Sắc thái hóa ngôn ngữ thơ trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 11, Số 2, 2021 104-112  
SẮC THÁI HÓA NGÔN NGỮ THƠ TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA  
NGUYỄN DU  
Nguyễn Thị Nguyệt Trinha*  
aKhoa Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Quy Nhơn, Bình Định, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
Lịch sử bài báo  
Nhận ngày 22 tháng 12 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 26 tháng 02 năm 2021 | Chấp nhận đăng ngày 01 tháng 03 năm 2021  
Xuất bản trực tuyến ngày 16 tháng 4 năm 2021  
Tóm tắt  
Trên bình diện ngôn ngữ, thơ ca tiếng Việt có những đặc sắc riêng so với các nước đồng  
văn, không nghiêng về ý nghĩa trung tính mà có tính chất cảm tính, cụ thể. Bài viết xác định  
đại thi hào Nguyễn Du với bản lĩnh sắc thái hóa ngôn ngữ đã thể hiện được vẻ đẹp đặc  
trưng của ngôn ngữ thơ ca dân tộc qua kiệt tác “Truyện Kiều”. Tập trung phân tích bút  
pháp sắc thái hóa ngôn ngữ thơ của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” qua từ láy và từ ghép  
phân nghĩa sắc thái hóa cũng như vai trò, ý nghĩa của bút pháp này.  
Từ khóa: Ngôn ngữ thơ; Nguyễn Du; Truyện Kiều; Sắc thái hoá.  
Loại bài báo: Bài báo nghiên cứu gốc có bình duyệt  
Bản quyền © 2021 (Các) Tác giả.  
Cấp phép: Bài báo này được cấp phép theo CC BY-NC 4.0  
104  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
NUANCED POETIC LANGUAGE IN NGUYEN DU’S  
THE TALE OF KIEU  
Nguyen Thi Nguyet Trinha*  
aThe Faculty of Social Sciences and Humanities, Quy Nhon University, Binh Dinh, Vietnam  
*Corresponding author: Email: [email protected]  
Article history  
Received: December 22nd, 2020  
Received in revised form: February 26th, 2021 | Accepted: March 1st, 2021  
Available online: April 16th, 2021  
Abstract  
In terms of content, Vietnamese poetry has unique characteristics in relation to the poetry  
of other countries in the East Asia cultural sphere: Vietnamese poetry is not inclined to  
neutral meanings but specific, emotional meanings. This article examines the great poet  
Nguyen Du who had the ability to use nuanced language to express the beauty of the  
national language in poetry in his masterpiece, “The Tale of Kieu”. We analyze Nguyen  
Du's writing through the language of “The Tale of Kieu”, especially reduplication and  
compound words and their role in the work.  
Keywords: Nguyen Du; Nuanced language; Poetic language; The Tale of Kieu.  
Article type: (peer-reviewed) Full-length research article  
Copyright © 2021 The author(s).  
Licensing: This article is licensed under a CC BY-NC 4.0  
105  
Nguyễn Thị Nguyệt Trinh  
1.  
TỪ SẮC THÁI HÓA TRONG CÁC BẢN DỊCH THƠ  
Đã có nhiều nhà nghiên cứu miệt mài đi tìm, lý giải những giá trị đặc sắc của  
Truyện Kiều – kiệt tác của dân tộc Việt Nam, những đóng góp to lớn của Nguyễn Du  
khi sáng tạo thiên truyện thơ mang đậm bản sắc dân tộc dựa trên thiên tiểu thuyết Kim  
Vân Kiều truyện của Trung Quốc. Như Nguyễn Hữu Sơn đã chỉ ra một xu thế: “Khi  
chuyển đổi từ tác phẩm văn xuôi tự sự tới truyện thơ in đậm sắc thái trữ tình, Nguyễn  
Du đã thực hiện việc lựa chọn các nhân vật, sự kiện, tình tiết sao cho vẫn đảm bảo được  
nội dung cốt truyện và lại phải đảm bảo được mạch thơ, chất thơ, âm điệu, vần luật của  
thể thơ lục bát dân tộc” (Nguyễn, 2015, tr. 585-586), song song với một xu thế thứ hai:  
“gia tăng chất trữ tình, khai thác tâm trạng nhân vật và diễn tả phong cảnh thiên nhiên”  
(Nguyễn, 2015, tr. 592). Về bản chất đó là sự chuyển đổi về mặt loại hình và thể loại,  
nhưng không hề là một sự chuyển đổi đơn giản mà dựa trên những nền tảng, bản lĩnh  
vững vàng, trước hết là đặc điểm ngôn ngữ dân tộc. Nguyễn Du có bao nhiêu tài hoa  
trong việc “phù phép”, “hô biến” ra một viên ngọc quý kết tinh lấp lánh sắc màu mà qua  
bao thời đại tưởng chừng vẫn chưa nói hết?  
