Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non ở các trường mầm non tư thục quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 2-6  
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN  
THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN MẦM NON Ở CÁC TRƯỜNG  
MẦM NON TƯ THỤC QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Nguyễn Thị Cẩm Đan - Trường Mầm non Việt Mỹ Úc, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài: 05/03/2019; ngày sửa chữa: 22/03/2019; ngày duyệt đăng: 09/04/2019.  
Abstract: The survey was conducted on 30 managers and 300 teachers of 30/66 private preschools  
in Binh Tan District, Ho Chi Minh City to learn about the current status of managing activities of  
fostering teachers according to professional standards of preschool teachers in these schools.  
Research results will be the basis for proposing management measures in accordance with local  
characteristics in the coming time.  
Keywords: Actual situation, fostering teachers, professional standards, preschool teacher, private  
preschool.  
1. Mở đầu  
2. Nội dung nghiên cứu  
Trước những yêu cầu đổi mới của sự phát triển giáo  
dục nói chung và những yêu cầu của việc thực hiện  
chương trình giáo dục mầm non nói riêng, BộGD-ĐT có  
Thông tư số 26/2018/TT-BGDĐT ngày 08/10/2018 quy  
định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non  
(CNNGVMN) [1]. CNNGVMN là cơ sở để xây dựng,  
đổi mới mục tiêu, nội dung bồi dưỡng giáo viên mầm  
non ở các đơn vị giáo dục - nơi giáo viên (GV) mầm non  
đang làm việc, vừa là căn cứ để các cấp quản lí đánh giá  
GV hàng năm theo quy chế đánh giá, xếp loại GV mầm  
non và xây dựng đội ngũ GV mầm non trong giai đoạn  
mới; là cơ sở để đề xuất chế độ chính sách đối với GV  
được đánh giá tốt về năng lực nghề nghiệp. Đồng thời,  
CNNGVMN giúp GV tự đánh giá năng lực nghề nghiệp,  
từ đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu  
nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên  
môn, nghiệp vụ của bản thân.  
2.1. Đối tượng và nội dung khảo sát  
Khảo sát được tiến hành trên 30 cán bộ quản lí  
(CBQL) và 300 GV của 30/66 trường mầm non tư thục  
quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh; thời gian khảo sát:  
tháng 02/2019.  
Nội dung khảo sát: Mức độ thực hiện các nội dung  
quản lí hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo  
CNNGVMN ở các trường mầm non tư thục quận Bình  
Tân, TP. Hồ Chí Minh.  
2.2. Phương pháp và công cụ khảo sát  
Phương pháp khảo sát: kết hợp sử dụng các bảng hỏi  
với phỏng vấn thông qua trao đổi trực tiếp với đối tượng  
khảo sát, phân tích và xử lí số liệu bằng thống kê toán  
học.  
Sử dụng thang điểm 5, mỗi câu hỏi được đánh giá với  
5 mức độ khác nhau, ý nghĩa của các mức độ với quy ước  
Trong những năm qua, các cấp quản lí quận Bình như sau: 1 điểm - Rất yếu; 2 điểm - Yếu; 3 điểm - Trung  
Tân, TP. Hồ Chí Minh đã chú ý đến việc bồi dưỡng về  
nội dung và phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm  
nâng cao chất lượng đội ngũ GV của địa phương. Tuy  
nhiên, việc đổi mới công tác bồi dưỡng GV cũng còn hạn  
chế, chưa có biện pháp cụ thể; bên cạnh đó, nhận thức  
của một số GV chưa cao, số GV lớn tuổi ngại đổi mới,  
đội ngũ GV chưa hợp lí về cơ cấu. Vì vậy, chất lượng  
chăm sóc và giáo dục của đội ngũ GV nhìn chung chưa  
đáp ứng với chuẩn nghề nghiệp và nhu cầu phát triển  
ngày càng cao của xã hội. Chính vì vậy, bài viết trình bày  
thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo  
CNNGVMN ở các trường mầm non tư thục quận Bình  
Tân, TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở  
thực tiễn quan trọng để đề xuất các biện pháp quản lí phù  
hợp và hiệu quả hoạt động này.  
bình; 4 điểm - Khá; 5 điểm - Tốt.  
