Hệ thống thanh điệu tiếng Rục và quá trình hình thành thanh điệu trong các ngôn ngữ Vietic
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Bài Nghiên cứu
Open Access Full Text Article
Hệ thống thanh điệu tiếng Rục và quá trình hình thành thanh điệu
trong các ngôn ngữ Vietic
Tạ Thành Tấn*
TÓM TẮT
Tiếng Rục của nhóm địa phương dân tộc Chứt tại khu vực miền núi Quảng Bình thường được mô
tả như một ngôn ngữ có bốn thanh được khu biệt bằng cao độ (F0), đường nét, thức tạo thanh và
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
các đặc trưng thanh quản hoá. Mùa hè 2019, tôi ghi âm 20 người Rục (10 nữ) phát âm một bảng
gồm 66 từ là kết hợp của năm nguyên âm /i, ε, u, ꢀ, a/ với các phụ âm đầu thuộc các phương thức
cấu âm khác nhau tại hai vị trí cấu âm (đầu lưỡi và mạc) và bốn thanh điệu. Kết quả phân tích ngữ
âm cho thấy bốn thanh điệu khu biệt ở cao độ và đường nét diễn tiến của cao độ. Hơn nữa, hai
thanh thuộc âm vực thấp (có nguồn gốc từ phụ âm đầu hữu thanh) có thức tạo thanh thở so với
thức tạo thanh thường của hai thanh thuộc âm vực cao (có nguồn gốc từ phụ âm đầu vô thanh),
định lượng bằng các giá trị đo độ nghiêng phổ (H1*-H2*, H1*-A3*…), giá trị đỉnh phổ nổi bật CPP.
Nguyên âm trong bối cảnh âm vực thấp có xu hướng được phát âm với cấu âm hẹp hơn (formant
thứ nhất F1 thấp hơn) so với trong bối cảnh âm vực cao. Bên cạnh đó các âm tiết kết thúc bằng
phụ âm xát thanh hầu [-h] có giá trị F0 cao và ổn định suốt diễn tiến nguyên âm, và cũng có sự
phân biệt ở các đặc trưng thức tạo thanh, chất lượng nguyên âm. Các kết quả này góp phần củng
cố cũng như bổ sung các điều chỉnh cho các giả thuyết về hình thành thanh điệu và hình thành
âm vực trong các ngôn ngữ Vietic khác, và rộng hơn là các ngôn ngữ Môn-Khmer (Nam Á), các
ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác ở khu vực Đông Nam Á lục địa.
Từ khoá: Rục, thanh điệu, thức tạo thanh, hình thành thanh điệu, hình thành âm vực
cho là có quan hệ gần gũi hơn cả với tiểu chi Maleng, 15
1
2
DẪN NHẬP
phân bố chủ yếu ở Lào4–6. Đến thời điểm hiện tại, 16
các ngôn ngữ trong ngữ chi Vietic được xác lập gồm 17
tiếng Việt, Mường, Nguồn, Chứt, Toum-Pọong, ổ, 18
Cuối trên lãnh thổ Việt Nam và các ngôn ngữ mới 19
được phát hiện và bước đầu nghiên cứu trên lãnh 20
thổ Lào giáp ranh biên giới Quảng Bình, Hà Tĩnh 21
(cao nguyên Nakai, khu vực xây dựng dự án thuỷ 22
điện Nam uen): avung (Ahao, Ahlao), Maleng, 23
Malang, Atop, Atel, émarou, Kri, Phoong, Mleng- 24
brou…6–14. Phân nhóm trong nội bộ ngữ chi Vietic 25
vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh và chưa có sự thống nhất 26
Người Rục và tiếng Rục
3
4
5
6
7
8
9
eo dữ liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 20091,
người Chứt có dân số 6.022 người, sinh sống chủ yếu
ở hai tỉnh Quảng Bình (các huyện Minh Hoá, Tuyên
Hoá) và Hà Tĩnh (huyện Hương Khê). Năm 2019
dân số người Chứt tăng lên 7.513 người, địa bàn sinh
sống chủ yếu vẫn là tỉnh Quảng Bình2. Các nhóm
địa phương của dân tộc Chứt được xác nhận gồm có
Đại học Ottawa, Canada
Liên hệ
Tạ Thành Tấn, Đại học Ottawa, Canada
Email: tathanhtan90@gmail.com;
10 Rục, Mày, Sách, Mã Liềng, và Arem; ngôn ngữ của
11 họ được xếp vào ngữ chi Vietic của ngữ hệ Nam Áa.
12 Tuy nhiên, xét trên phương diện ngôn ngữ học, các
13 nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng Arem là một ngôn
14 ngữ Vietic riêng biệt3; trong khi đó Mã Liềng được
Lịch sử
• Ngày nhận: 02-11-2020
• Ngày chấp nhận: 22-03-2021
• Ngày đăng: xx-03-2021
giữa các nhà nghiên cứu.
27
Trước năm 1957 người Rục vẫn sống lang thang ở 28
trong rừng theo từng nhóm và sinh tồn dựa vào săn 29
bắn và hái lượm (Nguyễn Văn Lợi 1993:11)14. Nhóm 30
người Rục được đề cập tới trong nghiên cứu hiện tại 31
cư trú tập trung tại hai bản Ón và Mò O Ồ Ồ thuộc 32
xã ượng Hoá (Minh Hoá, Quảng Bình). Người Rục 33
hiện đã làm quen với việc trồng lúa nước và nuôi gia 34
súc, gia cầm nhờ sự hỗ trợ của bộ đội biên phòng đồn 35
DOI :
aNgữ hệ Nam Á (Austroasiatic) trước đây thường được chia thành
hai ngành lớn: một bên là ngành Môn-Khmer gồm hầu hết các ngôn
ngữ của ngữ hệ này, và một bên là ngành Munda, với các ngôn ngữ
phân bố chủ yếu ở miền đông Ấn Độ và Bangladesh. Tuy nhiên, các
công trình gần đây đề xuất rằng nên xếp tất cả 13 ngữ chi trong ngữ hệ
ngang bằng với nhau, do đó không còn sử dụng tên gọi Môn-Khmer
nữa (Sidwell 2009, 2014 [78, 79]). Bởi vì Môn-Khmer là một thuật
ngữ quen thuộc trong giới nghiên cứu ngôn ngữ Đông Nam Á nên
bài viết hiện tại vẫn sử dụng nó, nhưng phải được hiểu rằng Môn-
Khmer tương đương với cả ngữ hệ Nam Á. ứ tự phân loại ngôn
ngữ theo đó được sử dụng như sau: ngữ hệ > ngữ chi > tiểu chi >
nhóm > tiểu nhóm > ngôn ngữ.
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Cà Xèng đóng trên địa bàn bản Mò O Ồ Ồ.
36
Trích dẫn bài báo này: Tấn T T. Hệ thống thanh điệu tiếng Rục và quá trình hình thành thanh điệu
trong các ngôn ngữ Vietic. Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 5(1):xxx-xxx.
1
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
hệ thống âm đầu dẫn tới hình thành đối lập âm vực, 89
được thể hiện bằng một nhóm các đặc tính khu biệt 90
dựa chủ yếu trên, nhưng không giới hạn vào, cao độ, 91
thức tạo thanh (chất giọng)b, chất lượng nguyên âm, 92
trường độ nguyên âm16,19,20. Các tương quan ngữ âm 93
thường gặp của đối lập âm vực trong các ngôn ngữ này 94
37 Thanh điệu và âm vực trong tiếng Rục
38 Tiếng Rục thường được miêu tả là một ngôn ngữ có
39 bốn thanh điệu, là kết quả của hai quá trình ngữ âm
40 lịch sử: (i) sự rơi rụng âm cuối tắc thanh hầu [-ꢀ] hoặc
41 yếu tố hậu tắc họng ở các vần kết thúc bằng âm vang
42 [m n ꢀ η l], và (ii) sự mất đối lập thanh tính (vô thanh
43 - hữu thanh) ở các phụ âm đầu tắc8,14,15. Tiếng Rục
44 không có hai thanh tương ứng với thanh hỏi và ngã
45 của tiếng Việt bởi nguồn gốc của hai thanh này, âm
46 cuối xát thanh hầu [-h], vẫn được bảo lưu (nhiều gốc
47 từ có dạng thức cổ hơn là âm xát [-s], trải qua quá
48 trình biến đổi **-s > *-jh). Trên bình diện âm vị học,
49 thanh điệu trong các âm tiết kết thúc bằng [-h] được
50 xử lí như là biến thể của hai thanh ở các âm tiết có
51 vần mở hoặc kết thúc bằng âm vang. Hai quá trình
52 này xảy ra phổ biến trong các ngôn ngữ Vietic, các
53 ngôn ngữ Môn-Khmer, cũng như các ngôn ngữ thuộc
54 các ngữ hệ khác trong khu vực Đông Nam Á lục địa
55 (từ đây ĐNAL), thường được lần lượt gọi tên bằng
56 quá trình hình thành thanh điệu (tonogenesis) và quá
57 trình hình thành âm vực (registrogenesis) (trong một
58 số ngôn ngữ, hệ quả của quá trình sau này là nhân đôi
được thể hiện tóm lược trong Bảng 2c.
