Tiểu luận Phân tích dự báo doanh thu cho Công ty Cổ phần TNG Thái Nguyên

MỤC LỤC  
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
Việt Nam đang trên đường hội nhập vào nền kinh tế thị trường, một môi trường  
mang tính cạnh tranh mạnh mẽ, đem lại nhiều cơ hội, song cũng không ít thách thức cho  
các doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới mình  
cũng như mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực. Do đó, các  
doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện và nâng cao cơ chế quản lý kinh tế, đặc biệt  
công tác dự báo tài chính và tìm kiếm cũng như đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt  
nhất để đảm bảo thị phần, thực hiện một cách tốt nhất chiến lược phát triển.  
Trong công tác quản lý, hiểu được thị trường, dự báo được tình hình và nhu  
cầu là vấn đề cốt tử với doanh nghiệp, vì điều đó ảnh hưởng xuyên suốt quá trình  
sản xuất kinh doanh.Vì lí do đó, dự báo doanh thu và nghiên cứu thị trường là vấn  
đế trọng tâm trong các hoạt động điều hành.  
2. Mục đích nghiên cứu đề tài  
Tăng cường áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của doanh nghiệp là  
vấn đề cấp thiết hiện nay. Áp dụng công nghệ thông tin vào việc dự báo và khảo  
sát quan hệ khách hàng sẽ làm hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn vả về phương  
diện thời gian và chi phí, góp phần vào thực hiện doanh nghiệp điện tử và thương  
mại điện tử.  
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:  
+ Các nghiệp vụ trong kế toán bán hàng, marketing sản phẩm  
+ Ngôn ngữ lập trình, phần mềm thống kê  
+ Chương trình biểu diễn bằng ngôn ngữ tin học  
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:  
Đề tài ở mức nghiên cứu áp dụng công nghệ thông tin vào dự báo doanh thu  
và quan hệ khách hàng, làm phương hướng xử lý các yêu cầu ở từng doanh nghiệp  
cụ thể theo các yêu cầu cụ thể.  
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn  
Về khoa học, nghiên cứu hướng con người áp dụng công nghệ thông tin ngày  
càng nhiều hơn vào cuộc sống, đặc biệt lĩnh vực kinh tế, để tăng năng suất, giảm  
chi phí, hướng tới xây dựng các ứng dụng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, các yêu  
cẩu của kinh tế  
Về thực tiễn, áp dụng công nghệ thông tin cho các lĩnh vực, các công việc  
của doanh nghiệp đã làm tăng giá trị đầu tư hiệu quả, dần đưa doanh nghiệp hướng  
đến đầu tư công nghệ thông tin vào mọi mặt để phát triển doanh nghiệp điện tử.  
5. Nội dung nghiên cứu  
Bố cục báo cáo gồm 3 chương:  
- Cơ sở lý thuyết về dự báo doanh thu và nghiên cứu thị trường  
- Ứng dụng thực tế vào doanh nghiệp  
- Xây dựng chương trình Demo  
Do việc áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế còn gặp nhiều khó khăn  
và do kiến thức lý luận cũng như thực tiễn của em còn hạn chế nên bài báo cáo không  
thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Vì vậy, em rất mong được sự đóng góp ý kiến  
bổ sung từ Thầy cô và các nhóm nghiên cứu khác để bài báo cáo của em được hoàn  
thiện hơn.  
Chương 1.  
TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH CHUỖI TUẦN TỰ  
THEO THỜI GIAN VÀ DỰ BÁO  
1.1. Chuỗi tuần tự theo thời gian  
1.1.1. Định nghĩa  
Chuỗi tuần tự theo thời gian là một chuỗi các gía trị của một đại lượng nào  
đó được ghi nhận tuần tự theo thời gian.  
Ví dụ:  
Số lượng hàng bán được trong 12 tháng của một công ty.  
Các giá trị của chuỗi tuần tự theo thời gian của đại lượng X được ký hiệu  
X1, X2, ………, Xt, …. Xn, với Xt, là gía trị quan sát của X ở thời điểm t.  