Sau khi phát phiếu cho đối tượng được hỏi ở 30  
trường mầm non tư thục, chúng tôi thu lại phiếu, xử lí các  
số liệu khảo sát nhờ sự hỗ trợ của phần mềm Excel. Điểm  
trung bình của các nội dung khảo sát được chia các mức  
độ: Từ 1,00-1,8 điểm: Kém; 1,81-2,6 điểm: Yếu; 2,61-  
3,40 điểm: Trung bình; 3,41-4,20 điểm: Khá; 4,21-5,0  
điểm: Tốt.  
2.3. Kết quả khảo sát  
2.3.1. Thực trạng quản lí mục tiêu hoạt động bồi dưỡng  
đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên  
mầm non  
Tổng hợp kết quả khảo sát như sau (xem bảng 1 trang  
bên):  
2
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 2-6  
Bảng 1. Mức độ thực hiện việc quản lí mục tiêu hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo CNNGVMN  
TT  
1
Nội dung  
ĐTB  
ĐLC  
TH  
1
Mức độ  
Xây dựng mục tiêu bồi dưỡng GV theo CNNGVMN  
3,66  
1,09  
Khá  
Trung  
bình  
2
3
4
5
6
Đảm bảo các mục tiêu bồi dưỡng mang lại hiệu quả  
2,61  
3,42  
3,62  
3,50  
2,62  
3,24  
1,54  
1,30  
1,11  
1,30  
1,33  
6
4
2
3
5
Phân công các chuyên viên và CBQL khi xây dựng mục tiêu  
bồi dưỡng GV theo CNNGVMN  
Khá  
Khá  
Khá  
Xác định được sự phối hợp giữa các bộ phận trong công tác  
quản lí mục tiêu bồi dưỡng  
Kịp thời triển khai các văn bản của Sở, Phòng GD-ĐT liên  
quan đến mục tiêu bồi dưỡng  
Kiểm tra, điều chỉnh kịp thời mục tiêu bồi dưỡng trong quá  
trình bồi dưỡng GV theo CNNGVMN  
Trung  
bình  
Trung  
bình  
ĐTB chung các nội dung  
(Chú thích: ĐTB: Điểm trung bình, ĐLC: Độ lệch chuẩn, TH: Thứ hạng)  
Bảng 1 cho thấy, các nội dung về quản lí mục tiêu nhằm mục tiêu manglại hiệu quả cho quá trình bồi dưỡng  
hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV được đánh giá ở mức đội ngũ GV; tuy nhiên, CBQL và GV vẫn chưa chú trọng  
trung bình với ĐTB chung là 3,24. Trong đó, được đánh đến nội dung này.  
giá cao nhất là nội dung “Xây dựng mục tiêu bồi dưỡng  
GV theo CNNGVMN” (3,66 điểm); tiếp đến là nội dung  
“Xác định được sự phối hợp giữa các bộ phận trong công  
tác quản lí mục tiêu bồi dưỡng” (3,62 điểm). Như vậy,  
việc xây dựng mục tiêu bồi dưỡng đội ngũ GV theo  
CNNGVMN, theo yêu cầu nhiệm vụ năm học của ngành  
và xác định được sự phối hợp giữa các bộ phận trong  
công tác quản lí chương trình bồi dưỡng là rất cần thiết  
trong việc quản lí mục tiêu hoạt động bồi dưỡng đội ngũ  
GV. Ngoài ra, trong việc quản lí mục tiêu hoạt động bồi  
dưỡng cũng cần phải chú ý đến việc kịp thời triển khai  
các văn bản của Sở, Phòng GD-ĐT liên quan đến mục  
tiêu bồi dưỡng và phân công các chuyên viên và CBQL  
khi xây dựng mục tiêu bồi dưỡng GV theo CNNGVMN.  
Tuy nhiên, hai nội dung này chỉ được đánh giá ở mức  
khá với điểm số không cao (3,51 và 3,42 đểm, xếp hạng  
3 và 4).  
