Thuê môi trường rừng ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị chính sách

Kinh tế & Chính sách  
THUÊ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM:  
THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH  
Bùi Thị Minh Nguyệt1  
1Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Cho thuê môi trường rừng (MTR) để kinh doanh du lịch sinh thái (DLST) là hoạt động đang được quan tâm tại  
các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, đặc biệt là tại các vườn quốc gia (VQG). VQG Ba Vì là một trong những  
VQG triển khai các hoạt động cho thuê MTR sớm nhất cả nước. Đến hết năm 2018, Việt nam có 13 tổ chức  
thực hiện cho thuê MTR, mục đích thuê chủ yếu kinh doanh DLST. Kết quả nghiên cứu đã tổng kết các mô  
hình cho thuê trên các khía cạnh như loại rừng cho thuê, vị trí thuê, mục đích thuê, đối tượng thuê, cho thuê,  
thời gian thuê, đơn giá thuê... Chính sách cho thuê MTR cũng đã có tác động tích cực như tác động đến đầu tư  
công của Nhà nước, đến công tác BV&PTR, đến kinh tế địa phương, đến việc làm, thu nhập của cư dân địa  
phương, đến hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, chính sách được thực hiện cũng gây ra những tiêu cực nếu không  
quản lý tốt như vấn đề bảo tồn tài nguyên rừng, ô nhiễm môi trường, xung đột văn hóa... Trong nghiên cứu này,  
tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị về chính sách để thúc đẩy hoạt động cho thuê MTR tại Việt Nam.  
Từ khóa: Chính sách cho thuê môi trường rừng, du lịch sinh thái, môi trường rừng, Vườn quốc gia.  
năng của rừng, mỗi loại rừng có chức năng khác  
nhau nhưng đều có điểm chung là đều có thể kết  
hợp kinh doanh DLST, nghỉ dưỡng, giải trí,  
cung ứng DVMTR (trừ khu bảo vệ nghiêm ngặt  
của rừng đặc dụng không được kinh doanh dịch  
vụ nghỉ dưỡng, giải trí).  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Việt Nam có tiềm năng rất lớn về tài nguyên  
rừng và rừng có nhiều giá trị khác nhau (giá trị  
sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và  
giá trị phi sử dụng. Theo nhiều nghiên cứu, giá  
trị dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) chiếm  
60 - 80% tổng giá trị kinh tế của rừng tạo ra  
(Pearce, 2001; Tarancop, 1986; Krieger, 2001;  
Natasha, 2002; N.Adger và N.H Trí, 1998; Viện  
KHLN Việt Nam, 2004). Việc khai thác  
DVMTR là rất cần thiết nhằm nâng cao giá trị  
của rừng, tạo nguồn thu để đầu tư lại cho bảo vệ  
và phát triển rừng (BV&PTR), giảm sự đầu tư  
của Nhà nước, quan trọng hơn là thay đổi nhận  
thức về vai trò và giá trị nhiều mặt của rừng.  
Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt  
Nam 2006 - 2020 xác định mục tiêu tăng giá trị  
DVMTR và DLST từ 250 triệu USD năm 2010  
lên 500 triệu USD năm 2015 và 2000 triệu USD  
năm 2020. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi  
phải xác định được các loại DVMTR và xây  
dựng các cách thức để khai thác các giá trị đó  
cho phù hợp với từng loại rừng cụ thể. Từ năm  
2016, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về  
đóng cửa rừng tự nhiên, thì nguồn thu từ  
DVMTR là nguồn thu thay thế quan trọng được  
các chủ rừng quan tâm. Trong Luật lâm nghiệp  
2017 cũng có sự thay đổi trong xác định chức  
Cho thuê môi trường rừng (MTR) được cho  
là 1 phương thức nhằm xã hội hóa DVMTR và  
hình thức này đã được áp dụng thí điểm ở một  
số VQG như: VQG Ba Vì, Bidup Núi Bà, Ba  
Bể từ năm 2002. Ngoài ra, trên thực tế cũng có  
một số mô hình tự phát với quy mô nhỏ, phân  
tán ở các khu rừng khác nhau kể cả rừng sản  
xuất và phòng hộ (Bùi Thị Minh Nguyệt,  
2018). Để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động  
cho thuê MTR, Chính phủ Việt Nam đã ban  
hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp  
luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thuê  
MTR tại các khu rừng đặc dụng nhưng việc  
triển khai các phương án cho thuê còn chậm vì  
nhiều lý do khác nhau (Bùi Thị Minh Nguyệt,  
2014). Mục tiêu bài báo là đánh giá các mô  
hình cho thuê MTR tại Việt Nam làm cơ sở đề  
xuất mô hình phù hợp và giải pháp đẩy mạnh  
hoạt động thuê môi trường rừng trong thời  
gian tới.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Nội dung nghiên cứu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
151  
Kinh tế & Chính sách  
- Đánh giá thực trạng các mô hình cho thuê  
MTR; các tác động tích cực, tiêu cực từ cho  
thuê môi trường rừng tại Việt Nam.  
- Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động  
cho thuê môi trường rừng tại Việt Nam.  
(26/33 VQG; các khu còn lại 35/127 khu, trừ 9  
khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học).  
Hoạt động cho thuê MTR hiện nay chủ yếu  
thực hiện các khu rừng đặc dụng – phần lớn ở  
VQG, với hoạt động chủ yếu là kinh doanh  
DLST. Hình thức tổ chức các hoạt động DLST  
tại VQG gồm: 37 khu tự tổ chức DLST, 11 khu  
tổ chức liên doanh, liên kết và 13 khu cho thuê  
MTR; 15 khu rừng tổ chức theo 2 hình thức;  
01 khu cả 3 hình thức. Kết quả khảo sát cho  
thấy, phần lớn các VQG/KBTTN là tự tổ chức  
kinh doanh, cho thuê MTR để kinh doanh  
DLST chưa có nhiều.  
Trong các VQG đang triển khai hoạt động  
cho thuê MTR rừng thì VQG Ba Vì đang có số  
lượng doanh nghiệp thuê là đông nhất (đến  
thời điểm hiện tại có 6 đơn vị thuê MTR tại  
Vườn), các VQG còn lại chỉ có 1 đơn vị thuê.  
Một số VQG khác đã xây dựng đề án thuê  
MTR kinh doanh DLST nhưng hiện nay chưa  
có đơn vị nào đăng ký thuê.  
Hoạt động cho thuê MTR với mục đích kinh  
doanh DLST chưa phát triển ở các khu rừng  
đặc dụng và rừng sản xuất. Một phần do điều  
kiện tự nhiên, cảnh quan tại các khu rừng  
phòng hộ không có sức hút đối với hoạt động  
du lịch như các VQG, KBT, một phần do cơ  
chế chính sách của nhà nước đối với RPH chưa  
tạo ra động lực kích thích phát triển hoạt động  
cho thuê đối với các chủ rừng. Hơn nữa trên  
thực tế, các BQLRPH còn lúng túng và bị động  
trong việc xây dựng các phương án phát triển  
hoạt động DLST, cho thuê MTR. Trong thực  
tế, có một số mô hình cho thuê MTR nghiên  
cứu khoa học dưới tán rừng nhưng quy mô  
nhỏ lẻ.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Về chọn điểm nghiên cứu: Tác giả chọn 8  
tỉnh nghiên cứu đại diện cho các vùng sinh thái  
khác nhau, có đầy đủ đặc trưng về các loại  
rừng, đa dạng các dịch vụ cho thuê MTR, đã  
thực hiện thí điểm và có khả năng cho thuê  
MTR. Tại 8 tỉnh sẽ tiến hành nghiên cứu sâu  
tại 6 VQG, 03 BQL rừng phòng hộ và 02 công  
ty lâm nghiệp.  