1.1.2. Các thành phần của chuỗi tuần tự theo thời gian  
Các nhà thống kê thường chia chuỗi tuần tự theo thời gian ra làm 4 thành  
phần:  
- Thành phần xu hướng dài hạn (long-term trend component)  
- Thành phần mùa (Seasonal component)  
- Thành phần chu kỳ (Cyclical component)  
- Thành phần bất thường (irregular component)  
1.1.2.1. Thành phần xu hướng dài hạn  
Thành phần này dùng để chỉ xu hướng tăng giảm của đại lượng X trong  
khoảng thời gian dài. Về mặt đồ thị thành phần này có thể diễn tả bằng một đường  
thẳng hay bằng một đường cong tròn (Smooth curve)  
1.1.2.2. Thành phần mùa  
Thành phần này chỉ sự thay đổi của đại lượng X theo các mùa trong năm (có  
thể theo các tháng trong năm)  
Ví dụ:  
- Lượng tiêu thụ chất đốt sẽ tăng vào mùa đông và sẽ giảm vào mùa hè.  
Ngược lại lượng tiêu thụ xăng sẽ tăng vào mùa hè và giảm vào mùa đông.  
- Lượng tiêu thụ đồ dùng học tập sẽ tăng vào mùa khai trường  
1.1.2.3. Thành phần chu kỳ  
Thành phần này chỉ thay đổi của đại lượng X theo chu kỳ. Sự khác biệt của thành  
phần này so với thành phần mùa là chu kỳ của nó dài hơn một năm. Để đánh gía thành  
phần chu kỳ các gía trị của chuỗi tuần tự theo thời gian sẽ được quan sát hằng năm.  
Ví dụ: Lượng dòng chảy đến hồ chứa Trị An từ năm 1959 đến 1985  
1.1.2.4. Thành phần bất thường  
Thành phần này dùng để chỉ những sự thay đổi bất thường của các gía trị  
trong chuỗi tuần tự theo thời gian. Sự thay đổi này không thể dự đoán bằng các số  
liệu kinh nghiệm trong qúa khứ, về mặt bản chất này không có tính chu kỳ.  
1.2. Tổng quan về phân tích và dự báo  
1.2.1. Khái niệm  
Dự báo đã hình thành từ đầu những năm 60 của thế kỉ 20. Khoa học dự báo  
với tư cách một ngành khoa học độc lập có hệ thống lí luận, phương pháp luận và  
phương pháp hệ riêng nhằm nâng cao tính hiệu quả của dự báo. Người ta thường  
nhấn mạnh rằng một phương pháp tiếp cận hiệu quả đối với dự báo là phần quan  
trọng trong hoạch định. Khi các nhà quản trị lên kế hoạch, trong hiện tại họ xác  
định hướng tương lai cho các hoạt động mà họ sẽ thực hiện. Bước đầu tiên trong  
hoạch định là dự báo hay là ước lượng nhu cầu tương lai cho sản phẩm hoặc dịch  
vụ và các nguồn lực cần thiết để sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ đó.  
Như vậy, dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ  
xảy ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được.  
Khi tiến hành dự báo ta căn cứ vào việc thu thập xử lý số liệu trong quá khứ  
và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai nhờ  
vào một số mô hình toán học.  
Dự báo có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai. Nhưng để  
cho dự báo được chính xác hơn, người ta cố loại trừ những tính chủ quan của người  
dự báo.  
Ngày nay, dự báo là một nhu cầu không thể thiếu được của mọi hoạt động  
kinh tế - xác hội, khoa học - kỹ thuật, được tất cả các ngành khoa học quan tâm  
nghiên cứu.  
1.2.2. Ý nghĩa  
- Dùng để dự báo các mức độ tương lai của hiện tượng, qua đó giúp các nhà  
quản trị doanh nghiệp chủ động trong việc đề ra các kế hoạch và các quyết định  
cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, đầu tư, quảng bá, quy mô sản  
xuất, kênh phân phối sản phẩm, nguồn cung cấp tài chính… và chuẩn bị đầy đủ  
điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự phát triển trong thời gian tới (kế hoạch  
cung cấp các yếu tố đầu vào như: lao động, nguyên vật liệu, tư liệu lao động…  
cũng như các yếu tố đầu ra dưới dạng sản phẩm vật chất và dịch vụ).  
