Những biểu hiện của hành vi từ chối gián tiếp trong tiếng Việt (Có so với tiếng Nga)

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034  
Bài am luận  
Open Access Full Text Article  
Những biểu hiện của hành vi từ chối gián tiếp trong tiếng Việt (có  
so với tiếng Nga)  
Trương Thị Lan Hương*  
TÓM TẮT  
Trong Ngữ dụng học, hành vi ở lời là hành vi được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm hơn cả, một  
trong những hành vi đó là hành vi từ chối, hành vi phổ quát của mọi ngôn ngữ. Ở các cuộc hội  
Use your smartphone to scan this  
thoại có tính liên ngôn ngữ - văn hóa thì hành vi từ chối là một hành vi rất quan trọng. Lịch sự  
QR code and download this article  
trong giao tiếp là nguyên tắc chung trong tương tác xã hội của mỗi nền văn hóa, thể hiện phép  
lịch sự khi thực hiện hành vi từ chối mà không làm mất thể diện người đối thoại không phải là điều  
dễ dàng.  
Từ chối là một hành động thường gặp trong giao tiếp, trong tình huống nhận được lời mời, đề nghị  
hay lời khuyên bảo, yêu cầu nào đó mà chúng ta không thể chấp nhận thì cần có phương thức từ  
chối phù hợp. Lựa chọn hình thức từ chối theo lối gián tiếp là cách phản hồi hữu hiệu khi vừa biểu  
thị sự không đồng ý theo hướng được đề xuất vừa giữ được thể diện cho người nghe. Trong bài  
viết này, dựa trên khối ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Nga từ các tác phẩm văn học đã được xuất bản  
và được đăng tải trên mạng internet, tác giả tiến hành trình bày một số biểu hiện của hành vi từ  
chối gián tiếp trong tiếng Việt (có so với tiếng Nga). Qua đó góp phần giúp ích cho người Việt học  
tiếng Nga hay người nói tiếng Nga học tiếng Việt trong việc sử dụng các phát ngôn từ chối gián  
tiếp.  
Từ khoá: hành vi từ chối, từ chối gián tiếp, phương tiện biểu đạt, tiếng Việt, tiếng Nga  
vào thực tiễn giao tiếp đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục  
nghiên cứu cụ thể hơn trong sự so sánh với tiếng Việt.  
Dựa trên hơn 200 ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Nga dẫn  
từ các tác phẩm văn học, bài viết này tác giả khảo sát  
các biểu hiện hành vi từ chối gián tiếp (HVTC GT)  
trong tiếng Việt (có so với tiếng Nga). Tác giả hy vọng,  
bài nghiên cứu có thể góp phần nâng cao hiệu quả  
việc học ngoại ngữ cho người Việt học tiếng Nga hoặc  
người Nga học tiếng Việt khi gặp trường hợp phải đưa  
ra lời TC. Lời từ chối gián tiếp (TCGT) sẽ tạo ra sự  
khéo léo, uyển chuyển khi giao tiếp ở môi trường liên  
văn hóa. Dù ở nền văn hóa nào thì phép lịch sự trong  
giao tiếp là nguyên tắc nền tảng để duy trì lâu dài mối  
quan hệ xã hội.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong hội thoại hằng ngày, đôi lúc chúng ta phải đối  
mặt với những lời rủ rê, mời mọc, lời khuyên chân  
thành, lời khen... từ người đối thoại. Khi không thể  
đồng ý, người từ chối (TC) phải thật sự khéo léo để  
biểu thị ý nghĩ của bản thân không muốn tiếp nhận  
nhưng vẫn duy trì phép lịch sự trong giao tiếp, tránh  
tổn hại đến tình cảm người nghe. Do đó, TC theo  
phương thức gián tiếp là lựa chọn tối ưu thay vì trả lời  
“không” một cách trực tiếp. Lời TC nói ra đã khó mà  
còn thể hiện nó trong công tác ngoại giao hay đối với  
người học ngoại ngữ lại càng khó hơn.  
Tiếng Nga du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ trước và  
đã ghi dấu ấn sâu đậm trong nhiều lĩnh vực như khoa  
học, kỹ thuật, văn hóa, kinh tế... Hiện nay, thời thịnh  
vượng của tiếng Nga tuy không còn như xưa nhưng  
tiếng Nga vẫn có tầm ảnh hưởng đến một số mặt  
của đời sống xã hội tại Việt Nam. Tiếng Nga vẫn có  
một chỗ đứng riêng cho mình trong số các ngoại ngữ  
được ưa chuộng nhiều như tiếng Anh, tiếng Hàn hay  
Nhật... êm nữa, dòng chảy tiếng Nga không ồn ào,  
mãnh liệt nhưng đất nước – con người Nga xinh đẹp,  
hiền hòa vẫn làm đắm say người Việt qua bao thế hệ.  
Những khó khăn chung khi học ngoại ngữ, đặc biệt  
Trường Đại học ủ Dầu Một, Việt Nam  
Liên hệ  
Trương Thị Lan Hương, Trường Đại học Thủ  
Dầu Một, Việt Nam  
Email: trglanhuong@gmail.com  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 9/12/2020  
• Ngày chấp nhận: 31/5/2021  
• Ngày đăng: 06/6/2021  
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.670  
Ở Việt Nam công trình xuất hiện gần như sớm nhất  
trong nghiên cứu về lời TC của Nguyễn Phương Chi  
[1, tr.12-13], năm 2004 tác giả cũng đã nghiên cứu  
thành công luận án tiến sỹ “Một số đặc điểm văn  
hóa ứng xử của hành vi từ chối trong tiếng Việt (có  
sự đối chiếu với tiếng Anh)”. Trước đó, Nguyễn ị  
Hai [2, tr.1-12] nghiên cứu hành động TC trong giao  
tiếp song thoại đối với các hành động “cầu khiến”,  
“đòi hỏi”, “van xin”; “khuyên can”; “mời”; “cảm ơn”;  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
với ngoại ngữ khó như tiếng Nga để có thể áp dụng “khen”, “chúc tụng” và “hỏi” trong tiếng Việt. Trần  
Trích dẫn bài báo này: Hương T T L. Những biểu hiện của hành vi từ chối gián tiếp trong tiếng Việt  
(có so với tiếng Nga). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 5(2):1026-1034.  
1026  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034  
Chi Mai3 với luận án “Phương thức biểu hiện hành vi (2) Hành vi chào được thực hiện thông qua hành vi  
từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng  
Việt)” nghiên cứu về hành vi TC lời cầu khiến ở góc độ  
cấu trúc – ngữ nghĩa – ngữ dụng. Lưu Quý Khương và  
Trần ị Phương ảo [4, tr.13-21] khảo sát cách lựa  
chọn ngôn từ và chiến lược giao tiếp của người Anh  
và người Việt khi TC một đề nghị giúp đỡ với các đối  
tượng giao tiếp khác nhau trong 3 tình huống cụ thể.  
eo quan sát của tác giả, vấn đề nghiên cứu về hành  
vi TC khá phong phú và đa dạng, tuy nhiên trong mỗi  
ngôn ngữ cụ thể, hành vi TC được biểu hiện rất khác  
nhau. Các công trình đi trước đã trở thành nền tảng  
trong nghiên cứu này của chúng tôi.  
hỏi, khen:  
Bác mới đi chợ về đấy ạ?  