95
anh điệu tiếng Rục, trong các nghiên cứu trước, 96
được mô tả như là có sự hiện thực hoá ngữ âm chứa 97
đựng dấu vết của cả hai quá trình trên, thể hiện qua 98
các đặc trưng về cao độ (pitch - là khái niệm miêu tả 99
cảm thụ chủ quan của người nghe về độ cao - thấp 100
của giọng nói, hiện thực vật lí của cao độ là tần số 101
cơ bản (F0), tức tốc độ dao động của dây thanh), 102
thức tạo thanh và yếu tố thanh quản hoá (glottaliza- 103
tion)8,14,15,28,29. Các đặc trưng nhận diện thanh điệu 104
tiếng Rục được khái quát hoá trong Bảng 3. eo mô 105
tả này hai thanh A1 và B1 là các thanh thuộc âm vực (= 106
cao độ) cao, đối lập với hai thanh âm vực thấp A2 và 107
B2. Hai thanh nhóm A có đường nét bằng phẳng, đối 108
lập với đường nét thay đổi ở hai thanh nhóm B: B1 đi 109
lên, B2 đi xuống. Yếu tố tắc thanh hầu chỉ xuất hiện ở 110
thanh B2 (thanh tương ứng với thanh nặng của tiếng 111
Việt, cũng thường xuất hiện đặc trưng thanh quản hoá 112
cuối vần17,30), được lí giải như là dấu vết của âm cuối 113
tắc thanh hầu [-ꢀ]. ức tạo thanh thở chỉ xuất hiện ở 114
thanh A2 (không xuất hiện ở thanh B2 cũng thuộc âm 115
vực thấp) như là dấu vết của quá trình vô thanh hoá 116
phụ âm đầu hữu thanh. Tác giả Nguyễn Văn Lợi còn 117
phân biệt các biến thể trung tâm (chính) và ngoại vi 118
(ảnh hưởng từ tiếng Việt) của thanh A2 và B2, nhưng 119
lại không có mô tả chi tiết về thanh điệu trong các vần 120
kết thúc bằng âm xát thanh hầu [-h] và đơn giản xử lí 121
59 số lượng thanh điệu)13,16–20
.
60 Trước hết, về quá trình hình thành thanh điệu từ các
61 chiết đoạn cuối vần, mô hình về nguồn gốc thanh điệu
62 tiếng Việt như một bù đắp âm vị cho sự rơi rụng các
63 âm cuối thanh hầu của Haudricourt17 có thể được áp
64 dụng tại đây để thể hiện nguồn gốc, diễn tiến của hệ
65 thống thanh điệu tiếng Rục. Để tiện lợi cho việc trình
66 bày cũng như chuyển tải nhiều thông tin ngữ âm lịch
67 sử hơn, quy ước sử dụng các chữ cái và con số cho hệ
68 thống thanh điệu21–23 được tích hợp trong Bảng 1.
69 eo đó, nhóm các đối lập thanh điệu nguyên thuỷ
70 nảy sinh từ sự rơi rụng các âm cuối thanh hầu [-ꢀ -
71 h] được quy ước bằng các chữ cái A, B, C và D, và sự
72 nhân đôi thanh điệu (hay phân chia âm vực) cao/thấp
73 được thể hiện tương ứng bằng con số 1 và 2 theo sau
74 các chữ cái. Trong nghiên cứu này tôi sử dụng các kí
75 hiệu C1 và C2 để tạo cơ sở cho việc xem xét thanh
76 điệu tiếng Rục trên cả hai phương diện ngữ âm và âm
77 vị học, đồng đại và lịch đại. Hai thanh D1, D2 ở các
78 âm tiết kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh được xử
79 lí âm vị học như là biến thể của hai thanh A1, A2, và
80 nghiên cứu hiện tại tạm thời không xét đến chúng.
81 Ở các ngôn ngữ mà thanh điệu đã hình thành trước
82 đó từ các chiết đoạn cuối vần, như tiếng Việt và nhiều
83 ngôn ngữ thuộc họ Kra-Dai, Tạng-Miến, Hmông-
84 Miền, sự trung hoà hoá các đối lập thanh quản (thanh
85 tính, bật hơi, thanh quản hoá) ở các kiểu loại phụ âm
86 đầu dẫn tới sự nhân đôi hoặc nhân ba số lượng các
87 thanh điệu21,22,24–26. Trong khi đó, ở phần lớn các
88 ngôn ngữ Môn-Khmer, sự mất đối lập thanh quản của
chúng như là tha thanh vị của hai thanh A1 và A2.
122
Nếu đúng như những mô tả trên, nghiên cứu ngữ âm 123
thanh điệu tiếng Rục có một vị trí quan trọng như 124
bức tạo thanh (phonation types) quy chiếu tới các cấu hình
khác nhau của thanh quản trong quá trình tạo sản âm lời. Các thức
tạo thanh khác nhau (thường, thở, kẹt, căng…) tạo ra âm thanh có
các đặc trưng âm học—và do đó thụ cảm—khác nhau, và hệ quả âm
học này đôi khi được gọi một cách không thực sự chặt chẽ là chất
giọng (voice quality). Chất giọng là chất lượng tổng thể của âm thanh
được tạo ra do tổng hoà của các yếu tố cấu âm, khí động lực học ở cả
khoang thanh hầu và các khoang trên thanh hầu. Tuy nhiên, nghiên
cứu hiện tại không đi vào sự phân chia quá chi tiết và sử dụng hai
thuật ngữ thức tạo thanh và chất giọng thay thế cho nhau ở các bối
cảnh phù hợp.
cCó thể nhận thấy rằng thuật ngữ “âm vực” (register) được sử
dụng theo hai cách hiểu khác biệt nhưng có liên quan tới nhau: (i)
âm vực như là sự khác biệt về cao độ tương đối giữa các thanh điệu
trong hệ thống thanh điệu của một ngôn ngữ, tức là các khoảng không
gian cao độ khác nhau trong phát âm bình thường của các cá nhân
thuộc cộng đồng ngôn ngữ đó, và (ii) âm vực như là một đối lập âm
vị học nảy sinh từ quá trình trung hoà hoá thanh tính phụ âm đầu,
hiện thực hoá trên ngữ âm như thể hiện trong Bảng 2. Cách dùng
đầu tiên chủ yếu quy chiếu tới phương diện vật lí, âm học và thụ cảm
của thanh điệu, và tôi sẽ sử dụng thay thế bằng thuật ngữ “cao độ” để
tăng tính rõ ràng trong triển khai vấn đề.
2
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Bảng 1: Quy ước thanh điệu tiếng Rục dựa trên mô hình về hình thành thanh điệu của Haudricourt (1954)17
Nhóm A
(< -ϕ)
Nhóm B
(< -ꢀ)
Nhóm C
(< -h/s)
Nhóm D
(< -p/t/c/k)
Âm vực cao
A1
B1
C1 (=A1)
D1 (=B1)
(< *phụ âm đầu vô thanh)
Âm vực thấp
A2
B2
C2 (=A2)
D2 (=B2)
(< *phụ âm đầu hữu thanh)
Nguồn: Chỉnh sửa, bổ sung từ Haudricourt (1954)
Bảng 2: Các tương quan ngữ âm thường gặp của đối lập âm vực trong các ngôn ngữ Môn-Khmer27
Âm vực cao
Âm vực thấp
(cũng gọi âm vực căng, sáng, hoặc thứ nhất)
(< *phụ âm tắc vô thanh)
(cũng gọi âm vực chùng, thở, hoặc thứ hai)
(< *phụ âm tắc hữu thanh)
Cao độ cao
Cao độ thấp
Giọng căng / thường
Giọng chùng / thở
Nguyên âm mở hơn (đặc biệt ở phần đầu)
Nguyên âm thuộc ngoại vi hơn
VOT nhỏ hơn
Nguyên âm khép hơn (đặc biệt ở phần đầu)
Nguyên âm trung tâm hoá hơn
VOT lớn hơn
Nguyên âm ngắn hơn
Nguyên âm dài hơn
Bảng 3: Hiện thực hoá ngữ âm của thanh điệu tiếng Rục (Nguồn: Điều chỉnh dựa trên Nguyễn Văn Lợi
(1993:30)14
)
anh 1 (A1)
anh 2 (A2)
anh 3 (B1)
anh 4 (B2)
Âm vực cao
+
-
-
+
+
-
-
Đường nét
-
+
+
-
Tắc thanh hầu
ức tạo thanh thở
-
-
-
+
-
125 là mắt xích liên kết việc tìm hiểu hình thành thanh
126 điệu và hình thành âm vực, hai quá trình ngữ âm
127 lịch sử quan trọng không những trong các ngôn ngữ
128 Vietic mà nhiều ngôn ngữ khác trong khu vực nói
129 chung, một hướng triển khai đã được đặt ra ngay từ
130 những giả thuyết đầu tiên về nguồn gốc thanh điệu và
131 ngày càng thu hút được sự quan tâm của giới nghiên
132 cứu17,24,28,29,31–33. eo hiểu biết của tôi, đến thời
133 điển hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu ngữ
134 âm thực nghiệm nào về hệ thống thanh điệu tiếng
135 Rục, do đó nhiều vấn đề vẫn đang chờ được xác thực
136 và khám phá.
cao độ, đường nét, thức tạo thanh, trường độ 142
nguyên âm và chất lượng nguyên âm? anh 143
điệu trong các âm tiết kết thúc bằng [-h] có đặc 144
trưng riêng biệt nào khôngd?
