Tóm tắt Luận án Nghiên cứu chế tạo blend đi từ cao su tự nhiên có sử dụng phụ gia nano

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI  
Lê Nhƣ Đa  
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO BLEND ĐI TỪ CAO SU TỰ NHIÊN  
CÓ SỬ DỤNG PHỤ GIA NANO  
Chuyên ngành: Vật liệu cao phân tử và tổ hợp  
Mã số: 62440125  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT HÓA HỌC  
Hà Nội – 2016  
Công trình được hoàn thành tại:  
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội  
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Bùi Chương  
TS. Đặng Việt Hưng  
Phản biện 1: ………………………………………………………  
………………………………………………………  
Phản biện 2: ………………………………………………………  
………………………………………………………  
Phản biện 3: ………………………………………………………  
………………………………………………………  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ  
cấp Trường, họp tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội  
Vào hồi …….. giờ, ngày ….. tháng ….. năm ………  
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:  
1. Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường ĐHBK Hà Nội  
2. Thư viện Quốc gia Việt Nam  
A. GIỚI THIỆU LUẬN ÁN  
Tính cấp thiết của luận án:  
Cao su blends là một loại vật liệu được tập trung nghiên cứu trong nhiều năm nay  
do khả năng mở rộng và cải thiện tính chất rất lớn của các loại cao su. Trước những  
yêu cầu ngày càng cao và đa dạng đối với các sản phẩm cao su kĩ thuật, có thể thấy  
rằng rất ít loại cao su (tự nhiên và tổng hợp) đủ khả năng đáp ứng khi chỉ sử dụng  
một mình. Chính vì vậy cho tới nay, các sản phẩm cao su kĩ thuật chất lượng cao hầu  
như chỉ được chế tạo từ các blend. Việc phối trộn các loại cao su với những tính chất  
khác nhau, nhiều khi là trái ngược, đã cho phép tạo ra những vật liệu mới với những  
tính năng ưu việt mà từng loại cao su không có.  
Cao su tự nhiên (CSTN) là loại vật liệu polyme nguồn gốc sinh học có nhiều tính  
chất cơ học quí báu. Tuy nhiên, nhược điểm của nó là khả năng chịu thời tiết, chịu lão  
hóa kém. Để khắc phục nhược điểm này, có nhiều nghiên cứu phối trộn CSTN với  
các loại cao su khác nhằm tạo ra blend với các tính chất tốt hơn. Mặc dù vậy việc tiếp  
tục hoàn thiện các tính chất sử dụng của CSTN vẫn là vấn đề vô cùng cấp thiết ở  
nước ta.  
Trong thời gian gần đây, vật liệu cao su nanocompozit cũng bắt đầu được nghiên  
cứu mạnh mẽ. Các phụ gia có những ảnh hưởng đáng kể đến tính chất cao su, Trên cơ  
sở đó, ảnh hưởng của phụ gia nano đến tính chất cao su blend cũng được chú ý. Tuy  
nhiên, việc chế tạo nanocompozit từ các blend cao su vẫn còn nhiều vấn đề kỹ thuật  
cần nghiên cứu, chẳng hạn ảnh hưởng của mức độ tương hợp đến sự phân tán phụ gia  
nano trong các pha, từ đó tính chất của blend sẽ khác nhau. Do đó, để tiếp tục hoàn  
thiện cao su blend từ CSTN, việc nghiên cứu phụ gia nano trong blend là rất cần  
thiết.  
Trên cơ sở tình hình nghiên cứu và ứng dụng CSTN nói trên, đã lựa chọn đề tài  
cho luận án này là “Nghiên cứu chế tạo blend đi từ cao su tự nhiên có sử dụng phụ  
gia nano”  
Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu của luận án:  
Mục đích của luận án là chế tạo được blend của CSTN và cao su EPDM, vật liệu  
nanocompozit từ blend CSTN/EPDM và làm rõ ảnh hưởng của phụ gia nano trong  
blend CSTN/EPDM.  
Đối tượng nghiên cứu của luận án là CSTN Việt Nam và blend của nó với cao su  
EPDM, nanocompozit từ blend CSTN/EPDM và các phụ gia nano như nanoclay,  
nanosilica.  
Phạm vi và các nội dung nghiên cứu chính của luận án:  
Luận án tập trung vào các nội dung nghiên cứu chính bao gồm:  
- Nghiên cứu các phương pháp trộn hợp CSTN/EPDM  
- Nghiên cứu sự dịch chuyển và phân bố lại xúc tiến trong blend CSTN/EPDM  
- Nghiên cứu nâng cao độ tương hợp của CSTN và EPDM bằng cách biến tính  
EPDM  
- Nghiên cứu chế tạo nanocompozit từ blend CSTN/EPDM và nanoclay,  
nanosilica  
1
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:  
Lần đầu tiên ở Việt Nam đã nghiên cứu sự dịch chuyển hóa chất trong blend  
CSTN/EPDM như một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ tương hợp của hai  
loại cao su này. Ảnh hưởng của phụ gia nanoclay, nanosilica đến tính chất của blend  
CSTN/EPDM được khảo sát và lý giải thông qua các tính chất cơ học động ở biến  
dạng nhỏ. Đây là cách tiếp cận mới có thể được pháp triển cho những nghiên cứu  
nâng cao tính chất CSTN sau này.  
Những đóng góp mới của luận án:  
- Trên cơ sở khảo sát các đường cong lưu hóa kết hợp với các tính chất cơ học  
đã chỉ ra được xu hướng dịch chuyển các chất xúc tiến trong blend  
CSTN/EPDM. Sự dịch chuyển này phụ thuộc cả vào công nghệ chế tạo blend  
(phương pháp trộn hợp) cả vào bản chất hóa chất hóa học cũng như tốc độ lưu  
hóa của từng pha cao su riêng biệt.  
- Đã xác định được điều kiện biến tính EPDM bằng dithiodimorpholin (DTDM)  
phù hợp để tăng cường tính chất blend CSTN/EPDM. Việc tăng cường tính  
chất blend được xác định là do tăng đáng kể mật độ mạng không gian trong  
blend khi sử dụng EPDM biến tính.  
- Đã chế tạo được nanocompozit từ blend CSTN/EPDM và nanoclay, nanosilica.  
Trên cơ sở phân tích đường biến dạng ứng suất theo chu kỳ ở biến dạng nhỏ đã  
lý giải cơ chế gia cường của phụ gia nano trong blend CSTN/EPDM.  
Bố cục của luận án:  
Luận án được trình bày trong 140 trang, 42 bảng, 66 hình và đồ thị, và 95 tài liệu  
tham khảo. Luận án gồm các phần: Mở đầu 02 trang, Chương 1 - tổng quan 43 trang,  
Chương 2 - nguyên vật liệu và thực nghiệm 13 trang, Chương 3 - kết quả và thảo luận  
78 trang, kết luận 02 trang, Tài liệu tham khảo 07 trang.  