- Trong các doanh nghiệp nếu công tác dự báo được thực hiện một cách  
nghiêm túc còn tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.  
- Dự báo chính xác sẽ giảm bớt mức độ rủi ro cho doanh nghiệp nói riêng và  
toàn bộ nền kinh tế nói chung.  
- Dự báo chính xác là căn cứ để các nhà hoạch định các chính sách phát triển  
kinh tế văn hoá xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân  
- Nhờ có dự báo các chính sách kinh tế, các kế hoạch và chương trình phát  
triển kinh tế được xây dựng có cơ sở khoa học và mang lại hiệu quả kinh tế cao.  
- Nhờ có dự báo thường xuyên và kịp thời, các nhà quản trị doanh nghiệp có  
khả năng kịp thời đưa ra những biện pháp điều chỉnh các hoạt động kinh tế của đơn  
vị mình nhằm thu được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.  
1.2.3. Vai trò  
- Dự báo tạo ra lợi thế cạnh tranh  
- Công tác dự báo là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của các  
doanh nghiệp, trong từng phòng ban như: phòng Kinh doanh hoặc Marketing, phòng  
Sản xuất hoặc phòng Nhân sự, phòng Kế toán – tài chính.  
1.3. Các loại dự báo  
1.3.1. Căn cứ vào độ dài thời gian dự báo  
Dự báo có thể phân thành ba loại  
- Dự báo dài hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo từ 5 năm trở lên.  
Thường dùng để dự báo những mục tiêu, chiến lược về kinh tế chính trị, khoa học  
kỹ thuật trong thời gian dài ở tầm vĩ mô.  
- Dự báo trung hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo từ 3 đến 5 năm.  
Thường phục vụ cho việc xây dựng những kế hoạch trung hạn về kinh tế văn hoá  
xã hội… ở tầm vi mô và vĩ mô.  
- Dự báo ngắn hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo dưới 3 năm, loại dự  
báo này thường dùng để dự báo hoặc lập các kế hoạch kinh tế, văn hoá, xã hội chủ  
yếu ở tầm vi mô và vĩ mô trong khoảng thời gian ngắn nhằm phục vụ cho công tác  
chỉ đạo kịp thời.  
Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối tuỳ thuộc vào từng loại hiện  
tượng để quy định khoảng cách thời gian cho phù hợp với loại hiện tượng đó: ví dụ  
trong dự báo kinh tế, dự báo dài hạn là những dự báo có tầm dự báo trên 5 năm,  
nhưng trong dự báo thời tiết, khí tượng học chỉ là một tuần. Thang thời gian đối với  
dự báo kinh tế dài hơn nhiều so với thang thời gian dự báo thời tiết. Vì vậy, thang  
thời gian có thể đo bằng những đơn vị thích hợp ( ví dụ: quý, năm đối với dự báo  
kinh tế và ngày đối với dự báo dự báo thời tiết).  
1.3.2. Dựa vào các phương pháp dự báo  
Dự báo có thể chia thành 3 nhóm  
- Dự báo bằng phương pháp chuyên gia: Loại dự báo này được tiến hành trên  
cơ sở tổng hợp, xử lý ý kiến của các chuyên gia thông thạo với hiện tượng được  
nghiên cứu, từ đó có phương pháp xử lý thích hợp đề ra các dự đoán, các dự đoán  
này được cân nhắc và đánh giá chủ quan từ các chuyên gia. Phương pháp này có ưu  
thế trong trường hợp dự đoán những hiện tượng hay quá trình bao quát rộng, phức  
tạp, chịu sự chi phối của khoa học - kỹ thuật, sự thay đổi của môi trường, thời tiết,  
chiến tranh trong khoảng thời gian dài. Một cải tiến của phương pháp Delphi – là  
phương pháp dự báo dựa trên cơ sở sử dụng một tập hợp những đánh giá của một  
nhóm chuyên gia. Mỗi chuyên gia được hỏi ý kiến và rồi dự báo của họ được trình  
bày dưới dạng thống kê tóm tắt. Việc trình bày những ý kiến này được thực hiện  
một cách gián tiếp ( không có sự tiếp xúc trực tiếp) để tránh những sự tương tác  
trong nhóm nhỏ qua đó tạo nên những sai lệch nhất định trong kết quả dự báo. Sau  
đó người ta yêu cầu các chuyên gia duyệt xét lại những dự báo của họ trên cơ sở  
tóm tắt tất cả các dự báo có thể có những bổ sung thêm.  