Khi tìm hiểu bản dịch những tác phẩm thơ ca từ một số nước đồng văn, chúng  
tôi nhận thấy một đặc điểm: thường số âm tiết được sử dụng trong bản dịch sẽ nhiều  
hơn so với văn bản gốc; nếu số âm tiết được giữ nguyên, thì sẽ có hiện tượng lược bỏ  
một phần nội dung, bù lại thêm vào khá nhiều những từ giàu ý nghĩa sắc thái, đặc biệt là  
từ láy. Có thể kể đến bài thơ Thái liên khúc kỳ 1 của Lý Bạch (Trung Quốc) trong dạng  
thức thơ tuyệt cú (4 câu, 28 chữ) khi được Tản Đà chuyển dịch sang tiếng Việt trong  
dạng thức thơ lục bát đã sử dụng số âm tiết gấp đôi (4 cặp câu lục bát, 56 chữ), được coi  
là một bản dịch tài hoa. Dễ nhận ra Tản Đà đã thêm vào rất nhiều những từ có ý nghĩa  
sắc thái hóa vốn không tồn tại trong nguyên tác, đặc biệt hai câu sau: “Nhật chiếu tân  
trang thủy để minh/ Phong phiêu hương duệ không trung cử” được Tản Đà dịch thành:  
“Áo quần mặc mới sáng tinh/ Nắng soi đáy nước lung linh bóng lồng/ Thơm tho vạt áo  
gió tung / Bay lên phấp phới không trung ngọt ngào” (Lý, 1937, tr. 8). Đây cũng chính  
là nét đặc trưng làm nên sức biểu cảm của bản dịch, sức gợi cảm tập trung những từ  
mang ý nghĩa sắc thái hóa: sáng tinh, lung linh, thơm tho, phấp phới, ngọt ngào.  
Tình hình cũng tương tự khi các dịch giả dịch thơ haiku sang tiếng Việt, như  
trường hợp bài haiku của Basho được dạy học trong sách giáo khoa lớp 10 qua bản dịch  
của Đoàn Lê Giang: “Từ bốn phương trời xa/ Cánh hoa đào lả tả/ Gợn sóng hồ Bi-oa”  
(Phan, 2006, tr. 156). Trong nguyên tác: “Shiho yori/ hana fukiirete/ Nio no nami” thì  
fukiirete chỉ là bay đến/ bay vào, những cánh hoa đào từ khắp nơi bay vào hồ Bi-oa làm  
nước hồ gợn sóng, việc thêm từ láy lả tả vào bản dịch đã sắc thái hóa trạng thái bay của  
hoa. Việc thêm vào các từ mang ý nghĩa sắc thái đã trở thành một hiện tượng đặc thù  
trong các bản dịch thơ từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Nét đặc thù này dựa trên đặc  
điểm của ngôn ngữ tiếng Việt, và chúng tôi nhận thấy đây cũng là một trong những  
phương thức làm nên vẻ đẹp ở tác phẩm mang vẻ đẹp tinh hoa của dân tộc – Truyện  
Kiều.  
106  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
SẮC THÁI HÓA LÀM NÊN SẮC THÁI DÂN TỘC TRUYỆN KIỀU  
Sắc thái hóa trong ngôn ngữ thơ ca chính là việc sử dụng những từ ngữ có ý  
2.  
nghĩa sắc thái thay vì những từ trung hòa mang tính chất khái niệm kiểu “Lá cây thì  
xanh”, “Mùa đông thường buồn…” nhằm đem lại một ấn tượng cụ thể, cảm tính cho đối  
tượng được nhắc đến. Nếu những nền thơ ca của ngôn ngữ khái niệm thiên về sử dụng  
từ trung tính về sắc thái, để nhiều khoảng trống, sức gợi trong lòng độc giả, thì thơ ca  
tiếng Việt hướng đến chọn lọc từ ngữ chính xác, đắc địa, khai thác kiệt cùng giá trị biểu  
cảm của nó. Phương thức sắc thái hóa được sử dụng chính là láy và ghép, trong trường  
hợp của Truyện Kiều có thể xét đến hai trường hợp tiêu biểu nhất: từ láy và từ ghép  
phân nghĩa sắc thái hóa.  
