Thực trạng quản lí hoạt động đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực của học sinh ở các trường tiểu học quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 43-50  
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC  
THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC  
QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Nguyễn Anh Ngọc - Trường Tiểu học Duy Tân, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài: 10/4/2019; ngày chỉnh sửa: 22/4/2019; ngày duyệt đăng: 08/5/2019.  
Abstract: We conducted surveys on 157 people including management officers, teachers and  
students of 8 primary schools in Tan Phu district, Ho Chi Minh city to evaluate the current situation  
of managing innovation activities of teaching methods by approaching the students' competency.  
The research results will be the basis for proposing management measures in accordance with the  
reality of this district.  
Keywords: The current situation, innovation of teaching methods, approaching the students’  
competencies, primary school.  
1. Mở đầu  
2. Nội dung nghiên cứu  
Thời đại ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, nhiều 2.1. Đối tượng, nội dung, thời gian và phương pháp  
khảo sát  
- Đối tượng: Chúng tôi khảo sát trên 24 cán bộ quản  
lí (CBQL), trong đó có 8 hiệu trưởng, 16 phó hiệu  
trưởng, 118 giáo viên (GV) và 15 HS từ 8 trường tiểu học  
trong quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh (Duy Tân, Hiệp  
Tân, Lê Thánh Tông, Phan Chu Trinh, Huỳnh Văn  
Chính, Hồ Văn Cường, Âu Cơ, Tân Hương).  
- Nội dung: Thực trạng nhận thực tầm quan trọng và  
kết quả thực hiện các chức năng QL hoạt động đổi mới  
PPDH theo tiếp cận NL của HS ở một số trường tiểu học  
quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh.  
nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đang chuyển hướng  
sang hướng phát triển năng lực (NL) người học. Chương  
trình giáo dục phổ thông Singapore đưa ra mục tiêu giúp  
học sinh (HS) phát triển các NL chuyên môn và góp phần  
vào việc phát triển các NL chung nhằm hình thành nhân  
cách. Các phương pháp dạy học (PPDH) được khuyến  
khích sử dụng như: dạy học qua trải nghiệm, tìm tòi,  
khám phá, nghiên cứu, phương pháp lấy HS làm trung  
tâm. Đối với chương trình giáo dục phổ thông của nước  
Anh, PPDH phải phát huy sự tìm tòi, khám phá, dạy học  
cách kiến tạo, dạy học gắn với thực tiễn cuộc sống. Còn  
PPDH trong chương trình phổ thông của Hàn Quốc lại  
chú ý xây dựng môi trường học tập thân thiện; đꢀy mạnh  
dạy và học tích cực nhằm phát triển NL của HS; tăng  
cường vai trò chủ động, tích cực của HS.  
-Thờigianvàphươngpháp:Thờigiankhảosáttừtháng  
12/2018 đến tháng 3/2019 với phương pháp được sử dụng  
là: điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và nghiên cứu sản  
phꢀm. Đối với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, điểm  
số các câu hỏi được quy đổi theo thang bậc 5 ứng với các  
mức độ. Trong đó, điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 5, chia  
đều thang đo làm 5 mức. Điểm trung bình của các nội dung  
khảo sát được chia ra các mức độ: 1,0-1,80 điểm:  
Kém/Khôngquantrọng;1,81-2,60điểm:Yếu/Ítquantrọng;  
2,61-3,40 điểm: Trung bình/Khá quan trọng; 3,41-4,20  
điểm: Khá/Quan trọng; 4,21-5,0 điểm: Tốt/Rất quan trọng.  
Trước đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế, PPDH  
truyền thống khó đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo  
dục hiện nay của nước ta. Việc cung cấp đầy đủ lượng  
kiến thức cơ bản, toàn diện cho HS là điều không khả thi;  
dạy học phải giúp hình thành và phát triển NL tư duy  
sáng tạo, HS phải có khả năng tự học, tự chiến lĩnh tri  
thức, không ngừng bổ sung, làm giàu vốn tri thức của bản  
thân. Do đó, việc đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của  
HS là một là tất yếu ở các trường tiểu học hiện nay. Tuy  
nhiên, công tác quản lí (QL) việc đổi mới PPDH theo tiếp  
cận NL của HS được thực hiện chưa tốt. Để có những  
biện pháp QL khả thi, cần đánh giá lại thực trạng vấn đề  
này ở các trường tiểu học. Bài viết trình bày thực trạng  
quản lí hoạt động đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp  
cận năng lực của học sinh ở các trường tiểu học quận Tân  
Phú, TP. Hồ Chí Minh.  
2.2. Kết quả khảo sát  
2.2.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của quản  
lí hoạt động đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp cận  
năng lực của học sinh  
Theo bảng 1, với số ĐTB 4,43 cho thấy, CBQL và  
GV đánh giá cao tầm quan trọng của QL hoạt động đổi  
mới PPDH theo tiếp cận NL của HS ở các trường tiểu  
học hiện nay. Tất cả các nội dung đều được đa số CBQL,  
GV đánh giá ở mức độ “Rất quan trọng”. Tuy nhiên, với  
ĐLC 0,71 cho thấy sự phân tán trong các kết quả đánh  
43  
Email: nguyenanhngocth@gmail.com  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 43-50  
Bảng 1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của quản lí hoạt động đổi mới PPDH  
theo tiếp cận NL của HS ở trường tiểu học  
Mức độ quan trọng  
STT  
1
Nội dung  
CBQL  
GV  
Tổng hợp  
ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH  
Tác động tích cực đến các thành tố và  
thúc đꢀy đổi mới toàn diện hoạt động 4,79 0,41  
dạy học.  