Về phương pháp thu thập số liệu: Số liệu  
thu thập từ nguồn thứ cấp và sơ cấp. Số liệu sơ  
cấp được thu thập thông qua phỏng vấn các đối  
tượng có liên quan gồm: Cơ quan quản lý Nhà  
nước về Lâm nghiệp (Tổng cục Lâm nghiệp,  
Sở NN&PTNT...), bên cho thuê MTR  
(VQG/KBTTN, BQL rừng phòng hộ, công ty  
lâm nghiệp), bên thuê MTR (cá nhân, doanh  
nghiệp...) và các chuyên gia để thu thập các số  
liệu có liên quan, các quan điểm đánh giá về  
hoạt động cho thuê MTR trong thời gian qua.  
Đề tài đã tiến hành khảo sát hiện trường tại các  
địa điểm đang triển khai hoạt động cho thuê  
MTR.  
Các số liệu thu thập sẽ được xử lý và phân  
tích cả về mặt định tính và định lượng theo các  
nội dung và mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra. Đề  
tài áp dụng một số phương pháp như thống kê mô  
tả, phương pháp so sánh để thực hiện phân tích.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thực trạng triển khai hoạt động cho  
thuê môi trường rừng tại Việt Nam  
Trong những năm gần đây, ở một số khu  
rừng đặc dụng đã thực hiện các hoạt động kinh  
doanh DLST dưới nhiều hình thức khác nhau  
như tự tổ chức, liên doanh liên kết và cho thuê  
MTR kinh doanh DLST góp phần tạo ra nguồn  
tài chính cho bảo vệ rừng và bảo tồn ĐDSH.  
Trong tổng số 164 khu rừng đặc dụng, có 61  
khu rừng có tổ chức các hoạt động DLST  
3.2. Đánh giá các mô hình cho thuê MTR tại  
điểm nghiên cứu  
- Diện tích cho thuê:  
Tại các điểm nghiên cứu được khảo sát cho  
thấy, hoạt động cho thuê MTR đang chủ yếu  
thực hiện ở các VQG. Tuy nhiên, diện tích cho  
thuê này còn khá nhỏ so với diện tích được quy  
hoạch cho thuê.  
152  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
Bảng 1. Loại rừng và diện tích cho thuê của mô hình nghiên cứu  
Tổng diện tích có thể  
cho thuê (ha)  
Loại rừng  
cho thuê  
Diện tích đã  
cho thuê (ha)  
TT  
Đơn vị  
1
2
VQG Ba Vì  
Rừng đặc dụng  
Rừng đặc dụng  
523  
55  
2.555  
VQG Phong Nha - Kẻ Bàng  
VQG Bidoup - Núi Bà  
VQG Hoàng Liên  
40.860  
Rừng PH, ĐD  
(213,61 ha)  
3
4
300  
53  
8.603  
Rừng đặc dụng  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
- Đối tượng thuê và mục đích thuê:  
Bảng 2. Đối tượng thuê và mục đích thuê  
Đối tượng cho thuê  
TT Đơn vị  
Đối tượng thuê  
Mục đích thuê  
Công ty Thiên Sơn – Suối Ngà  
Công ty du lịch Miền Đất Vua  
Công ty CP hóa dầu Quân Đội  
Công ty phát triển công nghệ CFTD  
Công ty du lịch PICO  
DLST  
DLST  
DLST  
1
Hà Nội VQG Ba Vì  
DLST, nghỉ dưỡng  
DLST  
Công ty TNHH tư vấn và ĐT Quảng Long  
Công ty CP tập đoàn Trường Thịnh  