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra nét đặc sắc của Truyện Kiều trong nghệ thuật sử  
dụng từ láy. Tác giả Từ điển từ láy tiếng Việt khẳng định: “Láy là phương thức tạo từ  
đặc sắc của tiếng Việt… Mỗi từ láy chứa đựng trong mình sự thể hiện rất tinh tế và sinh  
động về sự cảm thụ chủ quan” (Hoàng, 2003, tr. 5). Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng – ngữ  
nghĩa cũng ghi nhận: “Sắc thái hóa là tác dụng điển hình của phương thức láy” (Đỗ,  
2005, tr. 192); “Nhờ tính hình tượng, nhờ tác dụng cảm giác hóa mà các từ láy của tiếng  
Việt có khả năng gợi hình ảnh, gợi ra cho chúng ta không chỉ những hiểu biết trí tuệ,  
trừu tượng, tách khỏi sự vật, hiện tượng mà là những hình ảnh, những cảm giác” (Đỗ,  
2005, tr. 395). Phạm Đan Quế khi tìm hiểu từ láy với việc miêu tả phong cảnh thiên  
nhiên trong Truyện Kiều đã nhận ra sự khác biệt giữa tính khái niệm và nét gần gũi,  
đượm hồn dân tộc: “Nguyễn Du không thể dùng loại thiên nhiên có tính chất khái niệm,  
trừu tượng của thơ Đường vốn chỉ thích hợp với việc biểu hiện nét tâm lý mang màu sắc  
vĩnh hằng, tĩnh tại. Do đó, nhà thơ của chúng ta phải sáng tạo trên chất liệu sẵn có để nêu  
lên được những cảnh thiên nhiên vừa sang trọng, vừa gần gũi, đượm hồn thơ dân tộc”  
(Phạm, 2013, tr. 129). Nhưng sắc thái hóa ngôn ngữ thơ Truyện Kiều không chỉ có từ láy  
mà còn phải kể đến từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa. Đỗ Hữu Châu chỉ ra dạng từ ghép  
này: “rất giống với các từ láy sắc thái hóa” (Đỗ, 2005, tr. 420), “mang những ấn tượng,  
những cảm thụ chủ quan của người nói” (Đỗ, 2005, tr. 422), dạng như trong veo, xanh  
rì, đỏ loét... Nếu tiếng Hán được coi là ngôn ngữ của khái niệm, thì tiếng Việt – kết tinh  
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – lại mang đậm vẻ đẹp cụ thể, cảm tính.  
Tính chất khái niệm của tiếng Hán kết tinh ở thơ Đường, chính là ở việc dùng  
những từ ngữ mang màu sắc trung tính, gợi hơn là tả. Phạm Đan Quế nhận xét: “Khi  
cần diễn tả một hành động, một đối tượng hay một tính chất nào đó với tính khách quan  
thì ta không dùng từ láy mà chỉ dùng từ với nghĩa trung hòa… hầu hết những từ láy đều  
là đánh giá riêng với sắc thái chủ quan” (Hoàng, 2003, tr. 263). Việc sử dụng từ láy, và  
cả từ ghép sắc thái hóa trong những bản dịch từ thơ Đường sang tiếng Việt đã thành  
hiện tượng có tính quy luật, phản ánh sự khác biệt trong cách thức sử dụng ngôn ngữ  
thơ ca của hai dân tộc. Từ “Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm” trong Thu hứng của Đỗ  
Phủ đến “Lác đác rừng phong hạt móc sa” trong bản dịch của Nguyễn Công Trứ thêm  
vào từ láy Lác đác, từ “Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch” – một sắc trắng đơn nhất  
không kèm theo sắc thái trong bản gốc Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị trở thành “Một vầng  
trăng trong vắt lòng sông” trong bản dịch của Phan Huy Thực… với những từ láy tượng  
107  
Nguyễn Thị Nguyệt Trinh  
thanh, tượng hình, từ ghép sắc thái hóa không đơn thuần chỉ là bản lĩnh, cá tính của  
người dịch, mà còn mang theo sắc thái, vẻ đẹp riêng của ngôn ngữ dân tộc.  
Vậy là, việc sắc thái hóa ngôn ngữ đã trở thành một đặc trưng nhận diện vẻ đẹp  
thơ ca dân tộc mà Truyện Kiều của Nguyễn Du là kết tinh đẹp đẽ nhất. Ở đây chúng ta  
chỉ xét riêng trường hợp những từ láy, từ ghép sắc thái hóa, biểu hiện rõ rệt nhất khả  
năng sắc thái hóa ngôn ngữ thơ trong Truyện Kiều.  