3
4,27 0,77  
7
4,36 0,75  
7
Giúp nâng cao chất lượng giáo dục  
4,83 0,38  
2
3
2
6
4,37 0,71  
4,42 0,73  
4
1
4,45 0,69  
4,47 0,70  
4
2
toàn diện của nhà trường.  
Giúp nâng cao NL chuyên môn,  
4,75 0,44  
nghiệp vụ cho GV.  
Thúc đꢀy, nâng cao hiệu quả hoạt  
động đổi mới PPDH theo tiếp cận NL 4,79 0,41  
HS của GV.  
4
5
3
7
4,36 0,7  
5
1
4,43 0,68  
5
2
Góp phần bồi dưỡng NL ứng dụng  
công nghệ thông tin và sử dụng 4,71 0,46  
phương tiện dạy học hiện đại cho GV.  
4,42 0,72  
4,40 0,74  
4,47 0,69  
4,49 0,71  
Phát triển NL tự học, tính tích cực, chủ  
4,92 0,28  
6
7
1
3
3
6
1
6
động, sáng tạo của HS.  
Thực hiện yêu cầu đổi mới chương  
4,79 0,51  
4,29 0,76  
4,36 0,73  
4,37 0,75  
4,43 0,71  
trình giáo dục phổ thông tổng thể.  
CHUNG  
4.80 0,41  
(Ghi chú: ĐTB: Điểm trung bình; ĐLC: Độ lệch chuẩn; TH: Thứ hạng)  
giá là khá lớn, vẫn còn nhiều ý kiến đánh giá ở mức  
“Quan trọng” và “Khá quan trọng”, cá biệt vẫn còn ý  
kiến đánh giá ở mức “Ít quan trọng”. CBQL đánh giá rất  
cao và khá thống nhất về tầm quan trọng của việc QL hoạt  
động đổi mới PPDH với ĐTB 4,80 và ĐLC 0,41. Còn với  
GV thì mức độ đồng ý thấp hơn với ĐTB 4,36, nhưng độ  
phân tán trong các kết quả đánh giá lại lớn hơn (ĐLC là  
0,73). Điều này chứng tỏ, vẫn còn một bộ phận GV chưa  
nhận thức hết tầm quan trọng của hoạt động này.  
Tầm quan trọng của hoạt động QL trong việc “Nâng  
caoNLchuyênmôn, nghiệpvụchoGV”và “Bồi dưỡng NL  
ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng phương tiện dạy  
họchiệnđạichoGV”đượcCBQL,GVđánhgiáĐTBcùng  
là 4,47, xếp TH 2. CBQL, GV đánh giá hai nội dung này  
chủ yếu ở mức độ “Rất quan trọng” và “Quan trọng”. Tuy  
nhiên, ĐLC 0,70 và 0,69 cho thấy, vẫn còn sự phân tán khá  
lớntrongcáckếtquảđánhgiá.Nộidung2-“Nângcaochất  
lượng giáo dục toàn diện của nhà trường” và nội dung 4 -  
“Thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động đổi mới PPDH  
theotiếpcậnNLHScủaGV”cũng được đánh giá với ĐTB  
lầnlượt là 4,45, 4,43; ĐLC 0,69 và 0,68. Điềunày cũngcho  
thấy,tuyđasốCBQL, GVđánh giáhainộidungnàyởmức  
độ “Rất quan trọng” nhưng vẫn còn một bộ phận đánh giá  
ở “Quan trọng”, “Khá quan trọng”, cá biệt có ý kiến đánh  
giá ở mức “Không quan trọng”. Như vậy, một bộ phận  
CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ được tầm quan trọng  
của QL hoạt động đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS  
tác động đến việc nâng cao NL chuyên môn, nghiệp vụ của  
GV, chất lượng giáo dục toàn diện và nâng cao hiệu quả  
hoạt động đổi mới PPDH của GV ở các trường tiểu học.  
Nội dung 6 - “Phát triển NL tự học, tính tích cực, chủ  
động, sáng tạo của HS” được CBQL đánh giá hầu hết ở  
mức độ “Rất quan trọng” với ĐTB 4,92, ĐLC 0,28. Đây  
cũng là nội dung có TH cao nhất theo đánh giá của GV với  
ĐTB4,49.MặcdùmứcđộđánhgiákhôngcaobằngCBQL  
nhưng đa số GV cũng nhận thức được tầm quan trọng QL  
hoạtđộngđổimớiPPDHtácđộngđếnpháttriểnNLtựhọc,  
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Tuy nhiên, với  
ĐLC 0,71 cho thấy sự phân tán trong các kết quả đánh giá  
làkhálớn.ChứngtỏvẫncònmộtsốGVchưađánhgiáđúng  
tầm quan trọng của QL hoạt động đổi mới PPDH theo tiếp  
cận NL của HS tác động đến nội dung này.  
44  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 43-50  
Ngoài ra, QL hoạt động đổi mới PPDH theo tiếp cận thấy, vẫn còn sự phân tán khá lớn trong các kết quả đánh  
NL của HS cũng “Tác động tích cực đến các thành tố và giá. Chứng tỏ, một số CBQL chưa thực hiện tốt chức  
thúc đẩy đổi mới toàn diện hoạt động dạy học (HĐDH)” năng QL này.  
và góp phần “Thực hiện yêu cầu đổi mới chương trình  
giáo dục phổ thông tổng thể”. Đây là hai nội dung có TH  
thấp nhất trong bảng 1, nhưng vẫn có ĐTB khá cao, lần  
lượt là 4,36 và 4,37 với ĐLC đều là 0,75. Hai nội dung  
được đa số CBQL, GV đánh giá ở mức độ “Rất quan  
trọng” và “Quan trọng”; song vẫn có một số GV đánh  
giá ở mức “Khá quan trọng” và cá biệt có GV đánh giá  
ở mức “Không quan trọng” và “Ít quan trọng”. Chứng  
tỏ, nhận thức của một số ít GV về tầm quan trọng của QL  
hoạt động đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS tác  
động đến các nội dung này là chưa cao.  
