Tóm tắt Luận văn Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính nhìn từ lý thuyết phân tâm học

1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Phân tâm học (psychoanalyse) do Sigmund Freud (1856 - 1939)  
sáng lập. Ông được biết đến như một nhà tâm lí học đầu tiên phân  
tích sự hiện hữu, sự can thiệp của vô thức vào đời sống của con  
người một cách hệ thống nhất. Học thuyết Freud ảnh hưởng lớn đến  
triết học, tâm lý học, xã hội học, y học…và đặc biệt là văn học, một  
lĩnh vực khoa học nhân văn.  
Ở Việt Nam, qua những bước thăng trầm, phân tâm học Freud để  
lại dấu ấn đậm nhạt trong nhiều giai đoạn văn học, ở cả hai lĩnh vực  
sáng tác lẫn phê bình. Sau 1986, trong xu thế hội nhập toàn cầu, với  
việc tiếp nhận những lí thuyết mới, không thể phủ nhận vai trò của  
phân tâm học trong đời sống văn học. Ở lĩnh vực sáng tác, đặc biệt  
thể loại tiểu thuyết, dấu ấn phân tâm học đậm nét ở nhiều tác phẩm  
của Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Y Ban, Tạ Duy  
Anh,…trong đó Nguyễn Đình Chính là một hiện tượng tiêu biểu.  
Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính không nhiều, nhưng với hai  
tác phẩm Ngày hoàng đạo và Online…ba lô nhà văn đã thật sự khẳng  
định phong cách, đặc biệt nếu soi chiếu từ phân tâm học. Dấu ấn  
phân tâm học không ngẫu nhiên trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết  
Nguyễn Đình Chính mà nhà văn có ý thức vận dụng lí thuyết Freud  
để khắc họa cũng như giải mã con người hiện đại.  
Chọn đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính nhìn từ lý  
thuyết phân tâm học,luận văn nhằm mục đích khẳng định những  
đóng góp mới mẻ trong tư duy nghệ thuật cũng như phong cách nhà  
văn. Qua đó khẳng định giá trị nhân văn và những đóng góp đáng ghi  
2
nhận của tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính vào tiến trình cách tân tiểu  
thuyết Việt Nam đương đại.  
Mặc khác, trong sự đổi mới tư duy tiểu thuyết, Nguyễn Đình  
Chính là nhà văn gây những luồng tiếp nhận khác nhau. Dùng lý  
thuyết phân tâm học để soi sáng thế giới nghệ thuật tiểu thuyết  
Nguyễn Đình Chính là hướng đi có nhiều ưu thế. Từ đó có thể lí giải  
vì sao cùng một hiện tượng văn học nhưng cách đánh giá lại không  
thuần nhất ở từng thời điểm lịch sử.  
2. Lịch sử vấn đề  
2.1. Những công trình, bài báo liên quan gián tiếp đến đề tài  
Qua các công trình Hồ Xuân Hương - hoài niệm phồn thực, Bút  
pháp của ham muốn, Phân tâm học và phê bình văn học ở Việt Nam,  
Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm…Đỗ Lai Thúy đã làm rõ, cụ thể  
hóa lí thuyết về vô thức tập thể, lý giải mặc cảm tính dục ấu thơ, mặc  
cảm hoạn...  
Phạm Văn Sĩ với công trình Về tư tưởng và văn học phương Tây  
hiện đại đã lược khảo và giới thiệu những trào lưu triết học có thể  
ứng dụng vào nghiên cứu văn học, trong đó có phân tâm học. Phạm  
Văn Sĩ còn khái lược sự ảnh hưởng của phân tâm học Freud trong  
một bộ phận văn học miền Nam trước 1975.  
Học thuyết S. Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt  
Nam của Trần Thanh Hà nghiên cứu về sự biểu hiện của phân tâm  
học trong văn học Việt Nam chủ yếu ở mảng sáng tác. Trong hai bài  
báo Từ cái nhìn tham chiếu phân tâm học qua truyện ngắn Việt Nam  
hiện đại và Hướng tiếp cận phân tâm học trong truyện ngắn Việt  
Nam sau 1975, Hồ Thế Hà đã điểm qua những thành tựu của phân  
tâm học qua một số tác phẩm của các tác giả tiêu biểu, từ đó khẳng  
định vai trò của phân tâm học trong việc khám phá tâm sinh lý con  
3
người, mở ra một hướng đi mới cho văn học nghệ thuật, và quan  
trọng hơn là tạo ra tính hiện đại cho truyện ngắn Việt Nam 1975 -  
2005.  
2.2. Những công trình, bài báo liên quan trực tiếp đến đề tài  
Về tiểu thuyết Ngày hoàng đạo  
In ở phần sau cuốn Ngày hoàng đạo, tập 2, Nxb Văn học, 2006  
có một số bài viết chính tác giả đã sưu tầm “coi như là những Lời bạt  
thay cho lời cảm ơn”.  
