Thiết kế hệ thống điều khiển cửa tự động sử dụng công nghệ xử lý giọng nói và công nghệ xử lý ảnh

22  
Lê Tiến Dũng, Trịnh Ngọc Văn, Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Đức Tường  
THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN CỬA TỰ ĐỘNG SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ  
XỬ LÝ GIỌNG NÓI VÀ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ ẢNH  
DESIGNING AN AUTOMATIC DOOR CONTROL SYSTEM APPLYING SPEECH  
PROCESSING AND IMAGE PROCESSING  
Lê Tiến Dũng1, Trịnh Ngọc Văn2, Nguyễn Văn Kiên2, Nguyễn Đức Tường2  
1Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng; [email protected]  
2Lớp 12DCLC, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng;  
Tóm tắt - Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của ngành tự  
động hóa, con người có xu hướng sử dụng các thiết bị tự động để  
nâng cao tính tiện nghi, an toàn cho không gian sống của họ. Trong  
bài báo này, chúng tôi đề xuất một giải pháp nhằm nâng cao tính  
an ninh và tiện lợi của hệ thống điều khiển cửa tự động. Hệ thống  
điều khiển này sử dụng các công nghệ bảo mật như mật khẩu, bảo  
mật bằng thẻ RFID, hay bằng các phương pháp sinh trắc học khác  
như nhận diện khuôn mặt hay giọng nói của người dùng. Ngoài ra  
hệ thống có thêm chức năng truyền hình ảnh từ camera đặt ở cửa  
tới các thiết bị trong mạng LAN, cũng như giao tiếp với các thiết bị  
trong mạng LAN thông qua giao thức MQTT. Đồng thời chúng tôi  
xây dựng một mô hình để kiểm nghiệm hoạt động thực tế các giải  
pháp đã đề ra.  
Abstract - Nowadays, because of the consistent development of  
automation technology, there is a growing tendency among people  
to use automatic devices to improve the convenience and safety of  
their living space. In this paper, we propose a measure to enhance  
the convenience and security of the control system of automatic  
doors. Our control system uses security technology such as  
password, RFID or biometric methods like face recognition or  
speech recognition. Besides, our system have two extra functions:  
transmitting images captured by camera via Local Area Network  
(LAN) to other devices and saving video to review when it is  
necessary. The system adopt MQTT as the main communication  
protocol to exchange messages. Finally, we build up a working  
model to demo and test our solution.  
Từ khóa - xử lý giọng nói; xử lý hình ảnh; hệ thống bảo mật; nhận  
dạng khuôn mặt; cửa thông minh.  
Key words - speech processing; image processing; security  
systems; face recognition; intelligent door.  
1. Đặt vấn đề  
Ngày nay, khi đời sống kinh tế - xã hội phát triển, vấn đề  
an ninh được quan tâm nhiều hơn. Ở nước ta, việc bảo vệ an  
ninh đang dẫm chân tại chỗ ở việc người ta vẫn đang sử dụng  
con người cho mục đích an ninh là chính như việc thuê các  
bảo vệ viên, hay lắp đặt các hệ thống camera thông thường mà  
một kẻ gian hiểu biết có thể qua mắt được.  
Trên thế giới hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu và  
áp dụng hệ thống điều khiển cửa thông minh. Trước hết, có  
thể kể đến hệ thống chuông cửa thông minh Chui [4] sử  
dụng kỹ thuật nhận diện khuôn mặt, thẻ từ và mật khẩu để  
nhận diện và quyết định mở khóa. Ngoài ra, hệ thống này  
còn truyền hình ảnh qua mạng LAN để người dùng biết  
được người đang đứng trước cửa là ai. Tuy nhiên, hệ thống  
đó chưa lưu lại video để người dùng dễ dàng xem lại khi  
cần. Một ứng dụng thương mại khác là hệ thống khóa  
HF6618 sử dụng kỹ thuật nhận diện khuôn mặt, thẻ từ,  
khóa cơ và mật khẩu hoặc kết hợp để mở khóa [8]. Nhược  
điểm của hệ thống này là chưa truyền hình ảnh qua mạng  
LAN cũng như lưu lại video để người sử dụng giám sát  
ngôi nhà của họ. Bên cạnh đó, có thể kể đến hệ thống cửa  
thông minh ở các sân bay Australia [2] đối chiếu khuôn mặt  
trong hộ chiếu điện tử và khuôn mặt thu được từ camera để  
mở cửa cho du khách nhập cảnh. Hệ thống này khá cồng  
kềnh và cũng chưa có chức năng lưu video hay truyền qua  
mạng LAN.  
