Diễn ngôn thân thể và tâm thức nữ quyền trong truyện ngắn của tác giả nữ Việt Nam đương đại

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
Khoa học Xã hội, Số 21 (12/2020) tr. 89 - 95  
DIỄN NGÔN THÂN THỂ VÀ TÂM THỨC NỮ QUYỀN  
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA TÁC GIẢ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI  
Trương Thị Thu Thanh  
Trường Đại học Phú Yên  
Tóm tắt: Diễn ngôn thân thể trong văn học thường gắn với những tác phẩm mang tâm thức nữ quyền. Bởi lẽ,  
với những đặc trưng trong lối viết thân thể, thân thể phụ nữ như một phương tiện biểu đạt nội dung tác phẩm. Bài  
viết đã vận dụng lý thuyết diễn ngôn và nữ quyền soi chiếu vào các nhân vật nữ trong truyện ngắn của tác giả nữ  
Việt Nam đương đại. Từ đó, cho thấy sự thấu hiểu sâu sắc của các tác giả trước những số phận đàn bà và sự đề  
cao đối với những người phụ nữ dám đứng lên đấu tranh đòi tự do, bình đẳng và đòi mưu cầu hạnh phúc.  
Từ khoá: Truyện ngắn, bản ngã, diễn ngôn, thân thể, nữ quyền, phái tính, giới, nữ giới.  
1. Mở đầu  
của từng trường phái văn học, trào lưu hay chủ  
nghĩa văn học hoặc các ngành khoa học.  
Với sự phát triển khoa học xã hội và hội nhập,  
giao lưu văn hóa, văn học nữ phát triển cùng  
với một nền lý luận phê bình văn học phong  
phú. Họ thể hiện tài năng văn chương trên từng  
tác phẩm. Văn học nữ Việt Nam đương đại dần  
phát triển về số lượng lẫn chất lượng. Xuyên  
suốt các truyện ngắn là hình ảnh người phụ nữ  
với nhiều số phận khác nhau. Họ hiện lên với  
những khát khao yêu thương, sự dấn thân đi tìm  
bản ngã đàn bà và đặc biệt là sự khẳng định vị  
thế của mình trên văn đàn học thuật với tác giả  
nam. Trong truyện ngắn, tác giả nữ đã thể hiện  
lối viết thân thể đầy trải nghiệm. Diễn ngôn  
thân thể như một phương cách cất lên tiếng nói  
đấu tranh đòi bình đẳng giới. Vì vậy, diễn ngôn  
thân thể không chỉ có ý nghĩa về mặt văn hóa  
mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội. Có  
thể nói, văn chương đương đại đang có nhiều  
sự chuyển biến mới. Trong luồng chuyển động  
đó, văn học nữ giới đang từng bước phá vỡ hệ  
thống tư tưởng văn hóa phụ quyền, xác lập hệ  
thống diễn ngôn mới: diễn ngôn khoái lạc, diễn  
ngôn nữ giới.  
Đối với nhà ngôn ngữ học cấu trúc De  
Sausure, diễn ngôn được đặt trong cấu trúc ngôn  
ngữ. Ngôn ngữ gồm cái biểu đạt và cái được  
biểu đạt. Cái biểu đạt gồm âm thanh, ngữ âm,  
từ, câu,… và cái dược biểu đạt là ý nghĩa câu, tư  
tưởng, nội dung. Nhưng đối lập với quan điểm  
của các nhà ngôn ngữ học và chủ nghĩa hình  
thức thì M. Bakhtin cho rằng cần nghiên cứu  
diễn ngôn trong mối tương quan với đời sống  
xã hội và ý thức hệ. Diễn ngôn là sự biểu đạt  
trên câu tồn tại trong đời sống thực tiễn. “Tất  
cả mọi đặc điểm của diễn ngôn mà tôi biết là  
tính kí hiệu thuần tuý, tính thích ứng phổ biến  
về ý thức hệ, tính tham dự giao tiếp đời sống”  
[1]. Còn đối với Foucault, diễn ngôn gắn với  
loại hình tri thức và quyền lực xã hội. Chính vì  
vậy, ngôn ngữ chính là phương thức biểu đạt  
của tư tưởng và lịch sử. Diễn ngôn phải gắn với  
sức mạnh của nhân văn và sức mạnh thực tiễn.  
Diễn ngôn là một chỉnh thể thống nhất giữa nội  
dung và hình thức, chỉnh thể trong cái chính thể  
của xã hội. “Thuật ngữ diễn ngôn có thể xác  
định là một chỉnh thể trần thuật hình thành hệ  
thống đồng nhất.” [3]. Mặt khác, diễn ngôn  
là cách nói năng, phương thức biểu đạt về con  
người, thế giới, về các sự việc trong đời sống.  
Nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu ngôn  
ngữ. Ngôn ngữ là tư duy của vỏ não con người.  