145
2. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về thanh 146
điệu tiếng Rục có những đóng góp gì cho việc 147
bổ sung, điều chỉnh các giả thuyết về các quá 148
trình hình thành thanh điệu và hình thành âm 149
vực trong các ngôn ngữ Vietic (và các ngôn ngữ 150
Môn-Khmer nói chung)?
151
dNgười phản biện 2 cho rằng không nên xét đến hai thanh C1,
C2 nếu như nghiên cứu hiện tại không đề cập đến hai thanh D1, D2.
Rất tiếc rằng tôi không thể đồng tình với quan điểm này, bởi hai cặp
thanh điệu C và D có giá trị ngữ âm và âm vị học, cũng như lịch sử
hình thành, khác biệt. Hơn nữa việc nghiên cứu hai thanh C1, C2
trong tiếng Rục có ý nghĩa đặc biệt với vấn đề hình thành thanh điệu
trong các ngôn ngữ khu vực ĐNAL nói chung, và trong các ngôn ngữ
Vietic nói riêng, như sẽ được trình bày ở các phần tiếp sau đây.
137 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
138 Nghiên cứu này, bởi vậy, được tiến hành nhằm mục
139 đích trả lời các câu hỏi sau:
140
141
1. anh điệu tiếng Rục được hiện thực hoá ngữ
âm như thế nào thông qua các đặc trưng về
3
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
152 Nghiên cứu hiện tại tạm thời không xét đến thanh trường hợp không tránh khỏi do phân bố hệ thống, 189
các âm tiết đích là các âm tiết chính của các từ cận 190
song tiết (sesquisyllabic – gồm một âm tiết chính theo 191
sau một âm tiết phụ có cấu trúc đơn giản hơn và trung 192
hoà về mặt thanh điệu), và trong một số trường hợp 193
chứa âm cuối là các âm vang. Lựa chọn này phần nào 194
đó đảm bảo rằng trường độ của nguyên âm (do đó 195
trường độ thanh điệu) và giá trị formant của nguyên 196
âm ít bị tác động nhất bởi yếu tố âm cuối. Sau khi nghe 197
người nghiên cứu nói các từ tiếng Việt, CTV chuyển 198
dịch các từ này tương ứng sang tiếng Rục và phát âm 199
153 điệu trong các âm tiết kết thúc với phụ âm tắc—hai
154 thanh D1 và D2—vì lí do dung lượng nghiên cứu và
155 vì thực tế rằng việc xét đến vai trò của hai âm cuối [-ꢀ
156 -h] là trung tâm trong nghiên cứu về sự hình thành
157 thanh điệu trong các ngôn ngữ khu vực ĐNAL.
158 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
159 Thu thập dữ liệu
160 Dữ liệu nghiên cứu được ghi âm tại bản Mò O Ồ
161 Ồ, thuộc xã ượng Hoá (Minh Hoá, Quảng Bình)
162 mùa hè năm 2019. Tổng số 20 cộng tác viên (từ đây
163 CTV) (10 nữ) đã tham gia vào nghiên cứu. Các CTV
164 có độ tuổi 23-70 tại thời điểm tham gia nghiên cứu,
165 được tuyển chọn tương đối cân bằng giữa người trẻ
166 và người lớn tuổi hơn với ngưỡng ranh giới tuổi là
167 45 tuổi. Do đó dữ liệu thu được từ bốn nhóm xã hội
168 gồm: 05 nam trẻ (trung bình 29.4, độ lệch chuẩn 7.0),
169 05 nam lớn tuổi (trung bình 56.6, độ lệch chuẩn 8.4),
170 06 nữ trẻ (trung bình 32.3, độ lệch chuẩn 9.4) và 04 nữ
171 lớn tuổi (trung bình 59.8, độ lệch chuẩn 11.5). Hầu hết
172 các CTV không sống ở đâu khác ngoài địa bàn cư trú.
173 Tất cả các CTV đều có thể giao tiếp tiếng Việt, và một
174 số biết tiếng Nguồn, tiếng Khùa. Các CTV cho biết
175 họ không có khó khăn trong việc nghe và nói.
chúng lồng vào một câu khung sau:
200
hoA1 colB1 sjeηB1 ___ lajB2 trkB1 paniA1 (ca)maηA1 201
tôi nói tiếng ___ lại cho anh (số nhiều) nghe
(Tôi nói lại từ ___ cho các anh nghe.)
202
203
Mỗi CTV phát âm 04 lượt bảng từ được ngẫu nhiên 204
hoá thứ tự các từ. ời gian ghi âm tuỳ thuộc vào 205
tốc độ của CTV và thường kéo dài trong khoảng 25- 206
40 phút. Các ghi âm được thực hiện trong một căn 207
nhà gỗ. Dữ liệu được thu bằng một micro Behringer 208
ECM8000 kết nối với một máy thanh quản đồ (EGG) 209
Rothenberg EG2PC, cái tiếp tục được kết nối tới một 210
máy tính Macbook thông quan một bộ khuếch đại. 211
Một kênh âm thanh chất lượng cao khác được thu 212
bằng một bộ micro đeo Shure Beta53 kết nối tới thiết 213
bị EGG. Ứng dụng SpeechRecorder chạy trên Mac- 214
book được dùng để thu các tín hiệu. iết bị EGG 215
cung cấp 03 kênh tín hiệu, gồm có một kênh âm 216
thanh, một kênh thể hiện hoạt động khép mở của dây 217
thanh, và một kênh thể hiện vận động lên xuống của 218
thanh quản. Các tín hiệu từ máy EGG được sử dụng 219
để hỗ trợ cho việc chú thích tín hiệu âm thanh thu 220
được từ micro Shure Beta53, tín hiệu mà từ đó các kết 221
quả sau đây được trích xuất. CTV nhận một khoản 222
176 Một bảng từ tiếng Rục được xây dựng gồm 66 từe (Phụ
177 lục 1), là kết hợp của các phụ âm đầu /t, k, l, p/ với
178 năm nguyên âm /i, ε, u, ꢀ, a/ và bốn thanh điệu (có
179 thêm 04 từ có vần /ah/). Việc lựa chọn các kết hợp này
180 là để đảm bảo sự hiện diện của các phụ âm đầu theo
181 phương thức cấu âm tắc (p t k) và vang (l), cũng như vị
182 trí cấu âm môi, đầu lưỡi (p t l) và mạc (k); năm nguyên
183 âm đại diện cho các hàng trước, sau, trung hoà, cũng
184 như đại diện cho các độ mở hẹp và rộng. Các yếu tố
185 cấu âm vừa kể đều có khả năng ảnh hưởng tới các giá
186 trị ngữ âm như cao độ, chất giọng, chất lượng nguyên
187 âm. Các từ đơn âm tiết và kết thúc mở (kết thúc với
188 nguyên âm) được ưu tiên chọn lựaf. Trong một số
tiền cho sự tham gia của họ vào nghiên cứu.
223
Xử lí dữ liệu
224
Tất cả các âm tiết đích thu được sẽ được chú thích 225
bằng chức năng TextGrid trong ứng dụng Praat34
.
226
Điểm đầu và điểm cuối của các âm vang và các nguyên 227
âm được đánh dấu. Đối với các phụ âm tắc, các điểm 228
đánh dấu là điểm đầu và điểm thoái của giai đoạn 229
eNgười phản biện 2 cho rằng 66 từ được sử dụng cho nghiên cứu
hiện tại là hạn chế, không đầy đủ. Tôi không đồng ý với quan điểm
này bởi trong đối sánh với các nghiên cứu về các ngôn ngữ Môn-
Khmer và ít nhiều sử dụng cùng phương pháp nghiên cứu, các con
số 66 từ và 20 CTV của nghiên cứu hiện tại không thể coi là khiêm
tốn được. Ví dụ, Brunelle et al (2020) nghiên cứu tiếng Chru với 60
từ, 26 CTV [72]; Kirby (2014) nghiên cứu tiếng Khmer Phnom Penh
với 41 từ, 20 CTV [77]; Wayland & Jongman (2003) nghiên cứu tiếng
Khmer với 46 từ, 05 CTV [73]; Abramson et al (2007) nghiên cứu
tiếng Khmu với 18 từ, 25 CTV [75]; Abramson et al (2016) nghiên
cứu tiếng Môn với 14 từ, 04 CTV [74]; Abramson et al (2004) nghiên
cứu tiếng Suai (Kuai) với 16 từ, 06 CTV [76], v.v..
đóng, và điểm khởi thanh (voice onset time VOT).
230
Các kết quả sau đó được trích xuất bằng PraatSauce35
,
231
một mã được viết trên nền tảng Praat để đo các thông 232
số âm học, bản thân mã này được gợi cảm hứng từ 233
VoiceSauce36. F0 (tần số cơ bản), F1, F2 (hai formant 234
chứ không phải từ 25-40 phút, là một nhiệm vụ vô cùng khó thực
hiện. ực tế điền dã cho thấy người Rục vẫn còn khá ngại ngần, rụt
rè khi tiếp xúc với người lạ bên ngoài cộng đồng của họ; và trong quá
trình ghi âm cũng đã có một số CTV bỏ dở giữa chừng. Bản thân tôi
giới hạn kì vọng nghiên cứu của mình, không có ước mong thực hiện
được một nghiên cứu “trọn-vẹn-một-lần-và-mãi-mãi” đối với vấn đề
thanh điệu tiếng Rục.
fNgười phản biện 2 gợi ý rằng phải nghiên cứu tất cả các loại hình
âm tiết. Tôi cho rằng đây là một nhiệm vụ bất khả thi đối với dung
lượng hạn chế của một bài báo khoa học. ực hiện nhiệm vụ đó có
lẽ là công việc của một (hoặc hơn một) chuyên luận hay luận án tiến
sĩ. Nếu phải ghi âm hàng trăm từ thuộc tất cả các loại hình âm tiết
khác nhau thì sẽ phải tiêu tốn nhiều giờ đồng hồ đối với mỗi CTV
4
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
235 đầu tiên của nguyên âm), và H1-H2, H1-A1, H1-A2, Bảng 4 (có so sánh với kết quả của Nguyễn Văn Lợi 287
(1993)14).