Trong bài Thay cho lời tựa, Đặng Tiến, bên cạnh việc thừa nhận  
Ngày hoàng đạo là một thành tựu của văn chương huyền ảo, còn  
khẳng định sự thành công của Nguyễn Đình Chính trong việc đưa  
tính dục vào tiểu thuyết: “Nhìn chung, trong đề tài tính dục, ngòi bút  
Nguyễn Đình Chính có nghịch ngợm nhưng lành mạnh”. Và ông kết  
luận, Ngày hoàng đạo “làm mới những giá trị không mới”.  
Nhà văn Hòa Vang với Chính Mía ở Đêm thánh nhân cảm nhận:  
“Tôi có cảm giác Đêm thánh nhân như một lưỡi ben khổng lồ của  
một cái tàu nạo vét bùn sục đến tận vỉa đấy, khuấy tung cả lòng sông  
cuộc đời lên”. Trong 240 phút mạo hiểm cùng Nguyễn Đình Chính,  
cách cảm nhận, phê bình của Văn Cầm Hải thiên về tính chất ngợi ca,  
nhưng ít nhiều cho thấy tác giả bài báo đã thực sự nhìn rõ ảnh hưởng  
phân tâm học trong ngòi bút Nguyễn Đình Chính.  
Những bài viết như Trò chuyện với Đêm thánh nhân của Hoàng  
Hữu Các, Đêm thánh nhân, cõi nào giữa trần gian của H.Q.T hay  
Những không gian xúc cảm của tiểu thuyết của nhà thơ Thanh Thảo  
đã phần nào cho người đọc thấy được những cảm nhận, những suy  
nghĩ của các tác giả theo hướng phân tâm học. P.Đ trong Mấy cảm  
nghĩ khi đọc Đêm thánh nhân đã nhận định: “Chính cố ý nói lên cái  
sự thật nó vốn là như thế, vốn nó là sự thật…”.Tác giả bài báo đồng  
4
tình với Nguyễn Đình Chính trong việc “cố ý đưa vấn đề tình dục  
vốn là bình thường của đời sống con người như đói ăn, khát uống  
thành những nhu cầu thiết yếu mà xưa nay người ta cố tình che đậy”.  
Về tiểu thuyết Online…ba lô  
Thi Anh có bài Tiểu thuyết Hậu hiện đại viết theo phong cách  
văng mạng đã nêu những cảm nhận về tiểu thuyết Online…ba lô.  
Theo đó, Online…ba lô là một thử nghiệm của Nguyễn Đình Chính  
về lối viết hậu hiện đại. “Khuôn khổ cũ đã chật”, Nguyễn Đình Chính  
đi tìm cho mình một lối viết mới. Khôi Nguyên trong bài Khuôn mẫu  
cũ về tình yêu đã chật nhận định đây là cuốn tiểu thuyết đang cố gắng  
dò tìm những đại giá trị mới. Với sự xuất hiện khá dầy đặc những  
đoạn diễn biến tâm lý hướng đến sex nhưng “đọc không có cảm giác  
dung tục, mà ngược lại, khiến người ta cảm thấy bị nhìn soi mói vào  
gan ruột”.  
Nhìn chung, những công trình, bài báo viết về tiểu thuyết  
Nguyễn Đình Chính còn ở dạng riêng lẻ. Cũng chưa có công trình  
nào nghiên cứu một cách hệ thống tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính  
nhìn từ lý thuyết phân tâm học. Qua việc khảo sát các công trình, bài  
báo nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính, trên cơ sở nhận  
định phân tâm học là một học thuyết lớn, có ảnh hưởng sâu sắc đến  
tiểu thuyết của nhà văn này, chúng tôi cho rằng: cần thiết phải phát  
triển nó thành một luận đề độc lập để khẳng định giá trị của tiểu  
thuyết Nguyễn Đình Chính trên văn đàn đương đại. Bên cạnh đó, nếu  
lấy phân tâm học làm điểm quy chiếu để phân tích, đánh giá, người  
nghiên cứu sẽ có được cái nhìn sâu sắc hơn.  
Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến, kết quả nghiên cứu của các tác  
giả đi trước, kết hợp những đánh giá, kiến giải của riêng mình, chúng  
tôi triển khai luận văn với đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình  
5
Chính nhìn từ lí thuyết phân tâm học để đóng góp một tiếng nói  
khẳng định những giá trị độc đáo của tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính  
và vai trò của nhà văn trong tiến trình cách tân văn học Việt Nam sau  
Đổi mới.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết Nguyễn Đình  
Chính nhìn từ lý thuyết phân tâm học.  
Đối tượng khảo sát là hai tác phẩm:  
- Ngày hoàng đạo (2006), gồm 2 tập, Nxb Văn học, Hà Nội.  
- Online…ba lô (2008), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.  