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA LUẬN ÁN  
MỞ ĐẦU  
Trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục đích và các nhiệm vụ nghiên  
cứu chính của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN  
Trong chương 1 trình bày các kết quả nghiên cứu về tính chất của CSTN và cao su  
EPDM và blend CSTN/EPDM cũng như một số yếu tố ảnh hưởng đến tính chất  
blend. Nêu các thành tựu nghiên cứu về hai loại phụ gia nano sử dụng phổ biến để gia  
cường cao su là nanoclay và nanosilica, các phương pháp chế tạo cao su  
nanocompozit, tính chất của cao su nanocompozit với các phụ gia là nanoclay và  
nanosilica. Tổng quan đặt cơ sở khoa học cho định hướng nghiên cứu nhằm đạt được  
mục tiêu của đề tài.  
CHƢƠNG 2 - NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM  
2.1. Nguyên vật liệu  
Cao su tự nhiên định chuẩn loại SVR - 3L của Việt Nam. Cao su EPDM loại 3666  
của Mỹ. Các hóa chất cao su thuộc loại kỹ thuật, xuất xứ Trung Quốc.  
Nanoclay loại I28E của hãng Nanocor (Mỹ). Nanosilica loại WL180GR của hãng  
Wellink (Trung Quốc). Trước khi sử dụng nanosilica được biến tính bằng TESPT tại  
Trung tâm NCVL Polyme, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.  
2
2.2. Phƣơng pháp thực nghiệm  
2.2.1. Chế tạo vật liệu  
Việc trộn hợp các cao su, hóa chất và phụ gia nano được thực hiện trên máy trộn  
kín Plasticorder Lab ® - Station N50 -EHT của hãng Brabenderc (Đức). Cao su được  
lưu hóa trên máy ép thủy lực 30T loại GOTECH (Đài Loan - Trung Quốc)  
Đã chế tạo blend CSTN/EPDM theo 5 quy trình  
Quy trình 1:  
CSTN +  
(Axit stearic,  
ZnO, RD)  
Trộn  
đều theo tỉ  
lệ  
CSTN/EPD  
M + xúc tiến, S  
EPDM +  
(Axit stearic,  
ZnO, RD)  
Quy trình 2:  
CSTN + (Axit  
stearic, ZnO, RD)  
EPDM  
Trộn đều theo  
tỉ lệ  
CSTN/EPDM  
CSTN/EPDM  
+ xúc ti
ế
n, S  
Thành phần đơn phối liệu như sau: CSTN: 0 - 100 pkl; cao su EPDM 0 - 100 pkl;  
phòng lão RD - 0,8 pkl; Axit stearic - 2 pkl; ZnO - 5 pkl; Xúc tiến DM - 1,5 pkl; Xúc  
tiến DM - 1,5 pkl; Lưu huỳnh - 0,5 pkl. Hỗn hợp được lưu hóa ở 155oC trong 6 phút.  
2.2.2. Xác định các đặc trưng lưu hóa  
Được thực hiện theo tiêu chuẩn ASTM D5289 trên máy đo lưu biến EK 2000  
EEKON (Mỹ)  
2.2.3. Xác định các tính chất cơ lý  
- Tính chất cơ học được xác định theo TCVN 4509-2006 tốc độ kéo 100mm/min  
trên máy INSTRON 5582 100kN (Mỹ)  
- Độ cứng Shore A được xác định theo TCVN 1595-1: 2007 trên dụng cụ  
TECLOCK GS 79N (Nhật Bản).  
- Hệ số lão hóa xác định theo TCVN 2229-2007 ở 120oC, 70 giờ.  
- Độ trương trong dung môi toluen được xác định theo TCVN 2752: 2008 ở nhiệt  
độ phòng.  
- Khối lượng phân tử được xác định bằng phương pháp đo độ nhớt trong toluen  
theo tiêu chuẩn ASTM D445.  
3
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Nghiên cứu chế tạo blend CSTN/EPDM  
3.1.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ chế tạo  
3.1.1.1. Quy trình trộn hợp cao su  
Trong phần này đã tiến hành chế tạo blend CSTN/EPDM theo năm cách khác  
nhau. Để làm rõ ảnh hưởng của các quy trình trộn này đến tính chất blend, các chất  
trợ tương hợp không được sử dụng trong đơn phối liệu. Tỷ lệ CSTN/EPDM là 60/40.  
Trong hình 3.1. là biểu đồ momen xoắn của các quy trình trộn  
Hình 3.1: Biểu đồ momen xoắn quy trình 1  
Từ các biểu đồ trộn hợp đã xác định các thông số của quá trình trộn hợp (bảng 3.1)  
Bảng 3.1 Một số thông số quá trình trộn hợp tạo blend  
Quy trình  
trộn blend  
Momen xoắn  
ổn định, Nm  
9,3  
Nhiệt độ trộn  
ổn định, oC  
136  
Năng lượng  
trộn, kNm/Kg  
255,6  
1
2
3
4
5
10,6  
14,9  
12,2  
13,6  
134  
137  
141  
140  
249,4  
272,5  
547,5  
483,1  
Từ số liệu trong bảng 3.1 có thể rút ra một số nhận xét sau:  
- Nhiệt độ trộn ổn định của các quy trình 1-3 xấp xỉ như nhau, trong khi quy  
trình 4, 5 có nhiệt độ cao hơn. Điều này cũng quan sát thấy khi so sánh năng lượng  
trộn hợp riêng của các quy trình.  
- CSTN khi được sơ luyện cùng cao su EPDM có mức độ giảm độ nhớt nhỏ hơn  
khi sơ luyện riêng rẽ. Đây có thể do độ nhớt của hệ thống đạt đến cân bằng khi độ  
nhớt của hai loại cao su xấp xỉ bằng nhau.  
3.1.1.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ CSTN/EPDM  
Để xác định ảnh hưởng của tỉ lệ cao su, đồng thời so sánh với giá trị tính toán lí  
thuyết (theo phương pháp cộng hợp) (Bảng 3.3). Quy trình chế tạo được sử dụng là  
quy trình 4.  