Nhìn anh dạo này trẻ trung thế!  
(3) Hành vi mong muốn có thể được thực hiện thông  
qua hành vi cảm thán:  
Cây son này màu đẹp quá đi!→ Mong được người  
nghe mua tặng.  
Hành vi từ chối gián tiếp  
Từ chối, theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê là một  
động từ có ý nghĩa “không chịu nhận cái được dành cho  
hoặc được yêu cầu” [6, tr.1036].  
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG  
PHÁP NGHIÊN CỨU  
Như vậy từ chối có nghĩa biểu thị sự không chấp nhận,  
không đồng tình với một đề xuất thay đổi nào đó diễn  
ra trong quan hệ hội thoại.  
Đối tượng nghiên cứu  
Khi đứng trước lời đề nghị, lời khuyên bảo, lời khen...  
chúng ta khó lòng phục tùng thì bắt buộc phải thể  
hiện sự khước từ. ay vì hồi đáp hiển ngôn “Không”;  
“Tôi không muốn”; “Tôi không thích” dễ làm tổn hại  
thể diện người đối thoại, HVTC GT là hành vi ngôn  
ngữ biểu hiện không tường minh ý định TC của người  
nói. Lúc này, người nói cố tình vi phạm các quy tắc  
hội thoại của Orecchioni, sự vi phạm các quy tắc này  
nhằm mục đích biểu đạt ý từ chối trong trường hợp  
không tiện nói trực tiếp. Lời TC được bày tỏ một cách  
khéo léo, tế nhị, đồng thời giảm bớt sự hụt hẫng cũng  
như gia tăng thái độ thông cảm ở người tiếp nhận.  
Người nghe gián tiếp nhận ra ý định TC của người nói  
dựa vào ngữ cảnh, vào vốn hiểu biết và kinh nghiệm  
ngôn ngữ của bản thân. Ví dụ:  
Đề tài tập trung nghiên cứu những biểu hiện hành vi  
từ chối gián tiếp trong hội thoại tiếng Việt (có so với  
tiếng Nga).  
Phạm vi nghiên cứu là các phát ngôn ở lượt lời thứ 2  
của hội thoại trong tiếng Việt và tiếng Nga. Tác giả  
không nghiên cứu các HVTC phi lời nói như xua tay,  
lắc đầu hay nhún vai.  
Phương pháp nghiên cứu  
Trong bài viết này, tác giả sử dụng các phương pháp  
nghiên cứu cơ bản đang sử dụng phổ biến và có hiệu  
quả như:  
- Phương pháp miêu tả, phân tích: Đề tài tập trung  
miêu tả, phân tích ngữ liệu để tìm ra các phương thức  
biểu hiện HVTC GT trong tiếng Việt và tiếng Nga.  
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ: Tác giả sử dụng  
phương pháp thống kê để tổng hợp các HVTC GT  
trong tiếng Việt và tiếng Nga.  
(4) - Mình ngồi xuống đây tôi hỏi cái này.  
- ì hẵng ra ăn kẻo canh nguội hết. Bữa nay canh cải  
nấu giò ngon lắm. [7, tr.106]  
- Phương pháp đối chiếu: Từ các kết quả đã phân tích  
và miêu tả thu thập được, tác giả so sánh sơ bộ để tìm  
ra những tương đồng và khác biệt của hành vi TC giữa  
tiếng Việt và tiếng Nga trên bình diện ngữ nghĩa.  
Ở lượt đáp lời, người nói thể hiện hành vi TC của  
mình bằng cách trì hoãn lời đề nghị. Cố ý đẩy lùi thời  
điểm thực hiện hành vi tiền vị yêu cầu về phía tương  
lai xa hơn bằng cách đưa ra một đề nghị khác (ra ăn  
canh cải nấu giò).  
KHÁI NIỆM VỀ HÀNH VI GIÁN TIẾP  
VÀ HÀNH VI TỪ CHỐI GIÁN TIẾP  
ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG BIỂU HIỆN  
HÀNH VI TỪ CHỐI GIÁN TIẾP TRONG  
TIẾNG VIỆT (CÓ SO VỚI TIẾNG NGA)  
Khái niệm hành vi gián tiếp  
Tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Một hành vi tại  
lời này nhằm đến một hiệu lực tại lời là một hành vi  
khác, thì hành vi này được gọi là một hành vi gián tiếp”  
[5, tr.60].  
Hành vi từ chối biểu hiện bằng việc trình  
bày lý do từ chối  
TC bằng cách đưa ra lý do, dù là lý do khách quan  
hay chủ quan là lựa chọn ít ảnh hưởng đến mối quan  
hệ giữa đôi bên tham thoại. Đây là phương tiện biểu  
hiện hành vi TC được sử dụng rất phổ biến trong tiếng  
Việt.  
eo đó, một hành vi ngôn ngữ gián tiếp có thể được  
thực hiện nhờ những hành vi tại lời khác nhau:  
(1) Anh có nghe thấy con đang khóc không? → Hành  
vi tại lời là một câu hỏi nhưng có hiệu lực tại lời là  
hành vi yêu cầu, đề nghị được giúp đỡ trông con.  
1027  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034  
(5) - Nếu không có việc làm ăn, thôi ở đây mà làm hai đối tượng, nhận diện rõ ý muốn của chủ thể phát  
ngôn. Chính việc ngỏ ý cho hướng lựa chọn mới đã  
tạo thêm luận cứ vững chắc để người nghe hiểu được  
đáp án từ chối trong lời đáp phía người nói.  
gạch. Làm gạch không khá gì mấy song cũng đủ cơm  
ăn.  
- Tôi muốn lắm, ngặt vì thuở nay tôi chưa làm, không  
biết có làm được hay không. [8, tr.137]  
(9) - Chú kiếm rổ hay cái gì, bảo tôi lấy cho.  
- A! Không, - Tư Mắm giật mình quay lại. - Qua coi  
nhà còn gì nhậu được nữa không thôi mà. - Rồi hắn  
cầm chai rượu ra, rủ rỉ nói với dì Tư Béo đang loay  
hoay cầm khăn lau cốc bên bàn - Nấu nồi cháo cua ăn  
chơi đi, dì Tư!  
(6) - Ơ kìa hai cụ chủ tịch, chúng con kính chào hai  
cụ, lại cả mẹ con nhà cái câm! Chúng con vô phép  
hai cụ, hay là…vào cả đây, vào đây. Đi sớm ra ngõ mà  
gặp của rơi được là gặp may suốt phiên chợ đấy, các  
cụ ạ (…). Nào mời cụ, mời hai cụ…Rượu với lòng lợn  
sáng sớm là ngon chí tử đấy ạ.  