Ngoài ra, luận văn cũng khảo sát một số tiểu thuyết đương đại  
Việt Nam để có cơ sở so sánh, đối chiếu.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Luận văn tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính  
nhìn từ hệ thống lý thuyết phân tâm học ở các bình diện cơ bản như  
thế giới nhân vật từ góc nhìn vô thức, tính dục (các kiểu nhân vật,  
quan niệm nghệ thuật về con người) và những phương thức biểu hiện  
đặc thù có dấu ấn phân tâm học (kết cấu, ngôn ngữ, không - thời  
gian, biểu tượng…)  
4. Cơ sở lí thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu  
4.1. Cơ sở lí thuyết  
Phân tâm học gồm nhiều nhánh, trong phạm vi của luận văn,  
chúng tôi chọn lí thuyết phân tâm học của Freud làm cơ sở triển khai  
luận điểm. Ngoài ra, ở một số chương mục, luận văn sử dụng lí  
thuyết về vô thức tập thể của Carl Gustav Jung, phân tâm học về vật  
chất của Gaston Bachelard, phân tâm học ngôn ngữ của Lacan, phân  
tâm học tôn giáo của Erich Fromm…để soi chiếu vào tác phẩm,  
6
nhằm chỉ ra những nét đặc trưng của tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính  
từ góc nhìn phân tâm học.  
4.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp loại hình  
- Phương pháp hệ thống- cấu trúc  
- Phương pháp so sánh  
- Phương pháp phân tích - tổng hợp  
5. Đóng góp của luận văn  
5.1. Là công trình đầu tiên đặt vấn đề khảo sát Đặc điểm tiểu  
thuyết Nguyễn Đình Chính nhìn từ lí thuyết phân tâm học, luận văn  
có một cái nhìn hệ thống, một hướng tiếp cận mới về tiểu thuyết của  
nhà văn này; góp phần mở ra một hướng nghiên cứu, phê bình cho  
đến nay vẫn còn mới mẻ và có tính thời sự.  
5.2. Khẳng định phong cách, sự sáng tạo cũng như những đóng  
góp của nhà văn Nguyễn Đình Chính trong tiến trình cách tân nền  
văn học nước nhà.  
6. Cấu trúc luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung  
chính của luận văn gồm 3 chương:  
Chương 1: Ảnh hưởng phân tâm học trong tiểu thuyết Nguyễn  
Đình Chính nhìn từ nguồn chung  
Chương 2: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình  
Chính nhìn từ lý thuyết phân tâm học  
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện trong tiểu thuyết Nguyễn Đình  
Chính nhìn từ lý thuyết phân tâm học  
7
CHƢƠNG 1  
ẢNH HƢỞNG PHÂN TÂM HỌC TRONG TIỂU THUYẾT  
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH NHÌN TỪ NGUỒN CHUNG  
1.1. ẢNH HƢỞNG PHÂN TÂM HỌC TRONG VĂN HỌC VIỆT  
NAM HIỆN ĐẠI  
1.1.1. Một số lý thuyết cơ bản của phân tâm học S. Freud  
Tuy gọi là tâm lý học về cái vô thức, nhưng trong hệ thống lý  
thuyết của Freud lại có ba yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau, đó là:  
Lý thuyết về vô thức; Lý thuyết về tính dục và Lý thuyết về cơ cấu  
nhân cách toàn diện. Trong đó lý thuyết về vô thức giữ vai trò nền  
tảng.  
* Lý thuyết về vô thức  
Theo Freud, kết cấu tâm lý con người được chia làm ba hệ thống:  
ý thức, tiền ý thức và vô thức.Trong đó, vô thức có vai trò định  
hướng hành động cũng như phát triển nhân cách của con người.  
Freud nêu rõ: “Mọi quá trình của tinh thần trên thực chất đều là vô  
thức” [29, tr.113].  
Ngoài ra, Freud còn đặc biệt chú ý đến hai bản năng trọng yếu  
thuộc về vô thức: bản năng sống (Eros) và bản năng chết (Thanatos).  
* Lý thuyết về tính dục  
Vấn đề tính dục hiểu theo phân tâm học là bao gồm mọi tình yêu.  
Tình yêu này khi được thực hiện, được thỏa mãn nó sẽ mang lại cho  
con người những khoái cảm đặc biệt có khả năng tạo ra cho con  
người một trạng thái tâm lý hưng phấn cao, những phút xuất thần; nói  
chung là sự thăng hoa của nhân cách, một bước nhảy vọt về tâm hồn  
làm động lực cho những sáng tạo có ý nghĩa, …Vì vậy, Freud cho  
8
rằng bản năng tính dục là nguồn gốc của mọi công trình sáng tạo vĩ  
đại nhất.  
Trong hệ thống lí thuyết của mình, Freud đặc biệt chú ý đến  
libido (khát dục); là sự đòi hỏi phải được thỏa mãn một ham muốn  
mang nội dung tính dục.  