4
Bảng 3.3. Sự thay đổi tính chất theo tỉ lệ cao su trong blend CSTN/EPDM  
Độ bền kéo, MPa  
Thực  
Độ dãn dài khi đứt, %  
Thực  
Tỉ lệ  
TT CSTN/EPDM  
(w/w)  
Thực  
Tính  
Thực  
Tính  
nghiệm/Tính  
nghiệm/Tính  
nghiệm toán  
nghiệm toán  
toán, %  
toán, %  
1
2
3
4
5
6
7
100/0  
0/100  
80/20  
70/30  
60/40  
50/50  
40/60  
20,40  
1,47  
-
-
-
-
780  
-
-
-
214,7  
576,0  
-
15,93 16,61  
13,34 14,72  
10,53 12,83  
95,9  
90,6  
82,1  
39,1  
46,2  
666,94  
86,36  
90,94  
92,66  
73,83  
86,93  
555,11 610,41  
513,25 553,88  
367,17 497,35  
383,22 440,82  
4,28  
4,11  
10,94  
8,89  
Có thể thấy khi tỉ lệ CSTN cao (70/30) giá trị độ bền kéo thực tế của blend  
CSTN/EPDM khá gần với tính toán lí thuyết. Điều này chứng tỏ mức độ tách pha  
(nếu có) giữa hai loại cao su là không lớn và không đủ để ảnh hưởng tới độ bền. Có  
thể giải thích hiện tượng này là do hàm lượng CSTN đủ lớn tạo thành pha liên tục và  
gánh chịu toàn bộ tải trọng đặt lên blend. Cao su EPDM chỉ tạo thành pha gián đoạn  
và không có ảnh hưởng đáng kể đến độ bền của toàn hệ thống. Tuy nhiên, khi hàm  
lượng CSTN giảm xuống, sự liên tục của pha này bị phá vỡ, và mức độ liên tục của  
pha CSTN càng giảm thì độ bền của hệ thống càng nhỏ đi so với tính toán  
Như vậy, để chế tạo được blend CSTN/EPDM có khả năng ứng dụng vào thực tế  
thì cần lựa chọn tỉ lệ CSTN/EPDM có khả năng chịu lão hóa nhiệt đủ cao, nghĩa là  
vào khoảng 60/40. Độ bền cơ học tương đối thấp của các blend này có thể được cải  
thiện nếu nâng cao được mức độ tương hợp của hai loại cao su.  
3.1.2.Nghiên cứu sự phân bố hóa chất trong quá trình trộn hợp.  
3.1.2.1. Ảnh hưởng của các quy trình trộn  
Sự hòa tan của các hóa chất trong cao su phụ thuộc vào các thông số hòa tan của  
chúng. Thông số hòa tan của các hóa chất thuộc nhóm xúc tiến được tính theo công  
thức Van Krevelend và trình bày trong bảng 3.4  
Bảng 3.4. Thông số hòa tan của cao su và nhóm xúc tiến  
Hóa  
chất  
Xúc  
tiến M  
Xúc tiến  
TMTD  
Axit  
Stearic  
CSTN  
18,01  
EPDM  
16,8  
ZnO  
δ,  
22,65  
20,79  
21,42  
17,61  
(J/cm2)1/2  
Bảng trên cho thấy thông số hòa tan của các hóa chất thuộc nhóm xúc tiến gần với  
CSTN hơn là với EPDM. Có nghĩa là các hóa chất này dễ phân tán trong CSTN hơn.  
5
Ngoài ra, khi có sự di chuyển các hóa chất trong blend CSTN/EPDM thì xu hướng  
dịch chuyển từ pha EPDM sang pha CSTN sẽ chiếm ưu thế.  
Như vậy, sự phân bố lại các hóa chất giữa các pha CSTN và EPDM trong blend  
CSTN/EPDM phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố:  
- Thông số hòa tan của cao su và các hóa chất.  
- Diện tích tiếp xúc giữa hai pha cao su.  
- Quy trình đưa các hóa chất vào cao su, nghĩa là quy trình hỗn luyện.  
Dưới đây sẽ phân tích ảnh hưởng của các quy trình trộn đến sự dịch chuyển hóa  
chất và đến mức độ lưu hóa của các pha cao su thành phần trong blend CSTN/EPDM.  
Tỷ lệ cao su CSTN/EPDM được chọn là 60/40  
Trong quy trình 1, các hóa chất được hỗn luyện riêng biệt vào từng cao su theo  
đúng tỉ lệ trong đơn cơ bản. Vì thế có thể coi rằng cả hai pha cao su có mức độ lưu  
hóa tương ứng với đơn cơ bản. Để tiện so sánh, có thể coi mức độ phân bố hóa chất  
cũng như mức độ lưu hóa trong các pha này là chuẩn (ký hiệu ++).  
Trong quy trình 2, toàn bộ hóa chất của hỗn hợp đã được đưa vào CSTN trước, sau  
đó đưa EPDM vào để tạo blend. Như vậy một phần hóa chất lẽ ra sẽ phải vào pha  
EPDM thì lại đi vào pha CSTN do chúng tan vào CSTN tốt hơn. Kết quả là lượng  
hóa chất trong CSTN cao hơn, còn trong EPDM – thấp hơn so với mức chuẩn (quy  
trình 1). Mặt khác, khi CSTN được sơ luyện trước, độ nhớt của nó giảm nhanh hơn  
EPDM (hình 3.2) dẫn đến diện tích tiếp xúc CSTN/EPDM tăng lên làm sự dịch  
chuyển hóa chất từ pha EPDM sang CSTN càng dễ dàng. Do đó lượng hóa chất trong  
CSTN càng cao hơn (ký hiệu +++), còn trong EPDM càng thấp hơn (ký hiệu +) so  
với quy trình 1.  
Lý luận tương tự, ta có lượng hóa chất trong pha EPDM của blend chế tạo theo  
quy trình 3 sẽ cao hơn ( +++), còn trong pha CSTN – thấp hơn (+) so với mức chuẩn  
(blend chế tạo theo quy trình 1).  
Đối với cả hai quy trình trộn 4 và 5, các hóa chất được đưa vào các pha cao su từ  
bên ngoài. Có thể thấy rằng lượng hóa chất vào pha CSTN sẽ cao hơn vào pha EPDM  
do thông số hòa tan của các hóa chất này gần với CSTN hơn. Cũng vì thế, lượng hóa  
chất trong pha CSTN có thể cao hơn mức chuẩn.  
Tổng hợp các phân tích trên có thể tập hợp thành bảng định tính như sau (bảng 3.6)  
Bảng 3.6. Tính chất cơ học của các blend CSTN/EPDM chế tạo theo các quy trình khác  
nhau (Tỷ lệ CSTN/EPDM là 60/40)  
Độ  
bền  
kéo,  
MPa  
11,2  
11,4  
11,8  
11,6  
12,1  
Độ  
dãn dài  
khi  
Mức độ lưu hóa  
Quy  
trình trộn  
blend  
Độ  
Độ  
Modu  
n 100,  
MPa  
0,95  
dãn dư, cứng,  
Pha  
CSTN  
++  
Pha  
EPDM  
++  
%
Shore A  
đứt, %  
1
2
3
4
5
511  
529  
576  
555  
20  
39,4  
38,3  
37,3  
39,2  
38,3  
+++  
+
+++  
++  
+
+++  
+
0,89  
0,79  
0,84  
0,81  
18,6  
16.6  
16.6  
19.3  
++  
565  
6
Trong blend chế tạo theo quy trình 1 (gọi tắt là blend 1) cả hai pha CSTN và  
EPDM được lưu hóa đồng đều, do đó mạng không gian lưu hóa được phân bố đồng  
đều trong cả hai pha. Do đó blend 1 có modun và độ cứng lớn nhất và độ dãn dài khi  
đứt nhỏ nhất.  
Trong blend 2, pha CSTN có độ lưu hóa cao hơn chuẩn, còn pha EPDM – thấp  
hơn. Có thể cho rằng mức độ lưu hóa cao trong pha CSTN chưa đủ bù trừ sự giảm  
lưu hóa trong pha EPDM, do đó blend có modun nhỏ hơn, còn độ dãn dài khi đứt cao  
hơn so với blend 1.  