288
236 H1-A3… (khác biệt năng lượng giữa các hoà âm vùng
237 tần số thấp và cao), và CPP (ceptral peak prominence
238 – đỉnh phổ nổi bật) được đo ở mỗi 1 phần nghìn (mili)
239 giây trong đoạn nguyên âm. Các cửa sổ đo đặt ở 25
240 mili giây, do đó 12 mili giây đầu và cuối của nguyên
241 âm được loại trừ trong kết quả sau cùng, đảm bảo
242 hạn chế ảnh hưởng đồng cấu âm từ các âm đoạn đi
243 liền trước và liền sau. Các tập âm thanh sẽ bị loại trừ
244 nếu như F0, F1, F2 của nguyên âm đích bị đo sai quá
245 20% tổng thời gian. Tiếp theo với mỗi tập riêng lẻ,
246 các điểm đo cũng sẽ bị loại trừ nếu như chúng cách
247 02 độ lệch chuẩn so với mười điểm đo kế cận. Các
248 thông số đo độ nghiêng phổ được điều chỉnh để loại
249 trừ ảnh hưởng của formant37,38, do đó sẽ xuất hiện ở
250 kết quả nghiên cứu như là H1*-H2*, H1*-A1*, H1*-
251 A2*… Các giá trị đo phổ, F0, và formant được chuẩn
252 hoá ở từng CTV theo điểm chuẩn z và sau đó được
253 chuyển ngược lại các đơn vị thông thường theo công
254 thức: giá trị = trung bình + điểm z * độ lệch chuẩn.
255 Trường độ nguyên âm (và do đó các giá trị đo ở các
256 điểm thời gian trong nguyên âm) sau đó được chuẩn
257 hoá và được thể hiện trong kết quả như là phần trăm
258 %. Việc xử lí dữ liệu, tạo dựng hình ảnh và mô hình
Thức tạo thanh (Chất giọng )
289
Hình 2 thể hiện giá trị H1*-H2* của thanh điệu tiếng 290
Rục trong tất cả các âm tiết đích thu được từ bảng từ 291
ghi âm (trái), và giới hạn trong các âm tiết có phụ âm 292
đầu [t] và nguyên âm [a:], là bối cảnh đồng nhất xuất 293
hiện đầy đủ 06 thanh điệu đang được xét tới (phải), 294
cụ thể gồm [ta:A1, ta:A2, ta:B1, ta:B2, ta:hC1, ta:hC2]. 295
Trong các nghiên cứu ngữ âm thực nghiệm về thức tạo 296
thanh, H1*-H2* thường được sử dụng vì độ tin cậy và 297
nhất quán. H1*-H2* cao là chỉ dấu cho thức tạo thanh 298
thở (breathy), H1*-H2* trung bình là thức tạo thanh 299
thường (modal), và H1*-H2* thấp liên quan tới thức 300
tạo thanh căng (tense) hoặc kẹt (creaky)41–44. Mô 301
thức này cũng đúng cho các phép đo độ nghiêng phổ 302
khác như H1*-A1*, H1*-A2*, H1*-A3*, A1*-A3*…
303
Xét tổng thể, có thể nhận thấy trên ô bên phải Hình 2 304
rằng nhóm các thanh A1, B1, C1 có giá trị H1*-H2* 305
thấp từ điểm xuất phát, đối ngược với nhóm các thanh 306
A2, B2, C2. Đây là chỉ dấu cho thấy ba thanh sau này 307
có thức tạo thanh thở, đúng với kì vọng khi chúng 308
có nguồn gốc thuộc âm vực thấp (< *phụ âm đầu hữu 309
thanh). Mặc dù biên độ khác biệt nhỏ hơn nhưng đến 310
giai đoạn cuối có thể quan sát thấy sự hội tụ của hai 311
cặp thanh C1 và C2, B1 và B2, trong khi đó sự hội 312
tụ của cặp A1 và A2 ít rõ ràng hơn. Cặp C1 và C2 ở 313
khoảng 25% trường độ cuối nguyên âm có giá trị H1*- 314
H2* cao nhất, trong khi đó cặp B1 và B2 có giá trị thấp 315
259 thống kê được thực hiện trong R39
.
260 KẾT QUẢ
261 Cao độ (F0)
262 Hình 1 thể hiện diễn tiến F0 của 04 thanh điệu tiếng
263 Rục và hai tha thanh vị của A1, A2 trong các âm tiết
264 kết thúc bằng phụ âm cuối xát thanh hầu [-h] (tức là
265 hai thanh C1, C2). anh A1 có xuất phát điểm cao
266 nhất (230 Hz) và đi xuống dần tới giá trị trung tâm
267 (∆F0 = 70 Hz). anh A2 có xuất phát điểm thấp nhất
268 và đi xuống nhưng độ dốc thấp hơn độ dốc của thanh
269 A1 (∆F0 = 22 Hz). anh B1 có xu hướng đi lên nhẹ
270 từ điểm khởi đầu gần với thanh A2 (∆F0 ≈ 10 Hz),
271 trong khi đó thanh B2 có xuất phát điểm cao hơn B1
272 nhưng đi xuống với độ dốc xấp xỉ ngang bằng thanh
273 A1. Về trung bình, A1 và B1 thuộc nhóm cao, A2 và
274 B2 thuộc nhóm thấp.
nhất.
316
Để kiểm định xem sự khác biệt về giá trị H1*-H2* 317
giữa ba cặp thanh A1 và A2, B1 và B2, C1 và C2 ở 318
giai đoạn cuối nguyên âm có thực sự không phải do 319
yếu tố ngẫu nhiên hay không, một mô hình hồi quy 320
tuyến tính được áp dụng vào dữ liệu với giá trị H1*- 321
H2* tại điểm đo cuối cùng (điểm 100% nguyên âm 322
chuẩn hoá) như là biến phụ thuộc và hai biến độc lập 323
là thanh điệu và nguyên âm, cùng với tương tác của 324
chúng (H1*-H2* ~ thanh * nguyên âm). Kết quả của 325
mô hình này được cung cấp tại Phụ lục 2.
326
275 Điểm đáng lưu ý là hai thanh C1 và C2 có diễn tiến
276 F0 rất khác biệt so với A1, A2, là hai thanh vị được lấy
277 làm đại diện âm vị học cho chúng. C1 và C2 đều có
278 giá trị F0 cao hơn các thanh còn lại, ngoại trừ so với
279 giai đoạn đầu của A1, và gần như không đổi theo suốt
280 thời gian. Hơn nữa, C2 có giá trị F0 cao hơn của C1,
281 trái với kì vọng bởi vì C2 có nguồn gốc từ các âm tiết
282 có phụ âm đầu hữu thanh, yếu tố thường dẫn đến sự
283 hạ thấp âm vực trong so sánh với các phụ âm đầu vô
284 thanh.
Có thể nhận thấy sự khác biệt giữa ba nhóm thanh 327
ở giai đoạn cuối là rõ ràng và có ý nghĩa thống 328
kê. Cụ thể, so với gốc so sánh là thanh A1 trong 329
nguyên âm [a:], giá trị H1*-H2* nhỏ hơn ở cặp thanh 330
điệu B1, B2 (=-1.251, t=-3.1, p<.005 cho B1, và =- 331
1.729, t=-4.296, p<.001 cho B2), và lớn hơn ở cặp 332
thanh điệu C1, C2 (=3.578, t=6.995, p<.001 cho C1, 333
và =2.959, t=5.744, p<.001 cho C2). Giữa A1 và 334
A2 sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (=.263, 335
t=.627, p=.531). Giữa B1 và B2, và giữa C1 và C2, 336
285 eo thang 5 bậc của Triệu Nguyên Nhiệm40, các
286 thanh điệu tiếng Rục có thể được thể hiện như trong sự khác biệt cũng không có ý nghĩa thống kê. Một 337
5
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Hình 1: Diễn tiến F0 của thanh điệu tiếng Rục
Bảng 4: Cao độ trung bình của thanh điệu tiếng Rục theo thang độ 5 bậc (Nguồn: Kết quả nghiên cứu hiện tại và
so sánh với Nguyễn Văn Lợi (1993:30)14
)
anh điệu
A1
53
A2
32
B1
34
B2
31
C1
44
C2
44
Nghiên cứu
hiện tại
eo Nguyễn 55
Văn Lợi
22
34
424
-
-
Hình 2: Chất giọng của thanh điệu tiếng Rục thể hiện qua giá trị đo độ nghiêng phổ H1*-H2*, đo trên tất cả các
âm tiết đích thu được từ bảng từ (trái), và đo trên các âm tiết có phụ âm đầu [t] và nguyên âm chính [a:] (phải).
