Tóm tắt Luận văn Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng cán bộ cơ sở tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
PHẠM PHÚ BÌNH  
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI  
DƯỠNG CÁN BỘ CƠ SỞ TẠI CÁC TRUNG TÂM  
BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ TRÊN ĐỊA BÀN  
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN  
HIỆN NAY  
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục  
Mã số: 60.14.05  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC  
Đà Nẵng - Năm 2013  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN ĐỨC CHÍNH  
Phản biện 1: PGS.TS. LÊ QUANG SƠN  
Phản biện 2: TS. HU NH THỊ TAM THANH  
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng bảo vệ chấm Luận văn tốt  
nghiệp Thạc sĩ Giáo dục học, họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 24  
tháng 5 năm 2013  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Công tác GDLLCT là quá trình phổ biến, truyền bá một cách cơ bản,  
có hệ thống chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh,  
đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, phát luật của Nhà nước cho  
cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ đó lại  
càng quan trọng hơn khi đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH  
và hội nhập quốc tế. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngày càng  
ráo riết chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn, âm mưu thâm  
độc; nhiều vấn đề mới nảy sinh cần phải có sự thống nhất trong Đảng, sự  
đồng thuận trong xã hội. Trong bối cảnh như vậy, việc QL công tác BD  
CBCS tại các TTBDCT nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, nâng cao cảnh  
giác cách mạng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của  
các thế lực thù địch, cho CBCS, đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ mới là  
nhiệm vụ rất nặng nề, có ý nghĩa chính trị lớn lao.  
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) đã chỉ rõ: “Công tác tư tưởng, lý  
luận là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ công tác của  
Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế  
độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các  
nhiệm vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng  
về chính trị, lý luận, trí tuệ, văn hoá và đạo đức; thể hiện vai trò đi trước,  
mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.  
Muốn thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá  
đất nước trước hết phải chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực. Chất  
lượng nguồn nhân lực trước hết phụ thuộc vào chất lượng giáo dục. Đối  
với đội ngũ CBCS yêu cầu nâng cao trình độ là một đòi hỏi khách quan. Vì  
đội ngũ CBCS có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực  
hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là  
cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hoặc thất bại đều do cán  
bộ tốt hay kém”.  
2
Tuy nhiên, chất lượng công tác BDCBCS tại các TTBDCT còn chưa  
cao, chưa tương xứng với yêu cầu. Chương trình chưa đa dạng, mới chú  
trọng về LLCT, phổ biến chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chưa chú trọng BD  
nghiệp vụ, chưa sát cơ sở, thiếu tính thực tiễn; việc tổ chức mở lớp ở nhiều  
nơi còn mang tính chất đại trà, hình thức; tổ chức bộ máy một số Trung  
tâm chậm được kiện toàn; đội ngũ giảng viên còn nhiều bất cập, chưa đồng  
bộ, thiếu, cơ cấu chưa hợp lý, chưa ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới;  
phương pháp giảng dạy chưa được đổi mới mạnh mẽ, giảng dạy chưa gắn  
sát với thực tiễn, chủ yếu truyền thụ kiến thức một chiều, chưa phát huy  
được tính tích cực, chủ động của học viên; chế độ, chính sách đối với  
người dạy và người học chậm đổi mới, chưa thống nhất; cơ sở vật chất và  
trang thiết bị của các trung tâm còn nghèo nàn, chưa có trụ sở ổn định... Đó  
chính là lý do tác giả chọn và nghiên cứu đề tài: “Biện pháp QL công tác  
BDCBCS tại các TTBDCT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai  
đoạn hiện nay”.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Đề xuất những biện pháp QL công tác BDCBCS tại các TTBDCT trên  
địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu  
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác BDCBCS tại các TTBDCT trên  
địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
3.2. Đối tượng nghiên cứu: QL công tác BDCBCS tại các TTBDCT  
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
4. Giả thuyết khoa học  
Chất lượng công tác BDCBCS tại các TTBDCT trên địa bàn thành  
phố Đà Nẵng sẽ được nâng cao nếu áp dụng các biện pháp tác động đồng  
bộ đến tất cả các khâu của quá trình bồi dưỡng, các chủ thể của công tác  
BD thì chất lượng, hiệu quả công tác BDCBCS tại các TTBDCT trên địa  
bàn thành phố Đà Nẵng sẽ được nâng lên.  
5. Nhiệm vụ nghiên cứu  
3
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL công tác BDCBCS tại các  
TTBDCT.  
5.2. Khảo sát, đánh giá việc QL công tác BDCBCS tại các TTBDCT  
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
5.3. Đề xuất những biện pháp QL công tác BD đội ngũ CBCS tại các  
TTBDCT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
6. Phương pháp nghiên cứu  
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận  
Trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận, phân  
tích, tổng hợp, phân loại; hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài.  