Để tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng này, chúng  
tôi đã tiến hành phỏng vấn một số CBQL các trường  
mầm non, đa số đều cho rằng: Nhà trường chủ yếu dựa  
trên hướng dẫn của các thông tư về bồi dưỡng thường  
xuyên mà Bộ GD-ĐT ban hành để triển khai hoạt động  
bồi dưỡng, chứ chưa chú trọng cụ thể hóa để phù hợp với  
điều kiện của từng trường, đặc biệt là những trường tư  
thục. Do đó, việc mô tả các mục tiêu đầu ra chưa được  
các hiệu trưởng quan tâm và điều chỉnh kịp thời cho lần  
bồi dưỡng tiếp theo.  
2.3.2. Thực trạng quản lí chương trình hoạt động bồi  
dưỡng đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáo  
viên mầm non  
Kếtquảkhảosátthuđượcnhưsau(xembảng2trangbên).  
Bảng 2 cho thấy, các nội dung quản lí chương trình  
hoạt động bồi dưỡng được đánh giá ở mức trung bình với  
ĐTB chung là 3,17. Trong đó, chỉ duy nhất một nội dung  
được đánh giá ở mức khá là “Phân công hợp lí CBQL và  
GV khi xây dựng chương trình bồi dưỡng” (3,60 điểm),  
còn là đều ở mức trung bình.  
Được đánh giá thấp nhất là hai nội dung “Kiểm tra,  
điều chỉnh kịp thời mục tiêu bồi dưỡng trong quá trình  
bồi dưỡng GV theo CNNGVMN” và “Đảm bảo các mục  
tiêu bồi dưỡng mang lại hiệu quả” với ĐTB lần lượt là  
2,62 và 2,61 (đều ở mức trung bình, thậm chí gần sát với  
mức yếu). Kiểm tra, đánh giá là một trong 4 chức năng  
cơ bản của quá trình quản lí, nhưng nội dung này vẫn  
chưa nhận được sự đồng ý cao của đối tượng khảo sát;  
do đó, cần nâng cao thêm nhận thức về nội dung kiểm  
tra, đánh giá vì đây là một trong những nội dung rất cần  
thiết đối với việc quản lí mục tiêu hoạt động bồi dưỡng  
động ngũ GV theo Chuẩn nghề nghiệp. Tất cả những  
công việc mà nhà quản lí và đội ngũ GV thực hiện phải  
Được đánh giá thấp nhất là nội dung “Kiểm tra, đánh  
giá kịp thời chương trình bồi dưỡng trong quá trình bồi  
dưỡng” (2,61 điểm, gần sát với điểm của mức yếu); tiếp  
theo là nội dung “Xây dựng nội dung chương trình bồi  
dưỡng GV theo CNNGVMN và theo yêu cầu nhiệm vụ  
năm học của ngành” (2,79 điểm). Đây là hai nội dung rất  
quan trọng, quyết định đến chất lượng của hoạt động bồi  
dưỡng bởi vì nếu không có nội dung chương trình tốt thì  
không thể có khóa học tốt được và nếu không điều chỉnh  
3
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 2-6  
Bảng 2. Mức độ thực hiện quản lí chương trình hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo CNNGVMN  
TT  
1
Nội dung  
ĐTB  
ĐLC  
TH  
Mức độ  
Xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng GV theo  
CNNGVMN và theo yêu cầu nhiệm vụ năm học của ngành  
Trung  
bình  
2,79  
1,10  
5
Đảm bảo các nội dung của chương trình bồi dưỡng mang lại  
hiệu quả  
Trung  
bình  
2
3
4
5
6
3,23  
3,60  
3,40  
3,40  
2,61  
3,17  
1,26  
1,08  
1,22  
1,24  
1,04  
4
1
2
2
6
Phân công hợp lí CBQL và GV khi xây dựng chương trình  
bồi dưỡng  
Khá  
Xác định được sự phối hợp giữa các bộ phận trong công tác  
quản lí chương trình bồi dưỡng  
Trung  
bình  
Kịp thời triển khai các văn bản chỉ đạo của Sở, Phòng GD-  
ĐT liên quan đến chương trình bồi dưỡng  
Trung  
bình  
Kiểm tra, đánh giá kịp thời chương trình bồi dưỡng trong quá  
trình bồi dưỡng  
Trung  
bình  
Trung  
bình  
ĐTB chung các nội dung  
chương trình sau mỗi khóa bồi dưỡng thì chương trình tốt). Bên cạnh đó, các nội dung được cho là thể hiện việc  
không thể phát triển được. Khi phỏng vấn một số GV,  
chúng tôi được biết: nhìn chung nội dung chương trình bồi  
dưỡng không có gì thay đổi qua các đợt bồi dưỡng mà chủ  
yếu là bám sát những nội dung trong thông tư của Bộ.  