- Dự báo theo phương trình hồi quy: Theo phương pháp này, mức độ cần dự  
báo phải được xây dựng trên cơ sở xây dựng mô hình hồi quy, mô hình này được  
xây dựng phù hợp với đặc điểm và xu thế phát triển của hiện tượng nghiên cứu.  
Để xây dựng mô hình hồi quy, đòi hỏi phải có tài liệu về hiện tượng cần dự báo và  
các hiện tượng có liên quan. Loại dự báo này thường được sử dụng để dự báo trung  
hạn và dài hạn ở tầm vĩ mô.  
- Dự báo dựa vào dãy số thời gian: Là dựa trên cơ sở dãy số thời gian phản  
ánh sự biến động của hiện tượng ở những thời gian đã qua để xác định mức độ của  
hiện tượng trong tương lai.  
1.3.3. Căn cứ vào nội dung (đối tượng dự báo)  
Có thể chia dự báo thành: Dự báo khoa học, dự báo kinh tế, dự báo xã hội,  
dự báo tự nhiên, thiên văn học…  
- Dự báo khoa học: Là dự kiến, tiên đoán về những sự kiện, hiện tượng,  
trạng thái nào đó có thể hay nhất định sẽ xảy ra trong tương lai. Theo nghĩa hẹp  
hơn, đó là sự nghiên cứu khoa học về những triển vọng của một hiện tượng nào đó,  
chủ yếu là những đánh giá số lượng và chỉ ra khoảng thời gian mà trong đó hiện  
tượng có thể diễn ra những biến đổi.  
- Dự báo kinh tế: Là khoa học dự báo các hiện tượng kinh tế trong tương lai.  
Dự báo kinh tế được coi là giai đoạn trước của công tác xây dựng chiến lược phát  
triển kinh tế - xã hội và dự án kế hoạch dài hạn; không đặt ra những nhiệm vụ cụ  
thể, nhưng chứa đựng những nội dung cần thiết làm căn cứ để xây dựng những  
nhiệm vụ đó. Dự báo kinh tế bao trùm sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước  
có tính đến sự phát triển của tình hình thế giới và các quan hệ quốc tế. Thường  
được thực hiện chủ yếu theo những hướng sau: dân số, nguồn lao động, việc sử  
dụng và tái sản xuất chúng, năng suất lao động; tái sản xuất xã hội trước hết là vốn  
sản xuất cố định: sự phát triển của cách mạng khoa học – kĩ thuật và công nghệ  
và khả năng ứng dụng vào kinh tế; mức sống của nhân dân, sự hình thành các nhu  
cầu phi sản xuất, động thái và cơ cấu tiêu dùng, thu nhập của nhân dân; động thái  
kinh tế quốc dân và sự chuyển dịch cơ cấu (nhịp độ, tỉ lệ, hiệu quả); sự phát triển  
các khu vực và ngành kinh tế (khối lượng động thái, cơ cấu, trình độ kĩ thuật , bộ  
máy, các mối liên hệ liên ngành); phân vùng sản xuất, khai thác tài nguyên thiên  
nhiên và phát triển các vùng kinh tế trong nước, các mối liên hệ liên vùng; dự báo  
sự phát triển kinh tế của thế giới kinh tế. Các kết quả dự báo kinh tế cho phép  
hiểu rõ đặc điểm của các điều kiện kinh tế - xã hội để đặt chiến lược phát triển  
kinh tế đúng đắn, xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển một cách chủ  
động, đạt hiệu quả cao và vững chắc.  
