Luận án Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
----------------------------  
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ  
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN CÁC TỈNH  
BẮC TRUNG BỘ VIỆT NAM  
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ  
HÀ NỘI, NĂM 2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
----------------------------  
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ  
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN CÁC TỈNH  
BẮC TRUNG BỘ VIỆT NAM  
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ  
MÃ SỐ: 62 34 04 10  
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
1. TS. PHẠM XUÂN HẬU  
2. PGS. TS. HOÀNG VĂN THÀNH  
HÀ NỘI, NĂM 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của  
riêng tôi. Kết quả được trình bày trong luận án do tôi thực hiện dưới sự  
hướng dẫn của TS. Phạm Xuân Hậu và PGS.TS Hoàng Văn Thành. Các tài  
liệu, số liệu và trích dẫn đã sử dụng trong luận án là trung thực, chính xác.  
Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ  
công trình nghiên cứu nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm  
trước pháp luật.  
Nghiên cứu sinh  
Nguyễn Thị Thanh Huyền  
 
ii  
MỤC LỤC  
 
iii  
iv  
PHỤ LỤC  
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ  
Trang  
 
vi  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
BTB  
Viết đầy đủ tiếng Việt  
Bắc Trung Bộ  
ĐTM  
Báo cáo đánh giá tác động môi trường  
Tổ chức lương thực thế giới  
Khu kinh tế  
FAO  
KKT  
KH&CN  
KTB  
Khoa học và công nghệ  
Kinh tế biển  
NGTK  
PTKTB  
PTBV  
QP-AN  
UBND  
Chữ viết tắt  
IMO  
Niên giám thống kê  
Phát triển kinh tế biển  
Phát triển bền vững  
Quốc phòng - an ninh  
Uỷ ban nhân dân  
Viết đầy đủ tiếng Anh  
International Maritime Organization  
Organization for Economic Cooperation and Development  
Particularty Sentitive Sea Area  
Gross Regional Domestic Product  
OECD  
PSSA  
GRDP  
 
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu  
Biển, đảo là một phần lãnh thổ thiêng liêng, có vị trí chiến lược, có vai trò  
quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta  
đặc biệt quan tâm đến bảo vệ, quản lý để phát triển kinh tế biển, đảo. Đảng  
Cộng sản Việt Nam đã chủ trương đưa Việt Nam thành “Quốc gia mạnh về  
biển, giàu lên từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển gắn với cơ cấu  
phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với  
tầm nhìn dài hạn”. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa XII) vừa qua cũng đặc  
biệt nhấn mạnh vai trò của kinh tế biển và đã đề ra trong nghị quyết về mục  
tiêu, chủ trương của phát triển kinh tế biển bền vững.  
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá X về Chiến lược  
biển Việt Nam đến năm 2020, nhận thức của toàn hệ thống chính trị, nhân dân  
và đồng bào ta ở nước ngoài về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với phát triển  
kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia được nâng lên rõ rệt. Chủ quyền, an ninh  
quốc gia trên biển được giữ vững; công tác tìm kiếm cứu nạn, an toàn hàng hải  
cơ bản được đảm bảo; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển được triển  
khai chủ động, toàn diện. Kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành  
động lực phát triển đất nước; thệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư;  
đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện. Nghiên  
cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực về biển đạt được nhiều  
kết quả tích cực. Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi  
trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng. Hệ  
thống chính sách, pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước về biển, đảo từng bước  
được hoàn thiện và phát huy hiệu lực, hiệu quả.  
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Nghị quyết vẫn còn nhiều hạn chế,  
yếu kém và khó khăn, thách thức trong phát triển bền vững kinh tế biển. Phát  
triển kinh tế biển chưa gắn kết hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi  
trường. Lợi thế, tiềm năng là cửa ngõ vươn ra thế giới chưa được phát huy đầy  
đủ; việc thực hiện chủ trương phát triển một số ngành kinh tế biển mũi nhọn  
   
2
chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Ô nhiễm môi trường biển ở nhiều nơi còn  
diễn ra nghiêm trọng, ô nhiễm rác thải nhực đã trở thành vấn đề cấp bách. Khoa  
học và công nghệ, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực biển chưa trở  
thành nhân tốt then chốt trong phát triển bền vững kinh tế biển và hợp tác quốc  
tế về biển chưa hiệu quả.  