Trong blend 3 có mức độ lưu hóa thấp nhất, còn pha EPDM – cao nhất trong các  
blend được xét. Các blend 4 và blend 5 có mức độ lưu hóa trong pha CSTN cao hơn  
pha EPDM. Mặc dù rất khó so sánh trực tiếp sự phân bố lại hóa chất trong các blend  
4 và 5 với blend 1, các số liệu trong bảng 3.5 cho thấy chúng gần với blend 2.  
Từ những kết quả phân tích nêu trên, có thể thấy rằng blend 1 có tính chất cơ học  
cao nhất trong các blend. Vì vậy đã lựa chọn quy trình trộn 1 để tiếp tục khảo sát. Kết  
quả của sự dịch chuyển được đánh giá theo đường cong lưu hóa và các thông số lưu  
hóa cơ bản.  
3.1.2.2. Quá trình lưu hóa riêng biệt các thành phần CSTN và EPDM  
Chất xúc tiến lưu hóa có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ quá trình lưu hóa cũng như  
mức độ khâu mạch cao su. Chính vì vậy, khảo sát các đường cong lưu hóa với các  
đơn phối liệu khác nhau có thể đem lại những thông tin về quá trình này.  
Các thông số lưu hóa chính được trình bày trong bảng 3.8  
Bảng 3.8 Các thông số lưu hóa của hỗn hợp CSTN và EPDM  
Mẫu  
S, s  
140  
C90, s  
198  
∆= C90 - S, s  
M, lbf.in  
10,18  
CSTN  
EPDM  
48  
473  
852  
379  
7,72  
Sự khác biệt về tốc độ lưu hóa của hai loại cao su là một trong những nguyên nhân  
chủ yếu của độ tương hợp kém trong blend CSTN/EPDM. Vì vậy đã tiến hành nghiên  
cứu điều chỉnh tốc độ lưu hóa của từng pha cao su riêng biệt bằng cách thay đổi tỷ lệ  
các chất xúc tiến của chúng.  
3.1.2.3. Ảnh hưởng của xúc tiến riêng biệt đến quá trình lưu hóa  
Đã điều chỉnh lại đơn theo cách trong CSTN chỉ có xúc tiến DM còn trong cao su  
EPDM chỉ có xúc tiến TMTD (ký hiệu tương ứng hai loại hỗn hợp này là NiDM và  
EiTM) (Bảng 3.9).  
Bảng 3.9. Thành phần các hỗn hợp CSTN và EPDM với các chất xúc tiến riêng biệt  
CSTN  
pkl  
EPDM  
pkl  
ZnO +axit stearic  
Ký hiệu mẫu  
g
g
g
pkl  
3,0  
4,0  
5,0  
6,0  
7,0  
N1DM  
N2DM  
N3DM  
N4DM  
N5DM  
60 100  
60 100  
60 100  
60 100  
60 100  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
1,8  
2,4  
3,0  
3,6  
4,2  
7
E1TM  
E2TM  
E3TM  
E4TM  
E5TM  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
40  
40  
40  
40  
40  
100  
100  
100  
100  
100  
1,8  
2,4  
3,0  
3,6  
4,2  
4,5  
6,0  
7,5  
9,0  
10,5  
Ghi chú:  
- Lượng xúc tiến DM trong các đơn N1DM – N5DM là 1,5g (2,5 pkl so với  
CSTN)  
- Lượng xúc tiến TMTD trong các đơn E1TM – E5TM là 1,5g (3,75 pkl so với  
EPDM)  
Còn hai yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự dịch chuyển xúc tiến trong cao su blend:  
- Yếu tố nhiệt động – xúc tiến sẽ ưu tiên dịch chuyển từ pha cao su có thông số  
hòa tan δ xa với chúng sang pha cao su có δ gần với chúng.  
- Yếu tố động học – xúc tiến sẽ dễ dịch chuyển trong pha cao su có mật độ mạng  
không gian thấp hơn là trong pha cao su có mật độ mạng không gian cao. Ngoài ra,  
bề mặt tiếp xúc giữa hai pha cũng có ảnh hưởng đến mức độ dịch chuyển các chất  
xúc tiến.  
3.1.2.4.Sự phân bố chất xúc tiến trong quá trình hỗn luyện chéo  
Trong phương pháp hỗn luyện chéo, Các đơn NiDM và EiTM được hỗn luyện với  
nhau theo từng cặp để tạo thành blend có cùng đơn cơ bản và kí hiệu là Bi. Cụ thể là:  
B1 = E1TM + N5DM  
B2 = E2TM + N4DM  
B3 = E3TM + N3DM  
B4 = E4TM + N2DM  
B5 = E5TM + N1DM  
Những kết quả tính toán trong bảng 3.4 cho thấy khi trộn hợp các hỗn hợp NiDM  
(CSTN với xúc tiến DM) và EiTM (cao su EPDM với xúc tiến TMTD) xu hướng  
chuyển dịch của xúc tiến sẽ chủ yếu là từ pha EPDM sang CSTN. Điều này sẽ ảnh  
hưởng trực tiếp đến đường cong lưu hóa và các thông số lưu hóa chính của các blend  
Bi(bảng 3.11).  
Bảng 3.11. Các thông số lưu hóa chính của blend CSTN/EPDM chế tạo theo phương  
pháp hỗn luyện chéo.  
Mẫu  
B1  
B2  
B3  
B4  
τs, s  
152  
134  
130  
140  
130  
τc90, s  
218  
197  
188  
199  
184  
Δτ = τc90 - τs , s  
M, lbf.in  
8,17  
66  
63  
58  
59  
54  
9,06  
9,54  
9,28  
9,31  
B5  
Các số liệu trong bảng 3.11 cho thấy các đặc trưng lưu hóa của các hỗn hợp Bi khá  
gần với hỗn hợp CSTN (bảng 3.8) cả thời điểm bắt đầu lưu hóa τs, thời gian lưu hóa  
tối ưu τc90 và tốc độ lưu hóa Δτ. Nếu lưu ý rằng pha CSTN trong các hỗn hợp Bi hoàn  
toàn không có xúc tiến TMTD, và do đó lưu hóa rất kém (bảng 3.10) thì rõ ràng đã có  
8
hiện tượng xúc tiến TMTD dịch chuyển từ pha EPDM sang pha CSTN khi hỗn luyện  
blend Bi. Ngoài ra, từ hình dạng các đường cong lưu hóa và các thông số của chúng  
(hình 3.5 và bảng 3.8) có thể nhận xét rằng các thông số tốc độ lưu hóa đo được của  
các blend Bi chủ yếu do pha CSTN quyết định vì pha EPDM vốn có tốc độ lưu hóa  
khá thấp sẽ còn lưu hóa chậm hơn nữa khi một phần TMTD và trợ xúc tiến đã dịch  
chuyển sang pha CSTN. So sánh số liệu trong các bảng 3.8 và 3.11 còn cho thấy  
lượng xúc tiến TMTD và trợ xúc tiến trong pha CSTN của hỗn hợp Bi cũng phải xấp  
xỉ với hỗn hợp cao su riêng biệt (bảng 3.7)  
Để giải thích rõ hơn hiện tượng này, ta xét các đường cong lưu hóa của các blend  
B1, B3, B5 và các hỗn hợp cao su thành phần của chúng (hình 3.8)  
10  
9
8
7
6
B1  
E1TM  
N5DM  
5
4
3
2
1
0
0
2
4
6
8
10  
12  
14  
16  
18  
20  
22  
Thêi gian (phót)  
a
10  
9
8
7
6
5
4
3
2
1
0
B5  
E5TM  
N1DM  
0
2
4
6
8
10  
12  
14  
16  
18  
20  
Thêi gian (phót)  
b
10  
9
8
7
6
5
4
3
2
1
0
B3  
E3TM  
N3DM  
0
2
4
6
8
10  
12  
14  
16  
18  
20  
22  
Thêi gian (phót)  
c
Hình 3.8. Đường cong lưu hóa của các blend CSTN/EPDM và các cao su thành phần.  