Nhưng diều đó không đồng nghĩa rằng diễn  
ngôn phải là công cụ diễn đạt mà là bản chất  
của tư tưởng, là biểu hiện của một ý thức hệ.  
2. Nội dung  
2.1. Diễn ngôn thân thể trong truyện ngắn  
của tác giả nữ Việt Nam đương đại  
2.1.1. Lý thuyết về diễn ngôn  
Diễn ngôn là gì? Và diễn ngôn có tầm quan  
trọng như thế nào trong trong nghiên cứu văn  
học? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thuật  
ngữ diễn ngôn cũng như hướng nghiên cứu Ngôn ngữ thể hiện tư tưởng, quan điểm, quyền  
89  
ngôn của hậu cấu trúc luận tương đồng với khái  
niệm ngôn ngữ của Richard Rorty và khái niệm  
lực, địa vị của con người trong mối tương quan  
với xã hội. Đối với nhà văn, diễn ngôn chính là  
biểu hiện tư tưởng nghệ thuật, là lập trường, là giao tiếp của Nicholas Luckmann. Nguồn mạch  
phong cách, là tài năng sử dụng ngôn ngữ,… Vì tri thức của lí thuyết diễn ngôn hậu cấu trúc luận  
vậy, diễn ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên còn là những tư tưởng hậu marxiste của Louis  
văn bản, liên văn hóa trong tính thống nhất, tính  
hệ thống, tính chỉnh thể. Đó là một sự tụ họp,  
kiến tạo. Có nghĩa rằng, một từ ngữ trong tác  
phẩm văn học là sự tác động qua lại của tác giả  
- người đọc - nhân vật, sự kiện. Qua đó, chúng  
ta thấy, qua điểm của Foucault và của Bakhtin  
giống nhau ở chỗ nhấn mạnh tính thực tiễn của  
diễn ngôn.  
Althusser và Antonio Gramsci. Theo Jorgensen  
và L. Phillips, diễn ngôn trước hết là hệ thống kí  
hiệu bao gồm những thành phần như ngôn ngữ  
và hình ảnh. Diễn ngôn không chỉ kiến tạo thế  
giới, mà bản thân nó cũng do thế giới kiến tạo  
nên. Hiện thực xã hội khách quan được xem là  
cấu trúc có ảnh hưởng tới thực tiễn diễn ngôn.  
Khảo sát qua những công trình nghiên cứu  
về diễn ngôn, chúng tôi tạm kết lại rằng: Diễn  
ngôn đã trở thành khái niệm của khoa học liên  
ngành và khoa học đa ngành. Một hiện tượng  
siêu văn bản, liên văn bản, liên văn hóa trong  
tính thống nhất, và tính chỉnh thể. Diễn ngôn có  
rất nhiều. Nếu gắn với ý thức hệ xã hội thì có  
diễn ngôn tư sản, diễn ngôn vô sản, diễn ngôn  
Mácxit, diễn ngôn hiện đại, diễn ngôn hậu hiện  
đại. Nếu gắn với các lĩnh vực tri thức thì có diễn  
ngôn văn học, diễn ngôn vật lí, diễn ngôn thi  
ca. Nếu gắn với văn học thì có diễn ngôn tính  
dục, diễn ngôn lý luận phê bình, diễn ngôn phức  
điệu (đa âm, đa thanh), diễn ngôn các navan,  
diễn ngôn nghịch dị, diễn ngôn nữ quyền, diễn  
ngôn trần thuật, diễn ngôn tượng trưng, siêu  
thực, diễn ngôn thơ cổ, diễn ngôn thơ mới, diễn  
ngôn trần tục, diễn ngôn văn học sử thi, diễn  
ngôn ám thị,… Nếu gắn với ngôn ngữ học thì  
có diễn ngôn thường nhật, diễn ngôn đàm thoại.  
Nếu gắn với các chủ nghĩa, trào lưu, khuynh  
hướng văn học thì có diễn ngôn chủ nghĩa cổ  
điển, diễn ngôn chủ nghĩa lãng mạn, diễn ngôn  
chủ nghĩa hiện thực. Nếu gắn với quan hệ kinh  
tế thị trường thì có: diễn ngôn tiếp thị, diễn  
ngôn bán hàng, diễn ngôn tiêu dùng, diễn ngôn  
chứng khoán. Ngoài ra còn có diễn ngôn thể  
chế hoá, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn truyền  
thông, diễn ngôn văn hóa, diễn ngôn triết học,  
diễn ngôn điện ảnh, diễn ngôn đời tư - thế sự -  
nhân văn, diễn ngôn lịch sử - văn hóa,...  