Nghiên cứu Kế hoạch năm học và Báo cáo sơ kết của  
8 trường tiểu học trong năm học 2018-2019, người  
nghiên cứu nhận thấy: Mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp  
thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS đề ra  
trong kế hoạch năm học của các trường vẫn còn chung  
chung, chưa có sự định hướng một cách cụ thể, chi tiết,  
các giải pháp đưa ra chưa mang tính đột phá, chưa tạo  
điểm tựa cho việc thực hiện đổi mới PPDH của GV. Các  
tổ chuyên môn vẫn chưa đầu tư nhiều vào nội dung đổi  
mới PPDH, chưa tổ chức được nhiều tiết thao giảng và  
thiết kế bài dạy theo định hướng phát triển NL của HS.  
2.2.2. Thực trạng lập kế hoạch cho hoạt động đổi mới  
phương pháp dạy học theotiếp cận nănglực của học sinh  
Để làm rõ hơn kết quả từ bảng hỏi, người nghiên cứu  
tiến hành phỏng vấn CBQL, GV, các ý kiến đều tập trung  
Kết quả khảo sát trong bảng 2 cho thấy, tất cả các nội cho rằng: “Hiệu trưởng thực hiện chưa thực sự tốt việc  
dung đều mức độ”Tốt” với ĐTB chung cho các biện lập kế hoạch thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận NL  
pháp thực hiện là 4,37. Tuy nhiên, với ĐLC là 0,62 cho HS là do các căn cứ, định hướng việc dạy học theo tiếp  
Bảng 2. Thực trạng lập kế hoạch cho hoạt động đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS tại trường tiểu học  
Kết quả thực hiện  
STT  
Biện pháp  
CBQL  
GV  
Tổng hợp  
ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH  
Xác định mục tiêu đổi mới PPDH theo tiếp cận NL  
HS.  
1
2
3
4,63 0,49  
4,46 0,59  
4,42 0,58  
4,42 0,65  
2
5
8
4,33 0,63  
4,34 0,62  
4,38 0,69  
6
5
4
4,38 0,62  
4,36 0,61  
4,39 0,67  
5
6
4
Tăng cường tính chủ động, tự giác, tích cực, độc lập,  
sáng tạo của HS.  
Tạo động cơ, hứng thú học tập, giúp HS vận dụng  
kiến thức, kĩ năng để giải quyết vấn đề từ thực tiễn,  
Chú trọng rèn tư duy sáng tạo và phương pháp tự học  
cho HS.  
4
5
8
2
4,31 0,61  
4,44 0,61  
7
1
4,33 0,62  
4,47 0,59  
7
1
Tăng cường sử dụng các PPDH tích cực, hiện đại. 4,63 0,49  
Đổi mới cách thức sử dụng PPDH truyền thống  
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của 4,46 0,59  
HS.  
6
7
5
1
4,41 0,62  
4,40 0,62  
2
3
4,42 0,61  
4,45 0,60  
3
2
Đꢀy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, PTDH  
hiện đại vào hoạt động dạy học nhằm tích cực hóa 4,71 0,46  
hoạt động nhận thức của HS.  
Sử dụng linh hoạt, phối hợp các PPDH, kết hợp với  
các kĩ thuật dạy học và phương tiện dạy học nhằm  
tích cực hóa hoạt động nhận thức, phát huy tiềm  
năng, phát triển NL của HS.  
8
4,42 0,58  
8
4,31 0,66  
4,27 0,65  
7
9
4,33 0,65  
4,30 0,64  
7
Xây dựng quy trình đổi mới PPDH theo tiếp cận NL  
HS.  
9
4,46 0,59  
4
4
9
9
Xác định cách thức thực hiện đổi mới PPDH theo  
4,50 0,66  
10  
4,26 0,62 10 4,30 0,63  
4,35 0,63 4,37 0,62  
tiếp cận NL của HS.  
CHUNG  
4,51 0,57  
45  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 43-50  
cận NL HS của ngành chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu tính tại lớp chưa thực sự tạo được hứng thú học tập của HS,  
pháp lí để các trường triển khai thực hiện. Mặt khác, các HS chủ yếu được học các nội dung trong sách giáo khoa,  
trường tiểu học vẫn phải thực hiện dạy học theo chuẩn ít được giải quyết các tình huống từ thực tế. Ở các tiết có  
kiến thức kĩ năng, việc dạy học theo tiếp cận NL của HS người dự giờ, HS hứng thú học tập hơn vì GV sử dụng  
dường như chỉ mang tính khuyến khích, thí điểm, chưa các PPDH tích cực và cho HS giải quyết các tình huống  
bắt buộc tất cả GV phải thực hiện. Bên cạnh đó, còn thiếu liên quan đến thực tiễn cuộc sống”.  
tiêu chí để đánh giá việc dạy học theo phát triển được NL  
của HS”.  
Đối với nội dung 1 - “Xác định mục tiêu đổi mới  
PPDH theo tiếp cận NL HS” là nội dung có ĐTB chênh  
Nội dung 5 - “Tăng cường sử dụng các PPDH tích lệch nhất giữa CBQL và GV. ĐTB của CBQL là 4,63  
cực, hiện đại” và nội dung 7 - “Đẩy mạnh ứng dụng công với ĐLC 0,49, chứng tỏ đa CBQL đánh giá việc xác định  
nghệ thông tin, PTDH hiện đại vào HĐDH nhằm tích mục tiêu trong xây dựng kế hoạch đổi mới PPDH là  
cực hóa hoạt động nhận thức của HS” là hai nội dung có “Tốt”, sự phân tán trong đánh giá là không đáng kể. Bên  
TH cao nhất với ĐTB lần lượt là 4,47 và 4,45. Điều đó cạch đó, ĐTB của GV là 4,33 với ĐLC 0,63 cho thấy,  
chứng tỏ, CBQL và GV đều đánh giá cao về hiệu quả của mặc dù đa số GV vẫn đánh giá ở mức “Tốt”, nhưng độ  
các biện pháp này. Tuy nhiên, với ĐLC 0,59 và 0,60, vẫn phân tán trong các mức độ đánh giá là khá lớn.  
thể hiện phân tán trong các kết quả đánh giá.  