Trong bối cảnh mới của tình hình các nước trong khu vực, kinh tế biển  
chịu nhiều tác động của yếu tố bên ngoài, sự ảnh hưởng của các nước liên quan  
đến biển. Do vậy, muốn kinh tế biển phát triển, quản lý nhà nước (QLNN) phải  
được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, đi tiên phong để hỗ trợ, thúc đẩy các  
yếu tố khác cùng tham gia phát triển kinh tế biển. Chính vì vậy, nhiệm vụ  
QLNN về phát triển kinh tế biển là một nhiệm vụ mang tính chiến lược trong  
phát triển kinh tế biển nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.  
Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển là yếu tố không thể thiếu ở  
cấp quốc gia và ở các địa phương, đặc biệt là các địa phương ven biển. Khu  
vực Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh ven biển: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng  
Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Với chiều dài trên 670 km bờ biển, nguồn  
tài nguyên phong phú để phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực, trong đó đáng  
chú ý là những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên khoáng sản và nguồn lực con  
người. Biển đã đem lại cho khu vực Bắc Trung Bộ nhiều lợi thế lớn từ phát  
triển kinh tế hàng hải, khai thác hải sản, du lịch biển và phát triển các khu kinh  
tế ven biển. Các ngành kinh tế biển luôn chiếm tỷ trọng lớn trong phát triển  
kinh tế của Khu Vực.  
Sáu tỉnh Bắc Trung Bộ đều thuộc vùng ven biển miền Trung, khoảng cách  
địa lý gần nhau, bên cạnh đó, có nhiều điểm tương đồng về địa hình, địa mạo,  
về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội cũng như điều kiện phát triển kinh tế  
biển. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, các tỉnh này đều phát triển kinh tế  
biển theo định hướng gần giống nhau: phát triển cảng biển, du lịch biển, đánh  
bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản…điều này dẫn đến không phát huy lợi thế tối đa  
của khu vực và làm giảm khả năng cạnh tranh của từng tỉnh. Có nhiều nguyên  
nhân dẫn đến kết quả đó, mà một nguyên nhân quan trọng là quản lý nhà nước  
(QLNN) về phát triển kinh tế biển ở cấp tỉnh. Việc nghiên cứu QNNN về phát  
3
triển kinh tế biển tại các tỉnh Bắc Trung Bộ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết,  
và trên thực tế, chưa có nhiều nghiên cứu về QLNN về phát triển kinh tế biển  
tại khu vực này.  
Từ những vấn đề lý luận, thực tiễn QLNN về phát triển kinh tế biển mà  
các tỉnh đã đạt được, những hạn chế thiếu sót còn tồn tại để tìm ra những giải  
pháp phù hợp hoàn thiện QLNN về phát triển kinh tế biển ở các tỉnh Bắc Trung  
Bộ, qua đó thúc đẩy kinh tế biển phát triển. Điều nay đòi hỏi có những công  
trình nghiên cứu khoa học, tìm hiểu mô hình QLNN về phát triển kinh tế biển  
ở các tỉnh, các nội dung phân cấp QLNN của tỉnh về phát triển kinh tế biển đối  
với chính quyền tỉnh làm rõ những điểm mạnh để phát huy, điểm yếu để khắc  
phục, từ đó cơ sở luận chứng các giải pháp xây dựng và hoàn thiện QLNN về  
kinh tế biển của các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam, nhằm góp phần phát triển  
kinh tế biển cho một khu vực giàu tiềm năng về biển. Từ những lý do trên, thí  
sinh chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển các tỉnh Bắc  
Trung Bộ Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ.  