- Dự báo xã hội: Dự báo xã hội là khoa học nghiên cứu những triển vọng cụ  
thể của một hiện tượng, một sự biến đổi, một quá trình xã hội, để đưa ra dự báo  
hay dự đoán về tình hình diễn biến, phát triển của một xã hội.  
- Dự báo tự nhiên, thiên văn học, loại dự báo này thường bao gồm:  
+ Dự báo thời tiết: Thông báo thời tiết dự kiến trong một thời gian nhất định  
trên một vùng nhất định. Trong dự báo thời tiết có dự báo chung, dự báo khu vực,  
dự báo địa phương, v.v. Về thời gian, có dự báo thời tiết ngắn (1-3 ngày) và dự báo  
thời tiết dài (tới một năm).  
+ Dự báo thuỷ văn: Là loại dự báo nhằm tính để xác định trước sự phát triển  
các quá trình, hiện tượng thuỷ văn xảy ra ở các sông hồ, dựa trên các tài liệu liên  
quan tới khí tượng thuỷ văn. Dự báo thuỷ văn dựa trên sự hiểu biết những quy luật  
phát triển của các quá trình, khí tượng thuỷ văn, dự báo sự xuất hiện của hiện  
tượng hay yếu tố cần quan tâm. Căn cứ thời gian dự kiến, dự báo thuỷ văn được  
chia thành dự báo thuỷ văn hạn ngắn (thời gian không quá 2 ngày), hạn vừa (từ 2  
đến 10 ngày); dự báo thuỷ văn mùa (thời gian dự báo vài tháng); cấp báo thuỷ văn:  
thông tin khẩn cấp về hiện tượng thuỷ văn gây nguy hiểm. Theo mục đích dự báo,  
có các loại: dự báo thuỷ văn phục vụ thi công, phục vụ vận tải, phục vụ phát  
điện,v.v. Theo yếu tố dự báo, có: dự báo lưu lượng lớn nhất, nhỏ nhất, dự báo lũ,  
v.v.  
+ Dự báo địa lý: Là việc nghiên cứu về hướng phát triển của môi trường địa  
lí trong tương lai, nhằm đề ra trên cơ sở khoa học những giải pháp sử dụng hợp lí và  
bảo vệ môi trường.  
+ Dự báo động đất: Là loại dự báo trước địa điểm và thời gian có khả năng xảy  
ra động đất. Động đất không đột nhiên xảy ra mà là một quá trình tích luỹ lâu dài, có  
thể hiện ra trước bằng những biến đổi địa chất, những hiện tượng vật lí, những trạng  
thái sinh học bất thường ở động vật,.v.v. Việc dự báo thực hiện trên cơ sở nghiên cứu  
bản đồ phân vùng động đất và những dấu hiệu báo trước. Cho đến nay, chưa thể dự  
báo chính xác về thời gian động đất sẽ xảy ra.  
1.4. Các phương pháp dự báo  
1.4.1. Phương pháp dự báo định tính  
Các phương pháp này dựa trên cơ sở nhận xét của những nhân tố nhân quả,  
dựa theo doanh số của từng sản phẩm hay dịch vụ riêng biệt và dựa trên những ý  
kiến về các khả năng có liên hệ của những nhân tố nhân quả này trong tương lai  
(Những phương pháp này có liên quan đến mức độ phức tạp khác nhau, từ những  
khảo sát ý kiến được tiến hành một cách khoa học để nhận biết về các sự kiện  
tương lai).  
Ưu điểm : Dễ dàng thực hiện, không đòi hỏi kiến thức về các mô hình toán  
hoặc kinh tế lượng, thường được chấp nhận  
Nhược điểm: Mang tính chủ quan rất cao, không chuẩn, mất nhiều năm để trở  
thành người có khả năng phán đoán đúng. Không có phương pháp hệ thống để đánh  
giá và cải thiện mức độ chính xác.  
Dưới đây là các dự báo định tính thường dùng:  
1.4.1.1. Lấy ý kiến của ban điều hành  
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp. Khi tiến hành  
dự báo, họ lấy ý kiến của các nhà quản trị cấp cao, những người phụ trách các công  
việc, các bộ phận quan trọng của doanh nghiệp, và sử dụng các số liệu thống kê về  
những chỉ tiêu tổng hợp: doanh số, chi phí, lợi nhuận...Ngoài ra cần lấy thêm ý kiến  
của các chuyên gia về marketing, tài chính, sản xuất, kỹ thuật.  
