Tóm tắt Luận án Hoàn thiện chính sách tỷ giá ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020
1
MỞ ĐẦU
A. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, trong báo cáo chính trị của Ban chấp
hành Trung ương khóa 10, mục tiêu phát triển đất nước 5 năm (2011-
2015) đã được cụ thể hóa thành các chỉ tiêu, trong đó một nhiệm vụ quan
trọng “kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 12%/năm, giảm nhập siêu,
phấn đấu đến năm 2020 cân bằng được xuất nhập khẩu”. Trong số các
nhân tố quan trọng góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, phải
kể tới chính sách tỷ giá.
Nhìn lại 20 năm qua, kể từ cuối những năm 80 của thế kỷ này cho
đến nay, chính sách tỷ giá của Việt nam từ chỗ cứng nhắc, mang nặng
tính chủ quan đã trở nên linh hoạt hơn, theo sát diễn biến của thị trường.
Tuy nhiên, dường như chúng ta vẫn chưa tìm ra được hướng điều hành
tỷ giá thực sự chủ động, nhất là trong bối cảnh thế giới có nhiều biến
động, tác động đa chiều tới nền kinh tế trong nước. Bài toán cho việc
cân bằng tỷ giá, lãi suất, lạm phát và cán cân thanh toán quốc tế của
Việt nam vẫn chưa có lời giải thuyết phục.
Tỷ giá và chính sách tỷ giá không phải là đề tài mới, nhưng diễn biến
của tỷ giá thì luôn luôn mới, và chừng nào nền kinh tế mở còn tồn tại thì tỷ
giá vẫn luôn có tầm ảnh hưởng lớn tới toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của một
quốc gia. Sự phức tạp cũng như thú vị của tỷ giá và chính sách tỷ giá đã thôi
thúc nghiên cứu sinh tìm hiểu và khám phá. Đề tài “Hoàn thiện chính sách tỷ
giá ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020” đã được nghiên cứu sinh lựa chọn cho
luận án khoa học của mình với lý do như vậy.
B. Mục đích nghiên cứu của luận án
Thứ nhất, phát triển lý luận về hiệu ứng của tỷ giá tới Bảng cân đối
tiền tệ (BCĐTT) của NHTW ở Việt Nam, trả lời các câu hỏi: sự cân
bằng hay mất cân bằng giữa tài sản nước ngoài với nợ nước ngoài trong
Bảng cân đối tiền tệ của NHTW, và sự biến động của tỷ giá có liên hệ với
khủng hoảng hay không?, nhằm đưa ra khuyến nghị với Chính phủ cần
quan tâm tới gánh nặng của NHNN Việt Nam hiện nay, tránh một cuộc
khủng hoảng mà các nước Châu Á đã gặp phải cách đây 15 năm.
Thứ hai, đề xuất giải pháp giải quyết các vấn đề của chính sách tỷ
giá: lựa chọn chế độ tỷ giá và sử dụng công cụ trong điều tiết tỷ giá, đặc
biệt công cụ phá giá (giảm giá) đồng nội tệ.
Câu hỏi quản lý
Chính sách tỷ giá của Việt Nam hiện nay đã phù hợp hay chưa?
Bằng cách nào nhà hoạch định chính sách có thể hoàn thiện chính
2
sách tỷ giá?
Câu hỏi nghiên cứu
- Tỷ giá cần được kiểm soát như thế nào trong mối quan hệ với các
biến số vĩ mô như giá dầu, lạm phát, và cán cân thanh toán quốc tế?
- Những kịch bản nào cần được xây dựng, để từ đó các nhà hoạch
định chính sách hình dung được những tác động có thể có khi thực hiện
chính sách phá giá nội tệ?
- Cùng với chính sách tỷ giá, chính sách hỗ trợ nào cần được đưa ra?
C. Vấn đề nghiên cứu
- Trong điều kiện hiện tại, Việt Nam nên lựa chọn chế độ tỷ giá nào
cho phù hợp. Nếu quyết định chuyển đổi chế độ tỷ giá cần chuẩn bị
những gì?
- Bảng cân đối tiền tệ của NHNN Việt Nam đang trong tình trạng nào
và việc VND giảm giá có đặt gánh nặng lên vai NHNN Việt Nam không?
- Đánh giá chính sách phá giá nội tệ của Việt Nam (khi VND bị
giảm giá một cách có chủ định bởi NHNN) và các nhân tố tác động, bao
gồm giá dầu, tăng trưởng sản xuất, giá hàng hóa nhập khẩu, giá hàng
hóa tiêu dùng, và lãi suất. Để làm rõ hơn vấn đề, hệ số co giãn của cầu
xuất nhập khẩu trước biến động của tỷ giá đã được tập trung nghiên cứu.
D. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án là chính sách tỷ giá ở
Việt Nam giai đoạn 2000-2011. Đề tài được nghiên cứu trên giác độ của
một nhà nghiên cứu độc lập.
Nội dung của chính sách tỷ giá (sẽ được đề cập cụ thể trong chương
Cơ sở lý luận về chính sách tỷ giá hoàn thiện) gồm hai phần chính là lựa
chọn chế độ tỷ giá và điều tiết tỷ giá. Luận án tập trung nghiên cứu chế
độ tỷ giá và công cụ phá giá nội tệ của chính sách tỷ giá trong mối quan
hệ với giá cả hàng hóa và dự trữ ngoại hối trong Bảng cân đối tiền tệ
của NHTW, cũng như với các biến số vĩ mô quan trọng khác của nền
kinh tế.
Nghiên cứu sinh không đặt trọng tâm nghiên cứu vào chính sách lãi
suất, do chính sách này mang tính phức tạp, đa chiều, cần một sự đầu tư
nghiên cứu đáng kể. Nghiên cứu sinh hy vọng sẽ tiếp tục tìm hiểu về
chính sách lãi suất trong nghiên cứu độc lập sau này của mình.
Số liệu của Việt Nam và một số quốc gia tham chiếu được thu thập từ
quý 1/2000 đến cuối 2011.
E. Đóng góp mới của luận án về học thuật và lý luận
1. Luận án đưa ra quan điểm mới về một chính sách tỉ giá (CSTG)
3
hoàn thiện: đó là khi CSTG đạt mục tiêu đảm bảo cân bằng nội, cân
bằng ngoại, kết quả dự báo sát với thực tế, quyết định đưa ra chủ động,
thống nhất, có căn cứ.