Đề cập tính dục trẻ em, Freud chú ý đến hành vi tính dục ấu thời  
mà ông gọi là mặc cảm Oedipe. Theo phân tâm học, mặc cảm Oedipe  
là một cảm tính đau khổ, day dứt lo sợ phạm tội loạn luân. Điều đó  
cũng có nghĩa là, mặc cảm Oedipe là cuộc đấu tranh giữa hai khuynh  
hướng phạm tội và đấu tranh chống lại sự phạm tội đó.  
* Lý thuyết về cơ cấu nhân cách toàn diện  
Theo quan điểm của Freud, một con người xã hội là một nhân  
cách với ba thành phần chủ yếu tạo nên gọi là cơ cấu nhân cách toàn  
diện, đó là Cái ấy (Id), Cái tôi (Ego) và Cái Siêu tôi (Superego). Cả  
ba ảnh hưởng lẫn nhau và có thể gây mâu thuẫn dễ làm con người rơi  
vào tình trạng căng thẳng. Cuộc đấu tranh này diễn ra như thế nào sẽ  
quyết định nhân cách mỗi người.  
1.1.2. Dấu ấn phân tâm học trong văn học Việt Nam hiện đại  
Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc,  
tư tưởng và văn hóa hiện đại phương Tây du nhập vào nước ta một  
cách mạnh mẽ. Theo chiều hướng đó, phân tâm học du nhập vào Việt  
Nam với một hệ thống lý thuyết khá mới mẻ và ngày càng trở nên  
gần gũi, ảnh hưởng nhiều đến sáng tác và phê bình văn học đương  
thời. Có thể nói, ảnh hưởng của phân tâm học Freud vào văn học Việt  
Nam thực sự mạnh mẽ kể từ sau 1930.  
Các nhà văn thuộc các khuynh hướng văn học đều có ý thức vận  
dụng phân tâm học trong sáng tác của mình. Các nhà văn hiện thực  
đã chịu ảnh hưởng của phân tâm học trong việc miêu tả tính cách  
9
cũng như những ham muốn rất người của các nhân vật (Vũ Trọng  
Phụng, Nam Cao…). Ở dòng văn học lãng mạn mà đại diện là Tự lực  
văn đoàn, ta dễ dàng nhận thấy dấu ấn phân tâm học (trong sáng tác  
của Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam …).  
Sau Cách mạng tháng Tám đến 1975, do hoàn cảnh lịch sử đặc  
biệt, văn học chủ yếu hướng vào vẻ đẹp tinh thần của con người, ca  
ngợi con người xả thân, biết kiềm chế những ham muốn cá nhân để  
hy sinh và cống hiến hết mình cho đất nước. Ngoại trừ bộ phận văn  
học miền Nam những năm 60 - 70 của thế kỉ XX đã tiếp nhận phân  
tâm học, còn hầu hết các sáng tác giai đoạn này hầu như không thấy  
bóng dáng phân tâm học, tức yếu tố tính dục, vô thức, bản năng của  
con người hầu như không được nhắc đến.  
Sau 1975, đặc biệt là sau đổi mới 1986, trong xu hướng giao lưu  
văn hóa văn học toàn cầu, phân tâm học có điều kiện đến gần hơn với  
văn học Việt Nam (qua những sáng tác của Tạ Duy Anh, Hồ Anh  
Thái, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Y Ban, Đoàn Minh Phượng,  
Nguyễn Đình Chính…).  
Với ảnh hưởng của phân tâm học, các nhà văn đương đại đã chọn  
cho mình một hướng đi khác, đó là xu hướng mở rộng, đào sâu vào  
những vấn đề thuộc bản năng vô thức, vấn đề tính dục và đời sống  
tâm linh của con người. Xu hướng này sẽ đem lại sự phong phú, mới  
mẻ cho văn học nước nhà, góp phần xây dựng một quan niệm nghệ  
thuật toàn diện về con người.  
1.2. SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH - MỘT XU  
HƢỚNG PHÂN TÂM CON NGƢỜI  
1.2.1. Hành trình sáng tạo  
Bắt đầu sáng tác từ năm 1976, Nguyễn Đình Chính đã cho ra mắt  
cuốn tiểu thuyết đầu tay Xưởng máy nhỏ của tôi (1976). Năm 1981,  
10  
tiểu thuyết Nhớ để mà quên ra đời nhưng đến năm 1998 mới được in  
và được dịch ra tiếng Pháp. Tiếp đến là tiểu thuyết Phù du cánh  
mỏng (1986) hay Đá xanh ở thung lũng cháy, Sương mù ký ức... Ông  
cũng là tác giả kịch bản của những bộ phim khá hay như Rừng lạnh,  
Hồi chuông màu da cam, Bãi biển đời người, kịch bản sân khấu  
Duyên nợ trần gian (giải thưởng Liên hoan sân khấu ở Hàn Quốc  
2002) và khoản 15 vở kịch khác, trong đó 5 vở đã được dựng và diễn  
trên các sân khấu ở Hà Nội...  