6
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
338 mô thức chung nữa là các nguyên âm cao có giá
339 trị H1*-H2* lớn hơn, gồm các nguyên âm [i ε u].
340 Một số tương tác giữa nguyên âm và thanh điệu
341 cũng có ý nghĩa thống kê (anhA2:NguyenamE,
342 anhB2:NguyenamI, anhA2:NguyenamU).
343 Tuy nhiên, nếu chỉ xét đến giá trị H1*-H2* trong các
344 âm tiết có sự đồng nhất phụ âm đầu [t] và nguyên âm
345 chính [a:] (Hình 2, phải) thì có thể nhận thấy ba xu
346 hướng rõ ràng. ứ nhất, các thanh trong nội bộ hai
347 nhóm cao (A1, B1, C1) và thấp (A2, B2, C2) có giá
348 trị gần với nhau hơn, và sự khác biệt giữa hai nhóm
349 này kéo dài đến giữa nguyên âm. ứ hai, ở giai đoạn
350 cuối, cặp B1 và B2 có giá trị H1*-H2* thấp nhất, đối
351 lập với bốn thanh còn lại. Sự khác biệt giữa hai cặp A1
352 và A2, C1 và C2 không còn thể hiện như trước nữa.
353 ứ ba, thanh B2 cũng thể hiện chất giọng căng hơn
354 (H1*-H2* thấp hơn) so với thanh B1. Việc thể hiện
355 các giá trị đo độ nghiêng phổ khác cho bối cảnh ngữ
356 âm này (mà giới hạn dung lượng không cho phép tôi
357 trình bày đầy đủ ở đây) cũng chỉ ra một xu hướng rằng
358 trong khoảng thời gian nửa đầu, thanh C1 có giá trị
359 thấp hơn so với hai thanh A1, B1, và thanh C2 có giá
360 trị thấp hơn so với hai thanh A2, B2. Sự khác biệt này
361 có thể được diễn giải như là chất giọng có phần nào
362 đó căng hơn ở hai thanh C1, C2 so với các thanh còn
363 lại trong hai nhóm.
Chất lượng nguyên âm
389
Hình 5 thể hiện các nguyên âm trong bối cảnh của 390
các thanh điệu tiếng Rục, với phần bên trái là điểm đo 391
đầu tiên của các nguyên âm theo sau hai nhóm thanh 392
điệu/âm vực: cao (A1, B1, C1) và thấp (A2, B2, C2); và 393
phần bên phải là diễn tiến của các nguyên âm từ điểm 394
đầu tiên cho tới điểm giữa (50%) nguyên âm phân chia 395
theo từng thanh điệu.
396
Quan sát trên Hình 5 ta có thể nhận thấy xu hướng 397
chung là các nguyên âm thuộc nhóm âm vực thấp có 398
giá trị F1 thấp hơn (được phát âm với cấu âm hẹp 399
(nâng cao) hơn) so với khi thuộc nhóm âm vực cao, sự 400
khác biệt không chỉ ở đầu nguyên âm mà kéo dài cho 401
tới tận điểm giữa nguyên âm. Sự khác biệt thể hiện rõ 402
nhất ở nguyên âm mở [a] khi giá trị F1 ở âm vực thấp 403
hạ thấp đến mức kéo nguyên âm đến giữa không gian 404
nguyên âm (nguyên âm trung hoà []), và ở bối cảnh 405
thanh C2, giá trị F1 ở điểm khởi đầu gần như tiếp cận 406
hai nguyên âm hẹp nhất [i, u]. Trên thực tế phát âm, 407
[a] ở âm vực thấp trở thành một nguyên âm trượt [a] 408
với yếu tố hẹp khởi đầu [] kéo dài khoảng 1/3 trường 409
độ nguyên âm. Tương tự, [ε, ꢀ] ở âm vực thấp cũng 410
được hiện thực hoá như là hai nguyên âm trượt [eε, 411
oꢀ].
412
Tuy không rõ bằng F1 nhưng F2 cũng có xu hướng 413
khác biệt giữa hai nhóm âm vực. Ở điểm 50% nguyên 414
âm, nhìn chung F2 ở âm vực thấp có giá trị nhỏ hơn 415
so với âm vực cao trong trường hợp nguyên âm hàng 416
trước [i ε], và lớn hơn trong trường hợp nguyên âm 417
hàng sau [u]. Riêng với nguyên âm mở [a] thì sự khác 418
biệt kéo dài toàn bộ 50% trường độ nguyên âm được 419
thể hiện. Điều này có nghĩa là nguyên âm có xu hướng 420
được phát âm với cấu âm trung hoà hoá (centralized) 421
trong bối cảnh âm vực thấp, dù với mức độ tương đối 422
364 Sự hội tụ theo hai nhóm thanh thuộc âm vực cao (A1,
365 B1, C1) và âm vực thấp (A2, B2, C2) ở giai đoạn đầu và
366 chất giọng căng hơn của thanh B2 cũng được thể hiện
367 rõ ràng thông qua hai giá đo độ nghiêng phổ khác như
368 H1*-A3* và CPP (Hình 3). Lưu ý rằng, ngược với các
369 giá trị đo độ nghiêng phổ, CPP cao là chỉ dấu của thức
370 tạo thanh thường, và CPP thấp là chỉ dấu của thức tạo
371 thanh thở hoặc kẹt thanh.
nhỏ.
423
372 Trường độ
Ví dụ minh hoạ
424
373 Phân bố trường độ của các thanh điệu tiếng Rục đang
374 xét trong bối cảnh khung âm tiết [ta(h)]—bối cảnh
375 ngữ âm cân đối nhất—được thể hiện trong Hình 4.
376 Bảng 5 cung cấp kết quả của mô hình hồi quy tuyến
377 tính, với biến phụ thuộc là trường độ thanh điệu, và
378 biến độc lập là thanh điệu (trường độ ~ thanh).
Các kết quả trên về cao độ, đường nét, thức tạo thanh 425
và chất lượng nguyên âm của các thanh điệu tiếng Rục 426
có thể được quan sát một phần nào đó trong các ví dụ 427
sóng âm và thanh phổ cho khung âm tiết [ta] mang 428
sáu thanh điệu khác nhau sau đây (Hình 6, 7 và 8).
429
379 Mô thức nổi bật nhất là hai thanh C1, C2 có trường
380 độ trung bình chỉ bằng khoảng một nửa so với các
381 thanh còn lại, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
382 (C1: =-158.736, t=-156.658, p<.0001; C2: =-124.835,
383 t=-126.817, p<.0001). Đối với cả ba cặp thanh, các
384 thanh thuộc âm vực thấp (A2, B2, C2) đều có trường
385 độ lớn hơn so với các thanh thuộc âm vực cao tương
Trên Hình 6 có thể quan sát thấy rằng thanh A1 có 430
xuất phát F0 cao và xu hướng giảm dần tới cuối âm 431
tiết, thức tạo thanh thường (mô thức sóng âm rõ 432
ràng, năng lượng tập trung ở các dải tần có biên độ 433
hẹp). anh A2 có xuất phát điểm F0 thấp hơn và độ 434
giảm F0 tới cuối âm tiết thấp hơn thanh A1, thức tạo 435
thanh thở đặc trưng bởi năng lượng dàn trải trên một 436
386 ứng (A1, B1, C1); và tất cả các khác biệt này đều có khoảng tần lớn trên thanh phổ, và chất lượng nguyên 437
387 ý nghĩa thống kê, ví dụ, thanh A2 so với A1 (=7.881, âm thay đổi (hẹp hơn) ở giai đoạn mở đầu (F1 tăng 438
388 t=10.273, p<.0001).
dần và F2 giảm dần).
439
7
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Hình 3: Chất giọng của thanh điệu tiếng Rục thể hiện qua giá trị đo độ nghiêng phổ H1*-A3* (trái), và đỉnh phổ
nổi bật CPP (phải).
Hình 4: Phân bố trường độ thanh điệu tiếng Rục
8
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Bảng 5: Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính cho sự phụ thuộc của trường độ vào các thanh điệu khác nhau trong
tiếng Rục trong bối cảnh khung âm tiết [ta (h)]
Hệ số ước lượng
Sai số chuẩn
0.536
t-thống kê
541.208
10.273
(>|t|)
(Hệ số chặn)
anhA2
anhB1
anhB2
anhC1
anhC2
290.337
7.881
<2e-16 ***
<2e-16 ***
0.004 **
0.767
-2.191
0.761
-2.878
47.264
-158.736
-124.835
0.735
64.312
<2e-16 ***
<2e-16 ***
<2e-16 ***
1.013
-156.658
-126.817
0.984
Quy ước mức ý nghĩa thống kê: 0 ‘***’ 0.001 ‘**’ 0.01 ‘*’ 0.05 ‘.’ 0.1 ‘ ’ 1
Hình 5: Chất lượng nguyên âm (F1xF2) của các nguyên âm tiếng Rục. Trái: tại điểm đo đầu tiên trong hai nhóm
thanh điệu thuộc âm vực cao (A1, B1, C1) và thấp (A2, B2, C2). Các hình elip bao trùm 95% phân bố của dữ liệu
đối với từng nguyên âm. Phải: kết nối điểm đo đầu tiên (gốc) và điểm 50% nguyên âm (mũi tên) theo từng thanh
điệu.