Để làm rõ hơn kết quả từ bảng hỏi, người nghiên cứu  
Kết quả phỏng vấn sâu thống nhất với kết quả khảo tiến hành phỏng vấn GV, 7/7 GV đều cho rằng: “Các  
sát bằng bảng hỏi, 3/3 CBQL được phỏng vấn đều cho mục tiêu, nhiệm vụ thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp  
rằng: “Trong việc xây dựng kế hoạch năm học, nhà cận NL của HS mà nhà trường xây dựng chưa cụ thể, GV  
trường luôn đưa ra các giải pháp nhằm giúp GV tăng còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng trong việc thực  
cường sử dụng các PPDH tích cực và đẩy mạnh ứng hiện, do đó hiệu quả đạt được chưa cao”. Qua việc  
dụng công nghệ thông tin, cũng như sử dụng các phương nghiên cứu Kế hoạch năm học của 8 trường tiểu học,  
tiện dạy học hiện đại trong việc đổi mới PPDH. Tuy người nghiên cứu nhận thấy các mục tiêu đổi mới PPDH  
nhiên, tính hiệu quả của các GV là chưa đồng đều, một vẫn còn chung chung, chưa đề ra được những nhiệm vụ,  
bộ phận GV chưa sử dụng linh hoạt các PPDH tích cực biện pháp cụ thể làm điểm tựa cho GV trong việc đổi mới  
cũng như ứng dụng công nghệ thông tin một cách hiệu PPDH đạt hiệu quả.  
quả trong dạy học nhất là GV lớn tuổi”.  
Nội dung 2 - “Tăng cường tính chủ động, tự giác,  
“Đổi mới cách thức sử dụng PPDH truyền thống tích cực, độc lập, sáng tạo của HS” và nội dung 4 - “Chú  
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS” trọng rèn tư duy sáng tạo và phương pháp tự học cho  
là biện pháp mà các trường đã thực hiện tốt với ĐTB HS” có ĐTB lần lượt là 4,36, 4,33 và ĐLC 0,61, 0,62.  
4,42, TH 3. Điều đó cho thấy, PPDH truyền thống vẫn Mặc dù, có TH 6 và 7 nhưng đây cũng là hai biện pháp  
được GV sử dụng phổ biến tại các trường. Qua hoạt động mà CBQL và GV đánh giá các trường đã thực hiện tốt.  
phỏng vấn, 3/3 CBQL đều cho rằng: “Tích cực hóa các Các kết quả đánh giá chủ yếu ở mức “Tốt” và “Khá”,  
PPDH truyền thống là biện pháp mà nhà trường quan tuy nhiên vẫn còn một số đánh giá ở mức “Trung bình”.  
tâm chỉ đạo GV thực hiện. Thực tế, GV vẫn còn sử dụng Chứng tỏ, đây cũng là những biện pháp được các trường  
PPDH truyền thống khá phổ biến trong các tiết dạy quan tâm thực hiện.  
nhưng đa số GV sử dụng các PPDH này khá linh hoạt,  
phát huy được sự hứng thú học tập và tính tích cực của  
HS. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận GV chưa tích cực  
hóa được các PPDH này”.  
Nội dung 8 - “Sử dụng linh hoạt, phối hợp các  
PPDH, kết hợp với các kĩ thuật dạy học và PTDH nhằm  
tích cực hóa hoạt động nhận thức, phát huy tiềm năng,  
phát triển NL của HS” được CBQL, GV đánh giá ĐTB  
Biện pháp “Tạo động cơ, hứng thú học tập, giúp HS 4,33 với ĐLC 0,65 và xếp TH 7. Điều này cho thấy, đa  
vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết vấn đề từ thực số CBQL, GV đánh giá ở mức độ “Tốt” và “Khá”,  
tiễn” cũng được CBQL, GV đánh giá ở mức tốt với ĐTB nhưng vẫn còn sự phân tán khá lớn trong các mức độ  
4,39, ĐLC 0,67 xếp TH 4. Tuy đa số CBQL, GV cho đánh giá. Qua phỏng vấn, 3/3 CBQL đều cho rằng: “Việc  
rằng, các trường thực hiện biện pháp này ở mức độ “Tốt” đổi mới PPDH của nhà trường chủ yếu chú trọng vào  
nhưng sự phân tán trong các kết quả đánh giá vẫn còn hai hướng là sử dụng các PPDH tích cực và ứng dụng  
khá lớn. Điều nàychứng tỏ, một sốCBQL, GV chưa thực công nghệ thông tin vào đổi mới PPDH. Biện pháp sử  
sự đánh giá cao việc thực hiện biện pháp này tại các dụng phối hợp các PPDH kết hợp với các kĩ thuật dạy  
trường.  
học vẫn chưa được CBQL coi trọng”.  