2.3.3. Thực trạng quản lí phương pháp tổ chức hoạt động  
bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp  
giáo viên mầm non  
quản lí phương pháp tổ chức theo hướng tích cực, học đi  
đôi với hành thì lại được đánh giá thấp hơn, đó là “Giao  
nhiệm vụ thuyết trình và chuẩn bị các phương tiện cũng  
như con người cho GV luyện tập thực hành” (3,74 điểm,  
mức khá, xếp TH 4); kết quả này cũng logic với việc  
“Tạo điều kiện về phương tiện, thiết bị, thời gian, kinh  
phí để báo cáo viên có thể sử dụng và phối hợp tốt các  
phương pháp” khi nội dung này được đánh giá thấp nhất  
Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 3.  
Bảng 3 cho thấy, việc quản lí phương pháp tổ chức với 3,71 điểm (mức khá). Điều nàychứng tỏ, việc tổchức  
hoạt động bồi dưỡng được thực hiện tương tối tốt với hoạt động bồi dưỡng còn thiếu thốn nhiều về cơ sở vật  
ĐTB chung các nội dung là 4,01 (mức khá). Trong đó, chất phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học,  
nội dung “Lựa chọn các vấn đề cần thảo luận và quy định GV/báo cáo viên không đủ các phương tiện để tổ chức  
cách thức thảo luận” được đánh giá tốt nhất với điểm thực hành. Qua trao đổi phỏng vấn một số cán bộ quản lí  
đánh giá là 4,30 (mức độ tốt); tiếp đến là nội dung “Nội và GV, đa số đều cho rằng, các lớp bồi dưỡng vẫn nặng  
dung tọa đàm, phân công nhân sự theo nhóm phụ trách về thuyết trình, chưa tổ chức cho GV thực hành và chưa  
về nội dung và phụ trách về tổ chức” (4,27 điểm, mức phối hợp các phương pháp trong quá trình bồi dưỡng.  
Bảng 3. Đánh giá về thực trạng quản lí phương pháp tổ chức hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo CNNGVMN  
TT  
Nội dung  
ĐTB  
ĐLC  
TH  
Mức độ  
Lựa chọn các vấn đề cần thảo luận và quy định cách thức thảo  
luận  
1
4,30  
0,79  
1
Tốt  
Nội dung tọa đàm, phân công nhân sự theo nhóm phụ trách  
về nội dung và phụ trách về tổ chức  
2
3
4
5
4,27  
4,06  
3,74  
0,82  
0,98  
1,03  
1,09  
2
3
4
5
Tốt  
Khá  
Khá  
Xây dựng các yêu cầu của nội dung thuyết trình, giao nhiệm  
vụ cho các nhóm  
Giao nhiệm vụ thuyết trình và chuẩn bị các phương tiện cũng  
như con người cho GV luyện tập thực hành  
Tạo điều kiện về phương tiện, thiết bị, thời gian, kinh phí để  
báo cáo viên có thể sử dụng và phối hợp tốt các phương pháp  
3,71  
4,01  
Khá  
Khá  
ĐTB chung các nội dung  
4
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 2-6  
2.3.4. Thực trạng quản lí hình thức tổ chức hoạt động bồi của GV” (2,64 điểm) và “Tổ chức các buổi tập huấn tại  
dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo  
viên mầm non  
trường theo kế hoạch tổ chức hoạt động bồi dưỡng  
thường xuyên của nhà trường” (2,61 điểm) đều ở mức  
trung bình và điểm số rất thấp (gần sát với điểm của mức  
Kết quả khảo sát thu được như ở bảng 4.  