Hình 1. Sơ đồ khối của hệ thống  
Hệ thống cửa này sử dụng camera để phân biệt, nhận  
diện các đối tượng được phép mở cửa làm phương thức bảo  
mật chính. Ngoài ra, hệ thống cửa còn chấp nhận các yêu  
cầu khác như việc nhập khẩu từ bàn phím có sẵn hay nhận  
dạng giọng nói người dùng, đồng thời lưu trữ hình ảnh từ  
camera để thuận tiện cho việc truy xuất hình ảnh khi cần.  
Trong bài báo này, chúng tôi sẽ xây dựng một mô hình  
hệ thống cửa tự động với cấp độ bảo mật cao và khắc phục  
các vấn đề còn tồn tại của các hệ thống cửa thông mình kể  
đến ở trên. Sơ đồ khối cấu trúc của toàn hệ thống được biểu  
diễn ở hình 1.  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 3(112).2017-Quyển 1  
23  
Khi người dùng yêu cầu mở cửa, một cơ cấu chốt khóa sẽ 2.2. Phát hiện khuôn mặt  
tự động được kéo ra cho phép người dùng có thể mở cửa.  
Thuật toán được sử dụng để phát hiện khuôn mặt trong  
bài báo này là thuật toán Viola-Jones. Ưu điểm nổi bật của  
thuật toán này là tốc độ xử lý. Thực tế đây là thuật toán  
phát hiện khuôn mặt có tốc độ nhanh nhất và có độ chính  
xác tương đối cao. Bài báo này sử dụng thư viện xử lý ảnh  
mã nguồn mở OpenCV [3] để thực hiện việc phát hiện  
khuôn mặt.  
Cơ cấu này cũng sẽ gài lại khi có yêu cầu từ người dùng.  
Hệ thống còn có một số tính năng bổ sung khác như truyền  
hình ảnh từ camera đến các thiết bị khác như điện thoại,  
máy tính, cũng như chế độ từ chối tiếp khách liên động với  
chuông cửa. Cái cốt lõi nhất mà bài báo này hướng đến đó  
là giải pháp tự động hóa mang tính cải tiến, nâng cao bảo  
mật và ứng dụng thực tế cao.  
Sau khi phát hiện khuôn mặt, chương trình trả về vị trí  
và kích thước của hình chữ nhật bao quanh khuôn mặt như  
hình 2. Từ đó, ta có thể tách khuôn mặt ra khỏi bức ảnh để  
thực hiện tiếp các bước nhận dạng.  
Phần còn lại của bài báo được bố cục như sau: Mục 2  
trình bày thuật toán xử lý ảnh và nhận diện khuôn mặt; Mục  
3 trình bày về phương án xử lý giọng nói cho hệ thống điều  
khiển của cửa tự động; Mục 4 trình bày về giải pháp truyền  
thông. Một mô hình thực nghiệm được xây dựng để kiểm  
chứng giải pháp đề xuất, được trình bày trong mục 5. Cuối  
cùng, mục 6 đưa ra những kết luận, đề xuất.  
2. Thuật toán xử lý ảnh và nhận diện khuôn mặt  
2.1. Thuật toán xử lý ảnh  
Hệ thống xác minh khuôn mặt trong bài báo này thực hiện  
xử lý ảnh qua bốn bước như sau:  
Hình 2. Kết quả của đoạn chương trình phát hiện khuôn mặt  
2.3. Căn chỉnh khuôn mặt  
‚
Phát hiện khuôn mặt (detection): Tìm ra vị trí và kích  
thước của khuôn mặt trong bức ảnh.  
Để căn chỉnh khuôn mặt, trước hết, cần phải tìm các  
điểm landmarks, đây là các điểm đặc biệt có mặt trong mọi  
khuôn mặt, chẳng hạn như góc mắt, đỉnh mũi hay khóe  
miệng. Bài báo này sử dụng thư viện xử lý ảnh mã nguồn  
mở Dlib [6] để tìm 68 điểm landmarks trên khuôn mặt.  
Thuật toán được sử dụng là thuật toán Ensemble of  
Regression Trees; thuật toán này có tốc độ thực thi rất cao,  
nó có thể xử lý 1.000 bức ảnh trong vòng 1s.  