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án  
Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu về QLNN đối với việc  
phát triển kinh tế biển đã được đặt ra như: Nghiên cứu khai thác tiềm năng của  
biển, nghiên cứu cơ sở hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược và các kế  
hoạch dài hạn nhằm phát triển kinh tế biển, nghiên cứu phương thức quản lý  
tổng hợp biển và vùng bờ biển, các yếu tố ảnh hưởng đến người dân vùng ven  
biển, những vấn đề đặt ra đối với phát triển bền vững ở khu vực này, cũng như  
cách thức giải quyết những hậu quả của việc biến đổi khí hậu…  
Trong phạm vi của đề tài này, tác giả sẽ tổng quan một số công trình nghiên  
cứu có liên quan đến đề tài luận án trên ba vấn đề sau: Thứ nhất, các nghiên cứu  
liên quan đến phát triển kinh tế biển nói chung. Thứ hai, các nghiên cứu liên quan  
đến việc QLNN với phát triển kinh tế biển. Thứ ba, các nghiên cứu liên quan đến  
kinh nghiệm QLNN về phát triển kinh tế biển tại một số địa phương và khu vực  
có biển ở Việt Nam và một số nước của Khu vực ASEAN.  
2.1. Một số nghiên cứu về phát triển kinh tế biển nói chung  
- Cuốn “Khoa học về biển và kinh tế miền biển” (2014- Tái bản), tác giả  
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, NXB Chính trị quốc gia. Ngày 2-8-1977, Hội  
 
4
nghị về biển lần thứ nhất của nước ta đã họp tại Nha Trang. Đại tướng Võ  
Nguyên Giáp, khi đó là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng  
Chính phủ, đã tới dự và nói chuyện với Hội nghị. Trong bài nói chuyện, Đại  
tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích tiềm năng to lớn và vị trí rất quan trọng  
của biển nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội  
chủ nghĩa. Đã hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày cuốn sách được xuất bản, nhưng  
hầu hết những nhận định, dự báo và những ý kiến quý báu của Đại tướng đóng  
góp cho Hội nghị vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Đặc biệt, những ý  
kiến chỉ đạo của Đại tướng về tầm quan trọng của biển trong chiến lược phát  
triển kinh tế và chiến lược quân sự; quan điểm kết hợp phát triển kinh tế với  
bảo đảm quốc phòng; khai thác tài nguyên, khoáng sản ở biển, khai thác kết  
hợp với nuôi trồng trên biển, tận dụng diện tích nhân tạo trên mặt nước; đưa  
dân ra sinh sống ở vùng ben biển, thềm lục địa và các đảo gần bờ và ngoài khơi  
xa... vẫn còn nguyên giá trị và phù hợp với bổi cảnh phát triển kinh tế của đất  
nước trong thời đại mới. [39]  
- Vấn đề quản lý kinh tế biển luôn đu  
̛
̆
hiẹ  
n chủ chu  
̛
̛
̛
luạ  
t có liên quan nhằm điều chỉnh về vấn đề kinh tế biển đã được đưa ra. Luật  
biển Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2012 đã tạo co  
trọng trong quản lý kinh tế biển Việt Nam. Trên cơ sở tôn trọng và thống nhất  
với Công ước Quốc tế về Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, Luật biển  
Việt Nam cũng khẳng định rõ các nguyên tắc phát triển kinh tế biển Việt Nam  
là: (1) Phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nu  
̛
với sự nghiệp bảo vẹ  
̂
chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an  
toàn trên biển; (3) Phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi tru  
biển; (4) Gắn với phát triển kinh tế - xã hội của các địa phu  
̛
̛
đảo. Luật biển Việt Nam còn đu  
̛
u
̛
̆
loại tài nguyên, khoáng sản biển; (2) Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa  
chữa tàu thuyền, phu  
ng tiẹ  
n đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; (3) Du lịch  
biển và kinh tế đảo; (4) Khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; (5) Phát triển,  
5
nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ về khai thác và  
phát triển kinh tế biển; (6) Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển. [32]  
- Tác giả Lê Quý Quỳnh đã có bài viết “Phát triển kinh tế biển kết hợp  
bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam” đăng trên tạp chí Cộng sản năm 2015.  