2. Áp dụng phương pháp phân chia chế độ tỷ giá thành các giai đoạn
và sử dụng các chỉ số kinh tế vĩ mô chính để phân tích, luận án so sánh
CSTG của Việt Nam với Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia, Malaysia,
và Singapore. Phương pháp này cho phép nghiên cứu toàn diện hơn
những thành công, thất bại trong việc thực hiện CSTG của các nước.
3. Khác với các nghiên cứu trong nước trước đây, luận án bổ sung
biến “Chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu” vào mô hình phân tích. Điều
này cho phép phản ánh rõ nét hơn tác động của tỷ giá tới giá cả hàng hóa
ở thị trường nội địa.
4. Trong tính toán tỷ giá thực đa phương, khác với một số nghiên cứu
trước (lấy 1999 là năm gốc, số quốc gia được lựa chọn là 19 hoặc ít hơn),
luận án lấy 2005 làm năm gốc, đưa 20 quốc gia lựa chọn vào rổ tiền tệ
trong đó bổ sung Singapore, Hàn Quốc và Thái Lan, do đây là ba đối tác
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ thương mại với Việt
Nam. Với tỷ trọng thương mại thay đổi theo từng quý, không cố định theo
năm gốc, phương pháp tính tỷ giá thực như vậy cho phép cập nhật và
phản ánh trung thực hơn tình hình thực tế.
5. Luận án điều chỉnh hệ số co giãn cầu xuất nhập khẩu (XNK) với
số liệu cập nhật (năm gốc là 2005 thay vì 1999 như các nghiên cứu
trước đây). Ngoài biến độc lập “tỷ giá”, hàm cầu XNK được bổ sung
“chỉ số giá XNK” và “thu nhập thực tế”, giúp phản ánh rõ nét hơn
những tác động ngoài tỷ giá tới quy mô XNK.
6. Luận án phát triển lý luận về Bảng cân đối tiền tệ của ngân hàng
trung ương với trọng tâm là mối quan hệ tài sản nước ngoài – nợ nước
ngoài. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào được thực hiện một cách có
hệ thống về vấn đề này.
F. Bố cục luận án
Chương 1: Tiếp cận nghiên cứu chính sách tỷ giá;
Chương 2: Lý luận cơ bản về chính sách tỷ giá;
Chương 3: Kinh nghiệm hoàn thiện chính sách tỷ giá của một số
quốc gia Châu Á;
Chương 4: Thực trạng chính sách tỷ giá của Việt Nam;
Chương 5: Hoàn thiện chính sách tỷ giá ở Việt Nam giai đoạn 2010-
2020.
4
CHƯƠNG 1
TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
1.1. Giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách tỷ giá
1.1.1. Nghiên cứu về lựa chọn chế độ tỷ giá
1.1.1.1. Trên thế giới
Jeffrey A. Frankel, 1999, trong “No single currency regime is right
for all countries or at all times” đã khẳng định điều quan trọng nhất để
trả lời câu hỏi một quốc gia nên áp dụng chế độ tỷ giá cố định hay thả
nổi là phải xem xét quy mô và mức độ mở cửa của quốc gia đó.
Jeffrey A. Frankel, 2003, với “A proposed monetary regime for
small commodity exporters: Peg to the Export Price (PEP)”, đã đề
xuất: chế độ tỷ giá neo với giá của mặt hàng xuất khẩu chủ lực (PEP) sẽ
phù hợp với những nước chuyên môn hóa sản xuất một mặt hàng nông
sản hoặc khoáng sản đặc thù.
Nguyen Tran Phuc and Nguyen Duc Tho, 2009, “Exchange Rate
Policy in Vietnam, 1985-2008”, cho rằng chế độ tỷ giá tại Việt Nam
hiện không phải là “thả nổi có quản lý”. Bài nghiên cứu đã rất quan tâm
tới tỷ giá thực đa phương (REER) và cho rằng sự thay đổi của chỉ số này
cần phải được theo dõi sát sao.
1.1.1.2. Tại Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Thảo, trong luận án “Đổi mới và hoàn
thiện chính sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay” (1995), đã phân tích lợi thế cũng như hạn chế của chế độ tỷ giá cố
định Bretton Woods và chế độ tỷ giá linh hoạt, từ đó khẳng định “chế độ
tỷ giá hỗn hợp phù hợp và đạt hiệu quả tối ưu hơn cả”.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của NHNN, “Cơ chế điều
hành tỷ giá hối đoái phù hợp trong điều kiện hiện nay” (2009) đã
khẳng định cơ chế tỷ giá hiện nay của Việt Nam là cơ chế linh hoạt có
quản lý, việc sử dụng công cụ tỷ giá bình quân liên ngân hàng và biên
độ tỷ giá đã góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ và tác động của biến
động tỷ giá trên thị trường nước ngoài, hạn chế tình trạng nhập siêu, cải
thiện cán cân thanh toán.
Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà nội đã có bài nghiên cứu “Lựa
chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế” (2010), trong
đó nêu rõ Việt Nam đang theo đuổi cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh, và
hiện nay cơ chế này hoạt động không hiệu quả.
5
1.1.2. Nghiên cứu về hiệu ứng tác động của tỷ giá tới dự trữ ngoại
hối trong Bảng cân đối tiền tệ của NHTW
1.1.2.1. Trên thế giới
Paul Krugman (1979 cho rằng khủng hoảng xảy ra là tất yếu đối với
một quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá cố định, nếu thâm hụt ngân sách lại
được bù đắp bằng việc mở rộng tín dụng nội địa, tức là Chính phủ bán
trái phiếu cho chính NHTW.
Paul Krugman (1999) chỉ ra rằng hai nguyên nhân chính khiến một
quốc gia có thể gặp rủi ro là: do đòn bẩy tài chính cao và do xu hướng
nhập khẩu ít.
Felipe Farah Schwartzman (2003) kết luận về nguyên nhân dẫn đến
sự mất ổn định tài chính của một quốc gia là: i, nợ nước ngoài cao, kéo
dài; ii, kim ngạch nhập khẩu thấp; và iii, đòn bẩy tài chính (đo bằng tỉ lệ
nợ/vốn của chủ) cao.