Bảng 4. Mức độ thực hiện quản lí hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo CNNGVMN  
TT  
1
Nội dung  
ĐTB  
ĐLC  
TH  
Mức độ  
Sắp xếp cho GV tham gia các buổi học được tổ chức tập trung  
theo kế hoạch tập huấn của Phòng GD-ĐT (thời gian hè)  
Trung  
bình  
3,24  
1,25  
2
Phân công GV tham dự các chuyên đề được tổ chức tập trung  
ở cụm theo kế hoạch của Phòng GD-ĐT (trong năm học)  
2
3
4
3,44  
2,61  
2,64  
2,98  
1,16  
1,20  
0,95  
1
4
3
Khá  
Tổ chức các buổi tập huấn tại trường theo kế hoạch tổ chức  
hoạt động bồi dưỡng thường xuyên của nhà trường  
Trung  
bình  
Theo dõi và kiểm tra kế hoạch bồi dưỡng theo chương trình  
quy định của GV  
Trung  
bình  
Trung  
bình  
ĐTB chung các nội dung  
Bảng 4 cho thấy, CBQL và GV đánh giá việc quản lí yếu). Kết quả này đã phản ánh đúng thực trạng hiện nay  
hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng chỉ ở mức độ  
trung bình với ĐTB chung là 2,98 (mức điểm tương đối  
thấp), trong đó chỉ duy nhất nội dung “Phân công GV  
tham dựcác chuyên đề được tổ chức tập trung ở cụm theo  
kế hoạch của Phòng GD-ĐT (trong năm học)” là được  
đánh giá ở mức khá, các nội dung cònlại đều ở mức trung  
bình. Điều này cho thấy, sự đồng thuận của CBQL và  
GV với công tác tổ chức các chuyên đề tập trung theo  
cụm. Với đặc thù GV mầm non luôn bận rộn cho công  
tác chăm sóc - giáo dục trẻ tại trường, việc tổ chức các  
chuyên đề theo cụm sẽ giúp GV có nhiều cơ hội để học  
tập, thực hành một cách thực tế, cụ thể các kiến thức  
chuyên môn về chăm sóc, giáo dục trẻ. Đây là hình thức  
rất có hiệu quả trong quá trình tổ chức hoạt động bồi  
dưỡng động ngũ GV.  
của GV mầm non, đặc biệt là GV các trường mầm non  
tư thục. Hầu hết GV đều không tự giác lên kế hoạch bồi  
dưỡng cho bản thân và theo quy định. Chỉ khi có chế tài  
của Ban Giám hiệu thì GV mới thực hiện và đôi khi thực  
hiện rất hình thức và máy móc. Đây là thách thức không  
nhỏ cho ngành mầm non trong thời kì phát triển và hội  
nhập. Một trong những nguyên nhân làm cho GV chưa  
tự giác lên kế hoạch bồi dưỡng cho bản thân chính là việc  
tổ chức các hoạt động bồi dưỡng thường xuyên của các  
nhà trường chưa tốt. Vì thế, các nhà trường cần tổ chức  
hoạt động bồi dưỡng một cách nghiêm túc, có sự động  
viên, khuyến khích GV tích cực tham gia vào quá trình  
bồi dưỡng để từ đó tạo động lực cho GV tự giác nâng cao  
ý thức tự bồi dưỡng cho bản thân.  