Qua bài viết trên, tác giả khẳng định lại vai trò quan trọng của phát triển kinh  
tế biển với bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Trong những năm vừa  
qua, Biển Đông là một trong những “điểm nóng” trên thế giới với đan xen mâu  
thuẫn và tranh chấp giữa các bên có lợi ích trực tiếp, cũng như của các nước có  
lợi ích gián tiếp ở khu vực này, kể cả Mỹ, Nhật, Úc. Những biến động ở biển  
Đông gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề an ninh và chủ quyền quốc gia,  
gây khó khăn cho phát triển kinh tế cũng như hợp tác và thu hút nguồn đầu tư  
nước ngoài vào khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên vùng biển mà Việt  
nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán. Tuy vậy, thách thức  
này cũng là cơ hội để chúng ta nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của phát triển  
kinh tế biển gắn liền với bảo vệ chủ quyền biển, đảo và bảo đảm an ninh quốc  
phòng. [19]  
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Bá Khiêm năm 2012 “Nghiên cứu  
giải pháp về vốn đầu tư khai thác cảng biển Việt Nam” [21] Trong nghiên cứu  
này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu hai vấn đề chính đó là huy động vốn đầu tư  
trong khai thác cảng biển và việc sử dụng vốn đầu tư trong khai thác cảng biển  
như thế nào? Bằng việc học hỏi kinh ngiệm của một số nước về huy động vốn  
và sử dụng vốn đầu tư trong khai thác cảng biển như Nhật Bản, Trung Quốc,  
Singapore và Mailaysia để rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam. Tác giả  
phân tích thực trạng huy động vốn ở ba khu vực cụ thể là Miền Bắc, miền Trung  
và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Phương thức huy vộng vốn hiện nay ở  
các cảng biển chủ yếu là vốn vay ODA và nguồn vốn FDI. Ngoài hai nguồn  
vốn đó, vốn đối ứng của địa phương và vốn ngân sách nhà nước đều rất hạn  
chế. Khi sử dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cảng biển, nó có những ưu điểm  
đó là lãi suất thấp, trung bình 1-2%/năm, thời gian vay dài (25-40) năm và trong  
nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, có thể chiếm tới  
25% tổng số vốn. Cảng biển Việt Nam hiện nay đang nhận những khoản FDI  
6
khổng lồ dưới hình thức hợp tác kinh doanh, liên doanh. Để đánh giá hiệu quả  
sử dụng vốn, tác giả đánh giá dựa trên các vấn đề về tăng khối lượng hàng hoá  
thông quan, hệ số khai thác cảng, tăng thu ngân sách, tạo việc làm và tăng  
trưởng GDP của ngành vận tải biển. Nhìn chung, đây là một nghiên cứu sâu và  
cụ thể trong vấn đề khai thác và sử dụng vốn để đầu tư cho cảng biển tại Việt  
Nam.  
- Cuốn “Sổ tay đánh giá tiến độ và kết quả của công tác quản lý tổng hợp  
biển và vùng bờ biển” (2008) (Nguyên bản tiếng Anh “A handbook for  
Measuring the Progress and Outcomes of Integrated Coastal and Ocean  
Management”) do Sherry Heileman biên tập, Nguyễn Công Minh, Nguyễn Đức  
Tú biên dịch [7]. Sách được tổng hợp và xuất bản dựa trên sự hợp tác của nhiều  
tổ chức quốc tế và các tác giả có uy tín trên thế giới. Nội dung sách giới thiệu  
về chức năng, nguyên tắc, quá trình quản lý tổng hợp biển và vùng bờ biển  
(ICOM), hệ thống các chỉ thị về thể chế, sinh thái, kinh tế, xã hội và áp dụng  
lựa chọn các chỉ thị đó trong việc đánh giá quá trình quản lý tổng hợp biển và  
vùng bờ biển, hướng tới sự tham gia của cộng đồng để đề xuất phương thức  
quản lý bền vững các vùng biển và bờ biển đạt đến sự cân bằng lâu dài giữa  
các mục tiêu môi trường, kinh tế, xã hội, văn hoá và giải trí. Đây cũng là công  
trình tiếp cận đến một phương pháp quản lý không chỉ cho vùng bờ biển, mà  
còn cho các mục đích về chính sách biển quốc gia.  