Ưu điểm của phương pháp này là: Thu thập được nhiều kinh nghiệm từ  
nhiều chuyên gia khác nhau.  
Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là có tính chủ quan của các thành  
viên và ý kiến của người có chức vụ cao nhất thường chi phối ý kiến của những  
người khác.  
1.4.1.2. Lấy ý kiến của người bán hàng  
Ưu điểm của phương pháp này là: Những người bán hàng tiếp xúc thường  
xuyên với khách hàng, do đó họ hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Họ  
có thể dự đoán được lượng hàng tiêu thụ tại khu vực mình phụ trách.  
Tập hợp ý kiến của nhiều người bán hàng tại nhiều khu vực khác nhau, ta có  
được lượng dự báo tổng hợp về nhu cầu đối với loại sản phẩm đang xét.  
Nhược điểm của phương pháp này là phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của  
người bán hàng. Một số có khuynh hướng lạc quan đánh giá cao lượng hàng bán ra  
của mình. Ngược lại, một số khác lại muốn giảm xuống để dễ đạt định mức.  
1.4.1.3. Phương pháp chuyên gia (Delphi)  
Phương pháp này thu thập ý kiến của các chuyên gia trong hoặc ngoài doanh  
nghiệp theo những mẫu câu hỏi được in sẵn và được thực hiện như sau:  
- Mỗi chuyên gia được phát một thư yêu cầu trả lời một số câu hỏi phục vụ  
cho việc dự báo.  
- Nhân viên dự báo tập hợp các câu trả lời, sắp xếp chọn lọc và tóm tắt lại  
các ý kiến của các chuyên gia.  
- Dựa vào bảng tóm tắt này nhân viên dự báo lại tiếp tục nêu ra các câu hỏi  
để các chuyên gia trả lời tiếp.  
- Tập hợp các ý kiến mới của các chuyên gia. Nếu chưa thỏa mãn thì tiếp tục  
quá trình nêu trên cho đến khi đạt yêu cầu dự báo.  
Ưu điểm của phương pháp này là tránh được các liên hệ cá nhân với nhau,  
không xảy ra va chạm giữa các chuyên gia và họ không bị ảnh hưởng bởi ý kiến  
của một người nào đó có ưu thế trong số người được hỏi ý kiến.  
1.4.1.4. Phương pháp điều tra người tiêu dùng  
Phương pháp này sẽ thu thập nguồn thông tin từ đối tượng người tiêu dùng  
về nhu cầu hiện tại cũng như tương lai. Cuộc điều tra nhu cầu được thực hiện bởi  
những nhân viên bán hàng hoặc nhân viên nghiên cứu thị trường. Họ thu thập ý kiến  
khách hàng thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp hay điện thoại... Cách  
tiếp cận này không những giúp cho doanh nghiệp về dự báo nhu cầu mà cả trong  
việc cải tiến thiết kế sản phẩm. Phương pháp này mất nhiều thời gian, việc chuẩn  
bị phức tạp, khó khăn và tốn kém, có thể không chính xác trong các câu trả lời của  
người tiêu dùng.  
Ưu điểm: Cách tốt nhất để dự báo nhu cầu, sở thích của họ qua dự định mua  
sắm của họ, điều tra được thị hiếu của khách hàng để cải tiến sản phẩm.  
Nhược điểm: Phù hợp cho các sản phẩm công nghiệp, tính chính xác của dữ liệu.  
1.4.2. Phương pháp dự báo định lượng  
Mô hình dự báo định lượng dựa trên số liệu quá khứ, những số liệu này giả  
sử có liên quan đến tương lai và có thể tìm thấy được. Tất cả các mô hình dự báo  
theo định lượng có thể sử dụng thông qua chuỗi thời gian và các giá trị này được  
quan sát đo lường các giai đoạn theo từng chuỗi .  