440 anh B1 và B2 có xuất phát điểm F0 trung bình Một điểm cũng có thể được quan sát trên sóng âm 458
441 (Hình 7). B1 là thanh đi lên (biên độ thay đổi không và thanh phổ là ở các âm tiết mang các thanh thuộc 459
442 lớn), trong khi B2 là thanh đi xuống. B1 có thức tạo âm vực thấp, giá trị VOT (thời gian khởi thanh –được 460
443 thanh thường trong gần như toàn bộ diễn tiến, với giai xác định là khoảng cách từ điểm thoái của phụ âm 461
444 đoạn cuối có dấu hiệu thanh quản hoá. B2 có thức tạo đầu cho tới điểm bắt đầu dao động có chu kì của sóng 462
445 thanh thở ở giai đoạn đầu, chất lượng nguyên âm thay âm) của phụ âm đầu lớn hơn so với ở bối cảnh các 463
446 đổi (hẹp hơn) ở giai đoạn mở đầu, chất giọng căng thanh thuộc âm vực cao, một xu hướng phổ biến trong 464
447 hơn ở giai đoạn cuối nhưng không mạnh đến mức kẹt các ngôn ngữ hình thành âm vực và thanh điệu từ sự 465
448 thanh.
trung hoà hoá đối lập thanh tính của phụ âm đầu mà 466
449 Trên Hình 8, có thể quan sát thấy âm cuối xát thanh dung lượng nghiên cứu không cho phép tôi đi vào chi 467
450 hầu [-h] vẫn được bảo lưu, với ảnh hưởng hữu thanh tiết19,20,27,31
451 hoá mạnh hơn ở thanh B2. Nguyên âm có xu hướng
452 ngắn hơn so với bối cảnh của các thanh A1, A2 và
.
468
THẢO LUẬN
469
453 B1, B2. Cũng có thể quan sát thấy trường độ nguyên Các kết quả của nghiên cứu hiện tại một mặt xác nhận 470
454 âm ở C2 lớn hơn ở C1. Cả hai thanh C1, C2 đều là những miêu tả trước đây về hệ thống thanh điệu tiếng 471
455 thanh ngang, giá trị F0 trung bình cao. C1 có thức Rục, và mặt khác bổ sung thêm các thông tin chi tiết, 472
456 tạo thanh thường, C2 có thức tạo thanh thở và thay cũng như các điều chỉnh, bổ sung cho giả thuyết hình 473
457 đổi chất lượng nguyên âm ở giai đoạn mở đầu.
thành thanh điệu và âm vực trong tiếng Rục cũng như 474
9
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Hình 6: Sóng âm, thanh phổ, và F0 của hai âm tiết [taA1] và [taA2]. F0 được thể hiện bằng đường màu đỏ trên
thanh phổ.
Hình 7: Sóng âm, thanh phổ, và F0 của hai âm tiết [taB1] và [taB2]. F0 được thể hiện bằng đường màu đỏ trên
thanh phổ.
475 các ngôn ngữ Vietic nói chung.
cuối xát thanh hầu [-h] vẫn được bảo lưu, thanh điệu 484
trong các âm tiết có phụ âm cuối này được xử lí như là 485
tha âm vị của hai thanh A1 và A2, nhưng trên phương 486
diện ngữ âm thì hai thanh này được hiện thực hoá 487
rất đặc trưng. Về chi tiết, các kết quả của nghiên cứu 488
hiện tại khác biệt đáng kể so với mô tả của Nguyễn 489
Văn Lợi14, sự khác biệt có thể được lí giải một phần 490
bởi khoảng cách thời gian giữa hai nghiên cứu, nhóm 491
mẫu nghiên cứu, và đặc biệt là phương pháp nghiên 492
476 Hệ thống thanh điệu tiếng Rục trong mối
477 liên hệ với các quá trình hình thành thanh
478 điệu và hình thành âm vực ở các ngôn ngữ
479 Vietic (và Môn-Khmer)
480 Trước hết, hệ thống tiếng Rục trên phương diện âm vị
481 học có bốn thanh điệu, khu biệt nhau ở các yếu tố cao
482 độ, đường nét F0 và thức tạo thanh, cũng như chất
483 lượng nguyên âm và trường độ nguyên âm. Do âm cứu.
493
10
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Hình 8: Sóng âm, thanh phổ, và F0 của hai âm tiết [tahC1] và [tahC2]. F0 được thể hiện bằng đường màu đỏ trên
thanh phổ.
thức tạo thanh, trường độ nguyên âm và chất lượng 522
nguyên âm như sẽ được bàn luận đến tiếp sau đây. 523
Nếu giả thiết rằng sự khác biệt cao độ giữa C1, C2 524
tiếng Rục như hiện nay vốn không phải là hệ quả 525
của một quá trình đảo ngôi thanh điệu đã diễn ra 526
trong lịch sử hình thành thanh điệu của ngôn ngữ 527
này thì một nhận định có thể được rút ra là: các đặc 528
trưng về số lượng, kiểu loại, và mức độ kết hợp của 529
các tương quan ngữ âm trong đối lập âm vực không 530
những khác biệt giữa các ngôn ngữ, phương ngữ khác 531
nhau20 mà còn khác biệt giữa chính các bối cảnh ngữ 532
âm khác nhau hoặc/và ở các giai đoạn phát triển âm 533
vực khác nhau của cùng một ngôn ngữ, phương ngữ. 534
Một tương quan ngữ âm của đối lập âm vực (Bảng 2) 535
có thể đi ngược nhưng các tương quan khác vẫn đi 536
theo các xu hướng chung; và tổng hoà của các tương 537
quan—chứ không phải các tương quan riêng rẽ—mới 538
494 Cao độ
495 Xét tổng thể, thanh A1 cao hơn so với thanh A2 và
496 thanh B1 cao hơn B2, đúng như kì vọng vì hai thanh
497 A1, B1 có nguồn gốc từ các phụ âm đầu vô thanh (và
498 các loạt phụ âm cao khác, ví dụ như xát vô thanh,
499 vô thanh bật hơi, hữu thanh hút vào) và hai thanh
500 A2, B2 có nguồn gốc từ các phụ âm đầu hữu thanh.
501 Sự khu biệt cao độ tương đối giữa bốn thanh điệu
502 tiếng Rục này phù hợp hoàn toàn với các giả thuyết
503 về hình thành đối lập thanh điệu trong tiếng Việt (sau
504 đó được mở rộng áp dụng cho các ngôn ngữ Vietic và
505 các ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác nhau trong khu
506 vực ĐNAL)4,15,17,18,26,45,46 và đối lập âm vực trong
507 các ngôn ngữ Môn-Khmer19,20,47,48
.
508 Tuy nhiên, câu chuyện không hoàn toàn đơn giản đến
509 vậy, bởi cao độ tương đối giữa hai thanh C1 và C2
510 đi ngược lại kì vọng trên: trong suốt diễn tiến, C2 (<
511 *âm đầu hữu thanh) luôn cao hơn C1 (< *âm đầu vô
512 thanh), mặc dù sự khác biệt không quá lớn (vài Hz ở
513 đầu và cuối thanh điệu, và lớn nhất khoảng chừng 15
514 Hz (Hình 3). Liệu có thể coi đây là hiện tượng đảo
515 ngôi (tonal flip-flop) theo nghĩa ngữ âm, giống với
516 hiện tượng xảy ra giữa thanh hỏi và thanh ngã trong
517 tiếng Việtg, hay giữa hai thanh tương ứng với thanh
518 ngang và thanh huyền tiếng Việt của tiếng Mường Ba
là cái tạo nên thế đối lập âm vực.
539
Giá trị cao độ của hai thanh C1, C2 còn phát lộ một 540
tính chất quan trọng hơn, có ý nghĩa lớn đối với việc 541
xem xét lại giả thuyết kinh điển của Haudricourt17 về 542
hình thành thanh điệu trong tiếng Việt. C1, C2 trong 543
tiếng Rục ở nghiên cứu hiện tại nhìn chung nằm ở 544
trần cao của không gian âm vực (dù thấp hơn thanh 545
A1 ở giai đoạn khởi đầu). Cộng với các bằng chứng về 546
sự phát triển các thanh điệu cao từ âm cuối xát thanh 547
hầu [-h] trong các ngôn ngữ Vietic khác, và trong các 548
ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác của khu vực ĐNAL, 549
đặc trưng này khiến tôi đi đến giả thuyết rằng ít nhất 550
là trong một số ngôn ngữ Vietic, âm cuối xát thanh 551
hầu [-h] đã quy định (và sau khi rụng đi đã dẫn tới) 552
519 Vì, và Việt ạch ất, Sơn Tây49
520 Cho dù vậy, về mặt ngữ âm, hai thanh C1, C2 vẫn thể
521 hiện sự đối lập như mong đợi đối với các đặc điểm về
?
ganh hỏi tiếng Việt thuộc âm vực cao nhưng hiện nay, ít nhất
là ở Bắc Bộ, lại hiện thực hoá ngữ âm thấp hơn so với thanh ngã vốn
thuộc âm vực thấp.
11
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
553 thanh điệu cao hay đi lên (rising tone) thay vì thanh âm nên và cần có sự hỗ trợ của phương pháp thực 603
nghiệm, bởi thụ cảm của người nghiên cứu thường bị 604
tác động—và do đó dẫn đường—bởi các tri thức bề 605
554 điệu thấp hay đi xuống (falling tone), tức là đối ngược
555 với mô hình của Haudricourt. Tôi sẽ phát triển thêm
556 luận điểm này ở các mục tiếp sau.
mặt cũng như bề sâu về ngôn ngữ mẹ đẻ của anh ta.