TT bảo tồn thiên nhiên Việt  
DLST  
DLST  
VQG Phong Nha –  
Kẻ Bàng  
Quảng  
Bình  
Bảotồnsinhcảnhnúi  
NCKH và bảo tồn  
ĐDSH  
2
3
BQL rừng phòng hộ  
Động Châu – Lệ Thủy  
VQG Bidoup - Núi Bà  
TT bảo tồn thiên nhiên Việt  
Công ty TNHH đầu tư XD Hoàng Châu  
Mới có phương án thuê MTR  
Công ty cáp treo Fansipan  
Lâm  
Đồng  
DLST  
DLST  
BQL khu BTTN  
Hoàng Liên – Văn Bàn  
Hành lang tuyến cáp  
treo  
Hệ thống cấp nước  
sạch TT Sapa  
PTDLtạisuốivàngvà  
tháctìnhyêu  
VQG Hoàng Liên  
VQG Hoàng Liên  
VQG Hoàng Liên  
Lào  
Cai  
4
TCT CP XNK và xây dựng Việt Nam  
Mới có đề án thuê MTR  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
Theo quy định mọi thành phần kinh tế trong  
Đối tượng đi thuê chủ yếu là các công ty du  
lịch, với mục đích thuê để thực hiện hoạt động  
kinh doanh DLST. So với tiềm năng thì số  
lượng các đơn vị thuê MTR để đầu tư kinh  
doanh DLST còn hạn chế. VQG Ba Vì là đơn vị  
đầu tiên của cả nước được thí điểm thực hiện,  
các đơn vị thuê chủ yếu là đã có mối quan hệ  
với VQG (đang tiến hành nhận khoán bảo vệ ở  
VQG) nhưng đến thời điểm hiện tại có 6 đơn  
vị chính thức hoàn thiện thủ tục và ký hợp  
đồng thuê MTR. Ở Phong Nha – Kẻ Bàng và  
Bidoup – Núi Bà, mỗi VQG có 1 đơn vị thuê.  
Hiện nay, tại các VQG đã cho thuê cũng không  
nước có chức năng và đủ năng lực đầu tư vào  
các lĩnh vực cho phép và thoả mãn các điều  
kiện đều được xét cho thuê MTR. Đối với kinh  
doanh DLST cần thỏa mãn các điều kiện: (1)  
Năng lực của nhà đầu tư phù hợp với quy định  
của pháp luật; (2) Có kinh nghiệm tổ chức kinh  
doanh DLST thành công; (3) Có phương án đề  
xuất MTR phù hợp với quy định hiện hành. Ngoài  
ra, một số VQG có quy định chi tiết hơn về  
khả năng tài chính và phải đã có những mối  
quan hệ từ trước với các VQG như đã nhận  
khoán hoặc liên kết với VQG.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
153  
Kinh tế & Chính sách  
có nhiều đơn vị đến khảo sát để đề xuất thuê  
MTR kinh doanh DLST.  
- Thời hạn và thời điểm cho thuê:  
Thời gian thuê tối đa được quy định tại thời  
điểm ký hợp đồng thuê, thường từ 30 - 50 năm.  
Hoạt động thuê MTR được thực hiện cũng tập  
trung vào những năm gần đây, nhiều đơn vị có  
thời gian để làm các thủ tục thuê rất lâu và việc  
triển khai để thực hiện còn nhiều vướng mắc.  
Theo kết quả phỏng vấn lãnh đạo và cán bộ  
các VQG thì hoạt động cho thuê MTR góp  
phần tăng nguồn thu cho Vườn, giải quyết việc  
làm cho người dân vùng đệm từ đó góp phần  
phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương.  
