Những biểu hiện của hành vi từ chối gián tiếp trong tiếng Việt (Có so với tiếng Nga)
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034
Bài am luận
Open Access Full Text Article
Những biểu hiện của hành vi từ chối gián tiếp trong tiếng Việt (có
so với tiếng Nga)
Trương Thị Lan Hương*
TÓM TẮT
Trong Ngữ dụng học, hành vi ở lời là hành vi được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm hơn cả, một
trong những hành vi đó là hành vi từ chối, hành vi phổ quát của mọi ngôn ngữ. Ở các cuộc hội
Use your smartphone to scan this
thoại có tính liên ngôn ngữ - văn hóa thì hành vi từ chối là một hành vi rất quan trọng. Lịch sự
QR code and download this article
trong giao tiếp là nguyên tắc chung trong tương tác xã hội của mỗi nền văn hóa, thể hiện phép
lịch sự khi thực hiện hành vi từ chối mà không làm mất thể diện người đối thoại không phải là điều
dễ dàng.
Từ chối là một hành động thường gặp trong giao tiếp, trong tình huống nhận được lời mời, đề nghị
hay lời khuyên bảo, yêu cầu nào đó mà chúng ta không thể chấp nhận thì cần có phương thức từ
chối phù hợp. Lựa chọn hình thức từ chối theo lối gián tiếp là cách phản hồi hữu hiệu khi vừa biểu
thị sự không đồng ý theo hướng được đề xuất vừa giữ được thể diện cho người nghe. Trong bài
viết này, dựa trên khối ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Nga từ các tác phẩm văn học đã được xuất bản
và được đăng tải trên mạng internet, tác giả tiến hành trình bày một số biểu hiện của hành vi từ
chối gián tiếp trong tiếng Việt (có so với tiếng Nga). Qua đó góp phần giúp ích cho người Việt học
tiếng Nga hay người nói tiếng Nga học tiếng Việt trong việc sử dụng các phát ngôn từ chối gián
tiếp.
Từ khoá: hành vi từ chối, từ chối gián tiếp, phương tiện biểu đạt, tiếng Việt, tiếng Nga
vào thực tiễn giao tiếp đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục
nghiên cứu cụ thể hơn trong sự so sánh với tiếng Việt.
Dựa trên hơn 200 ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Nga dẫn
từ các tác phẩm văn học, bài viết này tác giả khảo sát
các biểu hiện hành vi từ chối gián tiếp (HVTC GT)
trong tiếng Việt (có so với tiếng Nga). Tác giả hy vọng,
bài nghiên cứu có thể góp phần nâng cao hiệu quả
việc học ngoại ngữ cho người Việt học tiếng Nga hoặc
người Nga học tiếng Việt khi gặp trường hợp phải đưa
ra lời TC. Lời từ chối gián tiếp (TCGT) sẽ tạo ra sự
khéo léo, uyển chuyển khi giao tiếp ở môi trường liên
văn hóa. Dù ở nền văn hóa nào thì phép lịch sự trong
giao tiếp là nguyên tắc nền tảng để duy trì lâu dài mối
quan hệ xã hội.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hội thoại hằng ngày, đôi lúc chúng ta phải đối
mặt với những lời rủ rê, mời mọc, lời khuyên chân
thành, lời khen... từ người đối thoại. Khi không thể
đồng ý, người từ chối (TC) phải thật sự khéo léo để
biểu thị ý nghĩ của bản thân không muốn tiếp nhận
nhưng vẫn duy trì phép lịch sự trong giao tiếp, tránh
tổn hại đến tình cảm người nghe. Do đó, TC theo
phương thức gián tiếp là lựa chọn tối ưu thay vì trả lời
“không” một cách trực tiếp. Lời TC nói ra đã khó mà
còn thể hiện nó trong công tác ngoại giao hay đối với
người học ngoại ngữ lại càng khó hơn.
Tiếng Nga du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ trước và
đã ghi dấu ấn sâu đậm trong nhiều lĩnh vực như khoa
học, kỹ thuật, văn hóa, kinh tế... Hiện nay, thời thịnh
vượng của tiếng Nga tuy không còn như xưa nhưng
tiếng Nga vẫn có tầm ảnh hưởng đến một số mặt
của đời sống xã hội tại Việt Nam. Tiếng Nga vẫn có
một chỗ đứng riêng cho mình trong số các ngoại ngữ
được ưa chuộng nhiều như tiếng Anh, tiếng Hàn hay
Nhật... êm nữa, dòng chảy tiếng Nga không ồn ào,
mãnh liệt nhưng đất nước – con người Nga xinh đẹp,
hiền hòa vẫn làm đắm say người Việt qua bao thế hệ.
Những khó khăn chung khi học ngoại ngữ, đặc biệt
Trường Đại học ủ Dầu Một, Việt Nam
Liên hệ
Trương Thị Lan Hương, Trường Đại học Thủ
Dầu Một, Việt Nam
Email: trglanhuong@gmail.com
Lịch sử
• Ngày nhận: 9/12/2020
• Ngày chấp nhận: 31/5/2021
• Ngày đăng: 06/6/2021
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.670
Ở Việt Nam công trình xuất hiện gần như sớm nhất
trong nghiên cứu về lời TC của Nguyễn Phương Chi
thành công luận án tiến sỹ “Một số đặc điểm văn
hóa ứng xử của hành vi từ chối trong tiếng Việt (có
sự đối chiếu với tiếng Anh)”. Trước đó, Nguyễn ị
tiếp song thoại đối với các hành động “cầu khiến”,
“đòi hỏi”, “van xin”; “khuyên can”; “mời”; “cảm ơn”;
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
với ngoại ngữ khó như tiếng Nga để có thể áp dụng “khen”, “chúc tụng” và “hỏi” trong tiếng Việt. Trần
Trích dẫn bài báo này: Hương T T L. Những biểu hiện của hành vi từ chối gián tiếp trong tiếng Việt
(có so với tiếng Nga). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 5(2):1026-1034.
1026
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034
Chi Mai3 với luận án “Phương thức biểu hiện hành vi (2) Hành vi chào được thực hiện thông qua hành vi
từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng
Việt)” nghiên cứu về hành vi TC lời cầu khiến ở góc độ
cấu trúc – ngữ nghĩa – ngữ dụng. Lưu Quý Khương và
chọn ngôn từ và chiến lược giao tiếp của người Anh
và người Việt khi TC một đề nghị giúp đỡ với các đối
tượng giao tiếp khác nhau trong 3 tình huống cụ thể.
eo quan sát của tác giả, vấn đề nghiên cứu về hành
vi TC khá phong phú và đa dạng, tuy nhiên trong mỗi
ngôn ngữ cụ thể, hành vi TC được biểu hiện rất khác
nhau. Các công trình đi trước đã trở thành nền tảng
trong nghiên cứu này của chúng tôi.
hỏi, khen:
Bác mới đi chợ về đấy ạ?