606
Nếu theo như kì vọng thì giai đoạn cuối của hai thanh 607
C1, C2 sẽ có chất giọng thở do ảnh hưởng đồng cấu 608
âm ngược của âm cuối xát thanh hầu [-h] vẫn còn tồn 609
tại. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu (Hình 2) chỉ ra rằng 610
ảnh hưởng này quá nhỏ, và do đó không phân biệt 611
được với chất giọng thường của hai thanh cơ bản A1, 612
557 Đường nét
558 Hai thanh A1 [53], A2 [32] có cùng xu hướng là các
559 thanh đi xuống. B1 [34] là thanh đi lên, trong khi B2
560 [31] cũng là thanh đi xuống nhưng độ dốc F0 lớn hơn
561 so với thanh A2 [32]. Về căn bản, các diễn tiến thanh
562 điệu này khá giống với các hệ thống thanh điệu khác
563 trong ngữ chi Vietic. Tuy nhiên, hướng đi lên của
564 thanh B1 (cũng như sắc tiếng Việt) và đi xuống của
565 thanh B2 (cũng như nặng tiếng Việt) thường được sẵn
566 sàng chấp nhận mà có rất ít lí giải về sự phát triển đối
567 ngược này khi mà cả hai thanh có cùng nguồn gốc từ
568 âm cuối tắc thanh hầu [-ꢀ] và tách nhau sau quá trình
569 vô thanh hoá loạt phụ âm đầu hữu thanh. Các vấn đề
570 về biến thể ngữ âm, tối ưu hoá đối lập cấu trúc, cũng
571 như đặc tính động của hệ thống thanh điệu cần được
572 nghiên cứu thêm để có thể giải quyết được vấn đề còn
573 bỏ ngỏ này.
574 Hai thanh C1, C2 có đường nét bằng phẳng. Hai
575 thanh này do đó chưa/hoặc không phát triển biến đổi
576 đường nét do: (i) đường nét bằng phẳng của chúng
577 vẫn khu biệt tốt với ba thanh đi xuống (A1, A2, B2)
578 và một thanh đi lên (B1) trong hệ thống, (ii) đặc trưng
579 trường độ ngắn của chúng so với các thanh còn lại—
580 chỉ bằng khoảng một nửa, và (iii) chiết đoạn âm cuối
581 [-h] vẫn được bảo lưu.
A2.
613
Ở giai đoạn đầu thanh điệu, nhóm thanh âm vực cao 614
(A1, B1, C1) có thức tạo thanh thường, đối lập nhóm 615
thanh âm vực thấp (A2, B2, C2) có thức tạo thanh 616
thở. ức tạo thanh thở không được đề cập đến như 617
là đặc trưng của hai thanh B2 và C2 trong miêu tả 618
trước đây (Bảng 3). ức tạo thanh thở nhất quán ở 619
dãy thanh âm vực thấp trong tiếng Rục này là một ví 620
dụ điển hình cho đối lập âm vực trong các ngôn ngữ 621
Môn-Khmer, là một trong các hệ quả của quá trình 622
vô thanh hoá phụ âm đầu hữu thanh19,20,48. Đối lập 623
thức tạo thanh (hay chất giọng) này không còn được 624
bảo lưu đầy đủ trong tiếng Việt, tiếng Mường, nhưng 625
lại rất nhất quán trong các ngôn ngữ Vietic khác như 626
Maleng5, avung50–52, Kri12,13
.
627
Đối lập thức tạo thanh thở/thường trong các ngôn 628
ngữ Vietic này dường như ủng hộ quan điểm của 629
urgood33 cho rằng từ giai đoạn vô thanh hoá phụ 630
âm đầu hữu thanh dẫn tới sự hình thành hay nhân 631
đôi hệ thống thanh điệu nhất thiết phải trải qua bước 632
trung gian của đối lập thức tạo thanh thở/thường, và 633
đối lập này là cái có khả năng giải thích (hay nói cách 634
khác là nguyên nhân) của tất cả các khác biệt ngữ 635
âm khác giữa hai dãy thanh điệu/âm vực như cao độ 636
(F0) và chất lượng nguyên âm. Nhưng điều đáng ngạc 637
nhiên là gần như chưa có ai chỉ ra rằng giả thuyết đó 638
của urgood có một điểm trống nghiêm trọng: tác 639
giả không cung cấp một lí giải hợp lí về cơ chế dẫn 640
đến đối lập thức tạo thanh từ sự trung hoà hoà đối lập 641
thanh tính của âm đầu. Do đó chúng ta phải đi tìm cơ 642
chế cấu âm nền tảng nằm dưới các biến đổi từ đối lập 643
thanh tính sang đối lập âm vực; và câu trả lời dường 644
như nằm ở các động tác cấu âm bổ trợ để khởi phát 645
và duy trì dao động của dây thanh trong quá trình tạo 646
sản âm đầu hữu thanh: vận động hạ xuống của thanh 647
hầu, sự dịch chuyển về trước của gốc lưỡi để tăng thể 648
582 Thức tạo thanh (chất giọng)
583 B1 và B2 cùng có chất giọng căng ở giai đoạn cuối,
584 một dấu vết của nguồn gốc âm cuối tắc thanh hầu [-
585 ꢀ] của hai thanh này, nhưng mức độ không lớn để có
586 thể mô tả như là kẹt thanh hay tắc thanh hầu. Chất
587 giọng căng này không được đề cập đến như là một
588 đặc điểm của thanh B1 trong nghiên cứu của Nguyễn
589 Văn Lợi14. Sự khác biệt về kết quả nghiên cứu này có
590 thể được lí giải theo một kịch bản như sau: Tại thời
591 điểm của nghiên cứu trước, tính chất căng của thanh
592 B2 mạnh hơn so với hiện tại, dễ dàng được thụ cảm
593 bằng thính giác nên đã được miêu tả như là “tắc thanh
594 hầu”. Tính chất căng có thể cũng có trong thanh B1,
595 nhưng bị cảm giác về tính thanh quản hoá mạnh của
596 B2 lấn át, khiến cho nó bị “che khuất” khỏi thụ cảm,
597 và do đó là miêu tả, của người nghiên cứu. Giả thuyết
598 này không phải là không có cơ sở khi quan sát trên
599 các Hình 2 và 3 ta có thể nhận thấy các giá trị đo độ
600 nghiêng phổ và đỉnh phổ nổi bật của thanh B1 thấp
601 hơn của thanh B2. Dẫu sao kết quả nghiên cứu hiện
tích khoang cấu âm20,48,53
.
649
Các giá trị đo độ nghiêng phổ của thanh C1 thấp hơn 650
so với của hai thanh A1, B1, và của thanh C2 phần 651
nào đó thấp hơn so với hai thanh A2, B2. Tôi nghiêng 652
về hướng lí giải sự khác biệt này như là tính chất căng 653
hơn trên tổng thể của hai thanh C1, C2 do tác động 654
602 tại cũng cho thấy rằng việc nghiên cứu các vấn đề ngữ của trường độ nguyên âm ngắn. Như vậy các đặc tính 655
12
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
656 trường độ ngắn, âm vực (F0) cao, chất giọng căng hơn Kri3,12–14,55–57, cũng như các ngôn ngữ Môn-Khmer 707
657 liên quan chặt chẽ với nhau trong hai thanh C1, C2, (Nam Á) nói chung16,19,20,54
.
708
Ở tiếng Arem, biến đổi nguyên âm là hệ quả nổi bật 709
nhất của quá trình trung hoà hoá thanh tính của âm 710
đầu, dẫn đến việc hệ thống nguyên âm proto được 711
nhân đôi trong ngôn ngữ này, trong khi đó các tương 712
quan âm vực khác như thức tạo thanh và cao độ lại 713
tương đối mờ nhạt3. Vậy còn trong tiếng Việt, quá 714
trình nhân đôi thanh điệu cũng đã từng có ảnh hưởng 715
đến hệ thống nguyên âm? eo hiểu biết của tôi, 716
đến nay chưa từng có nhà nghiên cứu nào liên hệ 717
hai hiện tượng này trong tiếng Việt. Đến ngay cả 718
Ferlus—chuyên gia Vietic quan trọng nhất—trong bài 719
viết năm 199758 của ông về sự hình thành hệ thống 720
nguyên âm tiếng Việt cũng phải thú nhận rằng “Vấn 721
đề lớn là các hiện tượng nhân đôi nguyên âm [ở tiếng 722
Việt] này không thể giải thích được bằng bất cứ điều 723
kiện [ngôn ngữ học] hay quá trình lịch sử nào mà các 724
nhà ngôn ngữ học thường gặp ở khu vực Đông Nam 725
Á” h. Tôi cho rằng rất nhiều trong số các phân tách 726
nguyên âm trong tiếng Việt mà Ferlus quan sát có thể 727
được giải thích như là bị điều kiện hoá bởi cùng quá 728
trình nhân đôi thanh điệu (vô thanh hoá phụ âm đầu 729
hữu thanh), nhưng theo hướng ngược lại với tiếng 730
Rục: nguyên âm ở âm vực cao phát triển theo hướng 731
mở hơn về cấu âm, các nguyên âm hẹp nhất phát 732
triển thành nguyên âm trượt cuối—là các mô thức 733
phổ biến trong các ngôn ngữ Môn-Khmer phát triển 734
âm vực19,20,54. Một số ví dụ điển hình nhưi: (i) *u 735
> o [hun, thúi, rún, túi, thủi… > hôn, thối, rốn, tối, 736
thổi…]; (ii) *i > rj/aj [si, ti, vi, chí… > say, tay, vây, 737
chấy…]; (iii) *u > ru [su, tru, du… > sâu, trâu, dâu…]. 738
658 tất cả do sự quy định của âm cuối xát thanh hầu [-h]
659 được phát âm với điển dạng căng và mạnh (trong đối
660 lập với biến thể chùng [-h breathy] theo như đề xuất
661 của urgood33, sẽ được bàn luận kĩ hơn ở mục tiếp
662 theo).