6.2. Những phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, điều tra,  
khảo sát, phỏng vấn, trưng cầu ý kiến nhằm đánh giá thực trạng và kiểm  
nghiệm tính hợp lý và tính khả thi những biện pháp đã đề xuất về QL công  
tác BDCBCS tại các TTBDCT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
6.3. Phương pháp hỗ trợ: thống kê, phân tích, so sánh.  
7. Phạm vi nghiên cứu:  
Nghiên cứu và đánh giá công tác BDCBCS tại các TTBDCT trên địa  
bàn thành phố Đà Nẵng trong 5 năm từ năm 2008 đến năm 2012.  
8. Cấu trúc luận văn  
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3  
chương:  
Chương 1: Cơ sở lý luận về QL công tác BDCBCS tại TTBDCT  
Chương 2: Thực trạng công tác BD và QL công tác BDCBCS tại các  
TTBDCT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến 2012.  
Chương 3: Biện pháp QL công tác BDCBCS tại các TTBDCT trên địa  
bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.  
Sau phần kết luận là danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục  
4
CHƯƠNG 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CÁN BỘ  
CƠ SỞ TẠI CÁC TRUNG TÂM BDCT  
1.1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ  
CÔNG TÁC BD CBCS TẠI CÁC TTBDCT  
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI  
1.2.1. Quản lý  
1.2.2. QL giáo dục  
1.2.3. BD và QL công tác bồi dưỡng  
a. Bồi dưỡng  
BD thực chất là làm giàu vốn kiến thức từ việc bồi đắp những thiếu  
hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở nuôi dưỡng, giữ gìn những cái  
cũ còn phù hợp để mở mang có hệ thống những tri thức kỹ năng, nghiệp vụ  
để tăng cường năng lực thực hiện.  
b. QL quá trình bồi dưỡng  
Công tác BD là quá trình liên tục, ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát  
triển kinh tế - xã hội có những mục tiêu, mục đích cụ thể để từ đó xác định  
được những nhiệm vụ trong công tác BD với quy mô cụ thể với từng đối  
tượng để đáp ứng nhiệm vụ. BD cần được kế hoạch hoá, chi tiết về thời  
gian, số lượng, khối lượng công việc để có thể thực hiện đúng kế hoạch.  
1.2.4. Cán bộ cơ sở  
a. Cán bộ, công chức  
b. Cán bộ cơ sở  
Trong hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, chúng ta có thể  
khái quát đội ngũ CBCS bao gồm các đối tượng: cán bộ chuyên trách cấp  
xã; công chức cấp xã; cán bộ không chuyên trách cấp xã; cán bộ, đảng viên  
công tác tại các đơn vị y tế, trường học trên địa bàn.  
c. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở  
5
CBCS có vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động QL điều hành ở cơ sở,  
đội ngũ CBCS là người đại diện cho đảng, Nhà nước thực hiện sự lãnh, chỉ  
đạo về đường lối và tổ chức thực hiện chức năng QL nhà nước theo đúng  
chính sách và thẩm quyền được giao. Thông qua đội ngũ này, Đảng và Nhà  
nước đánh giá được tính đúng đắn của đường lối, chính sách, kịp thời phát  
hiện được những thiếu sót của bản thân chính sách và những nhu cầu mới phát  
sinh từ thực tế khách quan đó bổ sung và hoàn thiện chính sách.  
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TTBDCT  
1.4. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC BD CBCS  
1.4.1. Kế hoạch hoá công tác BD cán bộ cơ sở  
Kế hoạch hoá công tác BD CBCS phải gắn liền với công tác quy  
hoạch cán bộ, là toàn bộ những công việc về BD nâng cao trình độ cho đội  
ngũ CBCS theo tiêu chuẩn chức danh đối với từng đối tượng cán bộ trong  
một thời gian nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị.  
Kế hoạch hoá BD CBCS là công tác định hướng cho việc bồi dưỡng,  
là khâu công tác quan trọng trong công tác cán bộ. Quy hoạch BD là cơ sở  
lập kế hoạch BD CBCS hàng năm.  
BD không chỉ làm nhiệm vụ lấp đầy, khắc phục những hẫn hụt về  
năng lực làm việc của cán bộ mà hơn nữa còn liên quan đến việc xác định  
và thỏa mãn các nhu cầu phát triển như: phát triển kiến thức đa năng, cán  
bộ đảm thêm trách nhiệm, tăng cường năng lực thực hiện nhiệm vụ và  
LLCT để chuẩn bị trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đề bạt, bổ  
nhiệm lên vị trí cao hơn với trách nhiệm nặng nề hơn trong tương lai.  