Ở góc độ khác, diễn ngôn theo tiếng Pháp là  
discourse, có nghĩa là lời nói, là phát ngôn, là  
hành động lời nói tạo sinh văn bản gồm người  
nghe bình đẳng với người nói” [2] quyền lực  
đa dạng trong cuộc sống. Diễn ngôn cũng là  
phương cách tạo lập nên tri thức cùng những  
thực hành xã hội, các dạng thức của chủ thể  
và mối quan hệ quyền lực. Còn theo Van Dijk  
cho rằng, từ giữa những năm 1980, phân tích  
- diễn ngôn bước vào giai đoạn phát triển theo  
hướng chuyên môn hoá trong nội bộ chuyên  
ngành. Bắt đầu xuất hiện các lí thuyết diễn  
ngôn chuyên ngành, ví như lí thuyết diễn ngôn  
tư tưởng hệ, lí thuyết diễn ngôn dân tộc học, lí  
thuyết diễn ngôn của nhóm xã hội thiểu số, lí  
thuyết diễn ngôn của chủ nghĩa phân biệt chủng  
tộc,… Một trong những khuynh hướng rộng  
lớn và nhiều cành nhánh nhất nghiên cứu về  
diễn ngôn chính là phân tích - diễn ngôn. Trong  
những năm cuối đời, bản thân Van Dijk cũng  
tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu diễn ngôn.  
Tư tưởng hệ. J. Torfing khái quát, lí thuyết diễn  
ngôn xuất hiện như là sự gặp gỡ của các ngành  
khoa học ở ý đồ liên kết các quan điểm cốt lõi  
của ngôn ngữ học và thông diễn học với những  
tư tưởng then chốt của khoa học xã hội và khoa  
học chính trị. Ý đồ đó được khuyến khích bởi  
sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa ngôn ngữ  
học và chính trị học trong quá trình biến đổi xã  
hội. Còn nhìn ở góc độ phân tích - diễn ngôn  
hậu cấu trúc luận thì chúng ta có thể tìm thấy  
ở những công trình của Roland Barthes, Julia  
Kristeva, Jacques Lacan. Trong đó, diễn ngôn  
được xem là tổng thể các thực tiễn xã hội mà  
mọi ý nghĩa và tư tưởng đều được kiến tạo và  
tái tạo trong khuôn khổ của nó. Quan niệm diễn  
2.1.2. Diễn ngôn thân thể trong truyện ngắn  
của tác giả nữ Việt Nam đương đại  
Vận dụng lý thuyết diễn ngôn vào nghiên cứu  
văn học, chúng tôi nhận thấy các nhà văn nữ sử  
dụng rất nhiều loại diễn ngôn trong quá trình  
90  
thể ấy sẽ trở thành ngôn ngữ. Vì vậy, diễn ngôn  
thân thể được xem như một phương diện văn  
hóa chứ không chỉ dừng lại ở nghĩa giản đơn và  
tầm thường: thân thể chỉ là xác thịt. Diễn ngôn  
thân thể trong truyện ngắn của tác giả nữ Việt  
Nam đương đại là hành trình đi tìm bản ngã và  
xác lập nhân vị đàn bà trong xã hội.  
sáng tác của mình: diễn ngôn trần thuật, diễn  
ngôn tính dục, diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn  
thân thể, diễn ngôn nữ giới,… Diễn ngôn nữ  
giới chính là lời nói, lời phát ngôn, là hành động  
lời nói của giới nữ tạo sinh văn bản gồm người  
nghe bình đẳng với người nói, là sự tương tác  
trong giao tiếp của phụ nữ với văn hoá xã hội.  
Diễn ngôn nữ giới thể hiện tri thức, quyền lực,  
địa vị của phụ nữ đối với xã hội. Trong truyện  
ngắn của tác giả nữ Việt Nam đương đại, các  
tác giả nữ đã thể hiện lối viết thân thể đầy trải  
nghiệm. Diễn ngôn thân thể như một phương  
cách cất lên tiếng nói đấu tranh đòi bình đẳng  
giới. Vì vậy, diễn ngôn thân thể không chỉ có ý  
nghĩa về mặt văn hóa mà còn có ý nghĩa về mặt  
chính trị, xã hội. Có thể nói, văn chương đương  
đại đang có nhiều sự chuyển biến mới.  
Nếu phụ nữ muốn bình đẳng thì bản thân họ  
phải tự dấn thân và phản kháng để đấu tranh  
cho sự tự do của mình. Họ phải tự tạo lập cuộc  
đời và tự tạo danh tính. Hành trình dấn thân và  
đấu tranh của phụ nữ trong xã hội không phải  
là con đường bằng phẳng. Đó là một hành trình  
đầy đau khổ và chịu nhiều nổi ám ảnh, đắng  
cay. Họ bị ngay chính người yêu chà đạp nhân  
phẩm, chiếm đoạt thân thể, rơi vào những cạm  
bẫy tình yêu (truyện Ai chọn giùm tôi, truyện  
27 bước chân là lên thiên đường của Y Ban).  