2.3.5. Thực trạng quản lí điều kiện tổ chức hoạt động bồi  
dưỡng đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáo  
viên mầm non  
Dù chỉ được đánh giá ở mức trung bình, nhưng nội  
dung “Sắp xếp cho GV tham gia các buổi học được tổ  
chức tập trung theo kế hoạch tập huấn của Phòng GD-  
ĐT (thời gian hè)” có ĐTB tương đối cao (3,24 điểm,  
xếp hạng 2/4). Qua tìm hiểu một số CBQL các trường  
này, chúng tôi được biết, thường thì Phòng GD-ĐT chỉ  
triệu tập mỗi trường một số CBQL và GV cốt cán (do  
diều kiện cơ sở vật chất không cho phép để tập huấn số  
lượng lớn), sau đó bộ phận này về tập huấn lại cho đội  
ngũ trong trường. Tuy nhiên, trên thực tế thì việc tập  
huấn lại cho đội ngũ thường bị “lãng quên” và nếu có thì  
cũng làm rất hình thức dẫn đến kết quả không cao. Đối  
với hình thức này, Phòng GD-ĐT và các nhà trường cần  
nghiên cứu thực hiện hiệu quả hơn để đảm bảo mang lại  
kết quả cao cho công tác bồi dưỡng GV.  
Kết quả khảo sát như sau (xem bảng 5 trang bên).  
Bảng 5 cho thấy, tất cả các nội dung đều được đánh  
giá ở mức khá với ĐTB chung là 3,51. Đây là một kết  
quả khả quan vì các cấp lãnh đạo cấp sở, phòng và các  
nhà trường đã quan tâm đến các điều kiện tổ chức hoạt  
động bồi dưỡng GV nhằmtạocho GV có một môi trường  
thuận lợi và thoải mái khi tham gia hoạt động bồi dưỡng.  
Nội dung được đánh giá tốt nhất là “Tạo mọi điều  
kiện để GV thực hiện kế hoạch bồi dưỡng và tự bồi  
dưỡng (về thời gian, địa điểm, chương trình)” được đánh  
giá cao nhất với 3,66 điểm. Qua trao đổi với một số  
CBQL và GV các trường này, chúng tôi được biết: Phòng  
GD-ĐT cũng như các nhà trường đã lựa chọn thời gian  
cũng như địa điểm phù hợp với lịch trình làm việc của  
Hai nội dung được đánh giá thấp là “Theo dõi và  
kiểm tra kế hoạch bồi dưỡng theo chương trình quy định  
5
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 4/2019, tr 2-6  
Bảng 5. Mức độ thực hiện quản lí điều kiện tổ chức hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo CNNGVMN  
TT  
1
Nội dung  
ĐTB  
3,66  
3,42  
3,43  
3,51  
ĐLC  
1,27  
1,39  
1,17  
TH  
Mức độ  
Tạo mọi điều kiện để GV thực hiện kế hoạch bồi dưỡng và tự bồi  
dưỡng (về thời gian, địa điểm, chương trình)  
1
Khá  
2
Hỗ trợ, cung cấp hoặc tư vấn tài liệu học tập, tham khảo cho GV  
3
Khá  
Quản lí tốt việc sử dụng, bảo quản các trang thiết bị phục vụ cho  
hoạt động bồi dưỡng GV  
3
2
Khá  
ĐTB chung các nội dung  
Khá  
GV và ưu tiên sự sắp xếp của các trường trong việc bồi  
dưỡng. Ngay cả chương trình bồi dưỡng cũng triển khai  
theo hướng “mở” (trừ những nội dung mang tính bắt  
buộc về nhiệm vụ chính trị); còn lại, GV được tự do lựa  
chọn nội dung bồi dưỡng theo năng lực còn hạn chế của  
bản thân.  
Được đánh giá thấp nhất là nội dung “Hỗ trợ, cung  
cấp hoặc tư vấn tài liệu học tập, tham khảo cho GV” với  
3,42 điểm. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, Phòng GD-  
ĐT và các trường cũng đã cung cấp các tài liệu có liên  
quan đến chương trình bồi dưỡng; tuy nhiên, số lượng tài  
liệu cũng còn hạn chế, hầu hết các trường mầm non tư  
thục chưa có tủ sách tài liệu tham khảo dành riêng cho  
GV. Do đó, hiệu trưởng các trường cần có sự đầu tư tài  
liệu học tập, tham khảo cho GV; tạo điều kiện hết sức  
thuận cho GV tra cứu phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng  
đội ngũ GV.  