- Cháo cua làm gì! Nhà vừa nấu nồi cháo gà cho mấy  
ông khách. Họ chỉ húp mấy người vài muỗng, vì trước  
đó đã ních hết rá bún rồi, còn ăn uống gì nữa. Trời, nồi  
cháo gà nấu đậu xanh, ngọt lắm. Để hâm nóng lại thôi!  
- Chúng tôi có công tác… [9, tr.406]  
Với người Nga, đưa ra lý do khách quan hay chủ quan  
với mục đích ngầm ẩn ý TC sao cho dễ được chấp  
nhận là phương tiện thường xuyên được ưa dùng.  
(7) - Дaй, xoзяин, пoкypить бeднoмy чeлoвeкy, -  
cкaзaл oн cквoзь  
[
12, tr.45-46]  
Tuy nhiên, không phải lúc nào TC bằng cách nêu giải  
pháp khác cũng mang lại hiệu quả tích cực, hài lòng  
đối tượng. Ví dụ:  
пpyтья. - Moй тaбaк пpoтив твoeгo нe тaбaк, a,  
мoжнo cкaзaть, oтpaвa.  
(10) - Mày cứ hỏi lôi thôi!  
- Em phải hỏi nhiều chứ. Về nhà, anh ấy sợ người già,  
cứ ngồi tựa cột, hỏi không buồn nói, như bỏ quên cái  
miệng ở đâu, bây giờ ra đường lại nghịch hơn con ma  
rúi. Anh ấy ghét ở rể lắm phải không? À này em nghe  
nói làng sắp xóa lệ con trai không phải đi ở rể?  
- Я бы дaл, - впoлгoлoca oтвeтил Лoнгpeн, - нo  
тaбaк y мeня в тoм кapмaнe. Mнe, видишь, нe  
xoчeтcя бyдить дoчкy.  
[
10, tr.49-50]  
(- Ông chủ ơi, cho kẻ nghèo hèn này hút với. – Anh ta  
nói với qua mấy cành lá. -uốc lá của tôi mà so với  
thuốc của ông thì chỉ là cỏ thôi.  
- Tôi sẵn sàng cho anh, - Lông-ren nói nhỏ, - nhưng  
thuốc tôi lại để ở túi bên kia. Mà tôi thì, anh thấy đấy,  
lại không muốn làm mất giấc ngủ của con bé... )  
(8) - Я… я люблю вac! (…)  
- Я, Bepa Γaвpилoвнa, oчeнь блaгoдapeн вaм, xoтя  
чyвcтвyю, чтo ничeм нe зacлyжил тaкoгo…  
c вaшeй cтopoны… чyвcтвa. Bo-втopыx, кaк  
- Cô về hỏi người già ấy.  
[
13, tr.237]  
Câu trả lời ngắn gọn cộng với giọng điệu gắt gỏng của  
chàng trai khiến lời TC trở thành bất lịch sự, biểu hiện  
ý định muốn chấm dứt cuộc hội thoại.  
Trái ngược với người Việt, người Nga chủ yếu hướng  
đến thái độ TC mang tính lịch sự nhiều hơn khi kết  
hợp nhã ý đưa ra hướng lựa chọn mới kèm theo lời  
giải thích phù hợp. Ví dụ:  
(11) - Hy, вoт и мocтик! - cкaзaл Oгнeв. - Тyт вaм  
пoвopaчивaть нaзaд…  
Bepa ocтaнoвилacь и пepeвeлa дyx.  
- Дaвaйтe пocидим, - cкaзaлa oнa, caдяcь нa  
oдин из cтoлбикoв. - Пepeд oтъeздoм, кoгдa  
пpoщaютcя, oбыкнoвeннo вce caдятcя. [11, tr.63]  
(- ôi, cầu đây rồi! - Ôgơnép nói. - Đến đây thì cô  
trở lại được rồi...  
Vêrơska dừng lại, thở vài thật sâu rồi thở ra.  
- Ta ngồi xuống đây một lúc đi, - Vêrơska vừa nói vừa  
ngồi xuống một trụ cầu. - Trước khi ra đi, lúc chia tay,  
thường thường người ta vẫn ngồi lại với nhau ít phút).  
чecтный чeлoвeк,  
я дoлжeн cкaзaть, чтo…  
cчacтьe ocнoвaнo нa paвнoвecии, тo ecть кoгдa  
oбe cтopoны… oдинaкoвo любят… [11, tr.65 - 66 ]  
(- Tôi... tôi yêu anh! (…)  
- Cô Vêrơska ạ, tôi rất biết ơn cô, mặc dầu tôi cảm thấy  
rằng tôi chẳng có gì tốt đẹp để xứng đáng được... hưởng  
tình cảm mà cô vừa bày tỏ. ứ hai là, với tư cách là  
một người trung thực, tôi phải nói rằng... hạnh phúc  
được xây dựng trên sự cân bằng, có nghĩa là khi mà cả  
hai bên...cùng yêu ở mức độ như nhau...)  
Trình bày lý do để tỏ ý TC khi không tiện theo hướng  
hành vi tiền vị tạo được độ thuyết phục cao. Tùy thuộc  
từng ngữ cảnh mà người nói đưa ra lý do phù hợp, tế  
nhị, giảm thiểu tối đa việc tổn hại thể diện cho người  
đối thoại.  
Hành vi từ chối biểu hiện qua lời hứa hẹn  
Hình thức TC bằng một lời hứa là cách thể hiện có  
tính lịch sự cao. Mang hàm ý trì hoãn việc thực hiện  
yêu cầu hành vi tiền vị chỉ là nhất thời. Ví dụ:  
(12) Phong tỏ ra ngại, nhưng anh không dám để lộ  
cho Lan biết cái sự ngại ngùng của mình. Chiều nay  
Lan đã xin Huy, chủ nhật, cho phép Phong được đi  
Hành vi từ chối biểu hiện bằng việc đưa ra  
hướng lựa chọn mới  
TC bằng việc đề xuất thêm hướng lựa chọn khiến  
người nghe có thể ngầm nhận biết sự so sánh giữa chơi. Lan sẽ đưa Phong về nhà cô chơi.  
1028  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034  
- Để khi nào anh ra viện, Phong nói, chúng mình sẽ đi, - Я дaвнo xoтeлa cкaзaть вaм, - пpибaвилa oнa и,  
như thế thoải mái hơn. [14, tr.70]  
пepeйдя нecкoлькo шaгoв, ceлa y yглoвoгo cтoлa c  
Huy từ chối đi chơi cùng Lan vào ngày chủ nhật thông aльбoмaми. [15, tr.247]  
qua lời hứa “để khi nào anh ra viện”. Lời hứa tạo cho  
cô sự trấn an và tâm lý thoải mái cùng với lý do “đi  
như thế sẽ thoải mái hơn”.  
(- Tôi vừa nhận được thư ở Mạc-tư-khoa. Họ cho biết  
là Kitty Tsecbatxkaia bị ốm nặng.  
- ực ạ? – Vrônxki cau mày nói. (…)  
Hình thức này cũng được lặp đi lặp lại khá nhiều trong  
hội thoại giao tiếp của người Nga.  