Trước hết là sắc thái hóa về màu sắc. Đã có nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra tài hoa  
của Nguyễn Du khi sử dụng các từ chỉ màu sắc, với khoảng 119 lần, chiếm 0,52%  
(Trần, 2003, tr. 257). Trong Thi pháp Truyện Kiều, Trần Đình Sử cho rằng: “bảng màu  
ngũ sắc trong Truyện Kiều ít tính chất tả thực mà nặng về tính biểu trưng, thể hiện  
những bản chất bất biến trong mô hình thế giới của tác giả. Ưu thế của các màu sáng thể  
hiện “nốt” lạc quan, tươi sáng, yêu đời trong cái nhìn về nhân sinh và vũ trụ” (Trần,  
2003, tr. 263). Ông cũng cho rằng Truyện Kiều không chỉ có màu ngũ sắc mà còn rất  
nhiều màu, “có nhiều màu tả thực, tái hiện màu vẻ đa dạng của cảnh vật, lấy màu của sự  
vật để tả cảnh, gợi tình”, “Nếu như màu ngũ sắc với tính chất bất biến, biểu trưng mang  
nặng tính quan niệm, thì màu cảnh vật là sự kết hợp thuộc tính màu khách quan với cảm  
nhận chủ quan” (Trần, 2003, tr. 265). Tuy nhiên, tác giả phân tích sự biến đổi của các màu  
qua các bức tranh tâm cảnh khác nhau mà chưa đi sâu phân tích thủ pháp làm nên sự thay  
đổi đẹp đẽ đó.  
Thử khảo sát một màu xanh trong Truyện Kiều, chúng ta có thể gặp rất nhiều  
những bảng màu khác nhau. Khi dùng từ đơn xanh, lục, bích ngôn ngữ thơ Nguyễn Du  
cũng mang tính tượng trưng hoặc khái niệm mang tính chất khái quát: lầu xanh, ngày  
xanh, sen vừa nảy xanh… nêu lên hiện thực khách quan, trần thuật sự kiện. Nhưng khi  
sử dụng từ láy hoặc từ ghép sắc thái hóa, màu xanh ấy trở nên chân thực, sinh động và  
mang đậm dấu ấn cảm xúc.  
Đầu tiên là cái màu xanh cỏ đầy sức sống ghi dấu cổ kim: “Cỏ non xanh dợn  
chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” (Nguyễn, 2018, tr. 7). Vốn dĩ hai câu  
là sự chuyển ý tài hoa của Thanh Hiên từ hai câu thơ cổ Trung Hoa: “Phương thảo liên  
thiên bích/ Lê chi sổ điểm hoa”, từ xanh dợn vốn gốc chỉ có một âm tiết bích chỉ màu  
xanh lục. Xanh dợn là màu xanh của cỏ mùa xuân, tươi và trải dài trong không gian vô  
tận loang ra như sóng. Nhưng cũng là màu cỏ ấy, khi Kim Trọng tương tư người cũ trở  
lại kiếm tìm thì chỉ là: “Một vùng cỏ mọc xanh rì,/ Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa  
đâu” (Nguyễn, 2018, tr. 19). Xanh rì đã là cỏ mọc dày, đậm, và quan trọng hơn, là màu  
xanh vô cảm. Màu cỏ tương ứng với sắc thái khác nhau của dòng nước ngày nào và bây  
giờ: “Dưới cầu nước chảy trong veo,/ Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha” (Nguyễn,  
2018, tr. 14) . Từ trong veo như mắt nhìn, như tình yêu mới chớm nở buổi chiều xuân  
đến trong vắt tĩnh lặng soi thấy đáy có sắc thái lạnh, sắc xanh nọ màu nước kia hợp lại  
tạo thành một không gian thiếu vắng cảm xúc trêu ngươi vào nỗi lòng của chàng trai đa  
tình.  
108  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Cũng là màu xanh ấy, nhưng có khi lại được đạm hóa, nhạt hóa với dạng láy  
dùng để miêu tả không gian vô định mênh mông: “Buồn trông nội cỏ rầu rầu,/ Chân  
mây mặt đất một màu xanh xanh” (Nguyễn, 2018, tr. 59).  