Bảng 3. Thời hạn và thời điểm thuê MTR kinh doanh DLST  
Thời hạn  
thuê (năm)  
TT  
Đơn vị  
Đối tượng thuê  
Thời điểm thuê  
Công ty Thiên Sơn – Suối Ngà  
Công ty du lịch Miền Đất Vua (Thác Đa)  
Công ty CP hóa dầu Quân Đội  
Công ty phát triển công nghệ CFTD  
Công ty du lịch PICO  
2003  
2005  
2014  
2017  
2018  
2017  
50  
50  
50  
30  
30  
30  
1
VQG Ba Vì  
Công ty TNHH tư vấn và ĐT Quảng Long  
VQG Phong Nha –  
Kẻ Bàng  
VQG Bidoup –  
Núi Bà  
2
3
Công ty CP tập đoàn Trường Thịnh  
2011  
2017  
50  
50  
Công ty TNHH đầu tư xây dựng Hoàng  
Châu  
Đề án từ năm  
2014, thực hiện  
cho thuê 2017  
Công ty TNHH DVDL cáp treo Fansipan  
Sapa  
4
VQG Hoàng Liên  
50  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
- Giá cho thuê môi trường rừng:  
Bảng 1. Đơn giá cho thuê MTR  
Giá thuê  
(Đồng/ha/năm)  
TT  
Đơn vị  
Đối tượng thuê  
Công ty hóa dầu quân đội, Công  
ty Thiên Sơn – Suối Ngà  
Công ty du lịch Miền đất vua  
Các công ty còn lại  
500.000 (theo đề án thí điểm)  
1
VQG Ba Vì  
400.000 (theo đề án thí điểm)  
2% doanh thu (Quyết định 24/QĐ-TTg)  
VQG Phong Nha - Kẻ Công ty CP tập đoàn Trường 5 năm đầu 1% doanh thu, từ năm thứ 6 là  
2
3
Bàng  
Thịnh  
1,5% doanh thu  
Điều chỉnh 5 năm 1 lần. Giá thuê bằng 1%  
trên doanh thu bán vé tham quan (theo Quyết  
định định giá của UBND tỉnh)  
Công ty TNHH đầu tư xây  
dựng Hoàng Châu  
VQG Bidoup - Núi Bà  
1-2% DT bán vé (Nghị định 99/NĐ-CP về  
chính sách chi trả DVMTR). Điều chỉnh 5  
năm 1 lần.  
Công ty TNHH DVDL cáp  
treo Fansipan Sapa  
4
VQG Hoàng Liên  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
Ngoài ra, tại số một số địa phương, đơn vị  
khi triển khai hoạt động cho thuê còn có các  
quy định chi tiết như: Nguyên tắc thuê, mức độ  
tác động, quy định xây dựng cơ sở hạ tầng, tiêu  
chuẩn đối tượng thuê, trình tự và thủ tục cho  
thuê...  
3. Đánh giá tác động của cho thuê môi  
trường rừng ở Việt Nam  
a. Tác động tích cực  
Trong một khía cạnh tích cực, chính sách  
cho thuê MTR đã có những đóng góp lợi ích  
về nhiều mặt cho nhà nước, xã hội, các chủ  
154  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
rừng và cả các bên thụ hưởng các lợi ích từ  
rừng, cụ thể:  
hoạt động cho thuê MTR được thực hiện đúng  
pháp luật, trên cơ sở bình đẳng của các chủ thể,  
khuyến khích, chứ không phải bằng các mệnh  
lệnh hành chính. Điều này đặc biệt quan trọng  
trong việc đảm bảo quyền tự chủ của các  
doanh nghiệp, chủ rừng và các chủ thể liên  
quan trong hoạt động lâm nghiệp và tránh được  
mâu thuẫn với các luật liên quan như Luật  
doanh nghiệp, Luật dân sự, Luật bảo vệ môi  
trường và Luật đa dạng sinh học. Chính sách  
này cũng không mâu thuẫn với các điều ước  
quốc tế mà Việt nam có tham gia hoặc là thành  
viên.  
- Tác động đến đầu tư công của nhà nước:  
Chính sách này góp phần tiết giảm sự đầu tư  
của Nhà nước cho công tác BVPTR. Việc cho  
thuê MTR đã phần nào bổ sung nguồn thu cho  
chính các đơn vị quản lý rừng và giảm gánh  
nặng ngân sách.  
- Tác động đến chính sách BV&PTR: Các  
chủ thể khi được thuê MTR để tiến hành hoạt  
động kinh doanh DLST sẽ đầu tư tôn tạo cảnh  
quan, trồng thêm nhiều diện tích rừng để thu  
hút khách thăm quan, nghỉ dưỡng nhằm thu hồi  
vốn đầu tư. Như vậy, hoạt động đầu tư của các  
chủ thể góp phần bảo tồn và phát triển các giá  
trị của rừng.  