Họ bị mẹ chồng và chồng bắt phải phá thai vì  
đây là lần thứ ba sinh con gái mà lại là sinh đôi  
(truyện Hai giọt sương của Nguyễn Anh Đào).  
Hình ảnh cô Hoa đau khổ khi một mình nằm  
tênh hênh trên bàn bệnh viện vì bị người yêu lợi  
dụng thân xác (truyện Trinh tiết xóm Chùa của  
Đoàn Lê). Họ phải hi sinh tuổi xuân của mình  
khi ở bên cạnh người đàn ông cả đời chỉ biết  
cống hiến cho nghệ thuật (truyện Tôi và anh của  
Y Ban),… Thậm chí, một cô gái mới lớn phải  
tìm đến cái chết để kết thúc cuộc đời mình như  
kết thúc cuộc tình với chàng “công tử” đã dày  
kinh nghiệm yêu (truyện Khi người ta trẻ của  
Phan Thị Vàng Anh). Tất cả nổi cay đắng, tủi  
khổ dù lớn hay nhỏ cũng đều giày xéo tâm can  
phụ nữ. Nhưng nếu vượt qua được những nổi  
đau đó, phụ nữ sẽ ngày càng tự tin và mạnh mẽ  
hơn trong cuộc sống.  
Vị trí của phụ nữ Việt Nam dần được xác lập  
trong một xã hội dân chủ, đổi mới toàn diện.  
Họ không những được khẳng định mình trong  
xã hội, trên các phương diện chính trị, văn hoá,  
kinh tế mà còn cả trong văn học nghệ thuật. Có  
thể nói ý thức phái tính và tư tưởng nữ quyền  
phát triển từ đời sống văn hoá, chính trị, xã hội  
đến địa hạt văn chương. Địa vị của phụ nữ và sự  
bất bình đẳng giới bị chi phối bởi cơ chế chính  
trị - xã hội. Tư tưởng nam nữ phụ quyền đã có  
từ lâu và ăn sâu vào tâm thức con người trong  
xã hội. Bởi lẽ, tư tưởng ấy gắn chặt với lịch sử  
của tộc người và bao phủ lên vòng đời của một  
cá nhân. Trong đó, phụ nữ là người gánh chịu  
nhiều bất công hơn cả. Nhưng, phụ nữ không  
bị gục ngã trước sự phi lí của xã hội, mà trái  
lại, họ đã dũng cảm đấu tranh phá bỏ thủ tục  
cổ hủ và tư tưởng nam quyền. Họ hành động  
và tự tạo danh tính trong xã hội, chính trị và  
nghệ thuật bằng chính ngôn ngữ của mình. Diễn  
ngôn thân thể hiện lên đậm nét trên từng trang  
văn của tác giả nữ. Yếu tố thân thể con người  
- thân thể người phụ nữ được đề cập và khắc  
họa rõ nét trong quá trình đấu tranh đòi bình  
quyền. Bởi lẽ, thân thể tự nó đã là một ngôn  
ngữ giao tiếp. Trong đời sống, thân thể như đầu,  
tóc, chân, tay, mắt, mũi, miệng, trái tim, cơ quan  
sinh dục… cùng các động tác của thân thể như:  
đi, chạy, cắn, hôn, đau, nhức,… đều có thể là  
Phụ nữ tự tin vững bước trên con đường  
đi tìm bản ngã và khẳng định vị thế của mình.  
Họ biết bản thân có lợi thế về sắc đẹp thân thể.  
Họ tự mãn nguyện và kiêu hãnh với sắc đẹp  
ấy. Đó không phải ngẫu nhiên khi các truyện  
ngắn của tác giả nữ Việt Nam đương đại thường  
miêu tả một cách trực diện về thân thể phụ nữ.  
Diễn ngôn thân thể đã giúp họ khắc họa rõ nét  
hơn về bức tranh người phụ nữ thời đương đại.  
Những nét đẹp thân thể của phụ nữ không còn  
ngôn ngữ giao tiếp của con người. Thân thể là mang tính ước lệ của văn học xưa như “làn thu  
thân thể sống của con người. Và khi, thân thể thủy, nét xuân sơn” (Truyện Kiều của Nguyễn  
thấm nhuần cảm xúc tâm hồn con người thì thân Du) hay “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm/  
91  
vun đầy như tuổi hai mươi” (truyện Bóng đè của  
Đỗ Hoàng Diệu). “Đôi vú nhỏ nhắn với đôi núm  
hồng”, một “lồng ngực căng vun” khiến Hưng  
cảm giác “ngực cô mịn màng và sáng tỏa như  
hào quang” (truyện Eva dại dột của Trần Thùy  
Mai). “Đôi bầu vú nhỏ nhắn nhưng rắn chắc,  
đượm mùi hương bảng lảng mà ngây dại bay  
lên từ những kháp rượu nóng hổi” (truyện Rượu  
trắng của Nguyễn Ngọc Tư). “Trong gương, da  
thịt sáng loáng. Một tấm thân tròn mình cá trắm,  
với hai cái bánh vú dày” (truyện Tự của Y Ban).  