1.4.2. QL chương trình BD cán bộ cơ sở  
Nội dung chương trình BD phải thiết kế một cách linh hoạt, phù hợp  
với sự thay đổi của từng thời kỳ. Rà soát lại và đổi mới một bước giáo  
trình, loại bỏ những nội dung không thích hợp, không thiết thực, bổ sung  
những nội dung cần thiết, đảm bảo kiến thức cơ bản, tăng nội dung khoa  
học, công nghệ ứng dụng. Trên cơ sở tiêu chuẩn các ngạch công chức, tiến  
6
hành các chương trình BD cho phù hợp với những yêu cầu để tuyển chọn,  
bổ nhiệm, đề bạt hoặc thuyên chuyển đối với từng đối tượng CBCS.  
1.4.3. Xác định hình thức và phương thức BD cán bộ cơ sở  
Về hình thức bồi dưỡng: Tập trung, bán tập trung, dài hạn, ngắn hạn...  
Về phương thức BD gồm: chuyên đề; theo chức danh, tiêu chuẩn; BD  
tại các cơ sở (do đơn vị tự tổ chức); BD do cấp trên tổ chức, đơn vị chỉ có  
nhiệm vụ cử người; BD ở nước ngoài.  
1.4.4. QL khoá BDCBCS  
Là quy trình trong hoạt động gồm: quyết định mở lớp; lập dự trù kinh  
phí; xây dựng và phát công văn chiêu sinh; lịch học và bố trí giảng viên; tổ  
chức đón học viên nhập học; chuẩn bị khai giảng; công tác trực tiếp QL khoá  
học; theo dõi, chuẩn bị và tổ chức kiểm tra, viết thu hoạch; trước khi tổ chức  
kiểm tra, viết thu hoạch cần thăm dò nhu cầu của học viên; tổ chức cấp  
chứng chỉ cho học viên; họp, đánh giá kết quả khoá học; tiến hành thanh  
quyết toán sau khi kết thúc khoá học; quan hệ giữa đơn vị BD và học viên.  
1.4.5. Tổ chức đánh giá kết quả khoá BD CBCS  
Đây là một nội dung quan trọng trong QLBD, việc đánh giá kết quả và  
chất lượng khoá BD đều cần phải được tiến hành cuối mỗi khoá học dựa  
trên mục tiêu, nội dung, chương trình và điều kiện tổ chức khoá học cũng  
như chất lượng và phương pháp giảng dạy của giảng viên.  
1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI  
DƯỠNG CÁN BỘ CƠ SỞ  
1.5.1. Mục tiêu, nội dung, chương trình bồi dưỡng  
a. Mục tiêu bồi dưỡng  
Mục tiêu BD là cái đích mà quá trình BD phải hướng tới, phản ánh  
qua sản phẩm dự kiến của hoạt động BD. Sản phẩm đó gắn liền với tri  
thức, kỹ năng, thái độ đối với hoạt động quản lý, được cập nhật, nâng cao  
cho cán bộ quản lý. Mục tiêu BD là yếu tố hết sức quan trọng, nó quyết  
định nội dung bồi dưỡng, bởi vậy xác định đúng đắn mục tiêu BD sẽ giúp  
cho công tác BD đạt chất lượng mong muốn.  
7
b. Nội dung chương trình bồi dưỡng  
Nội dung BDCBCS QL là phần mà nhà trường chủ động soạn thảo, để  
đáp ứng yêu cầu chung về BDCBCS trong tình hình mới, đáp ứng mục tiêu  
cụ thể về BDCBCS của ngành đề ra, đáp ứng yêu cầu phải mở nhiều lớp  
cho nhiều đối tượng khác nhau.  
1.5.2. Phương pháp, hình thức, phương thức BD cán bộ cơ sở  
a. Phương pháp bồi dưỡng  
Phương pháp BD là cách thức thực hiện công tác BD, nó là một hệ  
thống tác động liên tục, có kế hoạch của người dạy nhằm tổ chức hoạt  
động nhận thức và thực hành của người học để họ lĩnh hội một cách vững  
chắc các yếu tố của nội dung BD được xác định căn cứ vào mục tiêu BD.  
b. Hình thức bồi dưỡng  
Về hình thức BD vẫn áp dụng phổ biến loại hình tập trung ngắn ngày  
và dài ngày. Đối với khoá ngắn ngày từ 1 - 3 tuần, các khoá dài ngày từ 1 -  
3 tháng cũng có những thuận lợi và khó khăn riêng. Hình thức BD tập  
trung thuận lợi là người học có thể tập trung cho việc học tập, tiếp thu kiến  
thức mới, có thể được đi tham quan, trao đổi học hỏi các kinh nghiệm khi  
áp dụng lý luận vào thực tiễn quản lý. Khó khăn điều kiện sinh hoạt xa nhà  
không đảm bảo, xa rời thực tiễn, khó phát huy công việc. Hình thức BD  
bán tập trung là hình thức BD có thể tập trung thành nhiều đợt.  
c. Phương thức bồi dưỡng  
+ Phương thức BD theo chế độ chức nghiệp gắn với ngạch, bậc...  