(13) - У мeня гoлoвa зaбoлeлa, я пoйдy дoмoй, -  
cкaзaл oн Сepпyxoвcкoмy.  
- Họ viết gì cho bà? - chàng nhắc lại.  
- Tôi thường tự nhủ đàn ông không hiểu thế nào là cao  
thượng cả, mặc dù họ vẫn luôn miệng nói tới điều đó, -  
Anna nói, không trả lời vào câu chàng hỏi. - Đã từ lâu  
tôi muốn nói với ông điều đó, - nàng nói thêm và bước  
đi vài bước, ngồi xuống gần một góc chất đầy những tập  
ảnh.)  
- Hy, тaк пpoщaй. Дaeшь carte blanche?  
- Пocлe пoгoвopим, я нaйдy тeбя в Пeтepбypгe. [10  
,
tr.496]  
(- Tôi bị nhức đầu, tôi phải về nhà thôi, - chàng bảo  
Xecpukhôpxkôi.  
- ôi được, tạm biệt anh. Anh trao cho tôi toàn  
quyền chứ?  
- Chúng ta sẽ bàn lại chuyện đó sau. Tôi sẽ gặp anh ở  
Pêtecbua.)  
(14) - A, Bpoнcкий! Koгдa жe в пoлк? Mы тeбя нe  
мoжeм oтпycтить бeз пиpa. Ты caмый кopeннoй  
нaш, - cкaзaл пoлкoвoй кoмaндиp.  
Trong một vài trường hợp, người Nga dùng hình thức  
lảng tránh sang đề tài khác theo dạng bắt đầu câu  
chuyện mới với đối tượng giao tiếp mới, hoàn toàn  
bỏ qua sự tồn tại của chủ thể giao tiếp ban đầu. Ví dụ:  
(17)- Kaк жe ты пocлaлa cкaзaть княжнe, чтo мы нe  
пoeдeм! - пoтepяв гoлoc, paздpaжeннo пpoшeптaл  
oн eй.  
- Здpaвcтвyйтe, княжнa!  
- cкaзaлa Aннa  
Пaвлoвнa c пpитвopнoй yлыбкoй, cтoль нeпox-  
oжeю нa пpeжнee ee oбpaщeниe. - Oчeнь пpиятнo  
пoзнaкoмитьcя, - oбpaтилacь oнa к князю. - Bac  
дaвнo ждaли, князь. [15, tr.379 - 310]  
- He ycпeю, oчeнь жaлкo, дo дpyгoгo paзa, - cкaзaл  
Bpoнcкий и пoбeжaл ввepx пo лecтницe в лoжy  
бpaтa.  
( - A! Vrônxki! Bao giờ thì anh tới trung đoàn? Chúng  
tôi chưa chiêu đãi tiễn biệt thì chưa để anh đi đâu. Bây  
giờ anh là khách của chúng tôi rồi đấy, - đại tá nói.  
- Rất tiếc tôi không có thời giờ, xin để đến lần khác, -  
Vrônxki nói và chạy lên cầu thang dẫn tới khoang ghế  
”lô” của ông anh.) [10, tr.831]  
(- Tại sao em đi nói với tiểu thư là chúng ta không đi  
chơi? – anh bực dọc thì thầm hỏi vợ, gần như mất hẳn  
tiếng.  
- Chào tiểu thư, - Anna Paplôpna nói với một nụ cười  
gượng gạo khác hẳn sự niềm nở trước kia. - Rất sung  
sướng được biết cụ, - chị ta nói với lão quận công, -  
chúng cháu mong đợi cụ từ lâu rồi, thưa quận công.)  
Hành động này của người vợ làm gia tăng tâm lý khó  
chịu cho người chồng khi bị vợ xem thường, không  
những không đáp lại câu hỏi mà còn không thèm ngó  
ngàng đến anh mà bắt chuyện người khác.  
Hành vi từ chối biểu hiện bằng cách lảng  
tránh  
Hình thức lảng tránh bằng cách chuyển nội  
dung sang đề tài khác  
(15) - Ngày mai anh kiếm ít giấy xi măng dán các cánh  
cửa lại, anh không biết chứ, ban đêm ở đây, giữa cánh  
đồng, gió lùa ghê lắm!  
Nhàn đưa câu chuyện trở lại cái vấn đề chính:  
- Việc chúng mình để cho bộ đội đi phép...cậu Phong  
thấy sao? [14, tr.65]  
Hình thức lảng tránh bằng cách trì hoãn  
nhằm kéo dài thời gian.  
Trong tiếng Việt, lảng tránh bằng cách trì hoãn biểu  
hiện bằng việc sử dụng những cụm từ đánh dấu mốc  
thời gian vô định nào đó, mập mờ và không rõ ràng:  
“lúc/khi khác”, “sau này/mai này”, “thong thả”, “chốc/tí  
nữa”...  
Cách lảng tránh chuyển sang đề tài khác của người  
Nga tương tự người Việt. Ví dụ:  
(18) - Nhà cửa vắng vẻ quá cháu à. Chú và má cháu  
đã cố gắng hết cách mà không sinh nổi một đứa con.  
Chú mong cháu thông cảm hoàn cảnh gia đình, tha  
thứ cho má cháu, cho chú. Cháu ở lại nhà, sống đoàn  
tụ với gia đình, được không cháu?  
(16) -A я пoлyчилa пиcьмo из Mocквы. Mнe  
пишyт, чтo Kити Щepбaцкaя coвceм бoльнa.  
- Heyжeли? - нaxмypившиcь, cкaзaл Bpoнcкий.  
(…)  
- Чтo жe вaм пишyт? - пoвтopил oн.  
- Я чacтo дyмaю, чтo мyжчины нe пoнимaют - Cháu đã trả lời má rồi. Trước mắt, cháu sẽ trở lại  
тoгo, чтo блaгopoднo и нeблaгopoднo, a вceгдa trường đúng hạn phép. Còn như sau này, cháu sẽ trả  
гoвopят oб этoм, - cкaзaлa Aннa, нe oтвeчaя eмy. lời sau.  
[
16, tr.275]  
1029  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034  
(19) Bà Xuất bảo Gái:  
- Im ngay cái mồm. Tao cắt lưỡi đi bây giờ! [14, tr.59]  
(24) - À cô chê con tôi chắc?  
- Dạ, cháu không dám, là cái số cháu thế, thì dám xin  
đưa gửi lại ông bà số tiền giầu rượu trạm ngõ hôm  
qua.  
- Ở đây ăn cơm rồi hãy về.  
- Sợ tối nhỡ độ đường, mẹ để cho con khi khác. [17  
tr.136]  
Hoặc sử dụng thời gian hạn định biểu đạt bằng các  
cụm từ: ngày mai, tuần sau...  
(20) - Tôi yêu cô! Tôi yêu cô! Cô hãy nói cho tôi một  
tiếng đi, cô Bảy.  
Tôi ngồi lặng thinh, hắn cứ lè nhè nài nỉ tôi nói với  
hắn một tiếng. Cuối cùng tôi phải nói.  