- Timothy Beatley (2009) trong quyển sách “Lập kế hoạch cho sự phục  
hồi của vùng ven biển” (Planning for Coastal Resilience) [6] đã nghiên cứu  
những vấn đề về biến đổi khí hậu tác động đến các hoạt động sản xuất kinh  
doanh và đời sống của người dân ven biển. Quyển sách này tập trung vào các  
công cụ, phương pháp làm tăng cường khả năng phục hồi của những vùng ven  
biển bị ảnh hưởng bởi thiên tai… Việc phát triển mạnh các biện pháp bảo vệ  
tài nguyên biển: bảo tồn biển, các khu RAMSAR, các khu di sản và khu dự trữ  
sinh quyển UNESCO, công viên biển, PSSA…Hay việc các quốc gia dựa vào  
thông tin tài nguyên môi trường biển lập quy hoạch tổng thể sử dụng biển  
(CMSP) và ven biển các vùng biển của riêng mình, áp dụng phương pháp quản  
lý tổng hợp (ICZM) nhằm phát triển bền vững vùng ven biển.  
- Trong cuốn sách “Cơ sở tài nguyên và môi trường biển” (2005) của tác  
7
giả Nguyễn Chu Hồi, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội [23] đã đưa ra những điều  
tra, đánh giá, quy hoạch sử dụng đất, nước mặt tại các thuỷ lực biển; tiềm năng  
nước dưới đất vùng ven biển và các hải đảo, đã xác định và hệ thống hoá số  
liệu cơ bản về số lượng và chất lượng tài nguyên đất, tài nguyên nước mặt, tài  
nguyên nước dưới đất tại vùng ven biển và hải đảo; đánh giá hiện trạng tiềm  
năng tài nguyên đất, tài nguyên nước ở khu vực này; đồng thời nêu định hướng  
quy hoạch tài nguyên đất, nước mặt, nước dưới đất trong một số năm tiếp theo,  
nhằm đáp ứng hài hoà các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng –  
an ninh và bảo vệ môi trường.  
- Cuốn: “Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển thuỷ sản Việt Nam”  
(2007)[38] của Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn đã tập hợp các bài viết của nhiều tác giả là những nhà nghiên  
cứu, quản lý trong nhiều lĩnh vực liên quan đến phát triển kinh tế biển được  
công bố tại hội thảo với chủ đề: “tầm nhìn kinh tế biển” được tổ chức tại Hà  
Nội. Nội dung các bài viết đã đề cập đến nhiều lĩnh vực như vai trò của kinh tế  
biển nói chung, của ngành Thuỷ sản trong sự nghiệp phát triển kinh tế biển và  
bảo vệ chủ quyền biển Việt Nam, về cơ hội và các thách thức trong việc phát  
triển kinh tế biển ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay, về ứng dụng  
khoa học - công nghệ trong phát triển kinh tế biển bền vững, bảo vệ môi trường  
sinh thái biển. Các tác giả tập trung nhấn mạnh đến vai trò của ngư dân, của  
hợp tác quốc tế, của tổ chức phi chính phủ trong việc phát triển kinh tế biển, và  
định hướng phát triển kinh tế biển của những địa phương có nhiều tiềm năng  
về kinh tế biển như Hải Phòng, Đà Nẵng.  
- “Đề án hợp tác quốc tế về biển đến 2020” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư  
trình Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 13/6/2008, [8] đã xác định những  
quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ hợp tác quốc tế về biển trong từng ngành,  
từng lĩnh vực cụ thể như dầu khí, kinh tế hàng hải, kinh tế đảo và du lịch biển,  
lĩnh vực hải sản, sản xuất muối biển, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất,  
khu kinh tế và xây dựng kết cấu hạ tầng về biển, hợp tác trong bảo đảm an ninh,  
an toàn trên biển, trong lĩnh vực thăm dò và khai thác tài nguyên và phát triển  
khoa học công nghệ về biển và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý nhà nước  
8
về biển.  
- “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển  
Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến năm 2020” của Bộ kế hoạch và Đầu  
tư trình Thủ Tướng chính phủ phê duyệt ngày 3/2/2009, [9] xác định phạm vi  
quy hoạch vùng biển và ven biển thuộc vịnh Thái Lan, khẳng định mục tiêu  
phát triển vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc vịnh Thái Lan thành khu vực  
kinh tế năng động, tạo thành hành lang kinh tế biển vịnh Thái Lan, phát triển  
ngành kinh tế biển mũi nhọn, làm trụ cột góp phần thịnh vượng chung của khu  
vực biển và ven biển Tây Nam của Việt Nam. Quy hoạch cũng xây dựng  
phướng hướng tổ chức không gian kinh tế, phát triển các ngành và lĩnh vực đặc  
biệt là phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, bảo đảm  
phát triển các vấn đề xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường  
và phát triển bền vững, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững  
chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, tăng cường hợp tác quốc tế về  
biển.  