Kiều ở lầu Ngưng Bích là một đoạn thơ thể hiện tài hoa của Nguyễn Du khi  
miêu tả ngoại cảnh mà bật lên tâm cảnh. Đoạn thơ tuyệt bút dài 22 câu này có thể phân  
định tự thân theo lời của Nguyễn Du là nửa tình nửa cảnh với sự liền mạch về xúc cảm  
mà đa dạng về bút pháp ngôn ngữ thơ ca. Tình rõ rệt nhất là đoạn độc thoại nội tâm  
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng… Có khi gốc tử đã vừa người ôm” với giọng nổi  
bật là giọng kể. Kiều kể nỗi nhớ mong của nàng, những chỗ xót xa nhất của lòng nàng,  
với kiểu câu trần thuật, nghi vấn, ngoại trừ từ bơ vơ trực tiếp bộc lộ cảm nhận của Kiều  
về hoàn cảnh thực tại, Nguyễn Du thiên về sử dụng kiểu ngôn ngữ khái niệm dày đặc  
những điển cố cùng từ Hán Việt: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,/ Tin sương  
luống những rày trông mai chờ./ Sân Lai cách mấy nắng mưa,/ Có khi gốc tử đã vừa  
người ôm” (Nguyễn, 2018, tr. 59). Hiệu quả của phương thức này là giàu sức ám gợi mà  
tinh giản, hàm súc, tránh được sa vào kể lể dài dòng. Giản lược về thuật sự để thấm đẫm  
trữ tình ở những từ thuần Việt luống những, ngày trông mai chờ, cách mấy nắng mưa…  
Cảnh là đoạn sau và Nguyễn Du chuyển sang bút pháp miêu tả, không gian xa gần hiện  
ra trong đôi mắt nhìn của nàng Kiều. Nhưng là tả cảnh ngụ tình, nhìn qua nỗi buồn,  
nhuốm đẫm màu sắc tâm trạng. Trong nguyên tác Kiều ở lầu Ngưng Bích ở hồi 8  
“Vương hiếu nữ cam lòng dao sắc – Mã tú bà kế gạt hồng nhan”, cảnh được Thanh  
Tâm Tài Nhân miêu tả là ngoại cảnh bốn hướng đông tây nam bắc: “Đông nhìn biển  
xanh, một dòng nước sâu trong chén nhỏ; bắc ngóng kinh kỳ, trong mây cửa đế thành  
chạm hai con phượng; nam nhìn Kim Lăng, rồng cuộn hổ ngồi dưỡng chân nhân; tây  
nhìn Kì Sơn, kiêm gia bạch lộ nhớ mĩ nhân”. Cái nhìn ít nhiều mang tính luận bàn thế sự  
mông lung, mang dấu ấn của tác giả hơn là tâm tư của người con gái sa vào luân lạc.  
Sau đó là nỗi nhớ về cha mẹ, nhớ cảnh cùng chàng Kim thề nguyền được ghi lại trong  
hai câu, rồi Kiều viết Thập bất hài ghi lại nỗi buồn. Nguyễn Du đã giản lược những chi  
tiết cụ thể trong truyện, giữ lại cái cốt lõi mà rộng mở về hướng tâm tình. Cảnh không  
còn được miêu tả theo bút pháp tả thực mà trở nên bát ngát trong ấn tượng với những  
đại từ không xác định “Bốn bề bát ngát xa trông,/ Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”  
(Nguyễn, 2018, tr. 58)… Từ chỗ kể trực tiếp nàng Kiều nhớ, đã có sự chuyển dịch sang  
Kiều nghĩ đến người thân đang mòn mỏi ngóng trông mình, qua đó sự đa tình đa mang  
của nàng được thể hiện rõ nét hơn, tấm lòng hướng vọng của nàng cũng đau đáu hơn.  
Cái tình nhuộm màu cho ngoại cảnh biến thành tâm cảnh. Ngọn nước mới sa là nguyên  
tác, nhưng “Hoa trôi man mác biết là về đâu” là bút hoa cụ Nguyễn thêm vào. Nội cỏ là  
nguyên tác, nhưng rầu rầu cùng với “Chân mây mặt đất một màu xanh xanh” là được  
nhìn qua tâm trạng nàng Kiều của Nguyễn Du. Tiếng sóng quanh ghế ngồi cũng là  
nguyên tác, nhưng thêm ầm ầm câu thơ lại trở nên ba động. Kết cấu Buồn trông lặp đi  
lặp lại mở đầu mỗi cặp câu lục bát, gọi tên không gian, hạn định thời gian, hệ thống từ  
láy dày đặc, đặc biệt là dạng láy hoàn toàn xa xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm  
ầm… không hoặc ít biến đổi về âm điệu tạo ấn tượng về sự bất biến, cũng không gian  
ấy ngày này sang ngày khác, từ sớm đến khuya, mòn mỏi u buồn, cái tâm, cái tình  
đượm màu trong cảnh vật. Nội cỏ đã được sắc thái hóa và cả tâm trạng hóa mà trở nên  
rầu rầu, dạng láy xanh xanh nhạt hóa màu xanh. Đâu rồi sắc cỏ xanh dợn chân trời đầy  
sức xuân của ngày nào, để giờ chỉ còn một sắc xanh đơn điệu nhạt nhòa mơ hồ không  
109  
Nguyễn Thị Nguyệt Trinh  
phân biệt chân mây mặt đất? Có thể nói đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích thể hiện tuyệt bút  
của Nguyễn Du, không chỉ ở sự chuyển dịch của bút pháp thể loại, mà còn phổ vào  
những cung bậc sắc thái cảm xúc tinh tế của một đại thi hào.  