,
Lụa chìa ba đồng bạc ra.  
Nhưng ông phó An xua tay:  
- Này, tôi bảo thật. Cô về ngay đi. Tôi không nói câu  
chuyện này với trẻ con. Đã có ông hương bà hương  
bên ấy. [13, tr.20]  
Tương tự như tiếng Việt, HVTC GT bằng cách đe dọa  
(yгpoзa) trong tiếng Nga được đưa ra khi người nói  
muốn thông báo trước về khả năng sẽ thực hiện hành  
vi tồi tệ đối với người nghe nếu người nghe vẫn tiếp  
tục với đề nghị của mình.  
(25) - Mнe yгoднo тoлькo oднo - пpeдocтepeчь  
вac, Mиxaил Сaввич. Bы - чeлoвeк мoлoдoй,  
y вac впepeди бyдyщee, нaдo вecти ceбя oчeнь,  
oчeнь ocтopoжнo, вы жe тaк мaнкиpyeтe, ox, кaк  
мaнкиpyeтe! (…) O тoм, чтo вы и вaшa cecтpицa  
кaтaeтecь нa вeлocипeдe, yзнaeт диpeктop, пoтoм  
дoйдёт дo пoпeчитeля… Чтo жe xopoшeгo?  
- Чтo я и cecтpa кaтaeмcя нa вeлocипeдe, никoмy  
- Tôi chưa mãn tang chồng. Chuyện đó phải đến hai  
năm sau tôi mới nói được! [12, tr.247]  
Người Nga rất coi trọng thể diện đối tượng tham thoại  
nên chủ yếu lảng tránh bằng việc trì hoãn trong thời  
gian hạn định: ceйчac, мoмeнт… Ví dụ:  
(21) - Oтeц Xpиcтoϕop! - cкaзaл yкopизнeннo  
Kyзьмичoв. - Пopa exaть, yж лoшaди гoтoвы, a вы  
eй-бoгy…  
- Сeйчac, ceйчac… - зaбopмoтaл o. Xpиcтoϕop. -  
Kaϕизмы пoчитaть нaдo… He читaл eщe нынчe.  
- Moжнo и пocлe c кaϕизмaми.  
-
Ивaн Ивaныч, нa кaждый дeнь  
y мeня  
пoлoжeниe… Heльзя. [18, tr.110 - 111]  
(- Cha Khrixtophor! - Kudmitsôp nói, giọng trách  
móc. - Lên xe thôi, ngựa đã thắng xong, mà ông còn...  
- Xong ngay, xong ngay đây... - cha Khrixtophor lúng  
búng. - Phải đọc bài thánh thi tí đã... Hôm nay chưa  
đọc.  
- Đọc bài thì để sau hẵng đọc cũng được.  
- Ivan Ivanứts ạ, tôi phải hàng ngày... Không đọc  
không được.)  
нeт дo этoгo дeлa!  
- cкaзaл Koвaлeнкo и  
пoбaгpoвeл. - A ктo бyдeт вмeшивaтьcя в  
мoи дoмaшниe и ceмeйныe дeлa, тoгo я пoшлю к  
чepтям coбaчьим. [20, tr.260]  
(- Tôi chỉ muốn mỗi một điều là nhắc bảo anh. Anh  
còn trẻ, tương lai anh còn ở phía trước, anh cần phải  
xử sự rất, rất thận trọng, thế mà anh đã buông thả, ô,  
anh buông thả mình quá chừng! (…) Chuyện anh và  
chị anh đi xe đạp mà đến tai ông hiệu trưởng, rồi đến  
tai ông thanh tra... Lúc ấy thì còn ra cái thể thống gì  
nữa không?  
- Việc ta và chị ta đi xe đạp chẳng liên quan gì đến ai  
cả! - Kôvalenkô nói, mặt đỏ gay. - Con nào thằng nào  
thò mũi vào chuyện riêng của nhà ta, ta cho chầu diêm  
vương tất!)  
Hình thức TC này dễ gây tính chất xấu cho cuộc hội  
thoại và ảnh hưởng thể diện, tâm lý phía người nghe.  
(22) - Пoйдeм oтcюдa! - cкaзaл oн (Bacильeв),  
дepнyв xyдoжникa зa pyкaв.  
- Пoгoди, дaй кoнчить. [19, tr.190]  
(- ôi, ta đi khỏi đây thôi! - Vaxilép nói, kéo ống tay  
áo chàng họa sĩ.  
- Đợi một tí nào, sắp xong rồi.)  
Hành vi từ chối biểu hiện bằng cách đưa ra  
lời đe dọa, ngăn cấm  
Hình thức TC bằng việc đưa ra lời đe dọa, ngăn cấm  
thường đi kèm các kết cấu quán ngữ tình thái trước  
phát ngôn như: nói thật nhé, nói cho mà biết, nói trước  
cho mà biết, báo trước cho biết... những cụm từ này tác  
động bổ trợ vào mệnh đề phía sau, vào ý nghĩa của  
chỉnh thể cả câu. Vì vậy, nó khiến người nghe hình  
thành nên tâm lý lo sợ, hình dung ra một viễn cảnh  
xấu ở tương lai nên cần phải chấm dứt ngay mong  
muốn của mình. Ví dụ:  
Hành vi từ chối biểu hiện bằng cách ra điều  
kiện  
(26) - Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái! - Nó cũng lại  
nói trổng.  
Tôi lên tiếng mở đường cho nó:  
- Cháu phải gọi “ba chắt nước giùm con” phải nói như  
vậy. [21, tr.37]  
(27) - (...) tôi xem bói, mấy ông thầy cúng bảo tôi sát  
vợ. Có lấy tôi, nhỡ cô chết thì…?  
(23) - Chao ôi, cho em ngắm chị chút nào! Bữa nay  
trông chị trẻ và đẹp quá đi!  
Huy hết sức xấu hổ quắc mắt đe:  
- Cho chết! Xin cho ngày rằng chết tôi cũng bằng lòng.  
1030  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034  
- Cô đã vậy nhưng còn bà cụ. Giá bà cụ được đôi, ba Chúng ta cũng gặp kiểu TC thông qua việc thương  
người con thì mình còn dám nghĩ liều. Nhưng bà cụ chỉ lượng này trong tiếng Nga.  
được có một mình cô. [22, tr.51]  
(30) - Чтo вaм yгoднo?  
Điều kiện nêu ở ví dụ (25) thể hiện thái độ tích cực - Я имeю дeлo дo aдвoкaтa.  
từ người nói, sẵn sàng thực hiện lời yêu cầu khi và chỉ  
khi người đối thoại chấp nhận điều kiện đặt ra trước.  
Ở ví dụ sau (26) điều kiện được nêu ra chỉ có nghĩa  
như lý do cho sự TC.  
Hình thức TC bằng cách nêu điều kiện trong tiếng  
Nga đơn thuần là cách để lời TC êm tai hơn vì điều  
kiện không thể thực hiện. Ví dụ:  
- Aдвoкaт зaнят, - cтpoгo oтвeчaл пoмoщник,  
yкaзывaя пepoм нa дoжидaвшиxcя, и пpoдoлжaл  
пиcaть.  