B1 và E1TM, N5DM b.  
B5 và E5TM, N1DM  
c.  
B3 và E3TM, N3DM  
9
Trong cả ba trường hợp trên, sự dịch chuyển của các xúc tiến từ pha EPDM sang pha  
CSTN do tác động của yếu tố nhiệt động có thể coi là như nhau. Tuy nhiên, sự dịch chuyển  
này còn chịu tác động của yếu tố động học là tốc độ hình thành mạng không gian trong pha  
CSTN. Trong blend B1, thành phần CSTN trong N5DM có tốc độ lưu hóa cao hẳn so với  
thành phần EPDM. Do đó, mặc dù xúc tiến có xu hướng dịch chuyển từ EPDM sang CSTN  
nhưng bị cản trở một phần do mạng không gian đã hình thành trong pha CSTN. Điều này  
làm mức độ lưu hóa (thể hiện qua M) của blend B1 không cao lắm và chỉ cao hơn N5DM  
một chút (8,17 lbf.in so với 7,42 lbf.in) (Hình 3.8.a).  
Ngược lại, blend B5 có thành phần CSTN (N1DM) gần như không lưu hóa khi  
không có TMTD trong khi thành phần EPDM (E5TM) có tốc độ lưu hóa cao nhất  
trong các hỗn hợp EiTM được xét. Tuy vậy, tốc độ lưu hóa của hỗn hợp EPDM vẫn  
nhỏ hơn nhiều so với hỗn hợp CSTN, do đó lượng xúc tiến TMTD chuyển dịch từ  
pha EPDM sang pha CSTN vẫn cao hơn trong trường hợp B1. Vì vậy, blend B5 có cả  
tốc độ lưu hóa lẫn mức độ khâu mạch đều cao hơn blend B1 (Hình 3.8.b).  
Blend B3 là trường hợp trung gian, khi tốc độ lưu hóa của các cao su thành phần  
(N3DM và E3TM) gần tương đương nhau, nhưng thành phần CSTN bắt đầu lưu hóa  
chậm hơn (thời gian ƬS1 lớn hơn). Vì vậy, trong blend B3 có sự cân bằng tốt nhất giữa sự  
hình thành mạng không gian trong hai pha CSTN và EPDM và sự dịch chuyển xúc tiến  
từ pha EPDM sang pha CSTN. Kết quả là mật độ mạng không gian (mức độ lưu hóa)  
của B3 là cao nhất (M = 9,54 lbf.in) trong các blend được xét (Hình 3.8.c).  
Như vậy, với việc lựa chọn các hỗn hợp thành phần phù hợp, phương pháp hỗn  
luyện chéo có thể điều chỉnh sự dịch chuyển xúc tiến trong blend CSTN/EPDM theo  
hướng mong muốn.  
3.1.2.4. Sự phân bố xúc tiến trong quá trình hỗn luyện đồng thời  
Trong phương pháp hỗn luyện đồng thời, chất xúc tiến được đưa từ ngoài vào hệ  
thống đã tồn tại hai pha cao su. Như vậy, có thể coi lượng chất xúc tiến được đưa vào  
từng pha trong hỗn luyện đồng thời được quyết định bởi tương quan thông số hòa tan  
của cao su và chất xúc tiến.  
Tuy nhiên, trên thực tế rất khó xảy ra việc chất xúc tiến phân bố vào hai pha cao su  
theo đúng tương quan thông số hòa tan. Cũng vì vậy, mặc dù xúc tiến TMTD trong  
chế độ hỗn luyện đồng thời sẽ ưu tiên phân tán vào pha CSTN, nhưng vẫn có một  
lượng TMTD phân tán vào EPDM, và lượng TMTD này sẽ tiếp tục dịch chuyển từ  
pha EPDM sang pha CSTN trong quá trình lưu hóa.  
Đã xác định đường cong lưu hóa và các thông số lưu hóa cơ bản của blend hỗn  
luyện đồng thời. Để so sánh cũng trình bày các thông số lưu hóa của blend hỗn luyện  
chéo B3 (hình 3.9 và bảng 3.12). Đơn phối liệu tổng thể của các blend này là như  
nhau, với tỷ lệ CSTN/EPDM và 60/40.xúc tiến giữa hai pha cao su trong blend.  
10  
11  
10  
9
8
7
6
5
HL ®ång thêi  
HL chÐo  
4
3
2
1
0
0
1
2
3
4
5
6
7
Thêi gian (phót)  
Hình 3.9. Đường cong lưu hóa của các blend CSTN/EPDM  
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của phương pháp hỗn luyện đến đặc trưng lưu hóa của blend  
CSTN/EPDM  
Mẫu  
M, lbf.in  
S, s  
90, s ∆= C90 - S, s  
Hỗn luyện chéo  
Hỗn luyện đồng thời  
130  
132  
188  
270  
58  
138  
9,54  
10,4  
Phân tích các số liệu trong hình 3.9 và bảng 3.12 cho phép giải thích sự khác biệt  
trong dịch chuyển xúc tiến của hai quá trình hỗn luyện (chéo và đồng thời) như sau:  
- Trong cả hai phương pháp hỗn luyện, lượng TMTD đi vào pha CSTN dù là từ  
ngoài vào (hỗn luyện đồng thời) hay từ pha EPDM sang (hỗn luyện chéo) đều vượt  
qua một ngưỡng nhất định. Điều này làm cho thời điểm bắt đầu lưu hóa (S) của cả  
hai blend là khá gần nhau. Nếu căn cứ vào quá trình lưu hóa của các cao su riêng biệt  
(bảng 3.8) có thể dự đoán lượng TMTD trong pha CSTN không dưới 1,5 pkl CSTN.  