Không ngừng đổi mới tư duy nghệ thuật, Nguyễn Đình Chính  
cho ra đời bộ tiểu thuyết dài gần một ngàn trang Ngày hoàng đạo.  
Ngay khi ra đời, cuốn tiểu thuyết đã làm rúng động văn đàn, trở  
thành cuốn sách bán chạy nhất lúc bấy giờ. Chưa dừng lại ở đó, năm  
2008, Nguyễn Đình Chính lại cho ra đời cuốn tiểu thuyết Online…ba  
lô, một cuốn tiểu thuyết mà ông cho in ngay trên trang bìa là “tiểu  
thuyết hậu hiện đại”. Mặc dù vẫn còn những ý kiến trái chiều xoay  
quanh cuốn tiểu thuyết “hậu hiện đại” này nhưng Online…ba lô thật  
sự là một thử nghiệm mới của Nguyễn Đình Chính trên hành trình  
sáng tạo văn chương. Từ góc nhìn hậu hiện đại, Online…ba lô chưa  
thành công, nhưng từ góc nhìn phân tâm học có thể lí giải cách viết  
của nhà văn. Quan niệm nghệ thuật về con người, các kiểu nhân vật,  
các biểu tượng trong tác phẩm đã chứng minh rằng Nguyễn Đình  
Chính đã có ý thức tiếp nhận phân tâm học trong quá trình sáng tạo.  
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật  
Quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chính cho thấy nhà văn đã  
thực sự tiếp nhận Freud.  
Viết từ ánh sáng phân tâm học  
Theo Nguyễn Đình Chính: “Tác giả tiểu thuyết không thể sáng  
tạo ra một nhân vật thời đại phức tạp, đa chiều, đầy mâu thuẫn nếu  
11  
anh thờ ơ với phân tâm học hoặc là nghiên cứu phân tâm học một  
cách cẩu thả” [55]; “Sau khi nghiên cứu về phân tâm học, tôi nhận ra  
rằng tâm hồn con người là bí ẩn mênh mông như một vũ trụ, không  
bao giờ có thể khai thác hết được” [53]. Điều đó cho thấy nhà văn đã  
có ý thức vận dụng lý thuyết phân tâm học trong tất cả những tác  
phẩm của mình - đặc biệt là tiểu thuyết. Lý thuyết Freud trở thành  
con đường, cơ sở dẫn dắt ngòi bút của Nguyễn Đình Chính ngày càng  
sáng tạo và đổi mới.  
Viết là vô thức sáng tạo  
Theo Freud: “Tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ. Nó  
phản ảnh những ham muốn vô thức”; “Viết là sự giải toả bản năng,  
giải toả ẩn ức”. Tiếp nhận quan niệm này, bàn về tiểu thuyết Ngày  
hoàng đạo, Nguyễn Đình Chính tâm sự: “Sáng tạo các tác phẩm nghệ  
thuật trong đó có việc viết tiểu thuyết, suy cho cùng là một sự xả  
stress, giải toả những ẩn ức hết sức cá nhân. Mỗi nhà văn đều có  
những mặc cảm sáng tạo riêng. Tôi viết Ngày hoàng đạo bởi mặc  
cảm tự do rất bản năng”; “Viết bằng vô thức, viết nhằm truyền đạt  
cảm xúc của đời sống, lột tả những xao xuyến sâu thẳm của kiếp  
người” [62].  
Bàn về tiểu thuyết Online …ba lô, Nguyễn Đình Chính cho thấy  
ảnh hưởng của Freud trong quan niệm của mình: “Có thể nói đó là  
một sáng tạo hết sức vớ vẩn nhưng lại không vớ vẩn một chút nào mà  
tôi cũng không thể giải mã được bởi vì hình như nó có một bí ẩn nào  
đó” [54]. Những bí ẩn vớ vẩn theo cách nói đầy ẩn ý của nhà văn suy  
cho cùng là vô thức sáng tạo, là ẩn ức và thăng hoa.  
Quan niệm về tính dục trong văn chương  
Với Nguyễn Đình Chính, nhà văn viết về tính dục là một cách để  
giải mã tâm hồn, giải mã cái chốn ẩn mật bên trong. Nhà văn khẳng  
12  
định: “Tôi muốn bóc ra những lớp bí mật đó” [58]. Nguyễn Đình  
Chính quan niệm: “Với một người nghệ sĩ khi sex triệt tiêu trong anh  
thì phong độ sáng tác của anh cũng về Mo” [55]. Dẫu quan niệm của  
Nguyễn Đình Chính có phần cực đoan nhưng có ảnh hưởng từ phân  
tâm học. Theo Freud, nếu không có vô thức tính dục thì người nghệ  
sĩ không thể có những thành quả to lớn. Người nghệ sĩ là người mà  
trong đời sống tâm lí luôn luôn bị ám ảnh bởi tính dục. Vì vậy anh ta  
tìm đến con đường giải toả vào tác phẩm nghệ thuật.  