2.2. Một số nghiên cứu quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển  
- Hội thảo khoa học “Phát triển bền vững kinh tế biển: từ chiến lược chính  
sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay” [11] do Trường đại học Kinh tế - Đại  
học Quốc Gia Hà Nội tổ chức vào tháng 12/2017 với nhiều bài viết cho giá trị  
cho phát triển kinh tế biển đảo. Tác giả Vũ Sỹ Tuấn với bài viết “Quản lý tổng  
hợp tài nguyên môi trường biển và hải đảo”. Quản lý tổng hợp về biển và hải  
đảo là mọ  
̂
̂
̛
̛
lý tổng hợp bắt đầu đu  
nhiên, Tổng cục Biển và Hải đảo Viẹ  
và hải đảo đến na  
biển và hải đảo vừa đu  
viết chu  
̛
đảo, mà chỉ mới nêu ra ý tu  
hợp tài nguyên, môi tru  
Tác giả có đề xuất mọ  
thông tin liên quan đến quản lý tổng hợp. Tác giả Nguyễn Chu Hồi với bài viết  
9
“Các lợi thế chiến lược cho kinh tế biển miền Trung phát triển bền vững”.  
Miền Trung và 14 tỉnh thành ven biển trong vùng vừa có những lợi thế địa  
chiến lu  
̛
̂
̂
biển, ven biển và đảo, bảo đảm cho kinh tế biển ở đây phát triển bền vững và  
ta  
̆
̛
trong dài hạn cần phải thay đổi tầm nhìn, xóa bỏ định kiến và xác định đúng u  
tiên phát triển trên nguyên tắc tôn trọng “tính trọ  
của các hẹ  
Đây là những vấn đề chung, dài hạn đu  
nhằm góp thêm tiếng nói cho kinh tế biển của mọ  
của đất nu  
Hải với bài viết “Tiềm năng năng lượng tái tạo vùng biển ven bờ Việt Nam và  
các dự án kéo điện từ đất liền ra các đảo”. Bài báo trình bày hai vấn đề về bản  
chất có mối quan hệ chặt chẽ là tiềm năng năng lu  
ven bờ Việt Nam và các dự án kéo điện từ đất liền ra các đảo ven bờ đang đu  
triển khai mạnh mẽ trong thời gian qua. Hiệu quả kinh tế xã hội của các dự án  
kéo điện từ đất liền ra đảo, đu  
động trên các đảo ven bờ ghi nhận xuất phát từ các lý do: sự trợ cấp của Nhà  
nu  
̛
Nhà nu  
và nghiệt điện, cũng nhu  
ven bờ. Từ việc phân tích xu hu  
năng lu  
bỏ các trợ cấp Nhà nu  
nghị mang tính dự báo: là việc chuyển tải điện từ đất liền ra các đảo ven bờ cần  
thiết trong giai đoạn hiện nay có thể sẽ đu  
sản xuất từ nguồn năng lu  
tải điện từ đất liền ra đảo thành chuyển điện từ đảo vào đất liền sẽ diễn ra nhanh  
chóng khi Nhà nu  
của vùng biển ven bờ và xóa bỏ bao cấp trong sản xuất điẹ  
lu  
̛
10  
- Trần Thị Thu Trang (2015) đã có bài viết “Nâng cao chất lượng nguồn  
nhân lực tạo bàn đạp cho kinh tế biển phát triển bền vững” Tạp chí Cộng sản,  
số 103 [36]. Chất lượng nguồn lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao có ảnh  
hưởng trực tiếp đến sự phát triển của mỗi nền kinh tế. Hiện nay, kinh tế biển  
được đánh giá là động lực chính của sự tăng trưởng và là mục tiêu theo đuổi  
của rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Các vùng ven biển  
và đảo của Việt Nam đang có lực lượng lao động khoảng 12,8 triệu người,  
chiếm 23,88% số lao động của cả nước. Đây là nguồn nhân lực dồi dào và quan  
trọng trong quá trình phấn đấu Việt Nam trở thành một quốc gia biển. Chất  
lượng nguồn nhân lực biển của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước  
ở Châu Á. Chỉ số kinh tế tri thức (KEI) còn khiêm tốn ở mức 3,02 điểm, xếp  
thứ 102/133 quốc gia phân loại. Những điều này cho thấy nguồn nhân lực có  
tay nghề và kỹ năng của nước ta đang còn yếu và thiếu so với các nước trong  
khu vực.  
- Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Liên (2014) với nghiên cứu “Các vấn đề  
trong phát triển nhà máy điện gió ở Việt Nam: Nghiên cứu từ trường hợp Nhà  
máy điện gió Bình Thuận”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN [29]. Bài báo phân  
tích các vấn đề liên quan đến phát triển điẹ  
̂
̂
Đông Nam Á đu  
̛
̆
̂
dụng phu  
̛
̛
giá mọ  
t cách đầy đủ những thuạ  
ở Bình Thuạ  
hiẹ  
̂
đu  
̛
ợc phân tích trong nghiên cứu đồng thời sẽ là những bài học và kinh  
nghiẹ  
̂
m hữu ích cho các dự án phát triển điẹ  
Nam.  
- Nguyễn Chu Hồi (2014) với bài viết “Kinh tế biển xanh: vấn đề và cách  
tiếp cận cho Việt Nam” Tạp chí Lý luận chính trị, số T10/2014 [25]. Trong hơn  
20 năm qua, toàn thế giới đã nổ lực thực hiện “phát triển bền vững”, nhưng thực  
tế kết quả PTBV đạt được lại rất “không bền vững” và PTBV chỉ là mục tiêu  
mong đợi về mặt xã hội. Chính vì thế, tại Rio+20 (6/2012) các quốc gia đã cùng  
11  
nhau xác định 6 nhóm vấn đề cần giải quyết để thúc đẩy PTBV trái đất: Tăng  
trưởng xanh, nguồn vốn tự nhiên, đại dương, đô thị xanh, cảnh quan và năng  
lượng bền vững. Khả năng phát biển một nền kinh tế biển xanh ở nước ta thực  
sự là một vấn đề quốc gia đại sự khi mà nền “kinh tế nâu” như là “vật cản” trên  
chặng đường PTBV. Vì thế, chiến lược tăng trưởng xanh ra đời là sự khẳng định  
xu thế phát triển đúng đắn trong dài hạn của nền kinh tế Việt Nam, chủ động  
chuyển từ “kinh tế nâu” sang nền “kinh tế xanh” với các lợi ích cơ bản: góp phần  
xoá đói giảm nghèo, giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và biến  
đổi đại dương, duy trì và tiến tới tăng cường nguồn vốn tự nhiên, đảm bảo công  
bằng và hướng tới PTBV. Tác giả cũng phân tích nhiều cơ hội, thách thức với  
phát triển kinh tế biển xanh ở Việt Nam.  
- Dư Văn Toán (2009) với bài viết “Về một cách tiếp cận bảo vệ tài nguyên  
môi trường biển mới ở vùng biển Việt Nam phục vụ phát triển kinh tế biển bền  
vững”, Hội thảo quốc gia môi trường và PTBV [14]. Đây là một nghiên cứu  
về PSSA (Particularly Sensitive Sea Area) có tên gọi là “Vùng biển nhạy cảm  
đặc biệt” là vùng biển có giá trị cao về môi trường tự nhiên, kinh tế- xã hội,  
khoa học và giáo dục. Trên thế giới, đã có nhiều vùng biển của nhiều quốc gia  
như Mỹ, Anh, Pháp có các vùng biển PSSA được Tổ chức Hàng hải Quốc tế  
(IMO) công nhận. Vùng PSSA sẽ được thông báo, phổ biến rộng rãi các hướng  
dẫn trên các bản tin của IMO, đến các quốc gia thành viên của IMO. Quốc gia  
có cùng PSSA của IMO thể hiện sự công nhận quốc tế về tuân thủ luật pháp  
hàng hải quốc tế, cũng như sự công nhận chủ quyền lãnh hải, chính vì vậy,  
nhiều quốc gia có biển đều muốn thiết lập vùng PSSA. Đồng thời, đây cũng là  
công cụ bảo tồn các giá trị tài nguyên biển song song với hệ thống các khu bảo  
tồn biển, khu dự trữ sinh quyển, di sản thiên nhiên, công viên đại dương. Vùng  
Biển Đông và vùng vịnh Bắc Bộ có rất nhiều hoạt động hàng hải, đặc biệt là  
hàng hải quốc tế. Tàu chở dầu đi qua Biển Đông chiếm đến 50% số tàu chở dầu  
trên thế giới. Với sự gia tăng phát triển kinh tế khu vực Đông Bắc Á, dẫn đến  
sự gia tăng tiêu thụ về dầu mỏ và gia tăng số lượng tàu dầu đi qua Biển Đông  
nên nguy cơ ô nhiễm dầu rất cao. Do đó, xác định các vùng PSSA cho Việt  
Nam là rất cần thiết. Tuy nhiên, cho đến nay nước ta chưa có những nghiên cứu  
12  
để xây dựng luận chứng khoa học, xác định vùng có thể là PSSA và dự thảo hồ  
sơ trình IMO công nhận các vùng PSSA. Qua nghiên cứu này, tác giả hy vọng  
Việt Nam sẽ sớm có vùng biển PSSA trên bản đồ của IMO.  