Juan Carlos Berganza, Roberto Chang và Alicia García Herrero
(2004) kết luận: hiệu ứng bảng cân đối tiền tệ là nguyên nhân chính làm
gia tăng rủi ro của một quốc gia. Đặc biệt, hiệu ứng của việc phá giá tới
bảng cân đối tiền tệ là mạnh nhất khi một quốc gia đang trong giai đoạn
khủng hoảng.
Theo Alicia García Herrero (2005), tỷ giá thực giảm gây nên hiệu
ứng bảng cân đối kế toán, theo đó làm gia tăng mức độ rủi ro quốc gia.
Yin-Wong Cheung và Hiro Ito (2007) cho rằng dự trữ ngoại hối của
một quốc gia chịu tác động bởi các yếu tố tài chính (nợ nước ngoài) và thể
chế (ví dụ chế độ tỷ giá).
1.1.2.2. Tại Việt Nam
Đây là khoảng trống nghiên cứu ở Việt Nam, tuy nhiên, do quá trình
thu thập số liệu về Bảng cân đối tiền tệ của NHNN Việt Nam gặp rất
nhiều khó khăn, phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở việc tìm hiểu nợ
nước ngoài so với dự trữ ngoại hối được thể hiện trên bảng cân đối tiền
tệ của NHNN Việt Nam, không áp dụng mô hình kinh tế lượng.
1.1.3. Nghiên cứu về chính sách phá giá tiền tệ, hệ số co giãn của
cầu xuất nhập khẩu, tỷ giá thực đa phương và các nhân tố tác động
1.1.3.1.Trên thế giới
Dornbusch (1987), trong “Exchange rates and prices”, chứng minh
đối với các doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện cạnh tranh không
hoàn hảo, hiệu ứng trung chuyển của tỷ giá là không toàn phần và khi
áp lực cạnh tranh mà doanh nghiệp trong nước phải đối mặt càng lớn thì
hiệu ứng trung chuyển của tỷ giá lên giá cả trong nước càng cao).
6
Knetter (1993), trong “International Comparisons of Pricing-to-
Market Behavior”, từ quan sát sự khác biệt giữa một số ngành công
nghiệp chủ chốt đã kết luận hiệu ứng trung chuyển của tỷ giá lên giá cả
của các ngành là khác nhau.
McCarthy (2000) kết luận hiệu ứng trung chuyển của tỷ giá ở các
quốc gia mới nổi cao hơn so với những nền kinh tế đã phát triển. Đây
được cho là nguyên nhân vì sao các quốc gia mới nổi mang một tâm lý e
ngại đối với việc chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi.
Taylor (2000) nêu lên giả thuyết : sự phản ứng của mức giá trước sự
biến động của tỷ giá tỷ lệ thuận với mức lạm phát. Giả thuyết của Taylor
(2000) cũng được Douglas Steel và Alan King (2004) kiểm định với
riêng trường hợp New Zealand và đã cho kết quả ngược lại.
Campa và Goldberg (2004) đã tìm ra bằng chứng i, hiệu ứng trung
chuyển của tỷ giá trong ngắn hạn là nhỏ; ii, những quốc gia mà tỷ giá
không ổn định thường có hiệu ứng trung chuyển lớn, và iii, nhân tố quan
trọng tác động tới hiệu ứng trung chuyển lại không thuộc về các biến số
kinh tế vĩ mô mà thuộc về sự thay đổi cơ cấu mặt hàng nhập khẩu.
Michele và các cộng sự (2007) đã kết luận: i, hiệu ứng trung chuyển
của tỷ giá ở những quốc gia mới nổi cao hơn so với các nước phát triển;
ii, tại các quốc gia mới nổi luôn tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa hiệu
ứng trung chuyển của tỷ giá với tỷ lệ lạm phát; và iii, mức độ mở cửa
nền kinh tế không ảnh hưởng nhiều tới hiệu ứng này.
Lian An và Jian Wang (2011) đã kết luận: hiệu ứng trung chuyển của tỷ
giá lên chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất và chỉ số giá tiêu dùng là nhỏ nhất.
1.1.3.2. Tại Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ (2011), trong “Biến động cán cân thanh
toán và vấn đề nhập khẩu lạm phát ở Việt Nam” đã chứng minh khi giá
hàng hóa tính theo VND tăng nhanh hơn biến động giá hàng hóa theo USD
trên thế giới, lạm phát ở Việt Nam biến động ngoài khả năng kiểm soát.
Gần đây trên website của NHNN Việt Nam có đăng tải Phần 1 bài
viết của hai tác giả Nhật Trung và Nguyễn Hồng Nga với tiêu đề “Hiệu
ứng trung chuyển tác động của tỷ giá tới giá cả và lạm phát”. Các tác
giả đã giới thiệu các công trình nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện
bởi các nhà kinh tế học trên thế giới. Tuy nhiên, trong phần này, các tác
giả chưa đề cập tới nghiên cứu của mình dành cho Việt Nam.
Võ Văn Minh (2009) đề xuất không nên thực hiện chính sách tiền tệ
thắt chặt khi cầu nội địa gia tăng, thay vào đó nên nhân cơ hội này để
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
7
Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2010) đã kết luận Việt Nam Đồng vẫn
cần phải yếu đi để khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, tuy nhiên
các biện pháp can thiệp khác như hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật cần
tiếp tục được sử dụng để giảm bớt sức ép phá giá đồng nội tệ.
Nguyễn Đình Minh Anh, Trần Mai Anh và Võ Trí Thành (2010) chỉ
ra rằng nguyên nhân chủ yếu gây nên lạm phát cao ở Việt Nam trong
những năm gần đây là do việc mở rộng cung tiền. Từ đó, nhóm nghiên
cứu đề xuất cần phải kiểm soát chặt chẽ cung tiền, kết hợp với việc để
thị trường quyết định tỷ giá và NHNN Việt Nam chỉ sử dụng duy nhất
một công cụ lãi suất VND để kiềm chế lạm phát.
Đặng Thị Huyền Anh (2011), với “Tác động tỷ giá thực tế đến cán
cân thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”
đã tính toán đồng thời hệ số co giãn của cầu xuất nhập khẩu trước thay
đổi của tỷ giá và chỉ số tỷ giá thực đa phương. Tác giả đã chọn 1999 làm
năm cơ sở và đưa vào nghiên cứu 5 quốc gia và khu vực Nhật Bản,
Trung Quốc, Australia, Châu Âu và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tác giả chưa
đưa Singapore, Thái Lan và Hàn Quốc, những đối tác quan trọng của
Việt Nam vào rổ tiền tệ.