1.2.3. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời  
Với quan niệm con người đa chiều, Nguyễn Đình Chính đã phản  
ánh những phức cảm nội tâm, những đấu tranh, giằng xé giữa một  
bên là bản năng người và một bên là đạo đức, luân lý xã hội.  
Vùng vô thức, tâm linh cùng tính dục, bản năng đã thực sự trở  
thành đối tượng thẩm mỹ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính. Từ  
quan niệm đa chiều về con người, nhân vật trong tác phẩm Nguyễn  
Đình Chính được phơi bày đến tận cùng những khát vọng khoái lạc.  
Đôi lúc, cái nhìn về con người của nhà văn có phần thiên lệch, quá  
thiên về tính dục bản nguyên. Tuy vậy, đằng sau những trang tiểu  
thuyết của nhà văn là ý nghĩa xã hội lớn lao.  
13  
CHƢƠNG 2  
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT  
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH NHÌN TỪ LÝ THUYẾT  
PHÂN TÂM HỌC  
2.1. NHÂN VẬT NHÌN TỪ LÝ THUYẾT VÔ THỨC, TÍNH DỤC  
2.1.1. Nhân vật với đời sống vô thức  
Những hành vi nhiễu tâm  
Từ góc nhìn vô thức, nhiều nhân vật trong tiểu thuyết của  
Nguyễn Đình Chính rơi vào hành vi sai lạc, mọi hành động đều trở  
nên kỳ quặc, ngay cả bản thân nhân vật cũng không giải thích được  
(bác sĩ Cần trong Ngày hoàng đạo, Zê trong Online…ba lô).  
Hành vi nhiễu tâm của nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình  
Chính khẳng định quan niệm của Freud “cái tôi không phải là chủ  
nhân trong chính ngôi nhà của nó”, vẫn có một bàn tay vô hình nào  
đó điều khiển trở lại. Bàn tay vô hình đó, theo S.Freud, là vô thức,  
chính vô thức điều khiển toàn bộ hoạt động có ý thức của con người  
mà con người có thể không hay biết.  
Giấc mơ - hoạt động tâm lí ở trạng thái ngủ  
Khảo sát tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính, chúng tôi thấy motif  
giấc mơ xuất hiện khá nhiều. Theo Freud, mọi giấc mơ đều có ý  
nghĩa. Đó là một chú tâm, một ước muốn bị kìm nén. Nhưng sự ước  
muốn đó luôn luôn bị trá hình ít nhiều.  
Giấc mơ có một vị trí quan trọng, gắn liền với thế giới vô thức  
của con người. Do đó, soi chiếu ánh sáng phân tâm học vào những  
giấc mơ của nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính, chúng ta  
có thể đi sâu vào cõi vô thức, khám phá thêm những tầng vỉa mới của  
đời sống tâm hồn vốn vô cùng phức tạp và nhạy cảm của con người.  
14  
2.1.2. Nhân vật với đời sống bản năng  
Bản năng sống  
Bản năng sống là bản năng nguyên thủy của con người, là biểu  
hiện tâm lý cần phải thỏa mãn tất cả các nhu cầu của sinh tồn và sinh  
sôi nảy nở (phồn thực), làm cho con người yêu đời, vui vẻ, lạc quan;  
con người vượt lên trên cái chết, sự tuyệt vọng. Đã có rất nhiều tác  
phẩm thể hiện bản năng này một cách rõ nét, chứng tỏ sức sống mãnh  
liệt của con người khi đứng trước vực thẳm cuộc đời (Thoạt kỳ thủy,  
Và khi tro bụi, Nỗi buồn chiến tranh..)  
Nguyễn Đình Chính đã khai thác bản năng sống ở nhân vật của  
mình một cách tinh tế đúng với bản chất vốn có của con người.  
Không phải chỉ trong các cuộc chiến tranh khốc liệt, khi sự sống và  
cái chết cách nhau trong gang tấc thì con người mới bộc lộ bản năng  
sống mạnh mẽ; mà ngay cả trong cuộc sống đời thường, khi những  
khó khăn, trở ngại uy hiếp đến sự sống thì con người cũng phải căng  
đến tận cùng cảm giác để tồn tại (nhân vật Mùi cá ngạnh, Chế Bồng  
Thớt trong Ngày hoàng đạo, ông cụ Giản trong Online …ba lô).  