Nguyễn Du cũng lại chọn sắc xanh xanh làm nền cho không gian ly biệt giữa  
chàng Thúc và nàng Kiều: “Sông Tần một dải xanh xanh,/ Loi thoi bờ liễu mấy cành  
Dương Quan” (Nguyễn, 2018, tr. 81). Ngoài những địa danh, điển tích bản thân đã gợi  
lên không khí biệt ly, thì những từ láy xanh xanh, loi thoi càng giúp câu thơ thêm giá trị  
biểu cảm với sắc xanh đạm mạc như một bức tranh thủy mặc đẹp và đượm buồn.  
Những từ láy, từ ghép sắc thái hóa tô đậm dự cảm những trắc trở đang chờ trên  
bước đường luân lạc của người con gái: “Nàng thì cõi khách xa xăm,/ Bạc phau cầu giá,  
đen rầm ngàn mây./ Vi lô san sát hơi may,/ Một trời thu để riêng ai một người”  
(Nguyễn, 2018, tr. 52). Một từ xa xăm khiến cho sự xa thêm vời vợi, bạc phau, đen rầm  
vừa đối lập vừa tương hỗ nhấn mạnh nỗi lạnh lẽo, tối tăm trong cảm nhận của nàng  
Kiều. Từ bạc phau, đen rầm của không gian vũ trụ, sau này nàng sẽ vấp phải nỗi đen  
nỗi bạc của cuộc sống nhân sinh, từ một Sở Khanh “Bạc tình nổi tiếng lầu xanh” đến  
một Bạc Hạnh bạc từ tên đến tính “Bạc đem mặt bạc kiếm đường cho xa”, và một từ  
ghép phân nghĩa đen sì khắc họa đặc trưng mẫu người thiết diện vô tư đại diện cho thể  
chế xã hội, gia tăng sự lạnh lùng đến vô cảm: “Trông lên mặt sắt đen sì” (Nguyễn,  
2018, tr. 77).  
Sắc thái hóa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du thể hiện mạnh mẽ ở hệ thống từ  
láy tượng hình, tượng thanh giàu tính gợi hình gợi cảm. Ngôn ngữ thơ ca khái niệm  
thường chỉ gọi tên sự vật cùng hành động mà ít khi miêu tả một cách chi tiết, trong khi  
thơ ca Việt Nam thường hướng đến tìm ra những từ láy gợi tả hình ảnh, âm thanh sao  
cho chính xác, tinh tế nhất hành động, trạng thái của sự vật. Với tính chất mô phỏng, gợi  
tả, từ láy tượng hình tượng thanh trong ý nghĩa nguyên thủy là sự tái hiện thế giới một  
cách cụ thể, trực tiếp nhất. Thử viết lại câu thơ trong Truyện Kiều theo ngôn ngữ thơ ca  
khái niệm, ta chỉ cần: “Hải đường lả ngọn đông lân,/ Giọt sương gieo nặng cành xuân”  
là đủ. Thế nhưng Nguyễn Du gieo tiếp một từ la đà không chỉ diễn tả sức nặng trĩu  
xuống dao động của nhành hoa mà còn là tâm tư đang trĩu nặng nhớ nhung tương tư của  
tâm hồn người con gái. Từ láy tượng hình tượng thanh trong Truyện Kiều đa phần  
không chỉ diễn tả đắc địa tính chất, trạng thái của sự vật sự việc mà còn gợi tả tâm trạng,  
tăng thêm và hòa quyện màu sắc trữ tình vào một thiên kể chuyện mà từ ngữ dường như  
đều muốn động đậy xôn xao. Bằng một phép thế tương tự:  
Dưới cầu nước chảy  
bên cầu tơ liễu bóng chiều  
buông rủ  
Dường như ta vừa có một bài haiku cho một bức tranh thiên nhiên chiều xuân  
với bút pháp gợi tả, đơn sơ và rất ít nét, vũ trụ trong sự tồn tại đẹp tự nó. Trả lại những  
từ trong veo, thướt tha bức tranh bỗng xao động sóng tình, nào là trong veo của dòng  
nước hay mắt nhìn nhau hay mối tình đầu, nào là thướt tha của tơ liễu bóng chiều hay  
110  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
bóng ai kia soi vào đáy mắt? Bức tranh ngoại cảnh khách quan đã được phổ vào những  
rung động của tâm cảnh chủ quan.  