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia
Phương pháp này được thực hiện nhằm tìm hiểu các quan điểm và
định hướng về lựa chọn chế độ tỷ giá, sự độc lập tương đối của NHNN
Việt Nam cũng như các công cụ có thể được áp dụng nhằm ổn định kinh
tế vĩ mô ở Việt Nam trong thời gian tới.
1.2.2. Phương pháp so sánh
Phương pháp này được thực hiện với số liệu thu thập từ NHNN,
Tổng cục Thống kê và các tổ chức tài chính quốc tế như ADB, IMF để
so sánh Việt Nam với một số nước (chủ yếu là các nước Châu Á) về chế
độ tỷ giá cũng như dự trữ ngoại hối qua các thời kỳ và các biến số kinh
tế vĩ mô như chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng...
1.2.3. Phương pháp định lượng với mô hình tự hồi quy theo véc tơ (VAR)
Trên cơ sở tìm hiểu các nghiên cứu đã được thực hiện trước đó với nhiều
mô hình khác nhau, sau khi xem xét, nghiên cứu sinh quyết định lựa chọn và
áp dụng mô hình kinh tế lượng tự hồi quy (VAR – Vector Autoregression) để
kiểm định giả thuyết hiệu ứng trung chuyển của tỷ giá tới giá cả hàng hóa và
mối quan hệ giữa tỷ giá với các biến số vĩ mô quan trọng.
1.2.5. Phương pháp định lượng tính toán chỉ số tỷ giá danh nghĩa
và tỷ giá thực đa phương (NEER và REER)
8
CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
2.1. Tổng quan về tỷ giá
2.1.1. Khái niệm tỷ giá
Tỷ giá là “mức giá tại đó đồng tiền của một quốc gia/khu vực có thể
được chuyển đổi sang đồng tiền của quốc gia/khu vực khác”.
2.1.2. Phân loại tỷ giá
- Theo nghiệp vụ giao dịch: Tỷ giá mua và tỷ giá bán. Ngoài tỷ giá
mua bán giữa các ngân hàng và các doanh nghiệp, cá nhân, còn có tỷ giá
mua bán giữa các NHTM với nhau (tỷ giá liên ngân hàng).
- Theo thị trường yết giá: Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường.
- Theo kỳ hạn: Tỷ giá giao ngay và Tỷ giá kỳ hạn.
- Theo mối quan hệ giữa các đồng tiền: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa và
thực song phương, Chỉ số tỷ giá danh nghĩa và thực đa phương.
2.1.3. Tác động của tỷ giá tới nền kinh tế
2.1.3.1.Tỷ giá tác động tới cán cân thương mại
2.1.3.2.Tỷ giá tác động tới lạm phát
2.1.3.3.Tỷ giá tác động tới Bảng cân đối tiền tệ của NHTW
2.1.4. Nhân tố tác động tới tỷ giá
Năm nhóm nhân tố chủ yếu tác động tới sự thay đổi của tỷ giá bao
gồm:
i, chênh lệch tương đối về lạm phát,
ii, chênh lệch tương đối về lãi suất,
iii, chênh lệch tương đối về thu nhập giữa một quốc gia với các quốc
gia khác, đặc biệt là với những nước đối tác thương mại quan trọng;
iv, sự thay đổi trong chính sách quản lý của nhà nước, và
v, thay đổi kỳ vọng của thị trường về tỷ giá trong tương lai.
2.2. Chính sách tỷ giá
2.2.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá là một thành phần thuộc chính sách tiền tệ quốc
gia, bao gồm một hệ thống các công cụ được NHTW sử dụng để tác
động vào cung cầu ngoại tệ trên thị trường nhằm đạt được những mục
tiêu xác định.
9
Mục tiêu của chính sách tỷ giá cũng giống với mục tiêu của chính
sách tiền tệ quốc gia, đó là:
- Đảm bảo cân bằng nội: đảm bảo sự ổn định giá trị của tiền tệ.
- Đảm bảo cân bằng ngoại: đảm bảo cân bằng cán cân vãng lai.
2.2.2. Nội dung của chính sách tỷ giá
2.2.2.1. Lựa chọn chế độ tỷ giá
a) Khái niệm chế độ tỷ giá
Chế độ tỷ giá là cách thức cơ quan quản lý tiền tệ của một quốc gia thực
hiện để điều tiết, quản lý đồng tiền của quốc gia mình trong mối quan hệ
với đồng tiền của quốc gia khác cũng như với thị trường ngoại hối.
b) Phân loại chế độ tỷ giá
Theo cách phân loại của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), kể từ ngày
31/07/2006, chế độ tỷ giá của các quốc gia được phân thành 07 nhóm
như sau:
Nhóm 1: Hệ thống tiền tệ không có đồng tiền pháp định riêng
(Exchange arrangement with no separate legal tender):
Nhóm 2: Hội đồng tiền tệ (Currency board):
Nhóm 3: Chế độ tỷ giá cố định truyền thống (Other conventional
fixed peg)
Nhóm 4: Chế độ tỷ giá neo với biên độ hẹp (Pegged exchange rates
within horizontal bands):
Nhóm 5: Chế độ tỷ giá neo với biên độ điều chỉnh (Crawling pegs):
Nhóm 6: Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý (Managed floating with
no predetermined path for the exchange rate)
Nhóm 7: Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn (Independently floating)
Việc lựa chọn chế độ tỷ giá phụ thuộc vào:
- Quy mô, mức độ mở cửa của nền kinh tế đối với hoạt động thương
mại và dòng vốn quốc tế
- Cơ cấu xuất khẩu
- Dự trữ ngoại hối
- Sự vững mạnh hay yếu kém của hệ thống tài chính
- Tình hình lạm phát
- Tình trạng nợ nước ngoài
- Điều kiện chính trị
- Sự tin cậy và ổn định của chính sách cũng như sự nhất quán của
nhà hoạch định chính sách; khả năng ứng phó trước những cú sốc từ
10
bên ngoài và bên trong
2.2.2.2. Công cụ của NHTW trong thực thi chính sách tỷ giá
a) Nghiệp vụ thị trường ngoại hối
b) Lãi suất
c) Biên độ dao động của tỷ giá
d) Biện pháp nâng giá/phá giá nội tệ
Chưa có định nghĩa nào đưa ra một con số cụ thể (giảm giá bao nhiêu
phần trăm) làm ranh giới giữa phá giá và điều chỉnh giảm giá đồng nội
tệ. Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa đều phản ánh chung một đặc điểm
của “devaluation”, đó là việc làm giảm (một cách có chủ định bởi cơ
quan quản lý nhà nước) sức mua của đồng nội tệ. Khi ấy, tỷ giá chính
thức tăng (đối với quốc gia áp dụng phương pháp yết giá trực tiếp) hoặc
giảm (đối với quốc gia áp dụng phương pháp yết giá gián tiếp).