Bản năng chết  
Theo Freud, bản năng chết khiến con người luôn âu sầu, sợ hãi  
mọi thứ, muốn biến mất khỏi thế giới này bằng cái chết, thậm chí có  
thể làm biến dạng sự sống. Một số nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn  
Đình Chính luôn bị ám ảnh bởi cái chết. Họ luôn rơi vào trạng thái lo  
âu, đau khổ, thất vọng dẫn đến hao mòn sinh lực, và cái chết là giải  
pháp đầu tiên họ nghĩ đến để giải thoát cho chính mình. Bác sĩ Cần  
luôn có cảm giác buồn bã và cô đơn, nó giống như “luồng thuốc độc  
ngấm dần qua da qua xương thấm sâu vào tim phổi ruột gan khiến ông  
bải hoải tuyệt vọng chỉ muốn chết đi cho xong đời” (Ngày hoàng đạo).  
Đề cập đến hai bản năng chủ yếu của bộ máy tâm thần con  
15  
người: bản năng sống và bản năng chết, Nguyễn Đình Chính đã thể  
hiện thành công những trạng thái tinh thần vô cùng phong phú nhưng  
cũng hết sức phức tạp của con người.  
Bản năng tính dục  
Theo Freud, tính dục là một trong những ẩn ức quan trọng, là bản  
năng sinh lý thuộc về bản thể tự nhiên nhất của con người. Soi chiếu  
từ ánh sáng phân tâm học, đa phần nhân vật của Nguyễn Đình Chính  
đều hành động theo sự chi phối của bản năng gốc, bản năng tính dục.  
Nhà văn tập trung khám phá bản năng này ở nhân vật như một thuộc  
tính tất yếu bất kể tầng lớp, giới tính, tuổi tác.  
Với mật độ dày đặc những pha miêu tả tính dục, ngoại trừ một số  
trường đoạn miêu tả quá tỉ mỉ chi tiết đến độ vượt ngưỡng, nhìn  
chung tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính không thô tục, sống sượng,  
ngược lại, nó day dứt và nhân bản. Bởi đằng sau đời sống bản năng  
được phơi bày là nỗi buồn thương về những giá trị bị mai một; những  
xót xa phận người.  
2.2. NHÂN VẬT NHÌN TỪ LÝ THUYẾT CƠ CẤU NHÂN  
CÁCH TOÀN DIỆN  
Từ lí thuyết về cơ cấu nhân cách của Freud, hệ thống nhân vật  
trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính đa phần là những con người đa  
phức, luôn bị ám ảnh, mặc cảm.  
2.2.1. Nhân vật mặc cảm  
Mặc cảm Oedipe  
Từ nội dung bi kịch cổ đại, Freud đã cực đoan khi xem mặc cảm  
Oedipe là hành vi vốn có ở mọi con người, từ thuở ấu thơ. Tuy vậy,  
mặc cảm Oedipe là do cuộc sống sinh ra từ bao đời nay, phân tâm học  
chỉ đặt cho nó một cái tên và một tính cách hợp đạo lý: thừa nhận nó,  
khắc phục nó để giải thoát cho con người khỏi tình trạng bệnh hoạn.  
16  
Phân tâm học khẳng định, đó là một bi kịch của con người.  
Nhiều nhà văn đương đại đã vận dụng phức cảm Oedipe trong sáng  
tác thông qua hình tượng nhân vật với những dạng thức, biểu hiện  
khác nhau. Mặc cảm Oedipe chi phối tâm trạng, hành vi nhân vật  
trong tiểu thuyết Kafka bên bờ biển (Murakami). Mặc cảm Oedipe  
được Đoàn Minh Phượng thể hiện sâu sắc qua nhân vật người cha, kể  
cả An Mi trong Và khi tro bụi. Trong nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết  
của Nguyễn Ngọc Tư, phức cảm này cũng để lại ấn tượng đậm nét  
(Cánh đồng bất tận, Sông…).  
Khảo sát tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính, ta thấy mặc cảm  
Oedipe (hiểu theo mức độ khái quát là mặc cảm loạn luân) thể hiện  
rõ nét qua mối quan hệ cô - cháu, già - trẻ giữa nhân vật Tuấn và bà  
Phạm Thị Nhàn.  
Mặc cảm hoạn  
Nằm trong hệ thống đa diện của những phức cảm, ta thấy nhân  
vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính nổi bật lên với mặc cảm tàn  
phế. Chiến tranh đi qua nhưng di họa của nó vẫn còn đó, những  
chàng lính tinh nhuệ, ưu tú trong chiến tranh bao nhiêu thì khi bước  
ra sau chiến tranh lại mang nặng mặc cảm bấy nhiêu. Chính sự đối  
lập giữa quá khứ lành lặn, mạnh mẽ với hiện tại đau ốm, hỏng hóc đã  
làm phát sinh mặc cảm tàn phế trong họ.  
Không dừng lại ở sự khiếm khuyết của thân thể, nhân vật trong  
tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính còn mang mặc cảm tàn phế của một  
con đực bất lực mà phân tâm học gọi là mặc cảm hoạn (Freud). Kiểu  
nhân vật này gây ấn tượng sâu sắc và đậm chất nhân bản.  