+ Phương thức BD theo chế độ việc làm: BD theo một chuyên môn,  
chuyên ngành. Mục tiêu là bổ sung, cập nhật kiến thức kỹ năng chứ không  
BD ngạch, bậc QL hành chính.  
1.5.3. Đội ngũ giảng viên  
Đội ngũ giảng viên giữ vai trò có tính quyết định đối với chất lượng,  
hiệu quả BD bởi lẽ: Trước hết họ là người thầy, mặc dù không phải là  
nguồn kiến thức chủ yếu, độc tôn đối với học viên, song nhiệm vụ quan  
trọng của họ vẫn là cung cấp cho học viên những kiến thức có hệ thống. Về  
8
phía học viên họ phải tự nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm để hoàn thành  
nhiệm vụ của mình. Hơn nữa, họ là tấm gương sáng về nhân cách người  
giảng viên, người cán bộ quản lý. Bởi vì trước khi làm “thầy” họ đã là  
những người cán bộ QL ở các đơn vị, họ là những người có tâm huyết, gắn  
bó với sự nghiệp. Cái “tâm huyết” đó chính là động lực góp phần tạo nên  
chất lượng củng cố lòng yêu nghề của học viên.  
1.5.4. Đội ngũ học viên  
Đối tượng BD là những người đang công tác, đang thực thi công vụ hoặc  
đang giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Vì vậy họ cần học những gì mà họ cho là cần  
thiết với công việc, chủ yếu họ quan tâm các phương pháp áp dụng vào công việc  
QL hàng ngày tại tổ chức, cơ quan.  
Trong quá trình BD học viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên và  
dựa trên vốn kinh nghiệm thực tế phong phú của mình (đây cũng là yếu tố  
quan trọng trong học tập của học viên) họ tự tổ chức các hoạt động học tập  
của mình một cách hệ thống và tự giác, để tự mình khám phá ra “cái chưa  
biết” tự mình tìm ra kiến thức, chân lý. Vấn đề ở đây là quá trình BD cần  
tạo được cho họ động lực để tiếp nhận các tri thức một cách tự giác.  
1.5.5. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của Trung tâm  
Cơ sở vật chất - kỹ thuật của trung tâm là phương tiện lao động sư  
phạm. Nó bao gồm: trường, lớp, các thiết bị dạy học và các thiết bị phục vụ  
cho các hoạt động sư phạm khác của nhà trường. Cơ sở vật chất kỹ thuật  
của nhà trường là một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành quá  
trình dạy học trong nhà trường. Nếu thiếu điều kiện này thì quá trình dạy  
học không thể diễn ra và càng không thể nói tới nâng cao chất lượng.  
Cơ sở vật chất - kỹ thuật của trung tâm phải phù hợp với mục tiêu bồi  
dưỡng, phù hợp với nội dung, phương pháp bồi dưỡng, do vậy cùng với  
việc đổi mới nội dung, phương pháp thì cũng cần bố trí, tổ chức cho phù  
hợp cơ sở vật chất - kỹ thuật của nhà trường.  
9
1.5.6. Kiểm tra đánh giá  
Là quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những đánh giá về sự tiến bộ  
nhằm thoả mãn các tiêu chí về sự thể hiện đã được đưa ra trong tiêu chuẩn  
hay kết quả học tập.  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1  
10  
CHƯƠNG 2  
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG VÀ QUẢN LÝ CÔNG  
TÁC BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CƠ SỞ TẠI CÁC TTBDCT TRÊN ĐỊA  
BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
2.1. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT ĐỂ PHÂN TÍCH  
THỰC TRẠNG  
Để đánh giá thực trạng QL công tác BDCBCS tại các TTBDCT chính  
trị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua chúng tôi đã sử  
dụng tổng hợp các phương pháp thu thập dữ liệu chính như: Sử dụng thông  
tin thứ cấp, khảo sát qua phiếu điều tra, đối thoại, phỏng vấn.  
2.2. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI  
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
Đà Nẵng là thành phố biển, nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam. Ngày  
01-01-1997, Đà Nẵng được tách khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trở thành  
thành phố trực thuộc Trung ương với 6 quận và 2 huyện, tổng số 56 xã,  
phường gồm 4 xã miền núi, 7 xã nông thôn và 45 phường.  