Nhìn anh dạo này trẻ trung thế!
(3) Hành vi mong muốn có thể được thực hiện thông
qua hành vi cảm thán:
Cây son này màu đẹp quá đi!→ Mong được người
nghe mua tặng.
Hành vi từ chối gián tiếp
Từ chối, theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê là một
động từ có ý nghĩa “không chịu nhận cái được dành cho
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Như vậy từ chối có nghĩa biểu thị sự không chấp nhận,
không đồng tình với một đề xuất thay đổi nào đó diễn
ra trong quan hệ hội thoại.
Đối tượng nghiên cứu
Khi đứng trước lời đề nghị, lời khuyên bảo, lời khen...
chúng ta khó lòng phục tùng thì bắt buộc phải thể
hiện sự khước từ. ay vì hồi đáp hiển ngôn “Không”;
“Tôi không muốn”; “Tôi không thích” dễ làm tổn hại
thể diện người đối thoại, HVTC GT là hành vi ngôn
ngữ biểu hiện không tường minh ý định TC của người
nói. Lúc này, người nói cố tình vi phạm các quy tắc
hội thoại của Orecchioni, sự vi phạm các quy tắc này
nhằm mục đích biểu đạt ý từ chối trong trường hợp
không tiện nói trực tiếp. Lời TC được bày tỏ một cách
khéo léo, tế nhị, đồng thời giảm bớt sự hụt hẫng cũng
như gia tăng thái độ thông cảm ở người tiếp nhận.
Người nghe gián tiếp nhận ra ý định TC của người nói
dựa vào ngữ cảnh, vào vốn hiểu biết và kinh nghiệm
ngôn ngữ của bản thân. Ví dụ:
Đề tài tập trung nghiên cứu những biểu hiện hành vi
từ chối gián tiếp trong hội thoại tiếng Việt (có so với
tiếng Nga).
Phạm vi nghiên cứu là các phát ngôn ở lượt lời thứ 2
của hội thoại trong tiếng Việt và tiếng Nga. Tác giả
không nghiên cứu các HVTC phi lời nói như xua tay,
lắc đầu hay nhún vai.
Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết này, tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cơ bản đang sử dụng phổ biến và có hiệu
quả như:
- Phương pháp miêu tả, phân tích: Đề tài tập trung
miêu tả, phân tích ngữ liệu để tìm ra các phương thức
biểu hiện HVTC GT trong tiếng Việt và tiếng Nga.
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ: Tác giả sử dụng
phương pháp thống kê để tổng hợp các HVTC GT
trong tiếng Việt và tiếng Nga.
(4) - Mình ngồi xuống đây tôi hỏi cái này.
- ì hẵng ra ăn kẻo canh nguội hết. Bữa nay canh cải
- Phương pháp đối chiếu: Từ các kết quả đã phân tích
và miêu tả thu thập được, tác giả so sánh sơ bộ để tìm
ra những tương đồng và khác biệt của hành vi TC giữa
tiếng Việt và tiếng Nga trên bình diện ngữ nghĩa.
Ở lượt đáp lời, người nói thể hiện hành vi TC của
mình bằng cách trì hoãn lời đề nghị. Cố ý đẩy lùi thời
điểm thực hiện hành vi tiền vị yêu cầu về phía tương
lai xa hơn bằng cách đưa ra một đề nghị khác (ra ăn
canh cải nấu giò).
KHÁI NIỆM VỀ HÀNH VI GIÁN TIẾP
VÀ HÀNH VI TỪ CHỐI GIÁN TIẾP
ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG BIỂU HIỆN
HÀNH VI TỪ CHỐI GIÁN TIẾP TRONG
TIẾNG VIỆT (CÓ SO VỚI TIẾNG NGA)
Khái niệm hành vi gián tiếp
Tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Một hành vi tại
lời này nhằm đến một hiệu lực tại lời là một hành vi
khác, thì hành vi này được gọi là một hành vi gián tiếp”
Hành vi từ chối biểu hiện bằng việc trình
bày lý do từ chối
TC bằng cách đưa ra lý do, dù là lý do khách quan
hay chủ quan là lựa chọn ít ảnh hưởng đến mối quan
hệ giữa đôi bên tham thoại. Đây là phương tiện biểu
hiện hành vi TC được sử dụng rất phổ biến trong tiếng
Việt.
eo đó, một hành vi ngôn ngữ gián tiếp có thể được
thực hiện nhờ những hành vi tại lời khác nhau:
(1) Anh có nghe thấy con đang khóc không? → Hành
vi tại lời là một câu hỏi nhưng có hiệu lực tại lời là
hành vi yêu cầu, đề nghị được giúp đỡ trông con.
1027
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034
(5) - Nếu không có việc làm ăn, thôi ở đây mà làm hai đối tượng, nhận diện rõ ý muốn của chủ thể phát
ngôn. Chính việc ngỏ ý cho hướng lựa chọn mới đã
tạo thêm luận cứ vững chắc để người nghe hiểu được
đáp án từ chối trong lời đáp phía người nói.
gạch. Làm gạch không khá gì mấy song cũng đủ cơm
ăn.
- Tôi muốn lắm, ngặt vì thuở nay tôi chưa làm, không
(9) - Chú kiếm rổ hay cái gì, bảo tôi lấy cho.
- A! Không, - Tư Mắm giật mình quay lại. - Qua coi
nhà còn gì nhậu được nữa không thôi mà. - Rồi hắn
cầm chai rượu ra, rủ rỉ nói với dì Tư Béo đang loay
hoay cầm khăn lau cốc bên bàn - Nấu nồi cháo cua ăn
chơi đi, dì Tư!
(6) - Ơ kìa hai cụ chủ tịch, chúng con kính chào hai
cụ, lại cả mẹ con nhà cái câm! Chúng con vô phép
hai cụ, hay là…vào cả đây, vào đây. Đi sớm ra ngõ mà
gặp của rơi được là gặp may suốt phiên chợ đấy, các
cụ ạ (…). Nào mời cụ, mời hai cụ…Rượu với lòng lợn
sáng sớm là ngon chí tử đấy ạ.