Để làm rõ hơn kết quả từ bảng hỏi, người nghiên cứu  
Nội dung 9 - “Xây dựng quy trình đổi mới PPDH  
tiến hành phỏng vấn HS, 4/15 HS cho rằng: “Các tiết học theo tiếp cận NL HS” và nội dung 10 - “Xác định cách  
46  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 43-50  
thức thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS” lượt là 0,65 và 0,61. Tuy cả hai nội dung được CBQL,  
có cùng ĐTB 4,30 là hai nội dung có TH thấp nhất. ĐLC GV đánh giá chủ yếu ở mức “Tốt” nhưng vẫn còn độ  
của hai nội dung này lần lượt là 0,64 và 0,63 cho thấy, phân tán khá lớn trong các kết quả đánh giá. Điều đó cho  
tuy vẫn được đánh giá ở mức “Tốt” nhưng vẫn còn thể thấy, một bộ phận CBQL, GV chưa đánh giá cao việc  
hiện sự phân tán khá lớn trong các kết quả đánh giá. Qua thực hiện các nội dung này tại các trường được khảo sát.  
việc nghiên cứu Kế hoạch năm học của 8 trường tiểu học,  
người nghiên cứu nhận thấy: Việc xác định quy trình và  
cách thực thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận NL HS  
của các trường vẫn chưa cụ thể và chi tiết, các định  
hướng vẫn còn chung chung.  
Qua việc nghiên cứu Kế hoạch năm học của 8 trường  
tiểu học, người nghiên cứu nhận thấy: Công tác tổ chức  
được hiệu trưởng các trường thực hiện khá hiệu quả. Tuy  
nhiên, việc xây dựng cơ cấu tổ chức và quy định sự phối  
hợp giữa các bộ phận, cá nhân là hai khâu vẫn chưa thể  
hiện được tính đồng bộ, chưa chặt chẽ dẫn đến hiệu quả  
việc thực hiện đổi mới PPDH chưa đạt hiệu quả cao.  
2.2.3. Thực trạng tổ chức hoạt động đổi mới phương  
pháp dạy học theo tiếp cận năng lực của học sinh  
Bảng 3. Thực trạng việc tổ chức hoạt động đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS tại trường tiểu học  
Mức độ thực hiện  
STT  
Nội dung  
CBQL  
GV  
Tổng hợp  
ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH  
Xây dựng cơ cấu tổ chức thực hiện đổi mới PPDH  
theo tiếp cận NL của HS.  
1
2
4,63 0,58  
4,75 0,53  
3
1
4,42 0,66  
4,47 0,68  
4
2
4,46 0,65  
4,51 0,66  
3
1
Phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cho các thành viên  
Ban chỉ đạo đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS.  
Phân công nhiệm vụ cho các bộ phận, cá nhân trong  
3
4
cơ cấu tổ chức nhằm thực hiện đổi mới PPDH theo 4,67 0,56  
tiếp cận NL của HS.  
2
4
4,48 0,64  
1
3
4,51 0,63  
1
3
Quy định phối hợp giữa các bộ phận, cá nhân trong  
cơ cấu tổ chức nhằm thực hiện đổi mới PPDH theo 4,50 0,59  
tiếp cận NL của HS.  
4,46 0,62  
4,46 0,65  
4,46 0,61  
4,49 0,64  
CHUNG  
4,64 0,57  
Kết quả bảng 3 cho thấy, với ĐTB chung 4,49, ĐLC  
Bên cạnh đó, người nghiên cứu cũng tiến hành phỏng  
0,64, đa số ý kiến đánh giá ở mức độ “Tốt”. Tuy nhiên, vấn sâu CBQL, 3/3 người được hỏi cho rằng: “Việc quy  
độ phân tán trong các mức độ đánh giá vẫn còn khá cao, định sự phối hợp giữa các bộ phận và cá nhân trong tổ  
chứng tỏ một số CBQL chưa thực hiện hiệu quả hoạt chức thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS  
động này.  
là nội dung mà các trường thực hiện vẫn chưa thực sự  
hiệu quả”.  
Nội dung 2 - “Phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cho  
các thành viên Ban chỉ đạo đổi mới PPDH theo tiếp cận  
NL của HS” và nội dung 3 - “Phân công nhiệm vụcho các  
bộ phận, cá nhân trong cơ cấu tổ chức” là hai nội dung có  
ĐTB cao nhất cùng là 4,51, ĐLC lần lượt là 0,66 và 0,63.  
Điều nàycho thấy, CBQL, GV đánh giá caocác hoạt động  
này tại các trường. Các kết quả đánh giá chủ yếu ở mức độ  
“Tốt”và “Khá”, tuynhiênvẫncònmột sốýkiếnchorằng  
hoạt động này chỉ đạt ở mức độ “Trung bình”.  
2.2.4. Thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động đổi mới  
phương pháp dạy học theotiếp cận nănglực của học sinh  
Kết quả khảo sát trong bảng 4 với ĐTB chung là 4,64,  
ĐLC 0,54 cho thấy, các ý kiến đánh giá của CBQL và  
GV chủ yếu đánh giá ở mức độ “Tốt”. Bên cạch đó vẫn  
còn có một bộ phận đánh giá ở mức độ “Khá” và cá biệt  
có đánh giá ở mức độ “Trung bình”. Điều này thể hiện  
công tác chỉ đạo thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận  
NL của HS vẫn chưa nhận được sự đánh cao của tất cả  
CBQL và GV.  
Nội dung 1 - “Xây dựng cơ cấu tổ chức thực hiện đổi  
mới PPDH theo tiếp cận NL của HS” và nội dung 4 -  
“Quy định phối hợp giữa các bộ phận, cá nhân trong cơ  
cấu tổ chức nhằm thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận  
Nội dung 4 - “Chỉ đạo GV thực hiện đổi mới PPDH  
NL của HS” được đánh giá với ĐTB cùng 4,46, ĐLC lần theo tiếp cận NL của HS” ĐTB 4,73, có TH 1. Chứng tỏ,  
47  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 43-50  
Bảng 4. Thực trạng việc chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH  
theo tiếp cận NL HS của Hiệu trưởng trường tiểu học  
Mức độ thực hiện  
GV  
ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH  
STT  
Nội dung  
CBQL  
Tổng hợp  
Xác định định hướng đổi mới PPDH theo tiếp cận  
NL của HS.  