Nét đẹp đôi vú trong truyện ngắn của các chị  
được miêu tả thật tự nhiên đầy gợi tình như một  
bước đệm để tác giả nữ hướng đến những khát  
khao yêu đương bản năng.  
Một lạch đào nguyên suối chửa thông” (Thiếu  
nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương). Thân thể  
phụ nữ trong văn học đương đại Việt Nam hiện  
ra với vẻ đẹp mang tính trần thế đầy gợi cảm,  
gợi tình. Một làn da vỡ ra trắng nõn, mái tóc đã  
vào cữ óng của cô bé mới lớn trong Chợ rằm  
dưới gốc cây cổ thụ của Y Ban. Dưới chiếc  
váy thêu hoa duỗi song song đôi bàn chân lấm  
láp bụi đỏ và mười ngón chân trông yêu như  
mười chú tằm đang rụt đầu nhả tơ. Đôi hàng mi  
khép hờ luôn rung động của “cô gái rừng với  
đôi mắt hoang màu nâu” (truyện Gió hoang của  
Võ Thị Hảo). Chị Phương hiện lên với vẻ đẹp  
sang trọng, quý phái “và trên cái nền áo xám tao  
nhã lượt là che phủ tấm thân kiều diễm đang cử  
động uyển chuyển đó vươn cao một gương mặt  
đàn bà đang độ tuổi chín mùi mẫn nhất của đời  
mình. Đôi mắt bí ẩn không bao giờ mở to nhưng  
ánh biếc của lòng mắt như lan tỏa xung quanh.  
Chính điều đó mang lại cho chị vẻ quyễn rũ  
không cưỡng nổi” (truyện Phiên chợ người Cùi  
của Võ Thị Hảo). Những nét chấm phá nhỏ trên  
khuôn mặt, ngoại hình cũng khiến lòng người  
rung rinh, xao xuyến. “Cái cười làm lấp lánh cả  
khúc sông” của người phụ nữ - mẹ của chị em  
Nương (truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn  
Ngọc Tư). “Mái tóc dài, đôi má xanh xao và  
nhất là đôi mắt của Đức Mẹ Maria của Khánh  
(truyện Ngôi đền sống của Trần Thùy Mai). Phụ  
nữ biết yêu quý và tự hào về bản thân thì họ mới  
có sức mạnh thôi thúc đứng lên đấu tranh đòi tự  
do và bình đẳng xã hội.  
Sự thay đổi tư duy và sự mở rộng của tinh  
thần dân chủ xã hội khiến nữ giới có điều kiện  
tự do cất cao tiếng nói của mình với tư cách là  
chủ thể độc lập. Bản thân nữ giới đã có những  
thay đổi lớn về nhận thức. Họ có học vấn, có  
điều kiện tự chủ kinh tế và có khả năng am hiểu  
luật pháp. Các nhà văn nữ Việt Nam đương đại  
ngày một trưởng thành hơn trong môi trường  
trải nghiệm mới.  
2.2. Âm hưởng nữ quyền qua diễn ngôn  
thân thể trong truyện ngắn của tác giả nữ Việt  
Nam đương đại  
Phụ nữ thế kỷ XXI, không còn phụ thuộc  
vào đàn ông. Họ có quyền yêu, quyền ly hôn.  
Họ được tự do quyết định cuộc đời. Xã hội ngày  
càng phát triển, phụ nữ càng được quan tâm  
nhiều hơn. Nhưng để họ thật sự được bình đẳng  
với nam giới thì đòi hỏi một sự nỗ lực rất lớn từ  
chính bản thân phụ nữ chủ yếu và phần nhiều từ  
phía xã hội.  
Ngoài nhà văn Y Ban với I am đàn bà, Nhân  
tình, Hai bảy bước chân là lên thiên đường thì  
Võ Thị Xuân Hà với Đàn sẻ ri bay ngang rừng,  
Biển cứu rỗi, Vườn yêu, Con dại của đá; Đỗ  
Hoàng Diệu với Bóng đè, Vu quy; Nguyễn Ngọc  
Tư với Cánh đồng bất tận,… cũng gây xôn xao  
dư luận. Tuy các tác gia nữ khác nhau về vùng  
miền, về tư tưởng quan điểm nghệ thuật cũng  
như văn phong diễn đạt nhưng họ có điểm chung  
trong quá trình miêu tả nét đẹp thân thể phụ nữ.  
Hình ảnh bầu vú – đặc trưng của nét đẹp phồn  
thực cũng được tác giả nữ phác họa như một bức  
tranh về sự sinh sôi và nuôi dưỡng giống nòi.  