‚
Căn chỉnh khuôn mặt (alignment): Tìm các điểm  
landmarks rồi dựa vào các điểm này để biến đổi khuôn  
mặt (xoay, tịnh tiến hay thu phóng) sao cho khuôn mặt  
trong bức ảnh ở góc nhìn chính diện nhất có thể.  
‚
‚
Biểu diễn (Representation): Biểu diễn khuôn mặt  
thành các số đo để dựa vào đó xác minh khuôn mặt.  
Xác minh (Verification): Dựa vào các số đo đã được  
tìm ra để xác minh khuôn mặt có phải là người dùng  
hay không.  
Minh họa các điểm landmarks trên một khuôn mặt như  
hình 3.  
Bức ảnh thu được từ camera có kích thước là  
480x640x3, bức ảnh này sẽ được xử lý để phát hiện ra vị  
trí và kích thước của khuôn mặt; khuôn mặt này được cắt  
ra rồi được điều chỉnh về kích thước 96x96x3. Bức ảnh đã  
được điều chỉnh sẽ được xử lý tiếp qua các giai đoạn sau  
để xác minh.  
Các khung hình được xử lý liên tiếp. Sau khi xử lý xong  
một khung hình, máy tính sẽ lấy tiếp một khung hình nữa  
rồi lặp lại các bước xử lý như trên; quá trình này được lặp  
lại vô hạn.  
Hình 3. Kết quả tìm điểm landmarks và căn chỉnh khuôn mặt  
Sau khi phát hiện các điểm landmarks, ta sẽ dựa vào các  
điểm này để biến đổi khuôn mặt sao cho góc nhìn được  
chính diện nhất. Ở đây ta sẽ sử dụng phép biến đổi affine.  
Cụ thể là tìm một ma trận H, ma trận này biến đổi các điểm  
Trong ngôn ngữ lập trình Python, các bức ảnh được  
biểu diễn ở dạng numpy array. Ví dụ một mảng numpy  
array như sau:  
ꢀ
ꢄ
có tọa độ ꢁꢂ, ꢃꢂ, 1 trong bức ảnh gốc thành các điểm có  
ꢅ
ꢀ
ꢅꢄ  
I = [[1, 0, 0], [0, 1, 2]]  
tọa độ ꢁꢂ , ꢃꢂ [3] trong bức ảnh mới sao cho:  
ꢁꢂ  
Trong mảng này, các số ở giữa mỗi cặp ngoặc vuông bên  
trong là các phần tử của một hàng; dấu phẩy giữa các cặp  
ngoặc vuông phân cách các hàng với nhau. Việc đánh số các  
phần tử trong hàng và cột được bắt đầu bằng số 0, ví dụ I [0,  
0] trả về giá trị 1. Để lấy tất cả các phần tử ở một chiều nào  
đó, ta dùng dấu “:” ở các chiều khác, ví dụ để lấy hàng đầu  
tiên, ta dùng lệnh I [1,:] (lấy tất cả các cột ở hàng 1).  
ꢁꢂꢅ  
ꢃꢂꢅ  
ꢃ
ꢆ
ꢇ = ꢈ ꢉ ꢊ  
(1)  
ꢂ
1
Để tìm được H, ta cần dựa vào một tính chất của phép  
biến đổi affine như sau: Với hai hình tam giác bất kỳ, ta luôn  
tìm được một phép biến đổi affine để biến đổi tam giác này  
thành tam giác kia [5]. Dựa vào tính chất này, ta sẽ chọn ra  
ba điểm, tìm ma trận H sao cho với ma trận H, ba điểm  
landmarks được chọn trong bức ảnh gốc được biến đổi thành  
ba điểm landmarks chuẩn tương ứng. Hình 4 bên dưới minh  
họa 68 điểm landmarks chuẩn mà bài báo này sử dụng [1].  
Các bức ảnh được biểu diễn bằng mảng numpy array 3  
chiều theo thứ tự là chiều dọc, chiều ngang và chiều sâu.  
Sau đây, chi tiết về các bước xử lý ảnh và xác minh sẽ được  
trình bày.  