Từ thực trạng trên, rất cần có các cách thức quản lí để  
tháo gỡ khó khăn và khắc phục các bất cập để quản lí  
hiệu quả hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV ở các trường  
mầm non tư thục quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh theo  
Chuẩn nghề nghiệp, nhằm góp phần nâng cao chất lượng  
đội ngũ GV mầm non, đáp ứng yêu cầu CNNGVMN  
hiện nay.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ GD-ĐT (2018). Thông tư số 26/2018/TT-  
BGDĐT ngày 08/10/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-  
ĐT về Ban hành quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo  
viên mầm non.  
[2] Bộ GD-ĐT (2017). Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT  
ngày 24/01/2017 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về Ban  
hành Chương trình giáo dục mầm non.  
3. Kết luận  
[3] Bộ GD-ĐT (2011). Thông tư số 36/2011/TT-  
BGDĐT ngày 17/8/2011 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT  
về Ban hành chương trình bồi dưỡng thường xuyên  
giáo viên mầm non.  
Kết quả khảo sát cho thấy, CBQL và GV đánh giá  
thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo  
CNNGVMN ở các trường mầm non tư thục quận Bình  
Tân, TP. Hồ Chí Minh chủ yếu ở mức trung bình. Bên  
cạnh những mặt đã đạt được, vẫn còn tồn tại một số nội  
dung thực hiện chưa tốt về quản lí mục tiêu, chương  
trình, phương pháp, hình thức và điều kiện tổ chức hoạt  
động bồi dưỡng như: việc kiểm tra, điều chỉnh kịp thời  
mục tiêu bồi dưỡng trong quá trình bồi dưỡng GV theo  
CNNGVMN; đảm bảo các mục tiêu bồi dưỡng mang lại  
hiệu quả; kiểm tra, đánh giá kịp thời chương trình bồi  
dưỡng trong quá trình bồi dưỡng; xây dựng nội dung  
chương trình bồi dưỡng GV theo CNNGVMN và theo  
yêu cầu nhiệm vụ năm học của ngành; giao nhiệm vụ  
thuyết trình và chuẩn bị các phương tiện cũng như con  
người cho GV luyện tập thực hành; tạo điều kiện về  
phương tiện, thiết bị, thời gian, kinh phí để báo cáo viên  
có thể sử dụng và phối hợp tốt các phương pháp; theo dõi  
và kiểm tra kế hoạch bồi dưỡng theo chương trình quy  
định của GV; tổ chức các buổi tập huấn tại trường theo  
kế hoạch tổ chức hoạt động bồi dưỡng thường xuyên của  
nhà trường; hỗ trợ, cung cấp hoặc tư vấn tài liệu học tập,  
tham khảo cho GV.  
[4] Bộ GD-ĐT (2016). Quyết định số 2189/QĐ-  
BGDĐT ngày 28/6/2016 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT  
về Ban hành Chương trình bồi dưỡng theo tiêu  
chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non  
hạng IV.  
[5] Nguyễn Thị Nguyên (2018). Thực trạng quản lí  
hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo Chuẩn  
nghề nghiệp cho giáo viên các trường mầm non xã  
Tương Giang, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tạp chí  
Giáo dục, số đặc biệt kì 1 tháng 5, tr 23-28.  
[6] Nguyễn Tiến Phúc (2015). Quản lí hoạt động bồi  
dưỡng giáo viên trung học phổ thông theo Chuẩn  
nghề nghiệp ở vùng Tây Bắc. Luận án tiến sĩ Khoa  
học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[7] Vũ Thị Ngần (2018). Thực trạng quản lí hoạt động  
bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề  
nghiệp tại các trường mầm non thị trấn Gia Bình,  
huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Tạp chí Giáo dục, số  
đặc biệt kì 1 tháng 5, tr 17-22.  
6
pdf 5 trang yennguyen 12000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non ở các trường mầm non tư thục quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_quan_li_hoat_dong_boi_duong_doi_ngu_giao_vien_the.pdf