Các tác giả nữ đã không ngừng phấn đấu  
hoàn thiện bản thân và nâng cao tài năng văn  
chương. Kết quả cho sự nổ lực ấy là những tác  
phẩm đặc sắc ra đời. Họ viết bằng tất cả niềm  
đam mê và tình yêu văn chương. Mỗi trang  
truyện ngắn hiện lên hình ảnh người phụ nữ  
với thân thể đầy quyến rũ, đầy khát khao yêu  
thương và mong muốn được tự do. Bức tranh  
về hình ảnh người phụ nữ đẹp trong văn học  
Một “đôi vú ngời ngợi như hai vầng trăng”, một nữ đương đại Việt Nam không dừng lại ở sự  
“bộ ngực tròn trịa với bờ vai, đôi cánh tay mịn chiêm ngưỡng mà nó còn mang thông điệp bình  
màng (truyện Giàn thiêu của Võ Thị Hảo). “Bộ đẳng giới. Tất cả những gì thuộc về thân thể  
ngực tròn trịa” của “cơ thể săn chắc mượt mà cũng đều mang ý nghĩa giao tiếp. Vì vậy, ngôn  
92  
đê mê dồn dập đến. Hấp tấp, cuống cuồng cả hai  
kéo nhau vào khách sạn gần đó” (truyện Kẻ tống  
tình của Bích Ngân). Hình ảnh nàng Lụa cũng  
hiện lên đầy khao khát được người yêu ôm ấp,  
mơn man da thịt. Đến cả trong những giấc mơ  
mỗi đêm, nàng mơ thấy mình trong vòng tay ôm  
chặt của Thắng. Những lúc như vậy, Lụa có cảm  
giác như “da thịt mình tách ra”. “Giấc mơ đêm  
lại đưa cô vào cơn mê lạ. Thắng nằm bên cạnh  
cô vuốt ve, bàn tay anh động đến đâu thì da thịt  
cô mở ra đến đó. Một luồng khí trời tinh khiết,  
một dòng nước nguồn tinh khiết, một tia chớp  
chói sáng bủa vây cơ thể Lụa. Cô nép vào người  
Thắng” (truyện Chợ rằm dưới gốc cây cổ thụ  
của Y Ban). Lynh Bacarbi cũng để cho nhân vật  
tôi sống với những khát khao tự nhiên bản năng.  
“Cô” thưởng thức “chiếc bánh bông lan” ngon  
đến mức khiến người ta phải nhỏ nước bọt vì  
cái vẻ ngoài hấp dẫn và mùi thơm quyến rũ. Sau  
quá trình trải nghiệm thân thể, trải nghiệm yêu  
đương, nhân vật nữ tự ngẫm lại tình yêu tuổi trẻ  
để thấm thía sự trái ngang của cuộc đời từ chính  
người đàn ông của họ gây ra (truyện Tre rừng  
của Luynh Bacardi).  
ngữ thân thể mang ý nghĩa văn hóa và chính trị  
xã hội. Trong các truyện ngắn của tác giả nữ  
Việt Nam đương đại, từ “bàn tay nhỏ nhắn và  
mềm mại hiếm thấy”, “đôi chân dài miên man”,  
những “bộ ngực tuyệt đẹp lấp ló”, hay “ánh mắt  
và khoé môi đa tình, hờn dỗi” đến cái nhíu mày,  
trợn mắt hay quát tháo cũng đều mang ý nghĩa  
văn hóa xã hội. Các nhân vật nữ như đại diện  
cho tiếng nói của phụ nữ trong quá trình đấu  
tranh đòi bình quyền và khẳng định nhân vị đàn  
bà. “Nàng” (truyện Em vẫn gọi tên anh là nước  
Nga của Bích Ngân) là một người đàn bà không  
cầu kì và biết tự yêu mình như những người đàn  
bà khác. Họ “có quyền lực sai khiến bằng một  
ánh mắt, một lời nói”. Họ có quyền quyết định  
tất cả những việc liên quan đến cuộc đời của  
mình. Người đàn bà khi ở tuổi ba mươi nhận ra  
giá trị sâu sắc của bản thân. “Và người phụ nữ  
nhận ra mình đẹp bắt đầu từ tuổi ba mươi, tự tin  
rằng những người đàn ông mình cần là những  
người nhận ra được vẻ đẹp bên trong người đàn  
bà” (truyện Đàn bà ba mươi của Trang Hạ). Họ  
biết chăm sóc bản thân, biết làm cho mình ngày  
càng giá trị, càng có sức hút với cánh đàn ông.  
Ngoài giờ đi làm và ngoại trừ lúc ngủ, thời gian  
còn lại, nàng dành hết cho việc tự chăm sóc bản  
thân, ưu tiên đặc biệt cho việc trùng tu, tôn tạo  
và nâng cấp dung nhan của mình” (truyện Kẻ  
tống tình của Bích Ngân”. Phụ nữ đương đại  
không còn là con mèo yếu ớt, sợ nước, sợ lạnh,  
co rúc tìm hơi ấm của chồng mà trở thành một  
người phụ nữ xinh đẹp, tự tin. Họ vứt hết những  
bước đi e dè, rón rén thay cho những bước  
chân lạnh lùng, kiêu kỳ của người đẹp trên sàn  
catwalk.  