- Cháo cua làm gì! Nhà vừa nấu nồi cháo gà cho mấy
ông khách. Họ chỉ húp mấy người vài muỗng, vì trước
đó đã ních hết rá bún rồi, còn ăn uống gì nữa. Trời, nồi
cháo gà nấu đậu xanh, ngọt lắm. Để hâm nóng lại thôi!
Với người Nga, đưa ra lý do khách quan hay chủ quan
với mục đích ngầm ẩn ý TC sao cho dễ được chấp
nhận là phương tiện thường xuyên được ưa dùng.
(7) - Дaй, xoзяин, пoкypить бeднoмy чeлoвeкy, -
cкaзaл oн cквoзь
[
12, tr.45-46]
Tuy nhiên, không phải lúc nào TC bằng cách nêu giải
pháp khác cũng mang lại hiệu quả tích cực, hài lòng
đối tượng. Ví dụ:
пpyтья. - Moй тaбaк пpoтив твoeгo нe тaбaк, a,
мoжнo cкaзaть, oтpaвa.
(10) - Mày cứ hỏi lôi thôi!
- Em phải hỏi nhiều chứ. Về nhà, anh ấy sợ người già,
cứ ngồi tựa cột, hỏi không buồn nói, như bỏ quên cái
miệng ở đâu, bây giờ ra đường lại nghịch hơn con ma
rúi. Anh ấy ghét ở rể lắm phải không? À này em nghe
nói làng sắp xóa lệ con trai không phải đi ở rể?
- Я бы дaл, - впoлгoлoca oтвeтил Лoнгpeн, - нo
тaбaк y мeня в тoм кapмaнe. Mнe, видишь, нe
xoчeтcя бyдить дoчкy.
[
10, tr.49-50]
(- Ông chủ ơi, cho kẻ nghèo hèn này hút với. – Anh ta
nói với qua mấy cành lá. -uốc lá của tôi mà so với
thuốc của ông thì chỉ là cỏ thôi.
- Tôi sẵn sàng cho anh, - Lông-ren nói nhỏ, - nhưng
thuốc tôi lại để ở túi bên kia. Mà tôi thì, anh thấy đấy,
lại không muốn làm mất giấc ngủ của con bé... )
(8) - Я… я люблю вac! (…)
- Я, Bepa Γaвpилoвнa, oчeнь блaгoдapeн вaм, xoтя
чyвcтвyю, чтo ничeм нe зacлyжил тaкoгo…
c вaшeй cтopoны… чyвcтвa. Bo-втopыx, кaк
- Cô về hỏi người già ấy.
[
13, tr.237]
Câu trả lời ngắn gọn cộng với giọng điệu gắt gỏng của
chàng trai khiến lời TC trở thành bất lịch sự, biểu hiện
ý định muốn chấm dứt cuộc hội thoại.
Trái ngược với người Việt, người Nga chủ yếu hướng
đến thái độ TC mang tính lịch sự nhiều hơn khi kết
hợp nhã ý đưa ra hướng lựa chọn mới kèm theo lời
giải thích phù hợp. Ví dụ:
(11) - Hy, вoт и мocтик! - cкaзaл Oгнeв. - Тyт вaм
пoвopaчивaть нaзaд…
Bepa ocтaнoвилacь и пepeвeлa дyx.
- Дaвaйтe пocидим, - cкaзaлa oнa, caдяcь нa
oдин из cтoлбикoв. - Пepeд oтъeздoм, кoгдa
(- ôi, cầu đây rồi! - Ôgơnép nói. - Đến đây thì cô
trở lại được rồi...
Vêrơska dừng lại, thở vài thật sâu rồi thở ra.
- Ta ngồi xuống đây một lúc đi, - Vêrơska vừa nói vừa
ngồi xuống một trụ cầu. - Trước khi ra đi, lúc chia tay,
thường thường người ta vẫn ngồi lại với nhau ít phút).
чecтный чeлoвeк,
я дoлжeн cкaзaть, чтo…
cчacтьe ocнoвaнo нa paвнoвecии, тo ecть кoгдa
(- Tôi... tôi yêu anh! (…)
- Cô Vêrơska ạ, tôi rất biết ơn cô, mặc dầu tôi cảm thấy
rằng tôi chẳng có gì tốt đẹp để xứng đáng được... hưởng
tình cảm mà cô vừa bày tỏ. ứ hai là, với tư cách là
một người trung thực, tôi phải nói rằng... hạnh phúc
được xây dựng trên sự cân bằng, có nghĩa là khi mà cả
hai bên...cùng yêu ở mức độ như nhau...)
Trình bày lý do để tỏ ý TC khi không tiện theo hướng
hành vi tiền vị tạo được độ thuyết phục cao. Tùy thuộc
từng ngữ cảnh mà người nói đưa ra lý do phù hợp, tế
nhị, giảm thiểu tối đa việc tổn hại thể diện cho người
đối thoại.
Hành vi từ chối biểu hiện qua lời hứa hẹn
Hình thức TC bằng một lời hứa là cách thể hiện có
tính lịch sự cao. Mang hàm ý trì hoãn việc thực hiện
yêu cầu hành vi tiền vị chỉ là nhất thời. Ví dụ:
(12) Phong tỏ ra ngại, nhưng anh không dám để lộ
cho Lan biết cái sự ngại ngùng của mình. Chiều nay
Lan đã xin Huy, chủ nhật, cho phép Phong được đi
Hành vi từ chối biểu hiện bằng việc đưa ra
hướng lựa chọn mới
TC bằng việc đề xuất thêm hướng lựa chọn khiến
người nghe có thể ngầm nhận biết sự so sánh giữa chơi. Lan sẽ đưa Phong về nhà cô chơi.
1028
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034
- Để khi nào anh ra viện, Phong nói, chúng mình sẽ đi, - Я дaвнo xoтeлa cкaзaть вaм, - пpибaвилa oнa и,
пepeйдя нecкoлькo шaгoв, ceлa y yглoвoгo cтoлa c
qua lời hứa “để khi nào anh ra viện”. Lời hứa tạo cho
cô sự trấn an và tâm lý thoải mái cùng với lý do “đi
như thế sẽ thoải mái hơn”.
(- Tôi vừa nhận được thư ở Mạc-tư-khoa. Họ cho biết
là Kitty Tsecbatxkaia bị ốm nặng.
- ực ạ? – Vrônxki cau mày nói. (…)
Hình thức này cũng được lặp đi lặp lại khá nhiều trong
hội thoại giao tiếp của người Nga.