Theo quan điểm cá nhân, nghiên cứu sinh cho rằng thuật ngữ “phá
giá tiền tệ/nội tệ” có thể được áp dụng cho Việt Nam.
Phá giá nội tệ là hành động của NHTW tác động vào tỷ giá chính
thức (Nominal Official Exchange Rate) nhằm làm giảm sức mua của
đồng nội tệ so với ngoại tệ, cho dù tác động đó là từ từ hay đột ngột.
Khi nói tới vấn đề “phá giá nội tệ”, không thể không đề cập tới hai
học thuyết nổi tiếng: điều kiện Marshall-Lerner và hiệu ứng tuyến J,
hàm ý rằng với xuất phát điểm cân bằng của cán cân vãng lai, dCA/dS
chỉ có thể >0 (tức là cán cân thặng dư) nếu tổng mức co giãn của cầu
xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1. Ngược lại, nếu tổng mức co giãn
nhỏ hơn 1, một sự phá giá sẽ gây nên sự thâm hụt của cán cân vãng lai.
e) Sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối
2.3. Chính sách tỷ giá hoàn thiện
2.3.1. Quan niệm về chính sách tỷ giá hoàn thiện
Một chính sách tỷ giá được coi là hoàn thiện khi góp phần đạt
được các mục tiêu đề ra, trong đó mục tiêu trung tâm là bảo đảm sự
ổn định giá trị tiền tệ và sự cân bằng của cán cân vãng lai.
Thêm vào đó, chính sách tỷ giá hoàn thiện phải là chính sách tỷ giá
chủ động, thống nhất. Đồng thời, mỗi một sự thay đổi trong chính sách
đều cần phải có căn cứ thuyết phục.
2.3.2. Chỉ tiêu phản ánh mức độ hoàn thiện chính sách tỷ giá
11
Bảng tóm tắt nội dung chính sách tỷ giá hoàn thiện
Đảm bảo
cân bằng
nội
Đảm bảo
cân bằng
ngoại
Chủ động, thống nhất
Mục tiêu
CSTG
Lạm phát Giảm thâm
vừa phải hụt CCVL
(VD. Việt (VD. Việt
Nam: dưới Nam: từ -4%
10%/năm), (2010) xuống
- Kết quả dự báo sát với thực tế;
- NHNN có quyền thực thi
CSTG nhằm kiềm chế lạm
phát;
- Quyết định mới được ban
hành phải có căn cứ thuyết
phục
Chỉ tiêu
phản
ánh
ổn định
-3%(2012) và
cân bằng
(2018)
Hướng
tới
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HOÀN THIỆN
Điều tiết tỷ giá bằng các công cụ
Nội
Lựa chọn
dung
CSTG
chế độ tỷ giá
Biên Nghiệp Lãi
Phá giá, nâng
Dự trữ
ngoại
hối
độ
vụ TT suất
mở
giá nội tệ
dao
động
2.3.3. Điều kiện đảm bảo sự hoàn thiện của chính sách tỷ giá
2.3.3.1. Sự độc lập tương đối của NHTW trong việc đưa ra các quyết
định liên quan tới điều hành chính sách tỷ giá.
2.3.3.2. Chính sách tài khóa tin cậy
2.3.3.3. Hệ thống NHTM và TCTD đảm bảo năng lực tài chính, vận
hành lành mạnh
2.3.3.4. Năng lực sản xuất trong nước luôn được tăng cường và củng cố
2.3.3.5. Năng lực dự báo những biến động của thị trường trong nước
và quốc tế
12
CHƯƠNG 3
KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA
MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á
3.1. Kinh nghiệm hoàn thiện chính sách tỷ giá của Trung Quốc
Trung Quốc để lại bài học quý cho Việt Nam về sự chủ động nhưng
cũng rất thận trọng trong điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỷ
giá. Trên thực tế Trung Quốc đã tiến hành nới lỏng tài khoản vốn trước
khi thực sự thả nổi tỷ giá (việc tuyên bố thả nổi vào 2005 chỉ mang tính
tình thế và hình thức), với quan điểm cần phải có thị trường giao ngay
và kỳ hạn thực sự tốt để NHTM và doanh nghiệp có khả năng tự phòng
vệ khỏi rủi ro ngoại hối.
3.2 Kinh nghiệm hoàn thiện chính sách tỷ giá của Singapore
Singapore là nước duy nhất trong khu vực áp dụng chế độ tỷ giá neo
với một rổ tiền tệ thực sự, đúng như công bố của quốc gia này với thế
giới. Đồng đôla Singapore chỉ tăng giá khi bắt đầu xảy ra ít nhất một
trong các hiện tượng sau đây:
- Chi phí nhân công nước ngoài tăng;
- Lạm phát mục tiêu trong nước giảm; và
- Lạm phát của các nước mà từ đó Singapore nhập khẩu tăng.
Như vậy, sự điều chỉnh chính sách tỷ giá của Singapore chỉ được
thực hiện sau khi đã có sự quan sát kỹ lưỡng, không chỉ căn cứ vào tình
hình trong nước mà còn chủ động nhìn từ phía nước ngoài, nói cách
khác đó là một sự “nhìn xa trông rộng”.
3.3. Kinh nghiệm hoàn thiện chính sách tỷ giá của Thái Lan
Sai lầm lớn nhất của Thái Lan là quyết định tự do hóa tài chính ngay
từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, bắt đầu bằng việc xóa bỏ trần lãi
suất, sau đó là nới lỏng kiểm soát vốn đối với các dòng vốn nước ngoài,
trong khi vẫn đang duy trì chế độ tỷ giá neo cố định với USD.