Sự tăng trưởng kinh tế của thành phố gắn liền với tiến bộ và công bằng xã  
hội. Chương trình thành phố “5 không”, “3 có” cùng với các chính sách xóa  
đói giảm nghèo, an sinh xã hội, chăm sóc người có công, giúp đỡ các đối  
tượng xã hội... đã đưa lại những hiệu quả rõ rệt về cải thiện đời sống nhân dân,  
nâng cao dân trí. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, chăm  
sóc sức khỏe, văn hóa, thể thao... không ngừng phát triển.  
Đội ngũ cán bộ chính quyền các cấp ngày càng được trẻ hoá, được đào  
tạo cơ bản theo hướng chính quy, chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức  
tốt, có tinh thần phục vụ nhân dân.  
2.3. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN  
CÁC TTBDCT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
2.3.1. Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, sự QL của chính  
quyền cấp quận, huyện đối với các TTBDCT trên địa bàn TP.Đà Nẵng  
11  
Thành uỷ Đà Nẵng đã chỉ đạo các đảng bộ cấp quận, huyện thành lập  
TTBDCT, quy định cụ thể về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy,  
lề lối làm việc của TTBDCT quận, huyện; mối quan hệ công tác của Trung  
tâm đối với cấp uỷ, chính quyền, ban Tổ chức, ban Tuyên giáo cấp quận,  
huyện và một số cơ quan, ban ngành liên quan.  
Trong thời gian qua, các quận huyện uỷ đã nhận thức đúng đắn về vị  
trí, vai trò của TTBDCT, quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động  
toàn diện các TTBDCT như: quan tâm củng cố sắp xếp tổ chức bộ máy  
TTBDCT theo đúng chức năng, nhiệm vụ, lựa chọn đội ngũ giảng viên  
chuyên trách và kiêm chức đảm bảo tiêu chuẩn và năng lực thực tế, tăng  
cường cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, chỉ đạo các phòng, ban, đoàn  
thể liên quan tạo điều kiện thuận lợi để các Trung tâm hoạt động hiệu quả.  
2.3.2. Quá trình hình thành và phát triển các TTBDCT trên địa  
bàn thành phố Đà Nẵng  
Ngày 05-8-2002, Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành Thông tri số 02-  
TT/TU “Về việc thành lập TTBDCTquận, huyện”. Theo đó, các quận,  
huyện uỷ đã thành lập TTBDCT, xây dựng đội ngũ cán bộ của Trung tâm  
và đội ngũ giảng viên; các cấp uỷ, chính quyền quan tâm đầu tư kinh phí,  
xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, chỉ đạo các Trung tâm hoạt động đáp  
ứng vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ trong công tác BDLLCT, chuyên  
môn nghiệp vụ cho đội ngũ CBCSvề công tác xây dựng Đảng, chính  
quyền, đoàn thể. Đến nay, toàn thành phố có 7 TTBDCT cấp quận, huyện.  
a. Về tổ chức bộ máy của các Trung tâm BD chính trị  
Khi mới thành lập, các TTBDCT quận, huyện, hầu hết các Giám đốc  
do đồng chí Trưởng ban Tuyên giáo, Ủy viên Ban Thường vụ quận, huyện  
ủy kiêm nhiệm. Qua nhiều lần củng cố, sắp xếp, đến năm 2011, bộ máy  
hoạt động ở các TT BDCT quận, huyện đều có giám đốc và phó giám đốc,  
biên chế hiện có từ 3 - 4 người. Đa số cán bộ của Trung tâm có trình độ đại  
học chuyên ngành và trình độ chính trị từ trung cấp trở lên, có tinh thần  
12  
trách nhiệm và tiếp cận được công việc, nhiều đồng chí giám đốc, giáo vụ  
đã đứng lớp giảng dạy khá tốt.  
b. Về đội ngũ giảng viên  
Đội ngũ giảng viên tại các Trung tâm hầu hết là giảng viên kiêm chức,  
mỗi Trung tâm có trung bình từ 10 đến 15 giảng viên kiêm chức. Phần lớn  
là Báo cáo viên Thành uỷ, giảng viên Trường Chính trị thành phố và  
trưởng, phó ban Tuyên giáo, giám đốc, phó giám đốc của Trung tâm các  
quận huyện, trưởng, phó các ban, ngành, đoàn thể, nhiều đồng chí là lãnh  
đạo chủ chốt của quận.  
c. Về cơ sở vật chất  
Được sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện của cấp uỷ, chính quyền,  
đến nay cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ hoạt động của các TTBDCT  
đã được tăng cường đầu tư. Các Trung tâm được bố trí 3 phòng làm việc  
chung trong Trung tâm hành chính Quận, huyện uỷ, sử dụng chung hội  
trường của UBND quận, huyện.  
d. Về kinh phí hoạt động  
Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động của Trung tâm còn rất hạn hẹp. Các  
Trung tâm hằng năm được Uỷ ban nhân các quận, huyện phân bổ định mức  
32.500.000đồng/biên chế/năm theo Quyết định số 95/2006/QĐ-UBND của  
UBND thành phố là quá thấp, không đủ nhu cầu trang trải hoạt động, một  
vài nơi không đủ để trả lương đến cuối năm. Vì hoạt động của Trung tâm  
hiện nay không phải là đơn vị sự nghiệp. Kiến nghị các cấp có thẩm quyền  
điều chỉnh định mức kinh phí tương đương các cơ quan khối đảng để các  
Trung tâm có điều kiện hoạt động.  