1
2
3
4
4,75 0,44  
4,79 0,41  
4,42 0,58  
4,79 0,41  
3
1
5
1
4,62 0,57  
4,66 0,57  
4,62 0,55  
4,71 0,52  
4
2
4
1
4,64 0,55  
4,68 0,55  
4,58 0,56  
4,73 0,51  
3
2
5
1
Chỉ đạo tổ chuyên môn thực hiện đổi mới PPDH theo  
tiếp cận NL của HS.  
Chỉ đạo các đoàn thể trong nhà trường thực hiện đổi  
mới PPDH theo tiếp cận NL của HS.  
Chỉ đạo GV thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận  
NL của HS.  
Chỉ đạo việc phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học  
5
6
sinh trong việc đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của 4,38 0,58  
HS.  
6
4
4,62 0,52  
4
2
4,58 0,54  
5
3
Chỉ đạo việc động viên, khen thưởng trong hoạt động  
4,54 0,59  
4,66 0,53  
4,65 0,54  
4,64 0,54  
4,64 0,54  
đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS.  
CHUNG  
4,61 0,50  
đa số CBQL và GV đánh giá ở mức “Tốt”. Nội dung 2 - trung cho rằng: “Hiệu trưởng đã xác được những định  
“Chỉ đạo tổ chuyên môn thực hiện đổi mới PPDH theo hướng và chỉ đạo GV, tổ chuyên môn thực hiện đổi mới  
tiếp cận NL của HS” có ĐTB 4,68, TH 2. Đây cũng là PPDH. hiệu trưởng cũng đã xây dựng cơ chế động  
nội dung được đa số CBQL, GV đánh giá ở mức “Tốt”. viên khen thưởng cho tập thể, cá nhân thực hiện tốt  
Tuy nhiên, với ĐLC của hai nội dung này lần lượt là việc đổi mới PPDH. Tuy nhiên, việc thực hiện khen  
0,51 và 0,55 vẫn thể hiện sự phân tán trong các kết quả thưởng chưa tạo được động lực mạnh mẽ từ các bộ  
đánh giá.  
phận và cá nhân. CBQL có định hướng, chỉ đạo và tư  
vấn GV nhưng vẫn chưa thực sự sâu sát, chưa tháo gỡ  
hết những khó khăn cho GV trong việc thực hiện nhiệm  
vụ còn khá mới mẻ này”.  
Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 10 CBQL  
và GV, các ý kiến đều tập trung cho rằng: “CBQL có sự  
chỉ đạo sâu sát đến GV và tổ chuyên môn trong việc thực  
hiện đổi mới PPDH; chỉ đạo tổ chuyên môn thực hiện  
đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt. Tuy nhiên, việc  
thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS vẫn  
còn khá mới mẻ, ngành vẫn chưa có định hướng và chỉ  
đạo cụ thể, các trường vẫn thực hiện dạy học theo chuẩn  
kiến thức kĩ năng, CBQL còn thiếu điểm tựa trong đánh  
giá tiết dạy của GV theo hướng phát triển NL của HS.  
Do đó, sự chỉ đạo của CBQL đối với hoạt động này vẫn  
chưa thực sự hiệu quả”.  
Nội dung 3 - “Chỉ đạo các đoàn thể trong nhà trường  
thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS” và  
nội dung 5 - “Chỉ đạo việc phối hợp với Ban đại diện cha  
mẹ học sinh trong việc đổi mới PPDH theo tiếp cận NL  
của HS” với ĐTB 4,58, ĐLC lần lượt là 0,56, 0,54 cùng  
xếp TH 5. Điều này cho thấy, mặc dù vẫn được đa số  
CBQL, GV đánh giá ở mức độ “Tốt” và “Khá” nhưng  
lại có TH thấp nhất.  
Qua phỏng vấn sâu 10 CBQL, GV, đa số ý kiến cho  
rằng: “Việc chỉ đạo các đoàn thể, các bộ phận, phối hợp  
với Ban đại diện cha mẹ học sinh tạo sự đồng thuận,  
thống nhất, xây dựng bầu không khí thân thiện, chia sẻ  
là nhiệm vụ khá khó khăn đối với hiệu trưởng các trường  
tiểu học. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này phải cần  
Việc “Xác định đúng định hướng đổi mới PPDH  
theo tiếp cận NL của HS” ở nội dung 1 và việc “Chỉ đạo  
việc động viên, khen thưởng trong hoạt động đổi mới  
PPDH theo tiếp cận NL của HS” ở nội dung 6 cũng được  
CBQL, GV đánh giá cao. ĐTB chung là 4,64 (TH 3) với  
ĐLC lần lượt là 0,55 và 0,54 cho thấy, tuy vẫn còn độ  
phân tán trong các kết quả đánh giá nhưng đa số CBQL, đến cái tài, cái tâm và cái tầm của người hiệu trưởng.  
GV đều đánh giá nhà trường thực hiện tốt nội dung này.  
Ngoài ra, còn phụ thuộc vào nhận thức và điều kiện sống  
của phụ huynh HS. Do đó, mức độ đạt được nội dung này  
chưa thực sự cao”.  
Để làm rõ hơn các số liệu từ bảng hỏi, người nghiên  
cứu tiến hành phỏng vấn CBQL, GV, các ý kiến đều tập  
48  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 43-50  
2.2.5. Thực trạng công tác kiểm tra hoạt động đổi mới thuận trong trong việc đánh giá nội dung này. Đa số các  
phương pháp dạy học theotiếp cận nănglực của học sinh đánh giá đều tập trung vào mức độ “Tốt” và “Khá”, xong  
Bảng 5. Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới PPDH  
theo tiếp cận NL HS của hiệu trưởng trường tiểu học  
Mức độ thực hiện  
STT  
Nội dung  
CBQL  
GV  
Tổng hợp  
ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH ĐTB ĐLC TH  
Xác định căn cứ, tiêu chuꢀn kiểm tra, đánh giá hoạt  
động đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS.  