- Tác động đến kinh tế của địa phương:  
Chính sách cho thuê MTR kinh doanh DLST  
sẽ góp phần phát triển cơ sở hạ tầng tại địa  
phương thông qua sự đầu tư của Nhà nước,  
địa phương và các tổ chức, cá nhân được thuê  
MTR.  
- Tác động đến lao động, việc làm và thu  
nhập cho dân cư địa phương: Việc thực hiện  
chính sách cho thuê MTR sẽ tạo điều kiện cho  
việc sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ có hiệu  
quả, bên cạnh việc thu hút lao động nhàn rỗi  
tham gia vào các hoạt động kinh doanh du lịch  
cũng góp phần làm giảm đáng kể tác động tiêu  
cực từ chính nguồn lao động nhà rỗi này đến  
hoạt động bảo vệ rừng.  
- Tác động đến cơ cấu nguồn thu của các  
chủ rừng, đặc biệt là các chủ rừng quản lý rừng  
đặc dụng, rừng phòng hộ: Ngoài nguồn thu từ  
vé của du khách vào thăm quan, nghỉ dưỡng,  
các chủ rừng còn có nguồn thu khác từ hoạt  
động cho thuê MTR. Ví dụ, nguồn thu từ hoạt  
động cho thuê MTR tại vườn quốc gia Ba Vì  
năm 2006 chỉ chiếm tỷ trọng 2,15% đến năm  
2011 đã chiếm 21,4% trong tổng nguồn thu  
của Vườn.  
- Tác động đối với hệ thống pháp luật:  
Chính sách này không có bất cứ mâu thuẫn  
đáng kể nào đối với hệ thống pháp luật hiện  
hành do được xây dựng trên cơ sở một chính  
sách lớn của Nhà nước. Việc thực hiện các  
b. Tác động tiêu cực của hoạt động cho thuê  
MTR  
Ngoài các tác động tích cực nêu trên, cho  
thuê MTR cũng xảy ra một số tác động tiêu  
cực, cụ thể:  
- Trong quá trình thực hiện xây dựng cơ sở hạ  
tầng du lịch và các hoạt động du lịch sau này sẽ  
tạo ra một số tác động tiêu cực đến môi trường tự  
nhiên, cảnh quan sinh thái trong khu vực như:  
Các chất thải rắn xây dựng, khí thải từ phương  
tiện thi công, bụi và tiếng ồn...; chất thải sinh  
hoạt (rác thải, nước thải) phát sinh từ các khu du  
lịch, nhà hàng, nếu không có biện pháp thu gom  
và xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm cục bộ đến môi  
trường nước, đất và không khí.  
- Việc thực hiện các dự án xây dựng cơ sở  
hạ tầng và các hoạt động du lịch sau này trong  
khu vực cũng sẽ có những tác động nhất định  
đến đa dạng sinh học và các hệ sinh thái rừng,  
sinh cảnh sống của các loài động vật rừng như:  
Mất một số diện tích thảm thực vật khi đặt các  
công trình xây dựng chính.  
- Những hoạt động vô ý thức của con người  
luôn tiềm ẩn những nguy cơ cháy rừng, ô  
nhiễm môi trường.  
- Số lượng khách du lịch tăng lên đồng  
nghĩa với những nguy cơ lây lan dịch bệnh cho  
cộng đồng địa phương, ảnh hưởng đến hệ sinh  
thái rừng.  
- Sự khác biệt về văn hóa, tập quán và ngôn  
ngữ giữa khách du lịch với người dân địa  
phương cũng có thể xảy ra những mâu thuẫn  
và xung đột.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
155  
Kinh tế & Chính sách  
b. Một số khuyến nghị  
4. Khuyến nghị về chính sách cho thuê MTR  
ở Việt Nam  
a. Đề xuất mô hình thuê môi trường rừng ở  
Việt Nam  
- Về khu vực cho thuê: Cần quy định rõ chỉ  
cho thuê MTR ở phân khu hành chính - dịch  
vụ đối với rừng đặc dụng và khu vực ít xung  
yếu đối với rừng phòng hộ.  