24  
Lê Tiến Dũng, Trịnh Ngọc Văn, Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Đức Tường  
Trong đó ꢁꢂꢛ là bức ảnh của một người để đối chiếu; ꢁꢂꢝ  
là một bức ảnh khác của cùng một người với ꢁꢂꢛ và ꢁꢂꢡ là  
ảnh của một người khác với ꢁꢂꢛ và ꢁꢂꢝ. Từ bất đẳng thức (7)  
ta thấy rằng khoảng cách của các embeddings hai khuôn  
mặt của hai người khác nhau luôn lớn hơn khoảng cách của  
các embeddings của hai khuôn mặt cùng một người ít nhất  
là ꢟ (với mạng neuron của OpenFace, ꢟ = 0.2) [1].  
Gọi A, B, C là ba điểm landmarks được chọn trong bức  
ảnh gốc và A’, B’, C’ là ba điểm tương ứng của landmarks  
chuẩn, từ phương trình (1) ta có:  
ꢁꢌ  
ꢁ
ꢃꢌꢅ  
ꢈꢎꢎ ꢈꢎꢏ ꢈꢎꢐ  
ꢈꢏꢎ ꢈꢏꢏ ꢈꢏꢐ  
ꢌꢅꢍ = ꢆ  
ꢇ ꢉ ꢌꢊ  
(2)  
ꢃ
ꢋ
1
2.5. Xác minh khuôn mặt  
Sau khi biểu diễn khuôn mặt, việc xác minh là rất dễ  
dàng. Từ công thức (7) ta rút ra:  
ꢝ
ꢝ
ꢛ
ꢛ
ꢏ
ꢏ
ꢀ ꢄ  
||ꢚꢀꢁꢂ ꢄ ꢜ ꢚꢀꢁꢂ ꢄ||ꢏ ꢠ ||ꢚꢀꢁꢂ ꢄ ꢜ ꢚꢀꢁꢂ ꢄ||ꢏ ꢜ ꢟ 8  
Từ công thức (8) suy ra:  
ꢝ
ꢛ
ꢏ
ꢀ ꢄ  
0 ꢠ ||ꢚꢀꢁꢂ ꢄ ꢜ ꢚꢀꢁꢂ ꢄ||ꢏ ꢜ ꢟ 9  
Như vậy, khoảng cách Euclide của hai khuôn mặt của  
hai người khác nhau luôn lớn hơn ꢟ, trong bài báo này là  
0,2. Như vậy, khi lập trình, chỉ cần tính khoảng cách giữa  
khuôn mặt đã được lưu trong máy tính với khuôn mặt thu  
được từ camera, nếu khoảng cách này nhỏ hơn 0,2 thì kết  
luận là hai khuôn mặt là của cùng một người. Ngược lại,  
nếu lớn hơn 0,2 thì kết luận là hai khuôn mặt khác nhau.  
Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn, ta chọn ngưỡng thấp hơn,  
trong bài báo này chúng tôi chọn 0,18.  
Hình 4. Các điểm landmarks chuẩn được sử dụng  
ꢁꢑ  
ꢁ
ꢃꢑꢅ  
ꢈꢎꢎ ꢈꢎꢏ ꢈꢎꢐ  
ꢈꢏꢎ ꢈꢏꢏ ꢈꢏꢐ  
ꢑꢅꢍ = ꢆ  
ꢇ ꢉ ꢑꢊ  
(3)  
ꢃ
ꢋ
ꢋ
1
ꢁꢌ  
ꢁ
ꢃꢒꢅ  
ꢈꢎꢎ ꢈꢎꢏ ꢈꢎꢐ  
ꢈꢏꢎ ꢈꢏꢏ ꢈꢏꢐ  
ꢒꢅꢍ = ꢆ  
ꢇ ꢉ ꢌꢊ  
(4)  
ꢃ
2.6. Đọc ảnh từ sever  
1
Để đọc ảnh từ server trả về, trước hết, cần phải kết nối  
với server. Server trong bài báo này trả về ảnh dạng JPEG;  
đây là chuẩn nén ảnh phổ biến trên internet. Nếu server  
chỉ trả về một bức ảnh thì ta chỉ cần giải mã chuỗi dữ liệu  
nhận được trong biến stream là đã được một bức ảnh. Tuy  
nhiên, trong bài báo này, server liên tục trả ảnh về nên cần  
phải có cách để đọc từng chuỗi mã hóa ảnh trong stream  
ra. Để tìm được chuỗi mã hóa ảnh, ta cần tìm các chuỗi  
‘\xff\xd8’ và ‘xff\xd9’; đây là các chuỗi mở đầu và kết  
thúc được quy ước trong định dạng ảnh JPEG. Sau khi  
đọc được chuỗi mã hóa, ta sẽ xóa các giá trị từ ‘\xd9’ trở  
về trước. Quá trình đọc ảnh tiếp tục được lặp lại để đọc  
các ảnh tiếp theo.  