- Tốc độ lưu hóa cao hơn của blend hỗn luyện chéo (B3) chứng tỏ lượng xúc tiến  
TMTD trong pha CSTN của blend này cao hơn trong pha CSTN tương ứng của blend  
hỗn luyện đồng thời. Có nghĩa là sự dịch chuyển xúc tiến giữa hai pha cao su xảy ra  
thuận lợi hơn là đưa từ ngoài vào. Điều này phù hợp với các kết quả đã trình bày  
trong mục 3.1.2.1  
- So với blend hỗn luyện chéo, blend hỗn luyện đồng thời có lượng xúc tiến  
TMTD trong pha CSTN nhỏ hơn. Điều này đồng nghĩa với việc lượng TMTD trong  
pha EPDM của blend hỗn luyện đồng thời lại cao hơn, dẫn đến pha này được lưu hóa  
tốt hơn với mật độ mạng không gian cao hơn. Nếu lưu ý rằng CSTN có mức độ lưu  
hóa khá ổn định khi lượng xúc tiến TMTD đủ lớn (hình 3.6a) thì việc tăng cường  
mạng không gian trong pha EPDM sẽ làm mật độ mạng chung của blend hỗn luyện  
đồng thời cao hơn so với blend hỗn luyện chéo. Do đó, mặc dù blend hỗn luyện đồng  
thời có tốc độ lưu hóa nhỏ hơn nhưng momen xoắn ổn định của nó cao hơn so với  
blend hỗn luyện chéo (hình 3.9 và bảng 3.12)  
Nhận xét:  
1. Do tốc độ lưu hóa của hai pha cao su cách nhau khá xa, việc hỗn luyện chúng  
để tạo thành blend sẽ không tạo được hiệu quả tương hợp cần thiết. Vì vậy, điều  
11  
chỉnh tỉ lệ cũng như loại xúc tiến trong từng pha có thể đưa tốc độ lưu hóa của các  
hỗn hợp thành phần lại gần nhau.  
2. Mặc dù còn có sự chênh lệch lớn về tốc độ lưu hóa giữa hai pha CSTN và  
EPDM với các chất xúc tiến riêng biệt, mức độ chênh lệch này có thể giảm bớt do có  
sự phân bố lại chất xúc tiến trong quá trình trộn hợp.  
3. Trong phương pháp chế tạo blend CSTN/EPDM bằng cách hỗn luyện chéo,  
các chất xúc tiến sẽ ưu tiên chuyển dịch từ pha EPDM sang pha CSTN do tác động  
của yếu tố nhiệt động.  
4. Trong phương pháp hỗn luyện đồng thời, sự dịch chuyển xúc tiến giữa các pha  
cũng theo qui luật trên. Tuy nhiên so sánh tốc độ lưu hóa cho thấy lượng xúc tiến  
TMTD đi vào pha CSTN từ pha EPDM (hỗn luyện chéo) lớn hơn là từ ngoài vào  
(hỗn luyện đồng thời). Trái lại, mức độ khâu mạch của blend hỗn luyện đồng thời cao  
hơn so với blend hỗn luyện chéo.  
3.1.3. Biến tính EPDM bằng DTDM  
Một trong những nguyên nhân làm CSTN và EPDM khó tương hợp với nhau khi  
chế tạo blend là do sự cách biệt rất lớn về mức độ không no trong phân tử của chúng.  
Điều này làm tốc độ lưu hóa của hai pha cao su trong blend chênh lệch nhau đáng  
kể[29].  
Như đã trình bày ở phần trước, bằng cách điều chỉnh sự phân bố các hóa chất  
thuộc nhóm lưu hóa có thể đưa tốc độ lưu hóa của hai pha cao su về gần với nhau,  
nhờ đó làm khả năng khâu mạch chung của blend tăng lên. Tuy nhiên, trong nhiều  
trường hợp điều này chưa đủ để tạo ra sự liên kết giữa hai pha. Vì vậy trong phần này  
đã tiến hành nghiên cứu biến tính EPDM nhằm tạo ra sự khâu mạch đan xen giữa  
EPDM và CSTN. Tác nhân biến tính được chọn là dithiodimorpholin (DTDM).  
3.1.3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình biến tính  
Phản ứng biến tính EPDM bằng DTDM được thực hiện trong pha nóng chảy. Việc  
ghép DTDM vào mạch polyme dẫn đến thay đổi độ nhớt EPDM trong quá trình phản  
ứng. Vì vậy, đã tiến hành khảo sát sự thay đổi độ nhớt của EPDM (thể hiện qua  
momen xoắn) trong quá trình biến tính nhằm xác định chế độ biến tính phù hợp.  
Đã xác định một số thông số công nghệ của EPDM biến tính ở các nhiệt độ khác  
nhau (140oC, 150oC, 160oC) với các thời gian biến tính khác nhau. Hàm lượng  
DTDM được sử dụng là 0,7pkl (so với 100pkl cao su blend). Các kết quả trình bày  
trong bảng 3.13.  
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian phản ứng đến momen xoắn trong quá  
trình biến tính EPDM  
Nhiệt Thời gian, Momen xoắn trước Momen xoắn ổn định Momen xoắn kết  
độ, oC  
phút  
biến tính, Nm  
9,8  
sau khi đưa DTDM, Nm thúc trộn, Nm  
5
7
9
4
5
9,1  
7,8  
7,8  
8,6  
9,6  
9,7  
10,2  
9,3  
9,2  
10,0  
140  
10,0  
10,1  
10,0  
11,6  
150  
12  
6
4
5
6
7
9,8  
14,3  
11,1  
10,4  
9,5  
9,1  
11,0  
9,0  
7,8  
8,2  
9,2  
11,1  
9,8  
9,2  
7,4  
160  
Các số liệu trong bảng trên cho phép nhận xét như sau:  
- Trong khoảng nhiệt độ 140-150oC độ nhớt của EPDM biến tính thay đổi không  
đáng kể khi nhiệt độ biến tính thay đổi, chứng tỏ nhiệt độ ảnh hưởng không nhiều đến  
hiệu quả biến tính.  
- Cũng trong khoảng nhiệt độ trên, khi thời gian biến tính đủ lớn (9 phút ở 140oC  
hoặc 6 phút ở 150oC) mới quan sát thấy sự giảm rõ rệt độ nhớt của EPDM biến tính  
so với EPDM ban đầu.  
- Ở nhiệt độ biến tính 160oC, ảnh hưởng của thời gian rõ rệt hơn so với nhiệt  
độ140-150oC. Khi thời gian biến tính tăng lên từ 4 phút đến 7 phút độ nhớt của  
EPDM biến tính giảm xuống đáng kể, tới 34%. Đồng thời, so với EPDM ban đầu, độ  
nhớt của EPDM biến tính cũng giảm tới 15-20% trong mọi khoảng thời gian biến  
tính. Thời gian biến tính 7 phút làm độ nhớt giảm mạnh, có thể là do quá trình phân  
hủy bắt đầu xảy ra. Vì vậy ở nhiệt độ 160oC chỉ nên giới hạn thời gian biến tính đến 6  
phút.  