2.4. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BD VÀ QL CÔNG TÁC BD CBCS  
TẠI CÁC TTBDCT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ  
NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012  
2.4.1. Thực trạng công tác BDCBCS tại các TTBDCT  
a. Việc xác định nhu cầu BD đối với CBCS  
b. Việc phân loại CBCS gắn với nhu cầu bồi dưỡng  
13  
c. Việc xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng  
d. Về phương pháp BD cán bộ  
2.4.2. Thực trạng QL công tác BDCBCS tại các TTBDCT  
a. Kế hoạch hóa việc thực hiện chương trình bồi dưỡng  
b. Công tác QL các khoá bồi dưỡng  
c. Về QLđộingũgiảngviên  
Đội ngũ giảng viên tại các trung tâm hầu hết là giảng viên kiêm chức,  
được tất cả các Trung tâm xây dựng có khả năng giảng dạy khá ổn định, phần  
lớn là báo cáo viên Thành uỷ, giảng viên Trường Chính trị thành phố và  
trưởng, phó ban Tuyên giáo, giám đốc, phó giám đốc của Trung tâm các quận  
huyện. Mỗi Trung tâm hiện nay có từ 10 đến 15 giảng viên kiêm chức.  
Tuy nhiên công tác QLBD và phát triển giảng viên kiêm chức của các  
Trung tâm còn bộc lộ một số hạn chế: chưa có quy hoạch và kế hoạch xây  
dựng và phát triển đội ngũ giảng viên kiêm chức, đội ngũ này thường  
xuyên thay đổi do hết nhiệm kỳ phải chuyển công tác khác. Đội ngũ giảng  
viên kiêm chức tuy đông nhưng chưa mạnh, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu  
cả về số lượng và chất lượng đối với tình hình hiện nay; một bộ phận có  
năng lực chuyên môn nhưng kinh nghiệm, nghiệp vụ... còn yếu, đặc biệt là  
nghiệp vụ sư phạm  
d. Về QL phương pháp giảng dạy và trang thiết bị dạy học hiện đại  
cho giảng dạy và học tập.  
Các Trung tâm thuê hội trường của quận, huyện uỷ nên hội trường đã  
có sẵn trang thiết bị dạy học hiện đại như máy chiếu, máy tính, đầu  
Projektor, bảng trắng, bút dạ. Tuy nhiên tồn tại lớn nhất là chưa thể tổ chức  
cho giảng viên thực hiện các phương pháp mới vào giảng dạy các lớp, các  
trang thiết bị hiện đại dùng cho giảng dạy tuy đã có nhưng chưa được sử  
dụng một cách hiệu quả. Vì vậy, hoạt động lĩnh vực này nói chung chỉ nằm  
ở ý tưởng của các nhà QLBD của Trung tâm.  
Chính vì vậy, phương pháp dạy và học ở các TTBDCT hiện nay hầu  
hết thực hiện theo phương pháp truyền thống, giáo viên giảng - học viên  
14  
nghe, ghi chép và sử dụng phương tiện bảng phấn và bút dạ là chủ yếu.  
Đây là một khâu yếu kém trong QLBD của Trung tâm làm hạn chế chất  
lượng các lớp BD đã được tổ chức.  
đ. Về QL công tác tổ chức, đánh giá kết quả và hiệu quả các khoá  
bồi dưỡng  
Hiện nay việc đánh giá kết quả và chất lượng khoá BD đều được tiến  
hành cuối mỗi khoá học cho đối tượng BD kết nạp đảng và đảng viên mới, căn  
cứ vào kết quả (điểm) cuối khoá. Đây là phương pháp đánh giá truyền thống.  
Tỷ lệ xếp loại khá, giỏi, trung bình, yếu của học viên khoá học nói lên chất  
lượng khoá BD cao hay thấp. Ngoài ra, cuối khoá học ban QL khoá học còn tổ  
chức lấy ý kiến đóng góp của tổ, của lớp để kết hợp, bổ sung đánh giá khoá  
học về mục tiêu, nội dung, chương trình và điều kiện tổ chức khoá học cũng  
như chất lượng và phương pháp giảng dạy của giảng viên.  