Giải hệ phương trình trên ta tìm ra H:  
ꢙꢎ  
ꢁꢌ ꢃꢌ  
1
0
1
0
1
0
0
0
0
1
0
1
0
ꢁꢌꢅ  
ꢃꢌꢅ  
ꢁ
ꢈ
ꢕ
ꢔ
ꢔ
ꢔ
ꢔ
ꢎꢎ
ꢘ  
ꢕ
ꢔ
ꢔ
ꢔ
ꢔ
ꢘ
ꢗ
ꢗ
ꢗ
ꢗ
ꢕ
ꢔ
ꢔ
ꢔ
ꢔ
ꢘ
ꢗ
ꢈ
0
0
ꢁꢌ ꢃꢌ  
0
ꢁꢑ ꢃꢑ  
0
ꢎꢏ
ꢗ  
ꢈ
ꢁꢑ ꢃꢑ  
0
ꢑꢅ
ꢗ  
ꢎꢐ
ꢗ  
=
(5)  
ꢃꢑꢅ  
ꢈꢏꢎ  
ꢈ
0
0
ꢃꢒ  
0
ꢗ
ꢗ
ꢁ
ꢓꢃꢒꢅꢖ  
ꢁ
ꢒ
0
ꢒꢅ
ꢗ  
ꢏꢏ
ꢗ  
ꢓꢈꢏꢐꢖ  
ꢓ 0  
ꢁꢒ ꢃꢒ 1ꢖ  
Ma trận biến đổi cuối cùng là:  
ꢈꢎꢎ ꢈꢎꢏ  
ꢈ
ꢈ = ꢆ  
ꢈꢏꢎ ꢈꢏꢏ ꢈꢏꢐ  
ꢎꢐꢇ  
(6)  
Trong bài báo này, các điểm landmarks số 39, 42 và 33  
được sử dụng để biến đổi.  
2.7. Lưu ảnh thành video  
2.4. Biểu diễn khuôn mặt  
Để lưu ảnh thành video, ta dùng hàm cv2.imwrite() của  
thư viện opencv. Ta có ba thông số cần phải khai báo.  
Thông số đầu tiên là tên của video (ví dụ ‘out.avi’), sau đó  
cần phải khai báo mã Fourcc và số khung hình trên một  
giây (frames per second). Cuối cùng là cờ isColor; nếu cờ  
này được set bằng True thì chương trình sẽ lưu thành video  
với các khung hình màu, nếu bằng False thì chương trình  
lưu lại thành video đen trắng.  
Để so sánh hai khuôn mặt, điều cần thiết là phải biểu  
diễn bức ảnh thành các tính chất để làm giảm sự biến thiên  
đối với các bức ảnh của cùng một người, trong khi đó phải  
làm tăng sự biến thiên đối với các bức ảnh của hai người  
khác nhau. Đây là phần quan trọng nhất trong quá trình xác  
minh khuôn mặt vì quá trình xác minh hoàn toàn dựa vào  
các tính chất này.  
Hệ thống của bài báo này sử dụng mạng neuron đã được  
luyện sẵn của thư viện mã nguồn mở OpenFace [1]. Mạng  
neuron có input là một bức ảnh màu RGB với kích thước  
96x96x3 và output là một vector chứa 128 số đo, được gọi  
là embeddings. Khoảng cách Euclide giữa hai embeddings  
của hai bức ảnh sẽ lớn nếu chúng thuộc về hai người khác  
nhau và sẽ nhỏ nếu chúng thuộc về hai người khác nhau.  