Ưu điểm:  
- Kết quả dự báo hoàn toàn khách quan  
- Có phương pháp đo lường độ chính xác dự báo  
- Tốn ít thời gian để tìm ra kết quả dự báo  
Nhược điểm:  
- Chỉ dự báo tốt trong thời gian ngắn và trung hạn  
- Không có phương pháp nào có thể đưa đầy đủ những yếu tố bên ngoài có  
tác động đến kết quả dự báo vào mô hình.  
Tính chính xác của dự báo  
Tính chính xác của dự báo đề cập đến độ chênh lệch của dự báo với số liệu  
thực tế. Bởi vì dự báo được hình thành trước khi số liệu thực tế xảy ra, vì vậy tính  
chính xác của dự báo chỉ có thể đánh giá sau khi thời gian đã qua đi. Nếu dự báo  
càng gần với số liệu thực tế, ta nói dự báo có độ chính xác cao và lỗi trong dự báo  
càng thấp.  
Gọi: : giá trị thực tại giai đoạn t  
: giá trị dự báo tại giai đoạn t  
n: số giai đoạn  
Sai số dự báo: et = -  
Nếu một mô hình được đánh giá là tốt thì sai số dự báo phải tương đối nhỏ.  
Tiêu chí  
1. Sai số trung bình  
Công thức tính  
ME =  
2. Sai số trung bình tuyệt đối  
3. Sai số phần trăm trung bình  
MAE =  
MPE = x 100%  
4. Sai số phần trăm trung bình tuyệt đối MAPE = x 100%  
5. Sai số bình phương trung bình MSE =  
6. Sai số bình phương trung bình chuẩn RMSE =  
+ Sai số của dự báo:  
+ Sai số dự báo là sự chênh lệch giữa mức độ thực tế và mức độ tính toán  
theo mô hình dự báo.  
+ Sai số dự báo phụ thuộc vào 03 yếu tố: độ biến thiên của tiêu thức trong  
thời kỳ trước, độ dài của thời gian của thời kỳ trước và độ dài của thời kỳ dự đoán.  
+ Vấn đề quan trọng nhất trong dự báo bằng ngoại suy hàm xu thế là lựa  
chọn hàm xu thế, xác định sai số dự đoán và khoảng dự đoán:  
- Công thức tính sai số chuẩn ()  
Trong đó:  
: Sai số chuẩn  
: Giá trị tính toán theo hàm xu thế  
N: Số các mức độ trong dãy số  
P: Số các tham số cần tìm trong mô hình xu thế  
Công thức này được dùng để lựa chọn dạng hàm xu thế (so sánh các sai số  
chuẩn tính được) sai số nào nhỏ nhất chứng tỏ rằng hàm tương ứng với sai số sẽ  
xấp xỉ tốt nhất và được lựa chọn làm hàm xu thế để dự đoán. Thông thường để  
việc dự đoán được tiến hành đơn giản ta vẫn chọn hàm xu thế làm hàm tuyến tính.  
Công thức tính sai số dự báo:  
= δy  
Trong đó:  
: Sai số của dự báo  
n: số lượng các mức độ (n=10)  
L: tầm xa của dự báo  
: sai số chuẩn  
+ Hệ số tương quan  
Khái niệm: Hệ số tương quan là chỉ tiêu đánh giá mức độ chặt chẽ của mối  
liên hệ tương quan tuyến tính đơn.  
Tác dụng:  
Xác định cường độ của mối liên hệ từ đó chọn ra nguyên nhân chủ yếu  
hoặc thứ yếu đối với hiện tượng nghiên cứu.  
Xác định chiều hướng cụ thể của mối liên hệ (thuận – nghịch).  
Hệ số tương quan còn dùng trong nhiều trường hợp dự đoán thống kê và  
tính sai số của dự đoán  
Công thức tính:  
Như vậy, dấu của hệ số tương quan r phụ thuộc vào dấu của hệ số b vì  
phương sai luôn mang dấu dương.  