2.5. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TÁC BD VÀ QUẢN LÝ  
CÔNG TÁC BDCBCS TẠI CÁC TTBDCT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH  
PHỐ ĐÀ NẴNG  
2.5.1. Những kết quả đạt được  
Số lượng CBCS được cử đi BD nâng cao trình độ LLCT và kỹ năng nghiệp  
vụ ngày càng nhiều. Chất lượng BD cũng từng bước được cải tiến: chương trình  
nội dung BD các khoá học được in thành sách; phương pháp lên lớp cũng được  
điều chỉnh dần cho phù hợp với tâm lý người lớn. Các lĩnh vực BD cũng dần dần  
được mở rộng, ngoài việc BD về LLCT, đã có nhiều khoá BD về kiến thức quốc  
phòng cho đối tượng 4 và đối tượng 5, tuyên truyền pháp luật, tuyên truyền  
Chiến lược thuế, BD chính trị hè cho giáo viên và một số chuyên đề  
khác…Không thể phủ nhận việc BD CBCS nâng cao chất lượng cho đội ngũ  
CBCS. Mặt bằng văn hoá, kiến thức LLCT, nghiệp vụ công tác…của CBCS  
trên địa bàn thành phố được nâng lên và phát huy tác dụng tích cực. CBCS biết  
làm việc và làm việc có hiệu quả hơn, luôn hoàn thành nhiệm vụ được phân  
công. Đội ngũ CBCS đã góp phần quyết định thúc đẩy việc thực hiện thắng lợi  
các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.  
15  
2.5.2. Thuận lợi cơ bản  
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác  
QL BDCBCS, đã có nhiều văn bản pháp quy về công tác BDCBCS nói  
chung và BDCBCS tại TTBDCT nói riêng. Hệ thống văn bản đó chính là  
hành lang pháp lý quan trọng, làm cơ sở cho việc QL cũng như thực thi  
hoạt động BD CBCS.  
Một hệ thống các TTBDCTđược hình thành, củng cố và ngày càng  
được đầu tư, phát triển; đội ngũ giảng viên, học viên cũng được quan tâm  
hơn cả về tinh thần cũng như vật chất.  
2.5.3. Những hạn chế chính  
Công tác quy hoạch BD còn hạn chế, chưa xác định và phân loại cán  
bộ theo nhu cầu BD nên kế hoạch BD của Trung tâm khi xây dựng còn bị  
động, không sát với thực hiện, một số căn cứ không vững chắc (nhất là các  
đơn đặt hàng bồi dưỡng) do đó khi thực hiện phải điều chỉnh nhiều lần,  
làm đảo lộn hoạt động QLBD của Trung tâm.  
Chương trình và nội dung BD của các khoá học được xây dựng chưa  
xuất phát từ nhu cầu của người học mà chủ yếu dựa vào suy luận chủ quan  
của người quản lý. Điều đó hạn chế rất lớn đến kết quả và hiệu quả BD  
không thu hút học viên tham gia tích cực khoá học.  
Nội dung các chương trình đã có đổi mới, song vẫn còn có những hạn  
chế. Các chương trình LLCT tính lý luận còn đơn giản, chương trình được  
kết cấu trình bày dưới dạng học đường lối, nghị quyết của Đảng. Sự mất  
cân đối này là do quan niệm chưa rõ ràng và đầy đủ, chưa làm rõ sự khác  
nhau giữa chương trình giáo dục LLCT với chương trình học tập đường  
lối. Vì vậy, khi thể hiện nội dung rất dàn trải, chưa có điều kiện đi sâu, làm  
rõ tính lý luận của vấn đề cơ bản.  
Việc phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu, giảng viên kiêm chức còn  
thiếu xây dựng quy hoạch và kế hoạch. Riêng đối với giảng viên kiêm  
chức hoạt động mang tính bị động và chắp vá, chưa ổn định, chưa có cơ  
chế chính sách thích hợp cho đội ngũ này.  
16  
Chưa quan tâm đúng mức đến đổi mới phương pháp giảng dạy và áp  
dụng các phương pháp giảng dạy cho có hiệu quả đối với người lớn tuổi.  
Phương pháp giảng dạy cho đến nay vẫn chỉ là thuyết trình, không thu hút  
được học viên tham gia tích cực vào các khoá học. Trang thiết bị dạy, học  
còn lạc hậu, một số trang thiết bị của Trung tâm có nhưng không được sử  
dụng, rất lãng phí.  
Chưa có bước chuyển biến trong hoạt động đánh giá chất lượng khoá  
bồi dưỡng, vẫn sử dụng chủ yếu phương pháp có độ tin cậy thấp, phương  
pháp kiểm tra, đánh giá hiệu quả sau BD chưa được thực hiện.  