Fourcc là một đoạn mã dùng để nhận biết mã ảnh động  
(video codec), định dạng nén và định dạng pixel hoặc màu  
được sử dụng trong video. Mỗi mã Fourcc được ký hiệu  
bằng bốn chữ cái trong bảng mã ASCII. Mã Fourcc phụ  
thuộc vào hệ điều hành đang được sử dụng cũng như định  
dạng video; nếu khai báo sai mã Fourcc thì việc lưu video  
sẽ thất bại. Mã Fourcc được sử dụng trong bài báo này là  
‘MJPG’ với định dạng video là .avi. Nếu việc lưu video  
thất bại thì cần phải thử với các mã Fourcc khác trên trang  
ꢀ ꢄ  
Gọi ꢁ là một bức ảnh đầu vào và ꢚ ꢁ là vector chứa các  
embeddings của ꢁ [7]. Mạng này được huấn luyện sao cho:  
||ꢚꢀꢁꢂꢛꢄ ꢜ ꢚꢀꢁꢂꢝꢄ||ꢏꢏ ꢞ ꢟ ꢠ ||ꢚꢀꢁꢂꢛꢄ ꢜ ꢚꢀꢁꢂꢡꢄ||ꢏꢏ ꢀ7ꢄ  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 3(112).2017-Quyển 1  
25  
3. Phương pháp xử lý giọng nói  
3.1. Thư viện âm thanh MARF  
‚
‚
‚
Tốc độ mẫu âm thanh: 8.000Hz (8Khz).  
Độ phân giải mẫu: 16bit.  
Trong phạm vi bài báo này, chúng tôi nhận thấy việc  
xác minh người nói (speaker identifier) có ý nghĩa quan  
trọng hơn trong việc bảo mật của hệ thống thay vì nhận  
diện giọng nói, vì thế chúng tôi quyết định chọn những  
phần mềm, thiết bị liên quan tới công việc này.  
Kênh thu âm: 1 (mono).  
Nếu tập âm thanh không đúng định dạng trên thì nó sẽ  
được chuyển về đúng định dạng và ghi đè lên tập tin gốc.  
Sau khi huấn luyện lần đầu tiên thì một mô-đun có đuôi mở  
rộng là “.gzbin” và một tập tin “speaker.txt “ được tạo ra  
tại thư mục làm việc hiện tại. Tập tin “speaker.txt” chứa  
thông tin tên người nói và số ID của người nói. Tập tin  
“*.gzbin” chứa các đặc tính được phân tích ra từ tập âm  
thanh huấn luyện. Mỗi lần huấn luyện, tập tin “*.gzbin” sẽ  
được cập nhật lại.  
Để sử dụng thư viện piwho trong chương trình python  
chúng ta phải nhập thư viện:  
from piwho import recognition  
Hình 5. Giới thiệu về MARF  
recog = recognition.SpeakerRecognizer()  
Giải pháp phần mềm được đưa ra trong bài báo này là  
thư viện MARF (Modular Audio Recognition Framework)  
đã được chỉnh sửa lại để có thể sử dụng với ngôn ngữ lập  
trình python và hoạt động được trên máy tính Raspberry Pi.  
Nếu tập âm thanh dùng để huấn luyện và nhận diện nằm  
ở một thư mục khác thì chúng ta phải chỉ rõ ra địa chỉ của  
chúng. Ví dụ các tập tin nằm  
ở
địa chỉ  
‘/home/pi/recordings’:  
MARF là một nền tảng nghiên cứu mã nguồn mở và là  
một tập hợp của các thuật toán về xử lý giọng nói/ âm  
thanh/ ngôn ngữ được viết trên nền tảng java, được sắp xếp  
vào trong một mô-đun và một cái sườn có thể mở rộng  
được bằng việc thêm vào các thuật toán mới. MARF có thể  
chạy trên mạng (network) hoặc có thể hoạt động như một  
thư viện thêm vào các ứng dụng, hoặc có thể dùng như một  
nguồn để nghiên cứu và phát triển.  
recognition.SpeakerRecognizer(‘/home/pi/recordings/’)  
Để huấn luyện một tập dữ liệu âm thanh mới sử dụng  
câu lệnh:  
recog.train_new_data()  
3.4. Nhận diện người nói  
Sau khi thực hiện xong việc huấn luyện thì bước tiếp  
theo là thử nghiệm bằng việc chạy trình nhận diện người  
nói. Để thực hiện được điều này có một số yêu cầu như sau:  
3.2. Cài đặt thư viện  
Thư viện MARF được tùy biến thành thư viện piwho  
sử dụng cho ngôn ngữ lập trình python. Về bản chất, thư  
viện MARF được viết trên nền tảng java, vì vậy để sử dụng  
được thư viện chúng ta cần nền java tối thiểu là phiên bản  
1.7. Đối với máy tính Raspberry pi cũng như nhiều dạng  
máy tính linux khác, trong nhân máy đã được cài sẵn java.  