3.4. Kinh nghiệm hoàn thiện chính sách tỷ giá của Malaysia
Mặc dù con đường đi của Malaysia sau khủng hoảng 1997 không
giống với Thái Lan và Inđônêxia, nhưng NHTW nước này cũng can
thiệp sâu và có hệ thống vào thị trường ngoại hối bằng việc mua vào
ngoại hối nhằm ngăn chặn sự lên giá của nội tệ và kiểm soát chặt chẽ
dòng vốn.
13
NHTW Malaysia là một cơ quan điều hành chính sách tiền tệ khá chủ
động (kiên quyết không kêu gọi sự giúp đỡ của IMF trong thời gian diễn
ra khủng hoảng ) và mạnh dạn, không chần chừ khi đã có những xử lý
linh hoạt trước những thay đổi của thị trường trong nước, trong khu vực
và trên thế giới.
3.5. Kinh nghiệm hoàn thiện chính sách tỷ giá của Inđônêxia
Giữa Inđônêxia, Thái Lan và Trung Quốc đều có một điểm chung, đó
là NHTW từng tuyên bố chính thức đồng nội tệ được gắn với một rổ tiền
tệ, nhưng trên thực tế chỉ neo với USD, và NHTW can thiệp rất sâu vào
thị trường ngoại hối.
Kinh nghiệm thực tiễn của các nước là sự phụ thuộc quá nhiều vào
dòng vốn nước ngoài, đặc biệt nợ ngắn hạn nước ngoài, chính là nguyên
nhân căn bản khiến các nước đang duy trì chế độ neo tỷ giá với một
đồng tiền rơi vào khủng hoảng, khi dự trữ ngoại hối còn khiêm tốn.
14
CHƯƠNG 4
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM
4.1. Diễn biến chính sách tỷ giá ở Việt Nam từ 1989 đến nay
4.1.1. Giai đoạn 1 (1989 đến 1995, sau khi thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng được thành lập)
Cuộc cải tổ hệ thống ngân hàng được thực hiện song song với việc
hợp nhất hai tỷ giá và phá giá mạnh đồng nội tệ, tăng lãi suất và kiểm
soát tăng trưởng tín dụng. Cuộc cải tổ khá toàn diện này đã giúp hạ nhiệt
lạm phát của Việt Nam. Đây là giai đoạn của chế độ neo tỷ giá với
biên đô hẹp.
4.1.2. Giai đoạn 2 (1995 đến 2000)
Đây là khoảng thời gian diễn ra khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu
Á. Việt Nam tuy không nằm trong “tâm bão” nhưng ít nhiều cũng chịu
ảnh hưởng. Trong thời gian này, chế độ tỷ giá của Việt Nam là sự pha
trộn giữa neo cố định và neo với biên độ điều chỉnh.
Tuy nhiên, do chưa có chiến lược và tầm nhìn tổng thể, cách điều
hành tỷ giá của NHNN chưa mang tính chủ động, chưa phối hợp các
công cụ để hỗ trợ cho sự thành công như mong muốn của chính sách tỷ
giá. Giữa NHNN và dân chúng, doanh nghiệp luôn có sự cách biệt, thông
tin trên thị trường về những động thái và quyết tâm của NHNN đều chỉ là
phỏng đoán, không chính thức. Điều này đã dẫn đến hệ quả là sang năm
2000, lạm phát và thâm hụt cán cân vãng lai lại bắt đầu gia tăng.
4.1.3. Giai đoạn 3 (2000 đến 2006, khi thị trường chứng khoán Việt
Nam bắt đầu hoạt động)
Đây là thời kỳ khu vực Châu Á bắt đầu khôi phục kinh tế sau khủng
hoảng. Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt nam bắt đầu đi vào
hoạt động đã nóng lên rất nhanh và thu hút một lượng vốn khổng lồ từ
dân chúng và các nhà đầu tư. Đây là giai đoạn của chế độ tỷ giá neo với
biên độ hẹp, gần như cố định. Tỷ giá danh nghĩa không có sự lên xuống
thất thường, NHNN không có sự can thiệp đột xuất nào vào tỷ giá.
4.1.4. Giai đoạn 4 (2006 đến nay)
Đây là giai đoạn nền kinh tế toàn cầu rơi vào giai đoạn suy thoái kéo
dài với hai cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ hai trung tâm lớn nhất của thế
giới: Mỹ (khủng hoảng tài chính) và Châu Âu (khủng hoảng nợ công).
Ở Việt Nam, từ cuối 2006, công cụ biên độ dao động bắt đầu được
15
điều chỉnh với tần suất cao hơn và với chiều hướng gia tăng cho đến đầu
năm 2009. Sau đó, từ tháng 11/2009 biên độ dao động bắt đầu giảm
xuống ±3% rồi ±1% vào năm 2011.
Ngoài ra, khá nhiều các công cụ khác, bao gồm cả trực tiếp và gián
tiếp, được NHNN Việt Nam áp dụng trong thời gian này nhằm đối phó
với tình hình lạm phát tăng cao, không ổn định, như tỷ lệ dự trữ bắt buộc
bằng ngoại tệ; giảm giá đồng nội tệ; lãi suất huy động tối đa đối với
ngoại tệ; hạn mức cho vay ngoại tệ; kết hối ngoại tệ đối với các tập
đoàn, Tổng công ty lớn…. Như vậy, chế độ tỷ giá hiện tại của Việt Nam
vẫn đang là neo với biên độ điều chỉnh.
Tỷ lệ nợ nước ngoài/tài sản nước ngoài trên Bảng cân đối tiền tệ của
NHNN Việt Nam bắt đầu gia tăng trở lại kể từ 2008. Tỷ giá tăng, trong điều
kiện dự trữ ngoại hối sụt giảm, sẽ gây ảnh hưởng xấu tới khả năng thanh khoản
của NHNN.
Sang năm 2012, NHNN đã cam kết giữ tỷ giá biến động không quá
3% và tập trung vào công cụ lãi suất với chủ trương nới lỏng tiền tệ
nhằm chặn đà suy giảm tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc hạ lãi suất
quá nhanh trong nửa đầu năm 2012 trong khi chưa phát huy tác dụng tới
đầu ra (cung cấp vốn cho doanh nghiệp đầu tư sản xuất, thúc đẩy tăng
trưởng) đã ngay lập tức ảnh hưởng tới đầu vào (người dân thờ ơ với gửi
tiền VND vào ngân hàng, chuyển sang đầu tư vào ngoại tệ và vàng),
cùng với nhu cầu ngoại tệ để thanh toán tiền nhập khẩu sẽ tăng vào cuối
năm, tất yếu sẽ gây áp lực VND giảm giá, lạm phát tăng, các nỗ lực ổn
định kinh tế vĩ mô của Chính phủ và NHNN bị phá vỡ.