- He мoжeт ли oн нaйти вpeмя? - cкaзaл Aлeкceй  
Aлeкcaндpoвич.  
- У нeгo нeт cвoбoднoгo вpeмeни, oн вceгдa зaнят.  
Извoльтe пoдoждaть.  
(28) - Maмa, мoжнo мнe зaгoвopить c нeю?  
-
- Тaк нe пoтpyдитecь ли пoдaть мoю кapтoчкy,  
cкaзaлa Kити, cлeдившaя зa cвoим нeзнaкoмым  
дpyгoм и зaмeтившaя, чтo oнa пoдxoдит к ключy  
и oни мoгyт coйтиcь y нeгo.  
- дocтoйнo cкaзaл Aлeкceй Aлeкcaндpoвич, видя  
нeoбxoдимocть oткpыть cвoe инкoгнитo.  
tr.571]  
[
,
- Дa, ecли тeбe тaк xoчeтcя, я yзнaю пpeждe o нeй  
и caмa пoдoйдy, - oтвeчaлa мaть. - Чтo ты в нeй  
нaшлa ocoбeннoгo? Koмпaньoнкa, дoлжнo быть.  
Еcли xoчeшь, я пoзнaкoмлюcь c мaдaм Штaль. Я  
знaлa ee belle-soeur 1, -пpибaвилa княгиня, гopдo  
пoднимaя гoлoвy. [15, tr.361]  
(- Ngài cần gì?  
- Nói chuyện với luật sư.  
- Ông ấy đang bận, - viên thư ký trả lời cộc lốc, lấy bút  
chỉ vào đám người ngồi đợi, và tiếp tục viết.  
- Ông ấy không thể dành một lát để tiếp tôi sao? -  
Alêcxây Alêcxanđrôvich nói.  
( - Mẹ ơi, con nói chuyện với cô ấy được không? -  
Kitty hỏi và nhìn cô bạn chưa quen đó, thấy cô ta đã  
tới gần suối nước và hai người có thể gặp nhau ở đấy.  
- Con đã thích nói chuyện với cô ấy như thế thì cũng  
được, để mẹ hỏi thêm về cô ta và mẹ sẽ đích thân đến  
gặp cô ta, - bà mẹ đáp. - Con thấy cô ấy có gì đặc biệt?  
Chắc cô ta là một tuỳ nữ. Nếu con muốn thì mẹ sẽ làm  
quen với bà Stan. Trước kia, mẹ có quen chị dâu bà  
ta, - phu nhân nói thêm và ngẩng cao đầu kiêu hãnh).  
- Ông ấy không có lấy một phút rảnh rỗi , lúc nào cũng  
bận. Xin ngài chịu khó ngồi đợi.  
- Ông làm ơn chuyển giúp cái thiếp của tôi cho ông ấy,  
- Alêcxây Alêcxanđrôvich đành lộ tên thật của mình.)  
Chủ thể các phát ngôn liên tục đưa ra nhiều hình thức  
để thương lượng, từ trì hoãn đến viện lý do, thậm chí  
nài nỉ để đạt được quyền lợi cho chính mình.  
Hành vi từ chối biểu hiện bằng cách đưa ra  
lời tự vệ cho bản thân  
Hành vi từ chối biểu hiện bằng việc thương  
lượng lợi ích qua lại  
Khi bắt gặp hành vi tiền đề có tính chất ảnh hưởng/tác  
động mạnh mẽ đến bản thân, người nói sẽ TC bằng  
hình thức đưa ra lời tự vệ.  
(31) - u Vân thưa: “Bẩm ông, mẹ con của con đây  
tình nguyện làm tôi tớ, mà ông quảng đại, ông muốn  
đãi như con cháu, có lý nào con không chịu. Bẩm ông,  
hồi nãy ông nói ông còn hai đứa cháu nội gái lạc mất,  
vậy ông không kiếm coi?”  
(29) (Bính chưa chồng mà đẻ con, lo sợ làng xóm biết  
được thì không còn mặt mũi nào nên bố mẹ Bính bàn  
tính việc bán thằng bé cho vợ chồng nhà Phó Lý).  
Phó Lý mỉm cười vuốt râu, hất hàm hỏi bố Bính:  
- Vậy tôi giúp ông bà mười đồng ông bà bằng lòng  
chứ?  
- Việc riêng của ông, cháu chẳng nên hỏi. [8, tr.194]  
(32) - Ông Hội đồng chau mày ủ mặt, ngồi lặng thinh  
một hồi lâu rồi nói: “Hai mẹ con ngủ dưới nhà bếp,  
ban đêm có việc cần dùng khó kêu lắm. ôi, để  
phòng đó cho hai vợ chồng thằng Pho nó ngủ. Để  
mai biểu bầy trẻ khiêng bộ ván gõ nhỏ trên lầu xuống  
rồi lót phía trong, dựa bên thang lầu, chỗ bước ra cửa  
Mẹ Bính vội nhăn mặt  
- ằng bé kháu khỉnh lắm, mặt mày sáng sủa, chân  
tay bụ bẫm, xin trả cho hai mươi đồng để nhà cháu lo  
lót với mấy cụ trong làng.  
Bố Bính gãi tai tiếp lời:  
- ật vợ chồng cháu cảm ơn ông bà phó lắm chứ  
không dám nài xin hơn thiệt gì đâu. (…)  
- ôi tôi giúp thêm nhà ông bà ba đồng nữa là mười sau đó, đặng ban đêm hai mẹ con giăng mùng ở đó  
ba đồng có thuận thì mai bế thằng bé sang nhà tôi mà mà ngủ với nhau.”  
nhận tiền. [7, tr.22]  
- u Vân nghe ông dạy như vậy liền đáp: “Bẩm ông,  
Khi người nói chưa hài lòng với lời đề xuất nào đó ông thương mẹ con của con ông hậu đãi như vậy, thiệt  
từ phía người nghe thì hình thức thương lượng xuất con cảm đức lắm. Nhưng vì con xét phận con hèn mọn  
hiện, thương lượng để đem lại lợi ích về phần mình. quá, nên con không dám đèo bòng. Vậy xin ông cho  
1031  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034  
phép con nhỏ ở trên nầy mà hầu trà thuốc cho ông, TC bằng cách đẩy trách nhiệm sang người thứ hai  
còn phận con thì ông để ở dưới bếp cũng được.” [8,  
tr.195]  
vắng mặt cũng được người Nga bày tỏ một cách từ  
tốn.  
(37) - Aлeкceй Aлeкcaндpoвич!  
Я знaю вac  
TC biểu hiện qua lời tự vệ được người Nga đưa ra một  
cách nhẹ nhàng, chủ yếu diễn tả sự việc vượt quá khả  
năng bản thân người nói nên đành từ chốiTC. Ví dụ:  
(33) - Oн y вac бyдeт жить, - шeптaл в зaлe Ивaн  
Ивaныч, - eжeли вы бyдeтe тaкиe дoбpыe, a мы вaм  
бyдeм пo дecяти pyблeй в мecяц плaтить. Oн y нac  
мaльчик нe бaлoвaнный, тиxий…  
- Уж нe знaю, кaк вaм и cкaзaть, Ивaн Ивaныч! -  
плaкcивo вздыxaлa Hacтacья Пeтpoвнa.  