- Như vậy, chọn nhiệt độ biến tính 140oC là phù hợp  
3.1.3.2. Ảnh hưởng của các điều kiện biến tính khác  
Các điều kiện biến tính như thời gian phản ứng, hàm lượng DTDM và chất xúc tác  
phản ứng có tác dụng qua lại lẫn nhau và ảnh hưởng tương tác của chúng đến hiệu  
quả phản ứng khá phức tạp. Vì vậy, nhằm giảm bớt khối lượng thực nghiệm khi đánh  
giá ảnh hưởng tương tác của các yếu tố trên đã tiến hành quy hoạch thực nghiệm với  
thiết kế hai mức và ba yếu tố đầu vào (23) – thời gian phản ứng, hàm lượng DTDM  
và hàm lượng xúc tác phản ứng. Thông số đầu ra được chọn là độ bền kéo của blen  
với EPDM biến tính.  
Điều kiện thực nghiệm được chọn hai mức:  
- Hàm lượng DTDM: lấy giá trị 0 và 0,5 pkl.  
- Hàm lượng xúc tác: lấy giá trị 0 và 0,5 pkl.  
- Thời gian phản ứng: lấy giá trị 180 và 500 giây.  
Kết quả thực nghiệm theo thiết kế nhân tố 23 được trình bày trong bảng 3.14  
Bảng 3.14 Ma trận thí nghiệm và kết quả thực nghiệm theo thiết kế nhân tố 23  
Ký hiệu Hàm lượng  
Hàm lượng DTDM  
Thời  
gian,giây  
180  
Độ bền kéo,  
MPa  
STT  
mẫu  
M1  
M2  
M3  
M4  
M5  
M6  
xúc tác,pkl  
,pkl  
0
0
0,5  
0,5  
0
1
2
3
4
5
6
0
0,5  
0
0,5  
0
5,56  
6,13  
6,79  
8,21  
7,34  
6,87  
180  
180  
180  
500  
0,5  
0
500  
13  
7
8
M8  
M8  
0
0,5  
0,5  
0,5  
500  
500  
7,94  
9,34  
Từ bảng 3.14 thấy rằng, độ bền kéo thấp nhất ở các thí nghiệm không sử dụng  
DTDM và xúc tác còn cao nhất đạt được với thí nghiệm có sử dụng đồng thời cả hai  
chất này. Như vậy, DTDM, xúc tác và thời gian biến tính có ảnh hưởng rõ rệt đến  
tính chất của EPDM biến tính.  
Từ các kết quả khảo sát trên, chế độ biến tính EPDM được chọn cho các nghiên  
cứu tiếp theo là:  
- Nhiệt độ:140oC  
- Thời gian: 8 phút  
Hàm lượng DTDM: 0,5 pkl  
Hàm lượng xúc tác: 0,5 pkl  
3.1.4. Chế tạo blend từ CSTN và EPDM biến tính.  
Blend CSTN/EPDM biến tính được chế tạo theo quy trình 4, tỉ lệ CSTN/EPDM  
biến tính bằng 60/40 (pkl). Lưu hóa ở 155oC trong 6 phút.  
3.1.4.1. Thông số quá trình trộn hợp  
Đã xác định một số thông số của quá trình trộn hợp tạo blend (Bảng 3.19). Để so  
sánh, trong bảng 3.19 cũng dẫn số liệu tương ứng của quá trình trộn hợp CSTN với  
EPDM theo cùng phương pháp trộn hợp.  
Bảng 3.19 Thông số của quá trình trộn hợp CSTN/EPDM biến tính phụ thuộc  
chế độ biến tính  
Blend  
M lớn nhất, Nm M ổn định, Nm Nhiệt độ ổn định cuối, oC  
Có EPDM biến tinh  
Có EPDM không biến tính  
21,6  
19,8  
19,4  
12,2  
147  
141  
Ghi chú: M lớn nhất là momen xoắn sau khi đưa hết cao su thành phần thứ hai (EPDM)  
M ổn định là momen xoắn ổn định sau khi hoàn thành quá trình trộn hợp  
Nhiệt độ ổn định cuối là nhiệt độ giai đoạn cuối sau khi đưa hết cao su thành phần thứ hai, hóa  
chất và hoàn thành trộn hợp.  
Nhận xét:  
- Momen xoắn lớn nhất quan sát được là khi đưa EPDM vào. Giá trị này của  
blend với EPDM biến tính cao hơn, chứng tỏ EPDM biến tính đã khâu mạch một  
phần.  
- Momen xoắn ổn định sau khi hoàn thành trộn hợp của blend CSTN/EPDM  
biến tính cao hơn rõ rệt so với blend CSTN/EPDM không biến tính. Điều này chứng  
tỏ blend với EPDM biến tính có liên kết giữa các pha cao su tốt hơn so với blend từ  
EPDM không biến tính.  
3.1.4.2. Thông số lưu hóa  
Trong hình 3.19 là đường cong lưu hóa của blend CSTN với EPDM có và không  
biến tính.  
14  
13  
12  
11  
10  
9
CSTN/EPDM kh«ng biÕn tÝnh  
CSTN/EPDM biÕn tÝnh  
8
7
6
5
4
3
-1  
0
1
2
3
4
5
6
7
Thêi gian (phót)  
Hình 3.19 Đường cong lưu hóa của CSTN/EPDM  
Bảng 3.20 Một số thông số lưu hóa của blend CSTN với EPDM biến tính và không biến  
tính.  
Blend CSTN với EPDM  
Có biến tính  
Momen, Lbf-in  
12.65  
S, giây  
106  
C90, giây  
202  
Không biến tính  
125  
206  
10.64  
Nhận xét:  
- Kết quả từ bảng 3.20 cho thấy với mẫu có biến tính thì thời gian cảm lưu đã rút  
ngắn lại so với mẫu không biến tính dẫn đến việc gia công mẫu dễ dàng hơn.  
- Momen xoắn quá trình lưu hóa của mẫu có EPDM biến tính cao hơn so với mẫu  
có EPDM không biến tính, điều này chứng tỏ mật độ khâu mạch của mẫu có EPDM  
biến tính cao hơn so với mẫu có EPDM không biến tính.  
3.1.4.3. Nghiên cứu hình thái cấu trúc  
a. Hình thái cấu trúc qua ảnh SEM  
Các mẫu blend CSTN với EPDM biến tính và không biến tính được nghiên cứu  
thông qua ảnh SEM chụp bề mặt gãy của blend sau khi lưu hóa. Trong hình 3.20 là  
ảnh blend CSTN/EPDM không biến tính (a) và blend CSTN/EPDM biến tính (b)  
a. Mẫu blend với EPDM không  
biến tính X500  
b. Mẫu blend với EPDM biến  
tính X500  
Hình 3.20 Ảnh SEM của blend CSTN/EPDM  
15  
Ảnh SEM trên hình 3.20 cho thấy bề mặt gãy mẫu với EPDM không biến tính khá  
phẳng nhẵn chứng tỏ sự liên kết kém giữa các pha cao su. Trái lại, khi sử dụng  
EPDM biến tính, liên kết giữa các pha tốt hơn do hình thành mật độ mạng không gian  
cao giữa hai pha (xem 3.1.4.5). Vì vậy bề mặt gãy của blend CSTN/EPDM biến tính  
có độ gồ ghề cao hơn rõ rệt so với blend vói EPDM không biến tính.  
b. Hình thái cấu trúc qua ảnh hiển vi quang học phân cực (POM)  
Hiển vi quang học phân cực cho phép xác định các vùng cấu trúc tinh thể và vô  
định hình trong polyme nói chung và cao su nói riêng. Đối với hai loại cao su có khả  
năng kết tinh khác xa nhau như CSTN và EPDM, việc sử dụng POM sẽ cho biết mức  
độ phân tán của chúng trong blend khá rõ nét.  