Ở số phận khác, những người phụ nữ không  
được may mắn về sắc đẹp nhưng trong tâm hồn  
họ ngọn lửa khát yêu vẫn âm ĩ cháy. Đó là hình  
ảnh về một cô bé bị tật nguyền nhưng vẫn luôn  
mong đợi những lá thư cổ tích trong truyện  
ngắn Máu của lá của Võ Thị Hảo. Những người  
đàn bà tật nguyền như Nấm (truyện Đàn bà  
xấu thì không có quà của Y Ban) vẫn luôn nỗ  
lực để đạt được tấm bằng tốt nghiệp đại học.  
Hình ảnh về một cô gái mù luôn hình dung cuộc  
đời qua những âm thanh vọng lại từ chiếc tivi  
bên nhà hàng xóm trong truyện ngắn Làn môi  
đồng trinh của Võ Thị Hảo. Các nhân vật nữ  
trong truyện ngắn có số phận khác nhau nhưng  
ở họ có chung niềm mong ước gặp được người  
yêu chân chính, cưới được người chồng tốt và  
có được mái ấm gia đình hạnh phúc. Dù họ là  
người đàn bà đẹp, tài năng hay chỉ là một cô gái  
không may mắn về số phận thì phụ nữ vẫn mãi  
chỉ là phái yếu. Phụ nữ luôn cần tình yêu thương  
và sự chở che.  
Ngoài việc khẳng định nét đẹp thân thể và  
nhân vị đàn bà, truyện ngắn của tác giả nữ Việt  
Nam đương đại còn hướng đến những khát khao  
hạnh phúc giản đơn, đời thường. Lam là một  
người đàn bà có chồng và hai đứa con học giỏi.  
Nhưng từ khi người chồng bị bệnh suy thận, ân  
ái giữa vợ chồng không còn mặn mà, chuyện  
chăn gối ái ân mỗi ngày một xa thêm. Lam đã  
tìm đến lớp học thể dục thẩm mỹ. Và, cô nhanh  
chóng phải lòng cậu thanh niên khoẻ mạnh kém  
hơn mình bảy tuổi. Lam ngã nhanh vào vòng tay  
Đi sâu khám phá vào nội tâm nhân vật nữ,  
hắn và mất hết lý trí trước những nụ hôn, những chúng tôi nhận thấy nổi ám ảnh đối với phụ nữ  
cái ôm vồ vập của “hắn”. “Tay chân chị cứ lả đi, không phải tiền, tài, danh vọng hay những giá  
yếu dần. Lam thấy mình mụ mị trước cơn sóng trị đạo đức xã hội mà là tình yêu. Dù cuộc sống  
93  
có nhiều bộn bề lo toan và đầy áp lực nhưng  
người phụ nữ trong truyện ngắn Cưới chợ của  
Y Ban không bao giờ nguội lạnh và bị dập tắt  
về tình yêu. Trong truyện ngắn của tác giả nữ  
Việt Nam đương đại, bạn đọc sẽ bắt gặp nhiều  
hình ảnh về những cô gái trẻ trung, năng động,  
tràn đầy những hoài bảo và mạnh mẽ. Họ mang  
nhiều phong cách hiện đại mới của một xã hội  
đương đại. Họ dám phản kháng chống lại sự  
hà khắc của chuẩn mực phong kiến để sống vì  
mình. Họ sẵn sàng ngoại tình (truyện Một nửa  
cuộc đời của Nguyễn Thị Thu Huệ, truyện Nhân  
tình của Y Ban, truyện Cánh cửa thứ chín của  
Trần Thùy Mai, truyện Cơn mưa cuối mùa của  
Lê Minh Khuê,...) để sống thật với cái tôi bản  
năng tự nhiên. Họ sẵn sàng khiêu chiến với  
những chuẩn mực về công, dung, ngôn, hạnh  
(truyện Kiếm ái của Phạm Thị Hoài, truyện  
Vu quy của Đỗ Hoàng Diệu,...) nếu điều đó trở  
Với truyện ngắn của tác giả nữ Việt Nam  
đương đại, người đọc có cái nhìn bao quát  
hơn về những cung bậc cảm xúc khác nhau  
của người phụ nữ. Họ không giống nhau về số  
phận nhưng gặp nhau ở niềm khát khao được  
hạnh phúc, được tự do. Phụ nữ đương đại luôn  
tự hào và kiêu hãnh với chính bản thân mình.  
Họ là những người đàn bà không những đẹp về  
hình thể mà còn tài năng. Tự tin, bản lĩnh trước  
những biến động, đổi thay của cuộc sống và  
số phận là điều quan trọng để phụ nữ vươn lên  
giành lấy bình đẳng giới.  