Tóm lại, chính sách tỷ giá được NHNN áp dụng trong những năm
qua kết hợp với chính sách quản lý ngoại hối (tỷ lệ kết hối bằng 0) đã
thể hiện sự tôn trọng đối với thị trường. Tuy nhiên, việc duy trì chế độ tỷ
giá neo với USD quá lâu đã trở nên không còn phù hợp, nhất là khi tình
hình thế giới luôn biến động phức tạp và thời điểm Việt Nam phải thực
hiện các cam kết với WTO đang đến gần.
4.2. Thực trạng chính sách tỷ giá của Việt Nam thông qua kiểm
định mô hình kinh tế lượng
4.2.1. Hiệu ứng trung chuyển của tỷ giá và các nhân tố tác động
Kết quả chạy mô hình VAR thể hiện các mối tương quan giữa các
biến như sau:
16
- Giá dầu kỳ này (kỳ 1) tỷ lệ thuận với giá dầu, giá nhập khẩu, giá
tiêu dùng, lãi suất của kỳ sau (kỳ 2); sang kỳ sau nữa tiếp tục tỷ lệ thuận
với lãi suất nhưng tỷ lệ nghịch với lạm phát (kỳ 3).
- Tăng trưởng sản xuất kỳ 1 tỷ lệ thuận với giá dầu và chính nó ở
kỳ 2; nhưng sau đó lại tỷ lệ nghịch với chính nó và tỷ lệ thuận với giá
tiêu dùng ở kỳ 3; và sang kỳ 5 lại tỷ lệ nghịch với giá dầu.
- Tỷ giá danh nghĩa kỳ 1 tỷ lệ nghịch với giá nhập khẩu và giá tiêu
dùng của kỳ 2; nhưng sang kỳ 3 tỷ lệ thuận với giá tiêu dùng; và sau đó
tỷ lệ nghịch với giá dầu và với chính nó ở kỳ thứ 5. Đặc biệt ở kỳ thứ
hai, tác động của tỷ giá lên giá nhập khẩu gần gấp đôi tác động của tỷ
giá lên chỉ số giá tiêu dùng.
- Giá nhập khẩu kỳ 1 tỷ lệ thuận với giá dầu và giá nhập khẩu của
kỳ 2; sang kỳ 3 tỷ lệ thuận với giá tiêu dùng nhưng tỷ lệ nghịch với
chính nó; và sang kỳ thứ 5 lại tỷ lệ nghịch với giá dầu.
- Lãi suất kỳ 1 tỷ lệ thuận với tỷ giá danh nghĩa và giá nhập khẩu
của kỳ 2; sang kỳ 3 tỷ lệ nghịch với giá dầu, tỷ lệ thuận với giá tiêu
dùng; nhưng đến kỳ 4 tỷ lệ nghịch với giá tiêu dùng; và sang kỳ 5 tiếp
tục tỷ lệ nghịch với giá dầu.
Mối quan hệ nhân – quả giữa các biến số thể hiện như sau:
Giá dầu
Giá NK
Lãi suất
CPI
Tỷ giá
(Nguồn: Theo kết quả tính toán của tác giả)
Sơ đồ. Quan hệ nhân quả giữa tỷ giá với các biến vĩ mô
4.2.2. Kiểm định hệ số co giãn của cầu xuất nhập khẩu đối với tỷ giá
Hàm cầu nhập khẩu tổng quát có dạng:
17
PM
ln M a bln
clnY d ln NER u
i
i
i
WPI
Với độ tin cậy 99%, kiểm định cho kết quả hệ số co giãn cầu nhập
khẩu đối với tỷ giá của Việt Nam (eM) là -2,544398, nghĩa là khi tỷ giá
tăng 1% thì cầu nhập khẩu giảm 2,544398%.
Hàm cầu xuất khẩu tổng quát có dạng:
PX
ln X a bln
clnYW d ln NER u
i
i
i
PXW
Hệ số co giãn của cầu xuất khẩu đối với tỷ giá (eX) là 0,557073,
nghĩa là khi tỷ giá danh nghĩa tăng 1%, cầu xuất khẩu của Việt Nam
tăng 0,557073%.
Từ hai kết quả trên ta thu được:
eX + eM = 0,557073 + 2,544398= 3,101471 > 1
Kết quả này thỏa mãn điều kiện Marshall-Lerner, hàm ý khi Việt Nam
thực hiện phá giá VND, cán cân thương mại nói riêng và cán cân vãng lai
nói chung sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, với số liệu nghiên cứu được thu
thập qua hơn một thập kỷ, kết quả kiểm định cho thấy trên thực tế, khi
VND giảm giá, cán cân thương mại của Việt Nam không những không
được cải thiện mà còn thâm hụt sâu hơn. Điều này do:
- Thứ nhất, do cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam luôn là quốc gia nhập
khẩu. Vì vậy, biện pháp phá giá nội tệ đã không phát huy được tác dụng để
đạt mục tiêu cải thiện cán cân vãng lai. Độ thẩm thấu của tỷ giá không tác
động nhiều tới xuất khẩu bằng nhập khẩu, cụ thể là khi đồng nội tệ giảm
giá, cầu nhập khẩu tăng mạnh hơn
- Thứ hai, lạm phát của Việt Nam trong nhiều năm luôn cao hơn nhiều
so với lạm phát của Mỹ. Vì vậy, VND giảm giá danh nghĩa cũng không bù
đắp nổi sự gia tăng của lạm phát.
- Thứ ba, giả định của điều kiện Marshall-Lerner có điểm chưa sát với
thực tế. Giá cả và thu nhập không thể cố định, do vậy cầu luôn luôn thay
đổi, khi đó cung không thể là vô hạn do giá cả hàng hóa xuất khẩu tính
bằng nội tệ hay giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ cũng thay đổi
theo.
