, lồng ghép nội dung giáo dục phẩm chất đạo đức lối  
sống và truyền thống dân tộc cho sinh viên trong xây dựng nội dung  
chương trình, bài giảng.  
Nguyên nhân:  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 17660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_giao_duc_gia_tri_dao_duc_truyen_thong_cho_s.pdf