3. Kết luận  
Các nhà văn nữ Việt Nam đương đại đã thể  
hiện quan điểm nghệ thuật về con người. Họ  
hướng đến hành trình đi tìm bản ngã đàn bà và  
khẳng định vị thế phụ nữ trong xã hội. Những  
nhân vật nữ trong truyện ngắn của tác giả nữ  
thành rào cản hạnh phúc cá nhân. Phụ nữ đương Việt Nam đương đại hiện ra như bức tranh  
đại tự quyết định tình yêu và số phận của họ. tuyệt đẹp. Mỗi người một số phận khác nhau  
Họ biết yêu quý và quan tâm nhiều hơn đến sắc  
đẹp thân thể. Họ hướng đến những hạnh phúc  
thực tế hơn, đời thường hơn là những hạnh phúc  
trong tâm tưởng và ảo mộng.  
nhưng điểm chung của họ là sự khát khao yêu  
thương, sẵn sàng dấn thân để đi tìm hạnh phúc  
và mạnh mẽ đứng lên đấu tranh để đòi sự tự  
do. Qua những tác phẩm, các tác giả nữ đã thể  
hiện niềm thương cảm của mình đối với phụ nữ  
và cũng như góp thêm tiếng nói trong việc đấu  
tranh đòi bình đẳng giới. Họ đã từng bước phá  
vỡ hệ thống tư tưởng nam quyền, phá vỡ cấu  
trúc nhị phân đối lập và xác lập nhân vị đàn bà,  
khẳng định quyền được sống, quyền được tự do  
và quyền mưu cầu hạnh phúc.  
Những người phụ nữ dù lớn hay trẻ, dù trinh  
trắng hay từng trải, dù khôn ngoan hay tầm  
thường thì ai cũng khát yêu và được yêu. Họ sẵn  
sàng bất chấp tất cả để đến với tình yêu. Hình ảnh  
một cô bé mới lớn trong truyện ngắn Biển ấm của  
Nguyễn Thị Thu Huệ cũng vì tình yêu mà bỏ nhà  
để tìm đến người đàn ông lớn hơn mình mười  
hai tuổi. Xuyên - một cô gái đầy mâu thuẫn, đầy  
ngông nghênh vẫn yêu Vỹ cháy bỏng, mặc dù  
cô biết Vỹ đã có người yêu, “đã có một già nhân  
ngãi, non vợ chồng dưới Long Xuyên” và luôn  
đem lại đau khổ cho cô (truyện Khi người ta trẻ  
của Phan Thị Vàng Anh). Lam trong truyện ngắn  
Kẻ tống tình của Bích Ngân bất chấp dư luận xã  
hội và chuẩn mực về sự thủy chung của người  
phụ nữ đã có chồng, có con để đến với chàng  
thanh niên nhỏ hơn mình bảy tuổi. Nàng trong  
truyện ngắn Hai mươi bảy bước chân là lên thiên  
đường của Y Ban bất chấp sự dễ dãi bản thân,  
cám dỗ tình yêu để “theo anh vào khách sạn với  
bước chân run rẩy”.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
Bakhtin (1998), Bakhtin toàn tập (tập 2).  
Nxb Giáo dục Hà bắc.  
[2] V.I. Chiupa, Lã Nguyên dịch, 2013. Trần  
thuật học như là khoa học phân tích diễn ngôn  
php?option=com_content&id=14838&tmpl=  
c o m p o n e n t & t a s k =  
preview&lang=vi&site=142).  
[3] Foucault M, 1998. Khảo cổ học tri thức,  
Nxb Tam liờn, Thượng Hải.  
94  
PHYSICAL DISCOURSE AND FEMINIST CONSCIOUSNESS IN THE  
SHORT STORIES BY VIETNAMESE MODERN WOMEN  
Truong Thi Thu Thanh  
Phu Yen University  
Abstract: Physical discourse in literature is often associated with the works of feminist  
consciousness. Owning to characteristics in the body writing style, the female body is a means  
of expressing the content of the work. The article applies the theory of discourse and feminism to  
illuminate female characters, which clarifies the deep understanding of the writers with the fate of  
women and their appreciation to the women who dared to fight for freedom, equality and the pursuit  
of happiness.  
Keywords: Short stories, ego, discourse, body, feminism, gender, gender, female.  
______________________________________________  
Ngày nhận bài: 16/10/2019. Ngày nhận đăng: 21/02/2020.  
Liên lạc: Trương Thị Thu Thanh; e-mail: [email protected]  
95  
pdf 7 trang yennguyen 43080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Diễn ngôn thân thể và tâm thức nữ quyền trong truyện ngắn của tác giả nữ Việt Nam đương đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdien_ngon_than_the_va_tam_thuc_nu_quyen_trong_truyen_ngan_cu.pdf