Các tính chất của hệ số tương quan: Miền xác định: –1 ≤ r ≤ 1.  
r > 0: Mối liên hệ tương quan tuyến tính thuận.  
r < 0: Mối liên hệ tương quan tuyến tính nghịch.  
r = ± 1: Mối liên hệ hàm số hoàn toàn chặt chẽ.  
r = 0: Không có mối liên hệ tương quan tuyến tính giữa x và y.  
r càng gần 1: Mối liên hệ càng chặt chẽ (cường độ mối liên hệ).  
r > 0,9: Mối liên hệ rất chặt chẽ.  
0,7 ≤ r ≤0,9: Mối liên hệ tương đối chặt chẽ.  
0,5 ≤ r ≤ 0,7: Mối liên hệ bình thường  
r < 0,5 : Mối liên hệ hết sức lỏng lẻo.  
() Hệ số xác định dùng để đánh giá sự phù hợp của mô  
+ Hệ số xác định :  
hình, nó cho biết tỷ lệ % thay đổi của y được giải thích bởi mô hình.  
1.5. Giới thiệu về phần mềm Microsoft Excel  
1.5.1. Phần mềm Microsoft Excel là gì?  
Microsoft Excel là một phần mềm ứng dụng trong bộ phần mềm Microsoft  
Office, dùng để tạo, chỉnh sửa, lưu trữ, xử lý dữ liệu theo định dạng bảng tính.  
Excel đặc biệt phù hợp với các tính năng yêu cầu xử lý tính toán bằng công thức  
hay hàm với các loại dữ liệu khác nhau. Ngoài ra, Excel cho phép phân tích dữ liệu  
thông qua các đối tượng trực quan như bảng biểu (tables) hay biểu đồ (charts).  
Cũng như các chương trình bảng tính, bảng tính của Excel cũng bao gồm  
nhiều ô được tạo bởi các dòng và cột, việc nhập dữ liệu và tính toán trên Excel  
cũng có nhưng điểm tương tự tuy nhiên Excel có những tính năng ưu việt và có giao  
diện thân thiện với người dùng.  
Hiện nay Excel được sử dụng rộng rãi trong môi trường doanh nghiệp nhằm  
phục vụ các công trình tính toán thông dụng, bằng các công thức tính toán mà người  
sử dụng không cần xây dựng chương trình.  
Các trợ giúp trong việc thực hiện các tác vụ như:  
. Tính toán đại số phân tích dữ liệu.  
. Lập bảng biểu báo cáo, tổ chức danh sách.  
. Truy cập các guồn dữ liệu kác nhau.  
. Vẽ đồ thị và các sơ đồ.  
. Tự động hóa các công việc bằng các macro.  
. Và nhiều ứng dụng khác để chúng ta phân tích nhiều loại hình bài toán khác.  
Workbook và các thành phần:  
Workbook: Trong Excel, một workbook là một tập tin mà trên đó bạn làm  
việc (tính toán, vẽ đồ thị, …) và lưu trữ dữ liệu. Vì mỗi workbook có thể chứa  
nhiều sheet (bảng tính), do vậy bạn có thể tổ chức, lưu trữ nhiều loại thông tin có  
liên quan với nhau chỉ trong một tập tin (file). Một workbook chứa rất nhiều  
worksheet hay chart sheet tùy thuộc vào bộ nhớ máy tính của bạn.  
Worksheet: Còn gọi tắt là sheet, là nơi lưu trữ và làm việc với dữ liệu, nó  
còn được gọi là bảng tính. Một worksheet chứa nhiều ô (cell), các ô được tổ chức  
thành các cột và các dòng. Worksheet được chứa trong workbook. Một Worksheet  
chứa được 16,384 cột và 1,048,576 dòng (phiên bản cũ chỉ chứa được 256 cột và  
65,536 dòng).  
Chart sheet: Cũng là một sheet trong workbook, nhưng nó chỉ chứa một đồ  
thị. Một chart sheet rất hữu ích khi bạn muốn xem riêng lẻ từng đồ thị.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 47 trang yennguyen 21760 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiểu luận Phân tích dự báo doanh thu cho Công ty Cổ phần TNG Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_luan_phan_tich_du_bao_doanh_thu_cho_cong_ty_co_phan_tng.pdf