Mặc cảm phạm tội  
Vì một lý do nào đó, con người luôn cảm thấy dằn vặt, ray rứt,  
luôn phải đối mặt với sự phán xét của tòa án lương tâm. Phức cảm  
17  
này phân tâm học gọi là mặc cảm phạm tội, là sự cắn rứt trong tâm lý  
con người. Nó diễn ra như thể con người tự tấn công mình bởi vì nó  
đã thất vọng về chính mình sau một thái độ bị Cái siêu tôi (superego)  
phán xét.  
E. Fromm, nhà phân tâm học, nhà tâm lý học xã hội người Đức,  
quan niệm: “Vấn đề tội lỗi đóng vai trò không kém quan trọng trong  
đường lối phân tâm học cũng như trong tôn giáo” [43, tr.304].  
Nghiên cứu phân tâm học và tôn giáo, E. Fromm đã lí giải mặc cảm  
tội lỗi nảy sinh giữa tôn giáo và những ham muốn bản năng: “Tội lỗi  
cốt yếu không phải là tội lỗi với Thượng đế mà là tội lỗi đối với  
chính chúng ta” [43, tr. 302]. Trong Ngày hoàng đạo, Nguyễn Đình  
Chính xây dựng thành công kiểu nhân vật đấu tranh giữa đạo và đời,  
từ đó nảy sinh mặc cảm (cha Tạc).  
Xây dựng hình tượng nhân vật mang đầy mặc cảm, Nguyễn Đình  
Chính đã rất thành công trong hành trình khám phá thế giới nội tâm  
bí ẩn và mạnh mẽ của con người hiện đại.  
2.2.2. Nhân vật tha hóa  
Theo Freud, một nhân cách được cấu tạo bởi ba thành phần: Cái  
ấy [id], Cái tôi [ego] và Cái Siêu tôi [superego]. Nếu như sự xung đột  
giữa ba thành phần này làm nảy sinh mặc cảm thì độ vênh lệch giữa  
chúng sẽ quyết định nhân cách của con người.  
Ở một số nhân vật của Nguyễn Đình Chính, Cái ấy phì đại, trấn  
áp khiến con người trở nên lệch lạc, tha hóa vì dục vọng. Khi cán cân  
nhân cách nghiêng hẳn về phía Cái ấy, con người không còn đủ tỉnh  
táo để làm chủ hành động của mình; lúc này lương tâm, đạo đức  
không đủ khả năng để khống chế những tham vọng mù quáng, và sự  
xuất hiện của những hành vi tha hóa là không thể tránh khỏi.  
18  
CHƢƠNG 3  
NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TRONG TIỂU THUYẾT  
NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH NHÌN TỪ LÝ THUYẾT  
PHÂN TÂM HỌC  
Là nhà văn có ý thức vận dụng phân tâm học trong quá trình sáng  
tạo, cách thức tổ chức văn bản nghệ thuật của Nguyễn Đình Chính  
cũng góp phần khai mở những phức cảm con người.  
3.1. KẾT CẤU  
3.1.1. Kết cấu dòng tâm trạng  
Nhìn ở bề mặt văn bản, tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính được kết  
cấu theo “khung khổ” (chữ dùng của Iu. Lotman), tức nhìn bề ngoài,  
tác phẩm là sự sắp xếp, phân bố các sự kiện, tình tiết khá mạch lạc,  
logic theo luật nhân - quả. Song, đó chỉ là bề mặt của kết cấu, ẩn  
chìm dưới lớp ngôn từ ấy lại là kết cấu bề sâu (bề sâu, bề xa, bề bất  
tri giác), nơi những con sóng tâm trạng, những dòng ý thức, những  
trạng huống cảm xúc đa chiều làm đứt gãy mọi giới hạn ràng buộc  
của đường dây cốt truyện chính.  
Với kết cấu dòng tâm trạng, tác giả đã phơi trải những bí ẩn trong  
cuộc đời, những khát khao đời tư thầm kín, ngưng tụ ở chiều sâu số  
phận cá nhân. Bên cạnh những sự kiện khốc liệt, nghiệt ngã trong cuộc  
đời nhân vật là những giây phút trải lòng, ăn năn sám hối, nếm trải suy  
nghiệm. Mỗi người trong họ hiện diện như một tiếng nói, một dòng  
chảy ý thức, một khoảnh khắc của sự đốn ngộ lẽ đời, lẽ người.  
3.1.2. Kết cấu lắp ghép, đồng hiện  
Ở tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính, các phần, chương, “tiết”  
tuy không xa rời chủ đề chính của văn bản, nhưng lại được gắn kết  
với nhau một cách lỏng lẻo, thậm chí là lộn xộn, ngẫu nhiên. Sự phá  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 13140 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính nhìn từ lý thuyết phân tâm học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_dac_diem_tieu_thuyet_nguyen_dinh_chinh_nhin.pdf