1
2
3
4,71 0,55  
4,58 0,50  
4,63 0,49  
1
3
2
4,53 0,61  
4,58 0,59  
4,59 0,59  
4
3
2
4,56 0,60  
4,58 0,57  
4,60 0,57  
5
3
2
Kiểm tra tổ chuyên môn trong việc thực hiện đổi mới  
PPDH theo tiếp cận NL của HS.  
Kiểm tra GV trong việc thực hiện đổi mới PPDH  
theo tiếp cận NL của HS.  
Kiểm tra việc thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận  
4
5
NL của HS thông qua đánh giá thường xuyên và định 4,71 0,62  
kì kết quả học tập của HS.  
1
4
4,61 0,57  
1
2
4,63 0,58  
1
4
Thực hiện điều chỉnh trong kiểm tra hoạt động đổi  
4,46 0,59  
4,59 0,57  
4,58 0,59  
4,57 0,58  
4,59 0,58  
mới PPDH theo tiếp cận NL của HS.  
CHUNG  
4,62 0,55  
cá biệt vẫn còn đánh giá ở mức “Trung bình”. Chứng tỏ  
việc kiểm tra hoạt động đổi mới PPDH của các tổ chuyên  
môn và việc thực hiệntrong kiểmtra, đánh giá được CBQL  
các trường đâu đó vẫn còn những hạn chế nhất định. Qua  
việc nghiên cứu Sổ họp tổ chuyên môn của 8 trường tiểu  
học, người nghiên cứu nhận thấy: CBQL có thường xuyên  
tham dự các buổi sinh hoạt và có định hướng, chỉ đạo tổ  
thực hiện đổi mới PPDH, nhưng chưa trọng tâm vào định  
hướng phát triển NL của HS; các nội dung trao đổi về sự  
vụ,sựviệccònchiếmnhiềuthờigiancủacácbuổisinhhoạt.  
Theo kết quả bảng 5, đa số CBQL, GV đánh giá các  
trường đã thực hiện tốt công tác kiểm tra việc thực hiện  
đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS với ĐTB 4,59.  
Tuy nhiên, ĐLC 0,58 thể hiện vẫn còn sự phân tán trong  
các kết quả đánh giá, một bộ phận CBQL, GV chưa đánh  
giá cao tính hiệu quả của hoạt động này tại các trường  
được khảo sát.  
Nội dung 4 - “Kiểm tra việc thực hiện đổi mới PPDH  
theotiếp cận NL của HSthông qua đánh giáthường xuyên  
và định kì kết quả học tập của HS” và nội dung 3 - “Kiểm  
tra GV trong việc thực hiện đổi mới PPDH theo tiếp cận  
NL của HS” có ĐTB lần lượt là 4,63, 4,60 được xếp TH 1  
và 2. Kết quả của bảng khảo sát cho thấy, đa số CBQL,  
GV đánh giá các trường thực hiện tốt những nội dung này.  
Tuy nhiên, với ĐLC tương ứng 0,58 và 0,57 cho thấy, vẫn  
còn một số đánh giá chưa đồng tình với tính hiệu quả của  
việc thực hiện biện pháp này tại các trường.  
Nội dung 5 - “Thực hiện điều chỉnh trong kiểm tra hoạt  
động đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS” và nội dung  
1 - “Xác định căn cứ, tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá hoạt  
động đổi mới PPDH theo tiếp cận NL của HS” là hai nội  
dung có TH 4 và 5 (thấp nhất) với ĐTB lần lượt là 4,57,  
4,56; ĐLC 0,58, 0,60 (cao nhất). Điều này cho thấy, đa số  
các đánh giá đều tập trung vào mức độ “Tốt” và “Khá”,  
xong vẫn còn một số đánh giá ở mức “Trung bình”.  
Qua hoạt động phỏng vấn sâu 15 HS, đa số ý kiến đều  
tập trung: “CBQL nhà trường thường xuyên kiểm tra hoạt  
động đổi mới PPDH của GV. Những tiết học có CBQL dự  
giờ, GV dạy hay hơn, có sử dụng nhiều PPDH tích cực, tạo  
hứng thú học tập cho HS hơn những tiết học khác”. CBQL  
cũngchorằng:“GVchỉthựcsựsửdụngcácPPDHtíchcực  
trong các tiết có người dự giờ, còn các tiết học khác vẫn  
chưa có sự đầu tư nhiều như các tiết dạy này”.  
Để làm rõ hơn nội dung này, người nghiên cứu tiến  
hành phỏng vấn CBQL, GV, các ý kiến đều tập trung cho  
rằng: “Thực tế chưa có văn bản pháp lí, các định hướng,  
quy định việc giảng dạy của GV qua các tiết dạy phải đạt  
được NL gì cho HS, dẫn đến thiếu căn cứ phục vụ việc  
kiểm tra, đánh giá. Một số CBQL, GV chưa nắm được  
nhữngđịnh hướng dạy học theo hướngphát triển NLHS”.  