- Дecять pyблeй дeньги xopoшиe, дa вeдь чyжoгo-  
тo peбeнкa бpaть cтpaшнo! Bдpyг зaбoлeeт, или  
чтo… [18, tr.174]  
(Trong phòng khách, Ivan Ivanứts nói thì thầm:  
- Bà cho nó ở đây. Nếu bà có lòng nhận cho, chúng tôi  
sẽ xin gửi bà mỗi tháng mười rúp. Cháu nó ngoan mà  
lành, chứ không phải như hạng con cưng nhà người  
ta...  
- Tôi cũng chẳng còn biết nói với ông thế nào nữa, ông  
Ivan Ivanứts ạ! – bà Naxtaxia Pêtơrốpna thở dài nói  
như khóc. – Mười rúp cũng khá to tiền, nhưng nhận  
nuôi con người khác tôi cũng sợ lắm. Nhỡ nó ốm đau  
hay có chuyện gì...)  
зa иcтиннo вeликoдyшнoгo чeлoвeкa, -cкaзaлa  
Бeтcи, ocтaнoвившиcь в мaлeнькoй гocтинoй и  
ocoбeннo кpeпкo пoжимaя eмy eщe paз pyкy. -Я  
пocтopoнний чeлoвeк, нo я тaк люблю ee и yвaжaю  
вac, чтo я пoзвoляю ceбe coвeт. Пpимитe eгo.  
Aлeкceй ecть oлицeтвopeннaя чecть, и oн yeзжaeт  
в Тaшкeнт.  
- Блaгoдapю вac, княгиня, зa вaшe yчacтиe и  
coвeты. Ho вoпpoc o тoм, мoжeт ли, или нe мoжeт  
жeнa пpинять кoгo-нибyдь, oнa peшит caмa. [15  
,
tr.653-654]  
(- Alêcxây Alêcxanđrôvich, tôi coi ông là một người  
rất đại lượng, - Betxy nói, dừng lại trong phòng khách  
nhỏ và bắt tay ông lần nữa đặc biệt cương quyết. -  
Tôi... hoàn toàn ở ngoài cuộc, nhưng tôi mến Anna  
lắm và rất mực trọng ông, nên tôi đánh bạo khuyên  
ông một lần. Ông hãy tiếp chú ấy, Alêcxây Vrônxki  
chính là hiện thân của danh dự và chú ấy sắp đi  
Tasken.  
- ưa quận chúa, tôi xin cảm ơn về mối thiện cảm và  
lời khuyên của bà. Nhưng tiếp hay không tiếp ai, chỉ có  
nhà tôi mới có quyền quyết định.)  
(34) Koгдa Сoϕья зacыпaлa, Bapвapa пpижaлacь к  
нeй и шeпнyлa нa yxo:  
KẾT LUẬN  
- Дaвaй Дюдю и Aлёшкy извeдeм! (…)  
Bài nghiên cứu đã phân tích các phương tiện biểu  
hiện HVTC GT trong tiếng Việt (có so với tiếng Nga)  
thông qua 9 phương tiện: biểu hiện bằng việc trình  
bày lý do TC, bằng việc đưa ra hướng lựa chọn mới,  
biểu hiện qua lời hứa hẹn, bằng cách lảng tránh, biểu  
hiện bằng cách đưa ra lời đe dọa, ngăn cấm, bằng cách  
ra điều kiện, bằng việc thương lượng lợi ích qua lại,  
bằng cách đưa ra lời tự vệ cho bản thân và bằng cách  
đẩy trách nhiệm sang người khác. Qua mỗi phương  
tiện biểu hiện, tác giả thấy có nhiều cách thể hiện cơ  
bản giống nhau giữa hai ngôn ngữ.  
Để lời TCGT thuyết phục được người nghe mà không  
cảm thấy bị mất thể diện thì biểu hiện TC thông qua  
viện dẫn lý do cho lời TC, đưa lời hứa hẹn, hay thương  
lượng lợi ích qua lại là cách sử dụng phổ biến trong cả  
hai ngôn ngữ. Đẩy trách nhiệm sang người khác hay  
đưa ra lời tự vệ cho bản thân cũng là cách TC nhẹ  
nhàng, tôn trọng thể diện người nghe. Hình thức TC  
bằng lời đe dọa, ngăn cấm dễ chạm phải thể diện cho  
đối tác. Do mang tính tiêu cực nên cả người Việt và  
người Nga ít chọn cách thể hiện này ngoại trừ ý muốn  
chấm dứt cuộc thoại sau lời TC.  
- Стpaшнo… Бoг yбьeт. [23, tr.228]  
(Khi Xôphia đã thiu thiu ngủ, Varvara nằm sát lại bên  
và ghé miệng sát vào tai thầm thì nói:  
- Chị với em cùng giết lão Điuđia và thằng Aliôska đi!  
(…)  
- Sợ lắm em à... Trời đánh chết mất thôi.)  
Hành vi từ chối gián tiếp thể hiện bằng cách  
đẩy trách nhiệm sang người khác  
Khi người nói e ngại TC bằng cách tỏ ý “không muốn”,  
“không biết”, “không thích”...thực hiện theo nội dung  
đã được yêu cầu, đề nghị thì lựa chọn hình thức đẩy  
trách nhiệm sang người khác là cách thoái thác khôn  
khéo.  
(35) - Bữa nay các con muốn ăn gì? canh chua cá lóc  
kho hay là heo, là gà?  
- Dạ, mấy má mấy chị cho gì ăn nấy. [24, tr.736]  
(36) - Ở Nam Vang có một người đang thiếu nợ bác.  
Cháu lên Nam Vang, đưa cái lá thư này, rồi mang tiền  
về. Những ngày cháu đi vắng, bác vẫn trả tiền công  
cho cháu; đòi được tiền, bác sẽ trả thêm. Trưa mai có  
tàu cập bến.  
Một nét khác biệt đáng kể trong phương tiện biểu hiện  
hành vi TCGT giữa hai ngôn ngữ chính là, người Nga  
thường lảng tránh bằng việc trì hoãn thực hiện hành  
- Dạ, để cháu hỏi lại cha cháu. [24, tr.644]  
1032  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034  
vi tiền vị trong thời gian rất ngắn. Việc trì hoãn là nhất dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm tăng hiệu lực của  
thời, không như người Việt thường đưa ra khoảng  
thời gian bất định hoặc hạn định ở thời điểm xa. Khi  
lảng tránh bằng việc đổi nội dung đề tài, người Nga  
nếu trong mối quan hệ thân thiết với người đối thoại  
thường sẽ xem nhẹ thể diện của họ khi chuyển đề tài  
với một đối tượng khác, không phải chủ thể giao tiếp  
ban đầu. Điều này tác động thể diện đối tác rất sâu  
nặng.  