(13) - У мeня гoлoвa зaбoлeлa, я пoйдy дoмoй, -
cкaзaл oн Сepпyxoвcкoмy.
- Họ viết gì cho bà? - chàng nhắc lại.
- Tôi thường tự nhủ đàn ông không hiểu thế nào là cao
thượng cả, mặc dù họ vẫn luôn miệng nói tới điều đó, -
Anna nói, không trả lời vào câu chàng hỏi. - Đã từ lâu
tôi muốn nói với ông điều đó, - nàng nói thêm và bước
đi vài bước, ngồi xuống gần một góc chất đầy những tập
ảnh.)
- Hy, тaк пpoщaй. Дaeшь carte blanche?
,
tr.496]
(- Tôi bị nhức đầu, tôi phải về nhà thôi, - chàng bảo
Xecpukhôpxkôi.
- ôi được, tạm biệt anh. Anh trao cho tôi toàn
quyền chứ?
- Chúng ta sẽ bàn lại chuyện đó sau. Tôi sẽ gặp anh ở
Pêtecbua.)
(14) - A, Bpoнcкий! Koгдa жe в пoлк? Mы тeбя нe
мoжeм oтпycтить бeз пиpa. Ты caмый кopeннoй
нaш, - cкaзaл пoлкoвoй кoмaндиp.
Trong một vài trường hợp, người Nga dùng hình thức
lảng tránh sang đề tài khác theo dạng bắt đầu câu
chuyện mới với đối tượng giao tiếp mới, hoàn toàn
bỏ qua sự tồn tại của chủ thể giao tiếp ban đầu. Ví dụ:
(17)- Kaк жe ты пocлaлa cкaзaть княжнe, чтo мы нe
пoeдeм! - пoтepяв гoлoc, paздpaжeннo пpoшeптaл
oн eй.
- Здpaвcтвyйтe, княжнa!
- cкaзaлa Aннa
Пaвлoвнa c пpитвopнoй yлыбкoй, cтoль нeпox-
oжeю нa пpeжнee ee oбpaщeниe. - Oчeнь пpиятнo
пoзнaкoмитьcя, - oбpaтилacь oнa к князю. - Bac
- He ycпeю, oчeнь жaлкo, дo дpyгoгo paзa, - cкaзaл
Bpoнcкий и пoбeжaл ввepx пo лecтницe в лoжy
бpaтa.
( - A! Vrônxki! Bao giờ thì anh tới trung đoàn? Chúng
tôi chưa chiêu đãi tiễn biệt thì chưa để anh đi đâu. Bây
giờ anh là khách của chúng tôi rồi đấy, - đại tá nói.
- Rất tiếc tôi không có thời giờ, xin để đến lần khác, -
Vrônxki nói và chạy lên cầu thang dẫn tới khoang ghế
(- Tại sao em đi nói với tiểu thư là chúng ta không đi
chơi? – anh bực dọc thì thầm hỏi vợ, gần như mất hẳn
tiếng.
- Chào tiểu thư, - Anna Paplôpna nói với một nụ cười
gượng gạo khác hẳn sự niềm nở trước kia. - Rất sung
sướng được biết cụ, - chị ta nói với lão quận công, -
chúng cháu mong đợi cụ từ lâu rồi, thưa quận công.)
Hành động này của người vợ làm gia tăng tâm lý khó
chịu cho người chồng khi bị vợ xem thường, không
những không đáp lại câu hỏi mà còn không thèm ngó
ngàng đến anh mà bắt chuyện người khác.
Hành vi từ chối biểu hiện bằng cách lảng
tránh
Hình thức lảng tránh bằng cách chuyển nội
dung sang đề tài khác
(15) - Ngày mai anh kiếm ít giấy xi măng dán các cánh
cửa lại, anh không biết chứ, ban đêm ở đây, giữa cánh
đồng, gió lùa ghê lắm!
Nhàn đưa câu chuyện trở lại cái vấn đề chính:
- Việc chúng mình để cho bộ đội đi phép...cậu Phong
Hình thức lảng tránh bằng cách trì hoãn
nhằm kéo dài thời gian.
Trong tiếng Việt, lảng tránh bằng cách trì hoãn biểu
hiện bằng việc sử dụng những cụm từ đánh dấu mốc
thời gian vô định nào đó, mập mờ và không rõ ràng:
“lúc/khi khác”, “sau này/mai này”, “thong thả”, “chốc/tí
nữa”...
Cách lảng tránh chuyển sang đề tài khác của người
Nga tương tự người Việt. Ví dụ:
(18) - Nhà cửa vắng vẻ quá cháu à. Chú và má cháu
đã cố gắng hết cách mà không sinh nổi một đứa con.
Chú mong cháu thông cảm hoàn cảnh gia đình, tha
thứ cho má cháu, cho chú. Cháu ở lại nhà, sống đoàn
tụ với gia đình, được không cháu?
(16) -A я пoлyчилa пиcьмo из Mocквы. Mнe
пишyт, чтo Kити Щepбaцкaя coвceм бoльнa.
- Heyжeли? - нaxмypившиcь, cкaзaл Bpoнcкий.
(…)
- Чтo жe вaм пишyт? - пoвтopил oн.
- Я чacтo дyмaю, чтo мyжчины нe пoнимaют - Cháu đã trả lời má rồi. Trước mắt, cháu sẽ trở lại
тoгo, чтo блaгopoднo и нeблaгopoднo, a вceгдa trường đúng hạn phép. Còn như sau này, cháu sẽ trả
гoвopят oб этoм, - cкaзaлa Aннa, нe oтвeчaя eмy. lời sau.
[
16, tr.275]
1029
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034
(19) Bà Xuất bảo Gái:
(24) - À cô chê con tôi chắc?
- Dạ, cháu không dám, là cái số cháu thế, thì dám xin
đưa gửi lại ông bà số tiền giầu rượu trạm ngõ hôm
qua.
- Ở đây ăn cơm rồi hãy về.
tr.136]
Hoặc sử dụng thời gian hạn định biểu đạt bằng các
cụm từ: ngày mai, tuần sau...
(20) - Tôi yêu cô! Tôi yêu cô! Cô hãy nói cho tôi một
tiếng đi, cô Bảy.
Tôi ngồi lặng thinh, hắn cứ lè nhè nài nỉ tôi nói với
hắn một tiếng. Cuối cùng tôi phải nói.
,
Lụa chìa ba đồng bạc ra.