Để kiểm tra phiên bản của nền tảng java, chúng ta sử dụng  
câu lệnh:  
‚
Phải đảm bảo tập tin “*.gzbin” và “speaker.txt” nằm  
trong cùng thư mục, nơi chứa đoạn code python  
được thực thi.  
‚
Kiểm tra “speaker.txt” không phải là file trống.  
Thực hiện việc nhận diện bằng hàm identify_speakers()  
và kết quả trả về ‘name’ dưới đây là danh sách của hai  
người nói có điểm số tốt nhất trong tập huấn luyện. Người  
đầu tiên là người nói gần giống nhất, tức là có điểm số thấp  
nhất:  
$ java –version  
Để ghi âm phục vụ cho nhận diện người nói, chúng ta  
cần một thư viện âm thanh dành cho python là pyaudio:  
name = recog.identify_speaker()  
$ pip install pyaudio  
4. Giải pháp truyền thông  
Cuối cùng là câu lệnh cài đặt thư viện:  
$ pip install piwho  
4.1. Truyền hình ảnh qua mạng LAN  
Mạng LAN (Local Area Network) là tên của một loại  
mạng cục bộ. Các thiết bị kết nối trong mạng này có thể  
chia sẻ thông tin, dữ liệu với nhau mà không bị can thiệp,  
tấn công từ các thiết bị ngoài mạng. Việc truyền hình ảnh  
qua mạng LAN giúp các thiết bị trong mạng có thể xem  
được hình ảnh từ camera ở cửa gửi về. Để truyền được hình  
ảnh qua mạng LAN trên máy tính Raspberry Pi (sử dụng  
hệ điều hành Debian) chúng tôi sử dụng một dịch vụ  
(service) đi kèm, đó là motion.  
3.3. Huấn luyện máy nhận diện  
Việc huấn luyện máy nhận diện không quá khó khăn,  
người dùng chỉ việc lặp lại việc nói một câu nào đó nhiều  
lần với các âm điệu khác nhau, thường là từ năm đến mười  
lần. Sau khi các đoạn âm thanh được ghi âm xong, máy tính  
sẽ bắt đầu huấn luyện trên cả thư mục chứa các đoạn âm  
thanh đã được ghi âm và lưu tập huấn luyện được vào một  
tệp tin.  
Để cài đặt dịch vụ, chúng ta nhập vào terminal câu lệnh:  
sudo apt-get install motion.  
Yêu cầu của việc huấn luyện:  
‚
‚
Số lượng huấn luyện: Tối thiểu hai người.  
Để bắt đầu sử dụng dịch vụ chúng ta gõ vào terminal  
câu lệnh: sudo service motion start. Để dừng dịch vụ sử  
dụng câu lệnh: sudo service motion stop. Nếu việc truyền  
Định dạng tệp âm thanh huấn luyện: PCM signed  
(wav).  
26  
Lê Tiến Dũng, Trịnh Ngọc Văn, Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Đức Tường  
hình ảnh không như ý muốn, chúng ta có thể thay đổi các  
thông số trong tập tin cấu hình của dịch vụ bằng câu lệnh:  
sudo nano/etc/motion/motion.conf, lúc đó tập cấu hình  
được mở ra và chúng ta chỉnh sửa lại dựa trên chú thích  
trước mỗi thông số, hoặc tìm hiểu để biết thêm cách chỉnh  
sửa các thông số cho phù hợp.  
4.2. Giao tiếp với thiết bị khác qua giao thức MQTT  
MQTT là một giao thức truyền tin hiệu quả, đáng tin  
cậy dựa trên nền tảng giao thức TCP/IP được sử dụng phổ  
biến hiện nay. MQTT thích hợp với việc truyền tải những  
dữ liệu nhỏ, yêu cầu tốc độ nhanh và sự đồng bộ dựa trên  
phương pháp đăng ký/xuất bản (subscribe/publish) lên một  
kênh bất kỳ.  
MQTT có hỗ trợ ngôn ngữ python. Để cài đặt gói giao  
thức MQTT cho python, sử dụng câu lệnh pip install paho-  
mqtt. Để thêm thư viện MQTT vào chương trình python,  
sử dụng import paho.mqtt.client as mqtt. Để đăng nội dung  
lên một kênh (topic), sử dụngclient.publish(“topic”, data,  
qos=0, retain=False). Để đăng ký nội dung từ một kênh bất  
kỳ, sử dụng câu lệnh client.subscribe(“topic”, qos = 0).  