18
Nguồn: NCS tính toán từ Datastream, Thomson Financial
Biểu đồ: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa, thực song phương và đa phương
của VND
Biểu đồ trên cho thấy, trong giai đoạn 2000 đến 2006-2007,
đường tỷ giá thực song phương và đa phương luôn nằm phía trên và theo
sát đường tỷ giá danh nghĩa. Tuy nhiên, từ 2006 cho đến nay, tỷ giá
danh nghĩa và tỷ giá thực ngày càng cách xa nhau. Điều này đã góp phần
lý giải vì sao VND được NHNN điều chỉnh giảm giá khá mạnh trong
thời gian qua nhưng đã không giúp cải thiện xuất nhập khẩu.
4.3. Kết quả và hạn chế của chính sách tỷ giá ở Việt Nam
4.3.1. Kết quả đã đạt được
- Thâm hụt cán cân vãng lai giảm: Tính đến cuối năm 2011, đầu
2012, mức thâm hụt cán cân vãng lai đã giảm từ hơn 6% GDP (2009)
xuống còn khoảng 4% GDP. Có được kết quả này một phần là nhờ sự hỗ
trợ của chính sách tỷ giá, sau một giai đoạn VND giảm giá liên tục đã có
sự ổn định, tạo động lực cho các doanh nghiệp xuất khẩu yên tâm về giá,
tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Lạm phát giảm: Tỷ lệ lạm phát cũng đã giảm từ 11,8% năm 2010
xuống còn 9,5% năm 2011. Đây là kết quả của sự kết hợp nhiều biện pháp
của Chính phủ như thực hiện chương trình hỗ trợ, bình ổn giá, thực hiện
chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm thu hút nội tệ vào hệ thống ngân hàng
như giảm lãi suất huy động ngoại tệ, phát hành Trái phiếu Chính phủ.
19
- Sự quyết tâm và chủ động bước đầu của NHNN: Tuyên bố của
Thống đốc NHNN cam kết cho đến cuối năm 2012, tỷ giá chỉ dao động
tối đa 3% đã là một tín hiệu cho thấy sự chủ động, quyết tâm của cơ
quan điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Thực tế cho thấy trong
những tháng đầu năm 2012, tỷ giá USD/VND khá ổn định. Đi cùng với
tuyên bố trên, NHNN cũng chủ động công bố kế hoạch cắt giảm lãi suất
khi lạm phát đã hạ nhiệt, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
4.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
4.3.2.1. Hạn chế
Chính sách tỷ giá ở Việt Nam được đánh giá là chưa hoàn thiện, cụ
thể như sau:
- Mục tiêu đảm bảo cân bằng nội chưa đạt được: Mặc dù tỷ lệ lạm
phát cũng đã giảm từ 11,8% năm 2010 xuống còn 9,5% năm 2011, chiều
đi lên có thể nói là liên tục của chỉ số giá tiêu dùng cộng với diễn biến
của tỷ giá VND so với USD cũng như so với các đối tác thương mại thể
hiện rõ sự chưa ổn định của giá trị đồng nội tệ
- Mục tiêu đảm bảo cân bằng ngoại chưa đạt được: Mức giảm thâm
hụt cán cân vãng lai chưa thực sự bền vững, do xuất khẩu gặp nhiều khó
khăn. Ngân hàng HSBC đã hạ mức dự đoán tăng trưởng xuất khẩu của
Việt Nam từ 20,6% xuống còn 14% trong năm 2012. Ngân hàng Phát
triển Châu Á (ADB) cũng đã đưa ra dự đoán cho năm 2012 và 2013,
theo đó tuy tăng trưởng GDP đạt 5,7% (2012) và 6,2% (2013), lạm phát
cũng tăng lên 11,5% so với 9,5% của 2012, riêng thâm hụt cán cân vãng
lai có chiều hướng gia tăng từ -1,5% GDP (2012) lên -2,2% (2013).
- NHNN Việt Nam chưa thực sự chủ động, thống nhất trong điều
hành chính sách tỷ giá: Tình hình hiện tại của thị trường cho thấy, đến
cuối năm 2012 việc VND sẽ biến động không quá 3% như dự báo của
NHNN là chưa chắc chắn
Sự chưa hoàn thiện của chính sách tỷ giá ở Việt Nam còn được phản
ánh ở việc duy trì chế độ tỷ giá neo với USD với biên độ hẹp trong một
thời gian dài, trong điều kiện dự trữ ngoại hối mỏng, thị trường ngoại
hối chưa phát triển và thiếu các công cụ phòng vệ rủi ro tỷ giá, lãi suất
còn mang nặng tính áp đặt, và chính sách tỷ giá còn dựa nhiều vào công
cụ phá giá nội tệ.
20
Tóm lại, chế độ tỷ giá neo với đồng đôla của Việt Nam trong thời
gian qua chưa đạt được cả hai mục tiêu quan trọng là góp phần đảm bảo
cân bằng nội và cân bằng ngoại.
4.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế
- Nền kinh tế Việt nam đang trong giai đoạn phát triển, nhu cầu nhập
khẩu là rất lớn (90% giá trị nhập khẩu là cho máy móc, thiết bị và
nguyên liệu đầu vào của sản xuất). Việc tăng hay giảm giá trị nhập khẩu
phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu và chu kỳ kinh tế hơn là tỷ giá. Đối với
xuất khẩu cũng vậy, giá trị xuất khẩu của hàng hóa Việt nam phụ thuộc
nhiều vào kết quả sản xuất, khai thác (dầu thô, thủy hải sản, dệt may) và
khả năng chiếm lĩnh thị trường quốc tế hơn là tỷ giá.
- Thâm hụt ngân sách kéo dài đã khiến cho nợ nước ngoài gia tăng,
nhất là trong điều kiện dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang giảm sút.
- Tình trạng đôla hóa vẫn còn phổ biến, NHNN không thể kiểm soát
một lượng ngoại tệ lớn đang nằm ngoài hệ thống ngân hàng (điều này
được chứng minh qua số liệu “nhầm lẫn và sai sót” trên cán cân thanh
toán là rất lớn: từ 439 triệu USD (2007) lên 1045 triệu (2008), 9022
triệu (2009) và 3679 triệu (2010). Nguồn: IMF ).
- Giữa NHNN và các cơ quan hữu quan như Bộ Tài chính, Ủy ban
chứng khoán nhà nước, Bộ Công thương chưa có sự phối hợp chặt chẽ
về thông tin và biện pháp giải quyết.
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Hoàn thiện chính sách tỷ giá ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tom_tat_luan_an_hoan_thien_chinh_sach_ty_gia_o_viet_nam_giai.pdf