Nhưng ông phó An xua tay:
- Này, tôi bảo thật. Cô về ngay đi. Tôi không nói câu
chuyện này với trẻ con. Đã có ông hương bà hương
Tương tự như tiếng Việt, HVTC GT bằng cách đe dọa
(yгpoзa) trong tiếng Nga được đưa ra khi người nói
muốn thông báo trước về khả năng sẽ thực hiện hành
vi tồi tệ đối với người nghe nếu người nghe vẫn tiếp
tục với đề nghị của mình.
(25) - Mнe yгoднo тoлькo oднo - пpeдocтepeчь
вac, Mиxaил Сaввич. Bы - чeлoвeк мoлoдoй,
y вac впepeди бyдyщee, нaдo вecти ceбя oчeнь,
oчeнь ocтopoжнo, вы жe тaк мaнкиpyeтe, ox, кaк
мaнкиpyeтe! (…) O тoм, чтo вы и вaшa cecтpицa
кaтaeтecь нa вeлocипeдe, yзнaeт диpeктop, пoтoм
дoйдёт дo пoпeчитeля… Чтo жe xopoшeгo?
- Чтo я и cecтpa кaтaeмcя нa вeлocипeдe, никoмy
- Tôi chưa mãn tang chồng. Chuyện đó phải đến hai
Người Nga rất coi trọng thể diện đối tượng tham thoại
nên chủ yếu lảng tránh bằng việc trì hoãn trong thời
gian hạn định: ceйчac, мoмeнт… Ví dụ:
(21) - Oтeц Xpиcтoϕop! - cкaзaл yкopизнeннo
Kyзьмичoв. - Пopa exaть, yж лoшaди гoтoвы, a вы
eй-бoгy…
- Сeйчac, ceйчac… - зaбopмoтaл o. Xpиcтoϕop. -
Kaϕизмы пoчитaть нaдo… He читaл eщe нынчe.
- Moжнo и пocлe c кaϕизмaми.
-
Ивaн Ивaныч, нa кaждый дeнь
y мeня
(- Cha Khrixtophor! - Kudmitsôp nói, giọng trách
móc. - Lên xe thôi, ngựa đã thắng xong, mà ông còn...
- Xong ngay, xong ngay đây... - cha Khrixtophor lúng
búng. - Phải đọc bài thánh thi tí đã... Hôm nay chưa
đọc.
- Đọc bài thì để sau hẵng đọc cũng được.
- Ivan Ivanứts ạ, tôi phải hàng ngày... Không đọc
không được.)
нeт дo этoгo дeлa!
- cкaзaл Koвaлeнкo и
пoбaгpoвeл. - A ктo бyдeт вмeшивaтьcя в
мoи дoмaшниe и ceмeйныe дeлa, тoгo я пoшлю к
(- Tôi chỉ muốn mỗi một điều là nhắc bảo anh. Anh
còn trẻ, tương lai anh còn ở phía trước, anh cần phải
xử sự rất, rất thận trọng, thế mà anh đã buông thả, ô,
anh buông thả mình quá chừng! (…) Chuyện anh và
chị anh đi xe đạp mà đến tai ông hiệu trưởng, rồi đến
tai ông thanh tra... Lúc ấy thì còn ra cái thể thống gì
nữa không?
- Việc ta và chị ta đi xe đạp chẳng liên quan gì đến ai
cả! - Kôvalenkô nói, mặt đỏ gay. - Con nào thằng nào
thò mũi vào chuyện riêng của nhà ta, ta cho chầu diêm
vương tất!)
Hình thức TC này dễ gây tính chất xấu cho cuộc hội
thoại và ảnh hưởng thể diện, tâm lý phía người nghe.
(22) - Пoйдeм oтcюдa! - cкaзaл oн (Bacильeв),
дepнyв xyдoжникa зa pyкaв.
(- ôi, ta đi khỏi đây thôi! - Vaxilép nói, kéo ống tay
áo chàng họa sĩ.
- Đợi một tí nào, sắp xong rồi.)
Hành vi từ chối biểu hiện bằng cách đưa ra
lời đe dọa, ngăn cấm
Hình thức TC bằng việc đưa ra lời đe dọa, ngăn cấm
thường đi kèm các kết cấu quán ngữ tình thái trước
phát ngôn như: nói thật nhé, nói cho mà biết, nói trước
cho mà biết, báo trước cho biết... những cụm từ này tác
động bổ trợ vào mệnh đề phía sau, vào ý nghĩa của
chỉnh thể cả câu. Vì vậy, nó khiến người nghe hình
thành nên tâm lý lo sợ, hình dung ra một viễn cảnh
xấu ở tương lai nên cần phải chấm dứt ngay mong
muốn của mình. Ví dụ:
Hành vi từ chối biểu hiện bằng cách ra điều
kiện
(26) - Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái! - Nó cũng lại
nói trổng.
Tôi lên tiếng mở đường cho nó:
- Cháu phải gọi “ba chắt nước giùm con” phải nói như
(27) - (...) tôi xem bói, mấy ông thầy cúng bảo tôi sát
vợ. Có lấy tôi, nhỡ cô chết thì…?
(23) - Chao ôi, cho em ngắm chị chút nào! Bữa nay
trông chị trẻ và đẹp quá đi!
Huy hết sức xấu hổ quắc mắt đe:
- Cho chết! Xin cho ngày rằng chết tôi cũng bằng lòng.
1030
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034
- Cô đã vậy nhưng còn bà cụ. Giá bà cụ được đôi, ba Chúng ta cũng gặp kiểu TC thông qua việc thương
người con thì mình còn dám nghĩ liều. Nhưng bà cụ chỉ lượng này trong tiếng Nga.
(30) - Чтo вaм yгoднo?
Điều kiện nêu ở ví dụ (25) thể hiện thái độ tích cực - Я имeю дeлo дo aдвoкaтa.
từ người nói, sẵn sàng thực hiện lời yêu cầu khi và chỉ
khi người đối thoại chấp nhận điều kiện đặt ra trước.
Ở ví dụ sau (26) điều kiện được nêu ra chỉ có nghĩa
như lý do cho sự TC.
Hình thức TC bằng cách nêu điều kiện trong tiếng
Nga đơn thuần là cách để lời TC êm tai hơn vì điều
kiện không thể thực hiện. Ví dụ:
- Aдвoкaт зaнят, - cтpoгo oтвeчaл пoмoщник,
yкaзывaя пepoм нa дoжидaвшиxcя, и пpoдoлжaл
пиcaть.
- He мoжeт ли oн нaйти вpeмя? - cкaзaл Aлeкceй
Aлeкcaндpoвич.
- У нeгo нeт cвoбoднoгo вpeмeни, oн вceгдa зaнят.