Này là bức tranh thu thuộc loại đẹp nhất cổ kim dưới đôi mắt nhìn của chàng  
Kim: Đáy nước in trời - Thành xây khói biếc - Non phơi bóng vàng. Ở đây có sự tài hoa  
của Nguyễn Du khi sử dụng ngôn từ thơ ca theo kiểu khái niệm ở câu bát, cộng thêm  
nghệ thuật xây dựng không gian qua thủ pháp đối lập tạo ấn tượng thị giác không gian  
vũ trụ đa chiều soi chiếu lẫn nhau, cùng với những sắc màu huy hoàng lộng lẫy mang  
ánh sáng. Thế nhưng, sẽ thiếu đi sự động đậy cho bức tranh nếu không điểm nhãn vào  
một từ láy long lanh được đảo lên đặt ở vị trí đắc địa ngay đầu câu, như một viên ngọc  
trong suốt, phát sáng và soi chiếu, chẳng những thổi linh cảm vào thiên nhiên mà còn  
cho thấy được nỗi lòng si tình của chàng trai đang mơ tưởng tới người trong lòng:  
“Long lanh đáy nước in trời,/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng” (Nguyễn, 2018,  
tr. 86).  
Để tái hiện cảm giác chân thật của chàng Kim khi nghe Kiều đàn, Nguyễn Du  
phổ vào một từ láy tượng thanh: “Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,/ Tiếng mau sầm  
sập như trời đổ mưa” (Nguyễn, 2018, tr. 30). Cũng là tiếng đàn ấy, nhưng sau mười lăm  
năm đã không còn u buồn nữa, Nguyễn Du sử dụng một loạt các từ láy: dìu dặt, đầm  
ấm, êm ái… So với những câu thơ gốc trong bài Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn: “Trang  
Chu hiểu mộng mê hồ điệp/ Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên” với từ ngữ có ý nghĩa  
trung tính, thì đoạn thơ của Nguyễn Du đem lại một sắc thái cụ thể hơn cho cung đàn  
đoàn viên của nàng Kiều.  
Cùng là tiếng sóng, nhưng tiếng sóng ầm ầm kêu quanh ghế ngồi đầy ba động  
khi Kiều ở lầu Ngưng Bích đã trở nên dữ dội đùng đùng khi ở sông Tiền Đường như lời  
cáo chung cho kiếp đoạn trường mười lăm năm: “Triều đâu nổi sóng đùng đùng,/ Hỏi  
ra mới biết là sông Tiền Đường” (Nguyễn, 2018, tr. 135).  
Tài hoa Nguyễn Du còn ở chỗ, trong Truyện Kiều ông sử dụng những từ mà  
chúng tôi tạm gọi là: “có sắc thái nước đôi” để miêu tả cảnh vật. Cái gọi là nước đôi  
này, là những từ này vừa có thể dùng miêu tả cảnh, vừa có thể dùng miêu tả tâm trạng,  
vậy nên khi tả cảnh cũng ngầm ẩn tả tình ở bên trong. Nội cỏ rầu rầu là nội cỏ mang  
nặng nỗi buồn trông của nàng Kiều. Cũng tương tự là trường hợp nao nao trong “Nao  
nao dòng nước uốn quanh,/ Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” (Nguyễn, 2018,  
tr. 8). Từ điển từ láy tiếng Việt giải thích nao nao: “(Dòng nước nhỏ) chảy hơi mạnh,  
mặt nước gợn sóng, nhẹ hướng chảy về một miền xa”, mà nao nao cũng là: “Hơi xao  
xuyến trong lòng, với những xúc động nhẹ và kéo dài. Lòng nao nao nghĩ ngợi. Tiếng  
hát nao nao lòng người” (Hoàng, 2003, tr. 312). Vậy là, tả cảnh cũng đúng mà tả tình  
cũng không sai, bức tranh du xuân từ đầu đến cuối là những rung động tế vi của thiên  
nhiên và của lòng người như một khúc nhạc dạo đầu cho bản tình ca Kim-Kiều đang sắp  
sửa.  
Với sự tinh tế quan sát của “đôi mắt nhìn thấu sáu cõi”, sự nhạy cảm của “tâm  
hồn nghĩ suốt nghìn đời”, Nguyễn Du đã để lại dấu ấn riêng biệt của mình trong Truyện  
Kiều qua việc sử dụng ngôn ngữ thơ ca được sắc thái hóa một cách chuẩn xác, tài hoa.  