Chú ý, yêu cầu kênh đó phải tồn tại, có nghĩa là chúng ta  
phải chỉ rõ địa chỉ máy chủ nơi mà kênh được thiết lập và  
tồn tại, sử dụng client.connect (địa chỉ máy chủ, cổng, thời  
gian giữ tin). Ví dụ: ”client.connect("iot.eclipse.org",  
1883, 60)”.  
Hình 7. Mặt trước mô hình thực nghiệm thực tế  
5. Mô hình thực nghiệm  
Để kiểm nghiệm những đề xuất, giải pháp của bài báo,  
chúng tôi đã xây dựng một mô hình thực tế và đã thử  
nghiệm các phương án nhiều lần. Chương trình xác minh  
khuôn mặt đã xác minh đúng 98,55% số lần thử. Với chế  
độ bảo mật bằng bàn phím, tỷ lệ thành công là 100%, chế  
độ bảo mật bằng giọng nói có xác suất thành công là 91%,  
và chế độ bảo mật bằng thẻ RFID đạt tỷ lệ thành công  
100%. Với các chế độ kết hợp, RFID kết hợp xác minh  
khuôn mặt đạt tỷ lệ thành công là 96%; RFID kết hợp giọng  
nói đạt 89%, xác minh khuôn mặt kết hợp xác minh giọng  
nói đạt 88%. Như vậy, các chương trình cho kết quả với độ  
chính xác cao, chế độ RFID kết hợp với xác minh khuôn  
mặt là chế độ tốt nhất và nên được sử dụng.  
Hình 8. Mặt sau mô hình thực nghiệm thực tế  
6. Kết luận  
Bài báo đã trình bày phương án thiết kế hệ thống điều  
khiển cửa tự động sử dụng công nghệ xử lý giọng nói và  
công nghệ xử lý ảnh và các phương thức bảo mật kết hợp.  
Các thuật toán xử lý hình ảnh, nhận dạng giọng nói đã được  
trình bày chi tiết. Các thiết kế trình bày trong bài báo giúp  
làm chủ công nghệ, đưa ra giải pháp để chế tạo hệ thống  
điều khiển cửa thông minh có chất lượng tốt, nhiều ưu điểm  
so với các hệ thống đã được ứng dụng trong thực tiễn. Đồng  
thời, một mô hình thực tế đã được xây dựng để kiểm  
nghiệm các đề xuất của bài báo. Qua quá trình thử nghiệm  
thực tế, chúng tôi nhận thấy rằng mô hình hoạt động có  
hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đặt ra và có thể áp dụng  
được trong thực tiễn.  
Hình 6. Hình ảnh thiết kế mô hình và các thiết bị mặt trước  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 3(112).2017-Quyển 1  
27  
[5] Gonzalez, R.C. & E., W.R., 2007, Digital Image Processcing. 3rd  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
ed. Pearson.  
[1] Amos, B., Ludwiczuk, B. & Satyanarayanan, M., 2016, OpenFace:  
A general-purpose face recognition library with mobile application,  
CMU-CS-16-118, CMU School of Computer Science.  
[6] King, D.E., 2009, “Dlib-ml: A Machine Learning Toolkit”, Journal  
of Machine Learning Research, 10, page 1755-58.  
[7] Schroff, F., Kalenichenko, D. & Philbin, J., 2015, “FaceNet: A  
Unified Embedding For Face Recognition And Clustering”, In IEEE  
Computer Society Conference on Computer Vision and Pattern  
Recognition 2015., 2015.  
[2] Australian Border Force, n.d. The Department of Immigration and  
[Accessed 20 August 2016]  
[3] Bradski, G., 2000, “The OpenCV Library”, Dr. Dobb's Journal of  
Software Tools.  
[8] Xiamen Surmount Industry Co., Ltd., n.d, Xiamen Surmount  
Industry  
Co.,  
Ltd,  
[Online]  
Available  
at:  
[4] Chui,  
n.d.  
CHUI,  
[Online]  
Available  
at:  
(BBT nhận bài: 17/12/2016, hoàn tất thủ tục phản biện: 03/02/2017)  
pdf 6 trang yennguyen 19860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thiết kế hệ thống điều khiển cửa tự động sử dụng công nghệ xử lý giọng nói và công nghệ xử lý ảnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthiet_ke_he_thong_dieu_khien_cua_tu_dong_su_dung_cong_nghe_x.pdf