Извoльтe пoдoждaть.
(28) - Maмa, мoжнo мнe зaгoвopить c нeю?
-
- Тaк нe пoтpyдитecь ли пoдaть мoю кapтoчкy,
cкaзaлa Kити, cлeдившaя зa cвoим нeзнaкoмым
дpyгoм и зaмeтившaя, чтo oнa пoдxoдит к ключy
и oни мoгyт coйтиcь y нeгo.
- дocтoйнo cкaзaл Aлeкceй Aлeкcaндpoвич, видя
нeoбxoдимocть oткpыть cвoe инкoгнитo.
tr.571]
[
,
- Дa, ecли тeбe тaк xoчeтcя, я yзнaю пpeждe o нeй
и caмa пoдoйдy, - oтвeчaлa мaть. - Чтo ты в нeй
нaшлa ocoбeннoгo? Koмпaньoнкa, дoлжнo быть.
Еcли xoчeшь, я пoзнaкoмлюcь c мaдaм Штaль. Я
знaлa ee belle-soeur 1, -пpибaвилa княгиня, гopдo
(- Ngài cần gì?
- Nói chuyện với luật sư.
- Ông ấy đang bận, - viên thư ký trả lời cộc lốc, lấy bút
chỉ vào đám người ngồi đợi, và tiếp tục viết.
- Ông ấy không thể dành một lát để tiếp tôi sao? -
Alêcxây Alêcxanđrôvich nói.
( - Mẹ ơi, con nói chuyện với cô ấy được không? -
Kitty hỏi và nhìn cô bạn chưa quen đó, thấy cô ta đã
tới gần suối nước và hai người có thể gặp nhau ở đấy.
- Con đã thích nói chuyện với cô ấy như thế thì cũng
được, để mẹ hỏi thêm về cô ta và mẹ sẽ đích thân đến
gặp cô ta, - bà mẹ đáp. - Con thấy cô ấy có gì đặc biệt?
Chắc cô ta là một tuỳ nữ. Nếu con muốn thì mẹ sẽ làm
quen với bà Stan. Trước kia, mẹ có quen chị dâu bà
ta, - phu nhân nói thêm và ngẩng cao đầu kiêu hãnh).
- Ông ấy không có lấy một phút rảnh rỗi , lúc nào cũng
bận. Xin ngài chịu khó ngồi đợi.
- Ông làm ơn chuyển giúp cái thiếp của tôi cho ông ấy,
- Alêcxây Alêcxanđrôvich đành lộ tên thật của mình.)
Chủ thể các phát ngôn liên tục đưa ra nhiều hình thức
để thương lượng, từ trì hoãn đến viện lý do, thậm chí
nài nỉ để đạt được quyền lợi cho chính mình.
Hành vi từ chối biểu hiện bằng cách đưa ra
lời tự vệ cho bản thân
Hành vi từ chối biểu hiện bằng việc thương
lượng lợi ích qua lại
Khi bắt gặp hành vi tiền đề có tính chất ảnh hưởng/tác
động mạnh mẽ đến bản thân, người nói sẽ TC bằng
hình thức đưa ra lời tự vệ.
(31) - u Vân thưa: “Bẩm ông, mẹ con của con đây
tình nguyện làm tôi tớ, mà ông quảng đại, ông muốn
đãi như con cháu, có lý nào con không chịu. Bẩm ông,
hồi nãy ông nói ông còn hai đứa cháu nội gái lạc mất,
vậy ông không kiếm coi?”
(29) (Bính chưa chồng mà đẻ con, lo sợ làng xóm biết
được thì không còn mặt mũi nào nên bố mẹ Bính bàn
tính việc bán thằng bé cho vợ chồng nhà Phó Lý).
Phó Lý mỉm cười vuốt râu, hất hàm hỏi bố Bính:
- Vậy tôi giúp ông bà mười đồng ông bà bằng lòng
chứ?
(32) - Ông Hội đồng chau mày ủ mặt, ngồi lặng thinh
một hồi lâu rồi nói: “Hai mẹ con ngủ dưới nhà bếp,
ban đêm có việc cần dùng khó kêu lắm. ôi, để
phòng đó cho hai vợ chồng thằng Pho nó ngủ. Để
mai biểu bầy trẻ khiêng bộ ván gõ nhỏ trên lầu xuống
rồi lót phía trong, dựa bên thang lầu, chỗ bước ra cửa
Mẹ Bính vội nhăn mặt
- ằng bé kháu khỉnh lắm, mặt mày sáng sủa, chân
tay bụ bẫm, xin trả cho hai mươi đồng để nhà cháu lo
lót với mấy cụ trong làng.
Bố Bính gãi tai tiếp lời:
- ật vợ chồng cháu cảm ơn ông bà phó lắm chứ
không dám nài xin hơn thiệt gì đâu. (…)
- ôi tôi giúp thêm nhà ông bà ba đồng nữa là mười sau đó, đặng ban đêm hai mẹ con giăng mùng ở đó
ba đồng có thuận thì mai bế thằng bé sang nhà tôi mà mà ngủ với nhau.”
- u Vân nghe ông dạy như vậy liền đáp: “Bẩm ông,
Khi người nói chưa hài lòng với lời đề xuất nào đó ông thương mẹ con của con ông hậu đãi như vậy, thiệt
từ phía người nghe thì hình thức thương lượng xuất con cảm đức lắm. Nhưng vì con xét phận con hèn mọn
hiện, thương lượng để đem lại lợi ích về phần mình. quá, nên con không dám đèo bòng. Vậy xin ông cho
1031
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034
phép con nhỏ ở trên nầy mà hầu trà thuốc cho ông, TC bằng cách đẩy trách nhiệm sang người thứ hai
tr.195]
vắng mặt cũng được người Nga bày tỏ một cách từ
tốn.
(37) - Aлeкceй Aлeкcaндpoвич!
Я знaю вac
TC biểu hiện qua lời tự vệ được người Nga đưa ra một
cách nhẹ nhàng, chủ yếu diễn tả sự việc vượt quá khả
năng bản thân người nói nên đành từ chốiTC. Ví dụ:
(33) - Oн y вac бyдeт жить, - шeптaл в зaлe Ивaн
Ивaныч, - eжeли вы бyдeтe тaкиe дoбpыe, a мы вaм
бyдeм пo дecяти pyблeй в мecяц плaтить. Oн y нac
мaльчик нe бaлoвaнный, тиxий…
- Уж нe знaю, кaк вaм и cкaзaть, Ивaн Ивaныч! -
плaкcивo вздыxaлa Hacтacья Пeтpoвнa.