Cần tiếp tục hoàn thiện chính sách cho thuê  
MTR, chi tiết các quy định liên quan như: mục  
đích thuê, loại rừng được thuê, vị trí thuê, giá  
thuê, diện tích thuê, thủ tục, điều kiện thuê  
MTR…  
Các VQG cần chủ động trong việc rà soát  
quy hoạch, lập đề án phát triển DLST để thực  
hiện cho thuê MTR.  
Thực hiện các biện pháp để quảng bá hình  
ảnh của VQG, công khai trên các phương tiện  
về các đề án cho thuê đển các nhà đầu tư. Tạo  
cơ chế công khai, minh bạch thông tin liên  
quan đến thuê MTR.  
Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng bao  
gồm cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao  
thông và nâng cấp các tuyến đường đến các  
điểm du lịch của VQG.  
Đơn giản hóa các thủ tục hành chính để thu  
hút được các nhà đầu tư; hỗ trợ các nhà đầu tư  
trong quá trình hoàn thành thủ tục đầu tư.  
Khuyến khích thực hiện xã hội hóa đầu tư; bảo  
vệ, tôn tạo di tích, thắng cảnh; bảo tồn và phục  
dựng các lễ hội, hoạt động văn hóa dân gian,  
các làng nghề phục vụ phát triển du lịch.  
4. KẾT LUẬN  
Du lịch là một thế mạnh của các VQG, phát  
triển du lịch góp phần quảng bá tiềm năng của  
rừng, giải quyết các vấn đề lao động, việc làm,  
tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống  
của nhân dân. Trong điều kiện các nguồn tài  
chính cho công tác bảo vệ tài nguyên rừng, bảo  
vệ môi trường và phát triển du lịch tại vẫn còn  
hạn hẹp, việc tìm kiếm các nguồn bổ sung là  
rất cần thiết.  
Nghiên cứu đã phân tích và tìm ra mô hình  
cho thuê MTR có triển vọng để thực hiện ở  
Việt Nam. Đã đánh giá hiệu quả kinh tế, xã  
hội, môi trường từ mô hình cho thuê MTR  
được triển khai trong thời gian qua. Đánh giá  
được tác động tích cực và tiêu cực khi thực  
hiện chính sách cho thuê MTR. Để thúc đẩy  
hoạt động cho thuê MTR trước tiên cần hoàn  
thiện hệ thống chính sách có liên quan đến  
hoạt động cho thuê MTR, tăng cường tính chủ  
động của các VQG và các chủ rừng có tiềm  
- Về thời gian cho thuê: Nên quy định  
nguyên tắc chung, không nên quy định cụ thể số  
năm để tránh xung đột, mâu thuẫn với các quy  
định khác. Có thể đưa ra quy định là thời gian  
cho thuê do bên cho thuê và bên thuê tự thoả  
thuận, xác định trong hợp đồng, phải đảm bảo  
phù hợp với thời hạn cho thuê đất theo quy định  
của Luật đất đai và pháp luật khác có liên quan.  
- Về mức giá cho thuê: Nên quy định thống  
nhất mức giá cho thuê tối thiểu bằng số tương  
đối (%) để tránh biến động, thay đổi giá cả  
chung trên thị trường. Cụ thể:  
+ Mức giá cho thuê MTR tối thiểu bằng 2%  
doanh thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ  
trong kỳ của bên thuê tại khu vực thuê MTR.  
+ Mức giá cụ thể do hai bên tự thoả thuận  
và xác định trong hợp đồng nhưng không thấp  
hơn mức giá tối thiểu được quy định như trên.  
+ Định kỳ 5 năm một lần, bên cho thuê và  
bên thuê MTR rà soát, xác định lại mức thuê  
cho giai đoạn tiếp theo.  