Cả tiếng Việt lẫn tiếng Nga đều TCGT bằng việc đưa  
ra hướng lựa chọn mới. Tuy nhiên, phương tiện này  
trong tiếng Việt mang tính tiêu cực hơn tiếng Nga bởi  
vì khi hướng đề xuất mới đi kèm giọng điệu thiếu hòa  
khí thì lời TC trở thành bất lịch sự.  
phát ngôn trong giao tiếp, còn sử dụng ngôn ngữ như  
những phương thức biểu hiện HVTC được thể hiện  
bằng cả cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu của ngôn  
ngữ nhằm diễn đạt ý định TC, có thể tường minh hoặc  
sử dụng ý hàm ẩn và lệ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh  
giao tiếp. Những phát ngôn TC này mang tính sáng  
tạo để mục đích giao tiếp đạt hiệu quả cao nhất.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Chi NP. Từ chối, một hành vi ngôn ngữ tế nhị, tạp chí Ngôn  
ngữ và Đời sống. 1997;11:12–13.  
2. Hai NT. Hành động từ chối trong Tiếng Việt hội thoại. Tạp chí  
Ngôn ngữ. 2001;1:1–12.  
3. Mai TC. Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến  
trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt). Luận án tiến sĩ ngôn  
Trong quá trình nghiên cứu, xét về tính khách quan  
tác giả không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tuy  
nhiên, tác giả hy vọng bài viết này có thể cung cấp  
cho người học thêm thông tin liên quan đến việc sử  
dụng phương tiện biểu đạt HVTC GT trong hai ngôn  
ngữ để đảm bảo tính lịch sự khi giao tiếp.  
ngữ học, Đại học KHXHNV Hà Nội. 2005;.  
4. Khương LQ, Thảo TTP. Nghi thức lời từ chối một đề nghị giúp  
đỡ trên cơ sở lý thuyết Hành vi ngôn ngữ, tạp chí Ngôn ngữ.  
2008;2:13–21.  
5. Đức Dân N. Ngữ dụng học, NXB Giáo dục. 2000;.  
6. Viện Ngôn ngữ. Từ điển tiếng Việt. NXB Giáo dục. 1994;.  
7. Hồng N. Bỉ vỏ. NXB Văn học. 2010;.  
8. Chánh HB. Chút phận linh đinh. NXB Hội nhà văn. 2018;.  
9. Hoài T. Tuyển tập truyện ngắn Chuyện để quên. NXB Văn học.  
2015;.  
10. Aleksandr G. Aлыe пapyca, Издaтeльcтвo Экcмo. 2010;.  
11. Anton PC. Bepoчкa, oпyбл.: «Hoвoe вpeмя», № 3944, 21  
ϕeвpaля. 1887;p. 2–3.  
12. Giỏi Đ. Đất rừng phương Nam. NXB Kim Đồng. 2012;.  
13. Hoài T. Truyện ngắn chọn lọc. NXB Lao động. 2011;.  
14. Châu NM. Toàn tập, tập 2. NXB Văn học. 2001;.  
15. Lev T. Anna Karenina, Издaтeльcтвo Рyccкий вecтник. 1877;.  
16. Xuân T. Bụi đời. NXB Văn học. 2006;.  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
TC: Từ chối  
HVTC GT: Hành vi từ chối gián tiếp  
TCGT: Từ chối gián tiếp  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Bản thảo này không có xung đột lợi ích  
17. Hoài T. Chuyện cũ Hà Nội (Tái bản lần 2). NXB Hội Nhà văn.  
2014;.  
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ  
18. Anton PC. Стeпь, oпyбл.: «Сeвepный вecтник», № 3 (цeнз.  
paзp. 25 ϕeвpaля), cтp. 75-167. 1888;.  
ông qua việc thu thập nguồn ngữ liệu từ các tác  
phẩm văn học tiếng Việt và tiếng Nga, trong bài viết  
này tác giả bước đầu thống kê được 9 phương tiện  
biểu hiện HVTC GT giữa tiếng Việt và tiếng Nga.  
ông qua bài nghiên cứu, tác giả hy vọng có thể cung  
cấp phần nào thông tin đến người học ngoại ngữ khi  
ranh giới giữa phương thức biểu hiện HVTC và chiến  
lược TC là rất mỏng manh. Chiến lược TC là việc sử  
19. Anton PC. Пpипaдoк, oпyбл.: cбopник «Пaмяти B. M.  
Γapшинa», СПб. 1888;29(1888):295–319.  
20. Anton PC. Чeлoвeк в ϕyтляpe, oпyбл.: «Рyccкaя мыcль», №  
7, c. 120-131. 1898;.  
21. Sáng NQ. Tuyển tập, NXB Văn Nghệ. 2002;.  
22. Nam Cao. Sống mòn, NXB Hội nhà văn. 2008;.  
23. Anton PC. Бaбы, Иcтoчник: ΦЭБ. 1891;.  
24. Nhiều tác giả. 100 truyện ngắn hay Việt Nam thế kỷ 20. NXB  
Văn học. 2014;.  
1033  
                                               
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 5(2):1026-1034  
Commentary  
Open Access Full Text Article  
Expressions of indirect refusal in Vietnamese (compared with  
Russian)  
Truong Thi Lan Huong*  
ABSTRACT  
In Pragmatics, verbal behavior is a behavior that is most interested by many linguists. One of the  
behaviors is the act of rejection, the universal behavior of all languages. In intercultural conversa-  
tions, the act of rejection is a very important behavior. Politeness in communication is a general  
principle in the social interaction of each culture. It is not easy to be polite when performing the  
acts of refusing without losing the other person's face.  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
Refusal is a common act in communication, especially in intercultural communication. In the case  
that the proposed invitations, suggestions or requests, etc. are not suitable to receive, refusal in a  
proper manner is needed. Moreover, choosing the form of indirect refusal is an effective way of re-  
sponding. They both express the declination of requests and the face saving for the listener. Based  
on literary works either published or uploaded onto the internet, this study focuses on formulas  
expressing indirect refusals in Vietnamese (compared with Russian). Thereby, contributing to the  
efficiency enhancement of the learning of this speech act used for both Vietnamese learners of the  
Russian language and Russian-speaking learners of the Vietnamese language.  
Key words: refusal acts, indirect refusal, expressing formulas, Vietnamese, Russian  
u Dau Mot University, Vietnam  
Correspondence  
Truong Thi Lan Huong, Thu Dau Mot  
University, Vietnam  
Email: [email protected]om  
History  
• Received: 9/12/2020  
• Accepted: 31/5/2021  
• Published: 06/6/2021  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.670  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Huong T T L. Expressions of indirect refusal in Vietnamese (compared with  
Russian). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 5(2):1026-1034.  
1034  
pdf 9 trang yennguyen 34210 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những biểu hiện của hành vi từ chối gián tiếp trong tiếng Việt (Có so với tiếng Nga)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_bieu_hien_cua_hanh_vi_tu_choi_gian_tiep_trong_tieng_vi.pdf