- Дecять pyблeй дeньги xopoшиe, дa вeдь чyжoгo-
тo peбeнкa бpaть cтpaшнo! Bдpyг зaбoлeeт, или
(Trong phòng khách, Ivan Ivanứts nói thì thầm:
- Bà cho nó ở đây. Nếu bà có lòng nhận cho, chúng tôi
sẽ xin gửi bà mỗi tháng mười rúp. Cháu nó ngoan mà
lành, chứ không phải như hạng con cưng nhà người
ta...
- Tôi cũng chẳng còn biết nói với ông thế nào nữa, ông
Ivan Ivanứts ạ! – bà Naxtaxia Pêtơrốpna thở dài nói
như khóc. – Mười rúp cũng khá to tiền, nhưng nhận
nuôi con người khác tôi cũng sợ lắm. Nhỡ nó ốm đau
hay có chuyện gì...)
зa иcтиннo вeликoдyшнoгo чeлoвeкa, -cкaзaлa
Бeтcи, ocтaнoвившиcь в мaлeнькoй гocтинoй и
ocoбeннo кpeпкo пoжимaя eмy eщe paз pyкy. -Я
пocтopoнний чeлoвeк, нo я тaк люблю ee и yвaжaю
вac, чтo я пoзвoляю ceбe coвeт. Пpимитe eгo.
Aлeкceй ecть oлицeтвopeннaя чecть, и oн yeзжaeт
в Тaшкeнт.
- Блaгoдapю вac, княгиня, зa вaшe yчacтиe и
coвeты. Ho вoпpoc o тoм, мoжeт ли, или нe мoжeт
,
tr.653-654]
(- Alêcxây Alêcxanđrôvich, tôi coi ông là một người
rất đại lượng, - Betxy nói, dừng lại trong phòng khách
nhỏ và bắt tay ông lần nữa đặc biệt cương quyết. -
Tôi... hoàn toàn ở ngoài cuộc, nhưng tôi mến Anna
lắm và rất mực trọng ông, nên tôi đánh bạo khuyên
ông một lần. Ông hãy tiếp chú ấy, Alêcxây Vrônxki
chính là hiện thân của danh dự và chú ấy sắp đi
Tasken.
- ưa quận chúa, tôi xin cảm ơn về mối thiện cảm và
lời khuyên của bà. Nhưng tiếp hay không tiếp ai, chỉ có
nhà tôi mới có quyền quyết định.)
(34) Koгдa Сoϕья зacыпaлa, Bapвapa пpижaлacь к
нeй и шeпнyлa нa yxo:
KẾT LUẬN
- Дaвaй Дюдю и Aлёшкy извeдeм! (…)
Bài nghiên cứu đã phân tích các phương tiện biểu
hiện HVTC GT trong tiếng Việt (có so với tiếng Nga)
thông qua 9 phương tiện: biểu hiện bằng việc trình
bày lý do TC, bằng việc đưa ra hướng lựa chọn mới,
biểu hiện qua lời hứa hẹn, bằng cách lảng tránh, biểu
hiện bằng cách đưa ra lời đe dọa, ngăn cấm, bằng cách
ra điều kiện, bằng việc thương lượng lợi ích qua lại,
bằng cách đưa ra lời tự vệ cho bản thân và bằng cách
đẩy trách nhiệm sang người khác. Qua mỗi phương
tiện biểu hiện, tác giả thấy có nhiều cách thể hiện cơ
bản giống nhau giữa hai ngôn ngữ.
Để lời TCGT thuyết phục được người nghe mà không
cảm thấy bị mất thể diện thì biểu hiện TC thông qua
viện dẫn lý do cho lời TC, đưa lời hứa hẹn, hay thương
lượng lợi ích qua lại là cách sử dụng phổ biến trong cả
hai ngôn ngữ. Đẩy trách nhiệm sang người khác hay
đưa ra lời tự vệ cho bản thân cũng là cách TC nhẹ
nhàng, tôn trọng thể diện người nghe. Hình thức TC
bằng lời đe dọa, ngăn cấm dễ chạm phải thể diện cho
đối tác. Do mang tính tiêu cực nên cả người Việt và
người Nga ít chọn cách thể hiện này ngoại trừ ý muốn
chấm dứt cuộc thoại sau lời TC.
(Khi Xôphia đã thiu thiu ngủ, Varvara nằm sát lại bên
và ghé miệng sát vào tai thầm thì nói:
- Chị với em cùng giết lão Điuđia và thằng Aliôska đi!
(…)
- Sợ lắm em à... Trời đánh chết mất thôi.)
Hành vi từ chối gián tiếp thể hiện bằng cách
đẩy trách nhiệm sang người khác
Khi người nói e ngại TC bằng cách tỏ ý “không muốn”,
“không biết”, “không thích”...thực hiện theo nội dung
đã được yêu cầu, đề nghị thì lựa chọn hình thức đẩy
trách nhiệm sang người khác là cách thoái thác khôn
khéo.
(35) - Bữa nay các con muốn ăn gì? canh chua cá lóc
kho hay là heo, là gà?
(36) - Ở Nam Vang có một người đang thiếu nợ bác.
Cháu lên Nam Vang, đưa cái lá thư này, rồi mang tiền
về. Những ngày cháu đi vắng, bác vẫn trả tiền công
cho cháu; đòi được tiền, bác sẽ trả thêm. Trưa mai có
tàu cập bến.
Một nét khác biệt đáng kể trong phương tiện biểu hiện
hành vi TCGT giữa hai ngôn ngữ chính là, người Nga
thường lảng tránh bằng việc trì hoãn thực hiện hành
1032
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):1026-1034
vi tiền vị trong thời gian rất ngắn. Việc trì hoãn là nhất dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm tăng hiệu lực của
thời, không như người Việt thường đưa ra khoảng
thời gian bất định hoặc hạn định ở thời điểm xa. Khi
lảng tránh bằng việc đổi nội dung đề tài, người Nga
nếu trong mối quan hệ thân thiết với người đối thoại
thường sẽ xem nhẹ thể diện của họ khi chuyển đề tài
với một đối tượng khác, không phải chủ thể giao tiếp
ban đầu. Điều này tác động thể diện đối tác rất sâu
nặng.