- Anne Maria Eikeset (cùng nhóm nghiên cứu) (2018) với nghiên cứu  
“What is blue growth? The semantics of “Sustainable Development” of marine  
enviroments” Marine Policy 87(2018) 177-179 [1]. Đây là một nghiên cứu về  
lý thuyết, và tác giả giúp người đọc hiểu hơn về khái niệm “Blue growth” “tăng  
trưởng xanh” là gì? Hội nghị thứ tư về SD (Sustainable Development), Rio +20  
được tổ chức tại Rio vào năm 2012, một khái niệm mới ra đời trong bối cảnh  
khủng hoảng tài chính quốc tế. Khái niệm này là “Tăng trưởng xanh”, đặt tên  
cho khái niệm này là khởi đầu cho nhiều chính phủ bắt đầu suy nghĩ về những  
cách để thực sự đạt được sự phát triển bền vững của các đại dương.  
Theo OECD, “Tăng trưởng xanh” có nghĩa là thúc đẩy tăng trưởng và  
phát triển kinh tế trong khi đảm bảo nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp  
các nguồn lực và dịch vụ môi trường mà chúng ta đang dựa vào. Kể từ hội thảo  
Rio +20, khái niệm này được sử dụng rộng rãi và trở nên quan trọng trong phát  
triển thuỷ sản ở nhiều quốc gia, trong khu vực cũng như quốc tế. Mặc dù tăng  
trưởng xanh có nhiều tiềm năng để đảm bảo việc sử dụng bền vững các đại  
dương, nhưng nó gặp phải một số thách thức. Một trong những trở ngại của nó  
là thiếu một mục tiêu chung về sự tăng trưởng xanh. Đối với một số nước, tăng  
trưởng xanh xoay quanh việc tăng trưởng kinh tế tối đa từ nguồn lợi thuỷ sản  
và biển, nhưng đối với nước khác, nó có nghĩa là tối đa hoá tăng trưởng kinh tế  
toàn diện có nguồn gốc từ biển và thuỷ sản đồng thời ngăn chặn sự thoái hoá  
vốn tự nhiên xanh. Hoặc một thách thức khác đó là tăng trưởng xanh có liên  
quan đến tính liên ngành. Không chỉ các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau  
phải làm việc cùng nhau, họ cũng cần phải làm việc với các nhà hoạch định  
chính sách, chính trị gia và các bên liên quan khác, đảm bảo một sự phối hợp  
toàn diện nhằm đưa ra các giải pháp khả thi.  
- Brian Clark Howard (2018) với nghiên cứu “Blue growth: Stakeholder  
perspectives” Marine Policy 87 (2018) 375-377 [2]. Phát triển bền vững  
thường được xem là một vấn đề khoa học hoặc chính trị, tuy nhiên các bên liên  
quan khác như cộng đồng dân cư, doanh nghiệp…cũng có vai trò rất lớn. Hành  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 182 trang yennguyen 10240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_quan_ly_nha_nuoc_ve_phat_trien_kinh_te_bien_cac_tinh.pdf