2.5.4. Một số khó khăn, vướng mắc cơ bản  
Đội ngũ giảng viên và CBQL ở các Trung tâm về nghiệp vụ sư phạm  
còn hạn chế và thiếu kinh nghiệm trong QL giáo dục; chế độ, chính sách  
quy định hiện nay cho hoạt động TTBDCT chưa hợp lý; cơ sở vật chất  
chưa đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng.  
Quyết định 185- QĐ/TW quy định chưa rõ, vừa do cấp uỷ quận, huyện trực  
tiếp chỉ đạo về mọi hoạt động, còn UBND quận, huyện chỉ cấp kinh phí hoạt  
động, nên không được nơi nào quan tâm về chế độ chính sách cho cán bộ Trung  
tâm, kể cả trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học; cơ chế này bộc lộ  
nhiều bất cập, gây trở ngại lớn cho hoạt động.  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2  
17  
CHƯƠNG 3  
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CƠ SỞ  
TẠI CÁC TTBDCT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY  
3.1. QUAN ĐIỂM VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG  
CÁN BỘ CƠ SỞ TRONG THỜI GIAN TỚI  
Là một bộ phận của công tác tư tưởng của Đảng, công tác GDLLCT  
có vai trò quan trọng. Xét về bản chất của công tác GDLLCT là quá trình  
tác động có mục đích, có hệ thống nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức  
chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, hướng họ tham gia vào  
cuộc đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo.  
Thông báo kết luận số 181-TB/TW, ngày 03-9-2008 của Ban Bí thư  
Trung ương Đảng (khoá X) “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động  
của trường chính trị cấp tỉnh và TTBDCT cấp huyện” đã đề ra mục tiêu:  
“Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của TTBDCTcấp huyện nhằm  
từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, BD cán bộ, đảng viên,  
trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, QL cấp cơ sở có bản lĩnh chính trị  
vững vàng, có trình độ, năng lực lãnh đạo, QL và kỹ năng, nghiệp vụ tổ  
chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó ở địa  
phương, cơ sở”.  
3.2. NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC ĐỀ XUẤT  
CÁC BIỆN PHÁP  
3.2.1. Tính phù hợp  
3.2.2. Tính đồng bộ  
3.2.3. Tính thực tiễn  
3.3. NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CÁN  
BỘ CƠ SỞ TẠI CÁC TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ  
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
3.3.1. Những biện pháp QL đối với chủ thể lãnh đạo, QL các  
18  
Trung tâm BD chính trị  
a. Nâng cao nhận thức của các chủ thể lãnh đạo, QL hoạt động tại  
các TTBDCTtrên địa bàn thành phố Đà Nẵng theo hướng hiệu quả,  
thiết thực  
Chủ thể lãnh đạo, QL trực tiếp của các Trung tâm BDCT trên địa bàn  
thành phố Đà Nẵng được xác định là cấp ủy quận, huyện; cấp uỷ quận  
huyện chịu trách nhiệm thành lập và lãnh đạo, chỉ đạo, trực tiếp và toàn  
diện mọi hoạt động thường xuyên của Trung tâm BDCT. Chất lượng hoạt  
động của Trung tâm BDCT phụ thuộc phần lớn vào sự quan tâm chỉ đạo  
điều hành của Ban Thường vụ, đặc biệt là của Thường trực quận huyện ủy  
và UBND.  
Việc coi trọng công tác giáo dục LLCT cho cán bộ từ cơ sở trở lên  
phải được thấm nhuần trong cấp uỷ địa phương, coi đây là bắt buộc, trở  
thành nhiệm vụ thường xuyên, một tiêu chuẩn không thể thiếu của mỗi  
người, mỗi địa phương, đơn vị; giúp họ ý thức rõ hơn trách nhiệm của  
mình trước Đảng, trước nhân dân, trước vận mệnh mới của đất nước.  
b. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp giữa các ngành  
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác BD cán bộ cơ  
sở  
Đảng lãnh đạo công tác cán bộ, QL và BD, đào tạo cán bộ theo  
nguyên tắc tập trung dân chủ. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà  
Nẵng lần thứ XX đã nêu rõ: “Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất  
lãnh đạo công tác cán bộ và QL cán bộ. Nâng cao trách nhiệm của cấp uỷ  
Đảng, người đứng đầu trong cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc  
và các đoàn thể, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong công tác cán bộ”.  
Đảng bộ chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cho cả HTCT trên mọi lĩnh  
vực; thực hiện đường lối, chính sách cán bộ thông qua các tổ chức Đảng và  
đảng viên trong các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể nhân dân; thực hiện  
đúng quy định, quy hoạch, pháp luật của Nhà nước và điều lệ của các tổ  
chức đoàn thể, các tổ chức xã hội trong việc QL đội ngũ cán bộ kết hợp với  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 9800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng cán bộ cơ sở tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_bien_phap_quan_ly_cong_tac_boi_duong_can_bo.pdf