Cả tiếng Việt lẫn tiếng Nga đều TCGT bằng việc đưa
ra hướng lựa chọn mới. Tuy nhiên, phương tiện này
trong tiếng Việt mang tính tiêu cực hơn tiếng Nga bởi
vì khi hướng đề xuất mới đi kèm giọng điệu thiếu hòa
khí thì lời TC trở thành bất lịch sự.
phát ngôn trong giao tiếp, còn sử dụng ngôn ngữ như
những phương thức biểu hiện HVTC được thể hiện
bằng cả cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu của ngôn
ngữ nhằm diễn đạt ý định TC, có thể tường minh hoặc
sử dụng ý hàm ẩn và lệ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh
giao tiếp. Những phát ngôn TC này mang tính sáng
tạo để mục đích giao tiếp đạt hiệu quả cao nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chi NP. Từ chối, một hành vi ngôn ngữ tế nhị, tạp chí Ngôn
ngữ và Đời sống. 1997;11:12–13.
2. Hai NT. Hành động từ chối trong Tiếng Việt hội thoại. Tạp chí
Ngôn ngữ. 2001;1:1–12.
3. Mai TC. Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến
trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt). Luận án tiến sĩ ngôn
Trong quá trình nghiên cứu, xét về tính khách quan
tác giả không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tuy
nhiên, tác giả hy vọng bài viết này có thể cung cấp
cho người học thêm thông tin liên quan đến việc sử
dụng phương tiện biểu đạt HVTC GT trong hai ngôn
ngữ để đảm bảo tính lịch sự khi giao tiếp.
ngữ học, Đại học KHXHNV Hà Nội. 2005;.
4. Khương LQ, Thảo TTP. Nghi thức lời từ chối một đề nghị giúp
đỡ trên cơ sở lý thuyết Hành vi ngôn ngữ, tạp chí Ngôn ngữ.
2008;2:13–21.
5. Đức Dân N. Ngữ dụng học, NXB Giáo dục. 2000;.
6. Viện Ngôn ngữ. Từ điển tiếng Việt. NXB Giáo dục. 1994;.
7. Hồng N. Bỉ vỏ. NXB Văn học. 2010;.
8. Chánh HB. Chút phận linh đinh. NXB Hội nhà văn. 2018;.
9. Hoài T. Tuyển tập truyện ngắn Chuyện để quên. NXB Văn học.
2015;.
10. Aleksandr G. Aлыe пapyca, Издaтeльcтвo Экcмo. 2010;.
11. Anton PC. Bepoчкa, oпyбл.: «Hoвoe вpeмя», № 3944, 21
ϕeвpaля. 1887;p. 2–3.
12. Giỏi Đ. Đất rừng phương Nam. NXB Kim Đồng. 2012;.
13. Hoài T. Truyện ngắn chọn lọc. NXB Lao động. 2011;.
14. Châu NM. Toàn tập, tập 2. NXB Văn học. 2001;.
15. Lev T. Anna Karenina, Издaтeльcтвo Рyccкий вecтник. 1877;.
16. Xuân T. Bụi đời. NXB Văn học. 2006;.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TC: Từ chối
HVTC GT: Hành vi từ chối gián tiếp
TCGT: Từ chối gián tiếp
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Bản thảo này không có xung đột lợi ích
17. Hoài T. Chuyện cũ Hà Nội (Tái bản lần 2). NXB Hội Nhà văn.
2014;.
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ
18. Anton PC. Стeпь, oпyбл.: «Сeвepный вecтник», № 3 (цeнз.
paзp. 25 ϕeвpaля), cтp. 75-167. 1888;.
ông qua việc thu thập nguồn ngữ liệu từ các tác
phẩm văn học tiếng Việt và tiếng Nga, trong bài viết
này tác giả bước đầu thống kê được 9 phương tiện
biểu hiện HVTC GT giữa tiếng Việt và tiếng Nga.
ông qua bài nghiên cứu, tác giả hy vọng có thể cung
cấp phần nào thông tin đến người học ngoại ngữ khi
ranh giới giữa phương thức biểu hiện HVTC và chiến
lược TC là rất mỏng manh. Chiến lược TC là việc sử
19. Anton PC. Пpипaдoк, oпyбл.: cбopник «Пaмяти B. M.
Γapшинa», СПб. 1888;29(1888):295–319.
20. Anton PC. Чeлoвeк в ϕyтляpe, oпyбл.: «Рyccкaя мыcль», №
7, c. 120-131. 1898;.
21. Sáng NQ. Tuyển tập, NXB Văn Nghệ. 2002;.
22. Nam Cao. Sống mòn, NXB Hội nhà văn. 2008;.
23. Anton PC. Бaбы, Иcтoчник: ΦЭБ. 1891;.
24. Nhiều tác giả. 100 truyện ngắn hay Việt Nam thế kỷ 20. NXB
Văn học. 2014;.
1033
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 5(2):1026-1034
Commentary
Open Access Full Text Article
Expressions of indirect refusal in Vietnamese (compared with
Russian)
Truong Thi Lan Huong*
ABSTRACT
In Pragmatics, verbal behavior is a behavior that is most interested by many linguists. One of the
behaviors is the act of rejection, the universal behavior of all languages. In intercultural conversa-
tions, the act of rejection is a very important behavior. Politeness in communication is a general
principle in the social interaction of each culture. It is not easy to be polite when performing the
acts of refusing without losing the other person's face.
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
Refusal is a common act in communication, especially in intercultural communication. In the case
that the proposed invitations, suggestions or requests, etc. are not suitable to receive, refusal in a
proper manner is needed. Moreover, choosing the form of indirect refusal is an effective way of re-
sponding. They both express the declination of requests and the face saving for the listener. Based
on literary works either published or uploaded onto the internet, this study focuses on formulas
expressing indirect refusals in Vietnamese (compared with Russian). Thereby, contributing to the
efficiency enhancement of the learning of this speech act used for both Vietnamese learners of the
Russian language and Russian-speaking learners of the Vietnamese language.
Key words: refusal acts, indirect refusal, expressing formulas, Vietnamese, Russian
u Dau Mot University, Vietnam
Correspondence
Truong Thi Lan Huong, Thu Dau Mot
University, Vietnam
Email: [email protected]om
History
• Received: 9/12/2020
• Accepted: 31/5/2021
• Published: 06/6/2021
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.670
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Cite this article : Huong T T L. Expressions of indirect refusal in Vietnamese (compared with
Russian). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 5(2):1026-1034.
1034
Bạn đang xem tài liệu "Những biểu hiện của hành vi từ chối gián tiếp trong tiếng Việt (Có so với tiếng Nga)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhung_bieu_hien_cua_hanh_vi_tu_choi_gian_tiep_trong_tieng_vi.pdf