3. Kết luận  
Nội dung 2 - “Kiểm tra tổ chuyên môn trong việc thực  
hiệnđổimớiPPDHtheotiếpcậnNLcủaHS”cóĐTB4,58,  
Kết quả khảo sát cho thấy, hoạt động QL của hiệu  
ĐLC 0,57. Điều này cho thấy, CBQL và GV khá đồng trưởng các trường tiểu học quận Tân Phú, TP. Hồ Chí  
49  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 43-50  
Minh chủ yếu được đánh giá ở mức độ “Tốt”. Bên cạnh [7] Dương Trần Bình (2016). Quản lí hoạt động dạy  
đó, vẫn còn một số nội dung thực hiện chưa tốt. Cụ thể:  
Việc lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, lãnh đạo và kiểm tra  
hoạtđộngđổi mới PPDHtheotiếpcậnNLcủa HSvẫncòn  
chung chung, chưa có những định hướng trọng tâm và  
những giải pháp mang tính đột phá. Việc bồi dưỡng  
chuyênmôn, nghiệpvụGVđã được cáccấplãnhđạoquan  
tâm, nhưng nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi  
dưỡng vẫn chưa phát huy hiệu quả, NL của GV vẫn chưa  
đáp ứng yêu cầu đổi mới GD-ĐT; chưa có nhiều chuyên  
đề bồi dưỡng GV thực hiện dạy học theo định hướng phát  
triển NL của HS. Một số GV thiếu năng động, chậm thích  
ứng với thay đổi, NL ứng dụng công nghệ thông tin và vận  
dụng các PPDH hiện đại còn nhiều hạn chế; việc thực hiện  
đổi mới PPDH vẫn còn mang tính hình thức, đối phó với  
việc kiểm tra; việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của  
HS vẫn còn tập trung vào đánh giá định kì, đánh giá các  
môn bằng điểm số, chưa quan tâm đúng mức đến đánh giá  
quá trình học tập của HS; việc bồi dưỡng phương pháp tự  
học, tính tích cực chủ động của HS trong việc tự tìm kiếm,  
khám phá tri thức chưa được quan tâm thực hiện dẫn đến  
HS vẫn còn thiếu tính chủ động, sáng tạo, còn thụ động  
trong các tiết học.  
học ở trường tiểu học tại Thành phố Hồ Chí Minh  
trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo  
dục. Luận án tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Viện Khoa  
học Giáo dục Việt Nam.  
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN…  
(Tiếp theo trang 91)  
3. Kết luận  
Thực trạng nghiên cứu cho thấy, các cơ sở  
GDQP&AN cho SV các trường ĐH chủ yếu tậptrung vào  
việc quản lí quá trình xây dựng và thực thi chương trình  
GDQP&AN chứ chưa coi trọng quản lí phân tích nhu cầu,  
nâng cao chất lượng những người tham gia PTCT, đầu tư  
chocác trang thiết bị dạy học, cũng như kiểm tra việc đánh  
giá chươngtrình. Bêncạnhđó, việc khôngthốngnhất cách  
thức quản lí gây ra những khiếm khuyết của công tác quản  
lí vàảnhhưởngkhôngnhỏtới chất lượngcủa chươngtrình  
vàthựcthichươngtrìnhGDQP&ANhiệnnay. Nhữnghạn  
chế nêu ra là cơ sở để các nhà quản lí xác định các giải  
pháp hữu hiệu để có thể hoàn thiện hoạt động quản lí  
PTCT GDQP&AN cho SV trong thời gian tới.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số  
29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản,  
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập  
quốc tế.  
[2] Bộ GD-ĐT (2016). Thông tư số22/2016/TT-BGDĐT  
ngày 22/09/2016 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của  
quy định đánh giá học sinh tiểu học (ban hành kèm  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ GD-ĐT (2017). Thông tư số 03/2017/TT-  
BGDĐT ngày 13/01/2017 ban hành Chương trình  
Giáo dục quốc phòng và An ninh trong trường trung  
cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm và cơ sở giáo dục  
đại học.  
[2] Đặng Đình Bội (2006). Sổ tay phát triển chương  
trình đào tạo có sự tham gia. NXB Nông nghiệp.  
theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày [3] Nguyễn Đức Chính (chủ biên, 2015). Phát triển  
28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT).  
chương trình giáo dục. NXB Giáo dục Việt Nam.  
[3] Trần Kiểm (2017). Phát triển năng lực người học - [4] Bùi Minh Hiền - Đặng Quốc Bảo - Vũ Ngọc Hải  
xu thế dạy học hiện đại. Tạp chí Khoa học Quản lí  
giáo dục số 03 (15), Trường Cán bộ Quản lí Giáo  
dục Thành phố Hồ Chí Minh.  
(2009). Quản lí giáo dục. NXB Đại học Sư phạm.  
[5] Hoàng Văn Tòng (2013). Quản lí giáo dục quốc  
phòng - an ninh cho sinh viên các trường đại học  
trong bối cảnh mới. Luận án tiến sĩ Quản lí giáo dục,  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.  
[6] Chu Văn Hạc (2017). Quản lí kiểm tra, đánh giá kết  
quả học tập của sinh viên ở các trung tâm Giáo dục  
Quốc phòng và An ninh theo định hướng phát triển  
năng lực. Luận án tiến sĩ Quản lí giáo dục, Học viện  
Chính trị.  
[4] Nguyễn Văn Huy (2017). Quản lí hoạt động dạy học  
theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại  
Trường trung học phổ thông Nguyễn Trãi - Ba Đình,  
Hà Nội. Tạp chí Quản lí Giáo dục, số 2, tr 50-55.  
[5] Nguyễn Hữu Hợp (2017). Hướng dẫn dạy học theo  
định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học.  
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[6] Đỗ Thị Thanh Thuỷ (chủ biên) - Nguyễn Thành [7] Trần Khánh Mai (2019). Một số giải pháp nâng cao  
Vinh - Hà Thế Truyền - Nguyễn Thị Tuyết Hạnh  
(2017). Quản lí hoạt động dạy học trong trường phổ  
thông. NXB Giáo dục Việt Nam.  
chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh  
viên đại học hiện nay. Tạp chí Giáo dục, số 446, tr  
14-19.  
50  
pdf 8 trang yennguyen 12680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng quản lí hoạt động đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực của học sinh ở các trường tiểu học quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_quan_li_hoat_dong_doi_moi_phuong_phap_day_hoc_the.pdf