Đã chụp ảnh POM của cao su blend ở nhiệt độ: 0oC và quan sát hình thái cấu tinh  
thể của blend bằng POM (Hình 3.23).  
Hình 3.23. Hình thái tinh thể của blend CSTN/EPDM kết tinh ở 0oC  
độ phóng đại x240  
Các hình ảnh POM cho thấy các vùng tinh thể phân bố khá đồng đều trong blend  
chứng tỏ sự phân bố sự phân bố của hai pha CSTN và EPDM khá đồng đều nhau.  
Ngoài ra, mật độ tinh thể trong blend nhỏ hơn rõ rệt so với CSTN chứng tỏ rằng sự  
kết tinh của CSTN trong blend cũng bị hạn chế khá nhiều bởi sự có mặt của EPDM.  
3.1.4.4.  
Tính chất cơ học  
Tính chất cơ học của blend CSTN/EPDM được khảo sát qua đường cong biến dạng  
- ứng suất (Hình 3.24)  
11  
10  
Blend víi EPDM biÕn tÝnh  
Blend víi EPDM kh«ng biÕn tÝnh  
9
8
7
6
5
4
3
2
1
0
0
100  
200  
300  
400  
500  
600  
D·n dµi (mm)  
Hình 3.24 Đường cong ứng suất – biến dạng của blend CSTN/EPDM với EPDM  
có và không biến tính  
16  
Đường cong biến dạng – ứng suất cho thấy việc biến tính EPDM đã tạo ra độ  
tương hợp tốt hơn với CSTN trong quá trình chế tạo blend CSTN/EPDM: độ bền kéo  
tăng, trong khi độ dãn dài giảm đi đáng kể. Độ cứng của blend CSTN/EPDM biến  
tính cũng tăng thể hiện ở độ dốc cao hơn trên đường cong biến dạng – ứng suất. Sự  
khác biệt về độ dốc của hai blend thể hiện đặc biệt rõ ở các giá trị biến dạng cao,  
chứng tỏ mật độ mạng không gian cao hơn hẳn trong trường hợp blend sử dụng  
EPDM biến tính. Điều này được khẳng định khi khảo sát mức độ trương trong dung  
môi của các blend.  
3.1.4.5.  
Độ trương trong dung môi  
Các mẫu blend đã lưu hóa được ngâm vào toluen để xác định mức độ trương bão  
hòa và động học trương theo thời gian. Các kết quả trình bày trong bảng 3.21.  
Bảng 3.21 Độ trương của blend CSTN/EPDM trong toluene, %  
Thời gian ngâm mẫu, giờ  
Chế độ biến  
tính  
0
-
2
4
6
8
24  
48  
Có biến tính  
219,2 275,1 299,1 297,3 319,4 320,9  
Không biến  
-
260.6 334.1 370.4 388.9 417.5 425.6  
tính  
Từ giá trị trương bão hòa đã tính ra mật độ mạng không gian của các mẫu cao su  
blend với EPDM biến tính và không biến tính. Kết quả trình bày trong bảng sau:  
Blend  
Mật độ mạng, 105 mol/cm3  
CSTN/EPDM  
CSTN/EPDM biến tính  
2,48  
3,44  
Số liệu trong bảng trên cho thấy mật độ mạng không gian của mẫu CSTN/EPDM  
biến tính cao hơn so với mẫu CSTN/EPDM không biến tính tới gần 40%. Kết quả xác  
định mật độ mạng không gian hoàn toàn phù hợp với tính chất cơ học cũng như các  
khảo sát hình thái cấu trúc đã xét trên đây  
3.1.4.6.  
Tính chất lão hóa nhiệt  
Khả năng chịu lão hóa nhiệt của các blend CSTN/EPDM có và không biến tính  
bằng DTDM được đánh giá theo TCVN 2229-2007 trong không khí nóng ở nhiệt độ  
120oC, thời gian 70 giờ. Kết quả được trình bày trong bảng 3.22. Để so sánh, trong  
bảng cũng đưa số liệu về lão hóa của từng cao su riêng biệt.  
Bảng 3.22 Hệ số lão hóa nhiệt theo độ bền kéo của blend CSTN/EPDM  
Độ bền kéo, MPa  
Hệ số lão hóa  
Blend  
Trước lão  
hóa  
nhiệt  
Sau lão hóa  
Với EPDM không biến tinh  
Với EPDM có biến tính  
5,25  
10,52  
3,73  
8,20  
0,71  
0,78  
Số liệu trong bảng 3.22 cho thấy khả năng chịu lão hóa nhiệt của blend có EPDM  
biến tính cao hơn hẳn khi so sánh cùng blend với EPDM không biến tính. Điều này  
17  
có thể được giải thích bởi mật độ khâu mạch cao hơn trong blend với EPDM biến  
tính.  
3.2. Nghiên cứu chế tạo nanocompzit trên cơ sở blend CSTM/EPDM  
3.2.1. Nanocompozit từ nanoclay  
Nanocompozit trên cơ sở blend CSTN/EPDM và nanoclay I28E được chế tạo theo  
hai cách: trộn trực tiếp nanoclay vào blend theo phương pháp nóng chảy (ký hiệu là  
blend II) và đưa nanoclay vào blend qua chất chủ (ký hiệu là blend III). Để so sánh,  
đã sử dụng blend CSTN/EPDM không có nanoclay tương ứng (ký hiệu blend I).  
Đã xác định ảnh SEM cũng cho thấy trong nền cao su tồn tại nhiều hạt nanoclay  
với kích thước vài chục - 100nm (hình 3.27 c, d)  
c (x10.000)  
d (x20.000)  
Hình 3.27. Ảnh SEM mẫu I28E/CSTN với các độ phóng đại khác nhau  
Tính chất cơ học của các blend nói trên được đánh giá qua đường cong ứng suất -  
độ dãn dài (Hình 3.35)  
12  
10  
Blend I  
Blend II  
Blend III  
8
6
4
2
0
0
100  
200  
300  
400  
500  
600  
Extension (mm)  
Hình 3.27. Đồ thị ứng suất – độ dãn dài các blend CSTN/EPDM có và không có  
nanoclay  
Các kết quả trên chứng tỏ rằng:  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 17080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu chế tạo blend đi từ cao su tự nhiên có sử dụng phụ gia nano", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_che_tao_blend_di_tu_cao_su_tu_nhi.pdf