+ Giá cho thuê MTR của các chủ rừng còn  
được tính thêm mức hệ số phù hợp với từng  
loại rừng, khu vực có rừng, tính đa dạng sinh  
học, cảnh quan của rừng và các giá trị khác…  
- Hạn mức diện tích cho thuê: Nên quy định  
mở, theo hướng đảm bảo phù hợp với quy  
hoạch phân khu hành chính, dịch vụ và nhu  
cầu, năng lực thực tế về tài chính của bên thuê.  
Hạn mức diện tích cho thuê MTR do hai bên tự  
thoả thuận trong hợp đồng thuê trên cơ sở đảm  
bảo phù hợp với quy hoạch, đề án phát triển  
DLST được cấp có thẩm quyền phê duyệt và  
nhu cầu, năng lực tài chính của bên thuê.  
- Phương thức, điều kiện cho thuê: Cho thuê  
MTR được tiến hành thông qua việc đấu giá  
công khai theo pháp luật về giá, đầu thấu và  
quản lý tài sản công.  
156  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
Báo cáo hoạt động thuê môi trường rừng để kinh doanh  
du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng. Hà Nội.  
2. Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn (2007),  
Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN, ngày 27/12/2007 của  
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về  
quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các  
Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, Hà Nội.  
3. Bùi Thị Minh Nguyệt (2013). “Chính sách thuê  
môi trường rừng tại các VQG ở khu vực phía Bắc  
Việt nam, nghiên cứu tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến  
En”. Báo cáo Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Kinh  
tế Quốc dân.  
năng cho thuê, ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng để  
phát triển DLST, tạo điều kiện thuận lợi để nhà  
đầu tư có thể đầu tư phát triển DLST tại các  
khu rừng có tiềm năng và lợi thế phát triển  
DLST.  
Lời cảm ơn  
Kết quả nghiên cứu được thực hiện từ kết quả đề tài  
nghiên cứu cấp Bộ: “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng  
các mô hình làm cơ sở đề xuất chính sách cho thuê môi  
trường rừng ở Việt Nam”, Bộ NN&PTNT, 2018. Tác giả  
xin trân trọng cảm ơn Bộ NN&PTNT đã hỗ trợ kinh phí  
thực hiện đề tài.  
4. Bùi Thị Minh Nguyệt và nhóm nghiên cứu (2018),  
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng các mô hình làm cơ sở  
đề xuất chính sách cho thuê môi trường rừng ở Việt Nam,  
Đề tài cấp Bộ, Bộ NN&PTNT, 2018.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2008).  
FOREST ENVIRONMENT LEASE IN VIETNAM:  
SITUATION AND POLICY RECOMMENDATIONS  
Bui Thi Minh Nguyet1  
1Vietnam National University of Forestry  
SUMMARY  
Renting forest environment for ecotourism business is an interesting activity in special-use forests in Vietnam,  
especially in national parks. Ba Vi National Park is one of the earliest national park to deploy forest  
environmental leasing activities. By the end of 2018, Vietnam had 13 organizations implementing forest  
environmental leasing. The main purpose of leasing is ecotourism business. The study results summarized the  
leasing models in terms of the type of forest for lease, the location of the lease, the purpose of the lease, the  
tenant, the time and price for lease, etc. The leasing forest environment has economic, social and environmental  
efficiency in the leasing areas such as: developing ecotourism, developing infrastructure systems, generating  
revenue, and reducing investment pressure from the state budget. The policy of leasing forest environment has  
also had positive effects such as impact on public investment, forest protection and development, the local  
economy, employment, income of local residents, and legal system. In addition, the policy implemented also  
causes some negative impacts if not well managed such as conservation of forest resources, environmental  
pollution, cultural conflicts, etc. In this study, the author has proposed policies to promote forest environment  
leasing activities in Vietnam.  
Keywords: Ecotourism, forest environment, national parks, policy for leasing forest environment.  
Ngày nhận bài  
: 08/9/2019  
: 15/10/2019  
: 21/10/2019  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
157  
pdf 7 trang yennguyen 20160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thuê môi trường rừng ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị chính sách", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthue_moi_truong_rung_o_viet_nam_thuc_trang_va_khuyen_nghi_ch.pdf