111  
Nguyễn Thị Nguyệt Trinh  
Trong nhiều trường hợp của thơ ca trung đại, khi sáng tác thơ bằng chữ Hán, các  
nhà thơ Việt Nam vẫn tuân thủ những đặc trưng của ngôn ngữ khái niệm: sử dụng từ  
trung tính, hạn chế những từ tu sức. Chẳng hạn trong Chinh phụ ngâm khúc, Đặng Trần  
Côn sử dụng có biến đổi hai câu thơ gốc của Lý Bạch: “Cổ bề thanh động Tràng Thành  
nguyệt/ Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân”, nhưng vẫn là ngôn ngữ khái niệm bằng  
cách sử dụng từ trung tính: động, chiếu. Đến bản dịch thơ, nghĩa là đã Việt ngữ hóa, đặc  
trưng ngôn ngữ thơ tiếng Việt xuất hiện, và được coi là cặp câu thơ giàu thi ảnh và tài  
hoa hàng đầu xưa nay bất chấp nguồn gốc của nó: “Trống Tràng Thành lung lay bóng  
nguyệt/ Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây”. Sự thay đổi cốt yếu, làm nên tính sinh động  
và gợi cảm cho câu thơ chính là nằm ở cặp từ láy sắc thái hóa lung lay, mờ mịt thay cho  
động, chiếu, tô đậm ấn tượng khi đây đều là những từ láy tượng hình, khiến người đọc  
như cảm nhận được trạng thái dao động của vầng trăng cũng như sự dày đặc của khói  
mây, ấn tượng về cuộc chiến tranh càng rõ rệt. Hơn nữa, bản thân từ lung lay lại vừa có  
giá trị tác động: A lung lay B, lại vừa chỉ trạng thái, hình ảnh: B lung lay. Trường hợp  
Nguyễn Du, khi sáng tác thơ chữ Hán ngôn ngữ thơ ông cũng mang những đặc điểm  
của ngôn ngữ khái niệm, mà chuyển sang Tiếng kêu mới đứt ruột ông đã đưa vào mọi  
sắc thái lung linh của tiếng Việt.  
3.  
KẾT LUẬN  
Trên bình diện ngôn ngữ, thơ ca tiếng Việt có những đặc sắc riêng so với các  
nước đồng văn, mà nổi bật chính là tính sắc thái đầy cảm tính và cụ thể. Truyện Kiều  
của Nguyễn Du là đỉnh cao của ngôn ngữ thơ ca dân tộc với bản lĩnh sắc thái hóa ngôn  
ngữ của nhà thơ thiên tài. Sắc thái hóa không chỉ làm cho hình ảnh, bức tranh thơ thêm  
phần sinh động, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong chuyển tải thế giới nội tâm nhân  
vật, góp phần trữ tình hóa thiên truyện “đứt ruột” này. Đây cũng là “lằn ranh” thử thách  
dịch giả chuyển ngữ kiệt tác của dân tộc Việt Nam ra tiếng nước ngoài khi người dịch  
không chỉ phải tìm ra những từ ngữ tương đồng về mặt khái niệm mà còn phải giữ lại  
được sắc thái ngôn ngữ có trong bản gốc, không chỉ giữ được ý mà còn phải bảo lưu cả  
tình, hình, nhạc, vừa vặn những từ láy, từ ghép phân nghĩa sắc thái hóa trong tác phẩm  
lại hội tụ đầy đủ nhất những vẻ đẹp này. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, từ láy, từ  
ghép phân nghĩa sắc thái hóa có vai trò còn hơn là những từ có ý nghĩa tu sức, nếu có  
thể chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này trong một dịp khác.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Đỗ, H. C. (2005). Tuyển tập Từ vựng, ngữ nghĩa (Tập 1). NXB Giáo dục.  
Hoàng, V. H. (2003). Từ điển từ láy tiếng Việt. NXB Từ điển Bách Khoa.  
Lý, B. (1937). Thái liên khúc (kỳ 1) (Đ. Tản, dịch). Ngày nay, (89), 8-20.  
Nguyễn, D. (2018). Truyện Kiều (D. A. Đào, hiệu khảo & chú giải). NXB Văn học.  
Nguyễn, H. S. (2015). So sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện từ sự chuyển đổi  
loại hình và thể loại. In trong H. S. Nguyễn, Truyện Kiều – so sánh và luận bình  
(tr. 585-586). NXB Văn học.  
Phạm, Đ. Q. (2013). Thế giới nghệ thuật Truyện Kiều. NXB Thanh niên.  
112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Phan, T. L. (Tổng Chủ biên). (2006). Ngữ văn 10 (Tập 1, 2 – Sách cơ bản). NXB Giáo  
dục.  
Trần, Đ. S. (2003). Thi pháp Truyện Kiều (Tái bản lần 1). NXB Giáo dục.  
113  
pdf 10 trang yennguyen 15800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sắc thái hóa ngôn ngữ thơ trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsac_thai_hoa_ngon_ngu_tho_trong_truyen_kieu_cua_nguyen_du.pdf