663 Trường độ và chất lượng nguyên âm
664 Về trường độ, trước hết, nguyên âm đi trước [-h] luôn
665 luôn ngắn—bằng khoảng một nửa so với ở âm tiết mở
666 hay kết thúc vang—và lưu ý rằng không có đối lập
667 về trường độ nguyên âm ở bối cảnh ngữ âm này. Và
668 như đã đề cập ở trên, trường độ ngắn này nằm trong
669 mối liên hệ chặt chẽ với tính chất căng hơn của chất
670 giọng và cao độ trung bình lớn của hai thanh C1, C2.
671 Một mô thức rõ ràng khác cũng được quan sát từ kết
672 quả nghiên cứu là nguyên âm (do đó thanh điệu) có
673 trường độ lớn hơn ở dãy thanh điệu âm vực thấp, một
674 lần nữa phù hợp với xu hướng chung của các ngôn
675 ngữ có đối lập âm vực (Bảng 2). ời gian khởi thanh
676 (VOT) của phụ âm đầu trong các âm tiết thuộc âm
677 vực thấp cũng lớn hơn so với ở âm vực cao (sự khác
678 biệt khoảng 7.5 mili giây, dung lượng của nghiên cứu
679 hiện tại không cho phép tôi trình bày chi tiết). Hai
680 khác biệt trường độ giữa hai âm vực này có thể được lí
681 giải thông qua tính chất chùng hơn—do đó dao động
682 và diễn tiến chậm hơn—của các cơ quan cấu âm khi
683 tạo sản các âm tiết thuộc âm vực thấp.
684 Về chất lượng nguyên âm, nguyên âm theo sau các
685 thanh điệu thuộc hai nhóm âm vực cao và thấp cũng
686 thể hiện sự khác biệt hệ thống và nhất quán: Nguyên
687 âm âm vực thấp được hiện thực hoá như là các nguyên
688 âm trượt với các yếu tố mở đầu có độ mở hẹp hơn
689 cùng hàng, do đó /ε, ꢀ, a/ > [eε, oꢀ, a], đồng nhất
690 với mô tả trước đó14. Ở các nguyên âm hẹp [i:, u:],
691 sự khác biệt chất lượng nguyên âm này kém nổi bật
692 hơn và khó (nếu như không nói là không) nhận ra
693 được trong thụ cảm. Sự biến đổi nguyên âm này trong
694 tiếng Rục nằm trong xu hướng biến đổi chung của
695 các ngôn ngữ trải qua quá trình vô thanh hoá phụ
696 âm đầu, dẫn đến sự hình thành đa dạng các kiểu hệ
697 thống âm vực, thanh điệu, nguyên âm trong các ngôn
698 ngữ ĐNAL16,19,20,27,54. Trên phương diện âm vị học,
699 có thể coi các biến đổi nguyên âm này là yếu tố đi
700 kèm, một nét dư của hệ thống thanh điệu, nhưng cũng
701 có thể được xử lí như một thay đổi trong hệ thống
702 nguyên âm tiếng Rục. Dù theo hướng nào thì các
703 kết quả này cũng mở rộng một nghiên cứu hệ thống
704 dựa trên bằng chứng ngữ âm thực nghiệm về sự biến
705 đổi hệ thống nguyên âm trong tiếng Việt cũng như
706 các ngôn ngữ Vietic như Arem, avung, Maleng,
Tiếng Rục: một mắt xích quan trọng
739
Các đặc trưng của hệ thống thanh điệu tiếng Rục được 740
tổng hợp khái quát trong Bảng 6 sau đây.
741
Ngoại trừ sự đảo ngược giá trị cao độ tuyệt đối giữa hai 742
thanh C1 và C2, các đặc trưng ngữ âm của hệ thống 743
thanh điệu tiếng Rục phù hợp gần như trọn vẹn so với 744
các tương quan ngữ âm của thế đối lập âm vực trong 745
các ngôn ngữ Môn-Khmer (Bảng 2). Từ góc nhìn này, 746
tiếng Rục là mắt xích quan trọng (và tiêu biểu) liên kết 747
hai hiện tượng ngữ âm lịch sử độc đáo của các ngôn 748
ngữ Môn-Khmer nói chung, và các ngôn ngữ Vietic 749
nói riêng: hình thành âm vực và hình thành thanh 750
điệu (cụ thể là hình thành, hay nhân đôi hệ thống 751
h“La grand problème est que ces bipartitions vocaliques ne sont
explicables par aucun des conditionnements ni par aucun des pro-
cessus historiques que les linguistes rencontrent habituellement dans
la zone de l’Asie du Sud-Est” (Ferlus 1997: 49)
iCác dạng thức cổ hơn vẫn còn tồn tại trong nhiều thổ ngữ ở
anh Hoá – Nghệ An – Hà Tĩnh – Quảng Bình và cả các thổ ngữ ở
Bắc Bộ. Về các dạng thức tương ứng và nhiều ví dụ khác trong các
phương ngữ tiếng Pọong, tham khảo Ferlus (1997).
13
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Bảng 6: Các đặc trưng của hệ thống thanh điệu tiếng Rục
A1
A2
B1
B2
C1
C2
Giá trị ngữ âm
Cao độ
53
32
34
31
44
44
Cao
ấp
Đi xuống
Không
Cao
Đi lên
Có
ấp
Đi xuống
Có
ấp
Ngang
Không
Cao
Đường nét
Đi xuống
Ngang
Không
anh quản hoá Không
(cuối thanh)
ức tạo thanh
(đầu thanh)
ường
ở
ường
ở
ường
Ngắn
ở
Trường độ
Trung
bình
Dài hơn
Hẹp hơn
Trung bình
Mở hơn
Dài hơn
Hẹp hơn
Ngắn
Nguyên âm
(nét dư)
Mở hơn
Mở hơn
Hẹp hơn
Nguồn: Tổng kết nghiên cứu hiện tại
752 thanh điệu từ sự trung hoà hoá đối lập thanh tính hơn—sẽ ảnh hưởng theo hướng ngược lại, làm giảm 784
cao độ của vần trước nó. Khi hai âm cuối thanh hầu 785
này rơi rụng, các khác biệt về cao độ (nét dư) do đồng 786
cấu âm trên được âm vị hoá lần lượt như là thanh 787
lên và thanh xuống—so với thanh ngang ở các âm 788
tiết kết thúc vang. Giải thích này của Haudricourt về 789
sự hình thành của ba thanh điệu nguyên thuỷ trong 790
tiếng Việt phần nào đó được xác nhận bởi nghiên cứu 791
thực nghiệm60,61. Tuy nhiên, kết quả trong nghiên 792
cứu hiện tại về tiếng Rục dường như đi ngược lại với 793
giải thích này: F0 trong các âm tiết kết thúc bằng [-h] 794
753 phụ âm đầu). Một trường hợp tương tự cũng đã được
754 nghiên cứu và gọi tên là “mắt xích còn thiếu” (miss-
755 ing link) trong mô hình về hình thành thanh điệu nói
756 chung, đó là tiếng Tamang (ngữ hệ Tạng-Miến)59
.
757 Cuối cùng, lưu ý rằng hệ thống thanh điệu tiếng Rục
758 còn có các đặc trưng khác liên quan tới các phụ âm
759 đầu mà dung lượng của nghiên cứu hiện tiện chưa cho
760 phép chúng tôi đi vào chi tiết. Các nghiên cứu sau
761 này khi khảo sát toàn diện hệ thống thanh điệu (và
762 hệ thống ngữ âm tổng thể) tiếng Rục chắc chắn sẽ có
763 những đóng góp cho việc tìm hiểu không những bản
764 thân tiếng Rục mà sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung,
765 cập nhật các giả thuyết, mô hình về hình thành thanh
766 điệu và âm vực trong các ngôn ngữ Vietic, và rộng hơn
767 là các ngôn ngữ của khu vực ĐNAL.
có giá trị cao trong suốt diễn tiến của vần.
795
Hiện tượng phụ âm cuối xát thanh hầu [-h] xuất hiện 796
cùng với F0 cao (cao nhất, so với các âm tiết kết 797
thúc vang hoặc kết thúc bằng âm tắc thanh hầu [- 798
ꢀ]), và trong một số trường hợp dẫn tới các thanh 799
điệu cao, được kiểm chứng trong ba ngôn ngữ Vietic 800
khác là tiếng Mường (Kim ượng)62, tiếng Cuối63 801
và tiếng avung4,50–52. Hiện tượng này cũng xuất 802
hiện trong các ngôn ngữ Chamic thuộc ngữ hệ Nam 803
Đảo như Chăm Đông (Việt Nam)53 và Tsat (Chăm 804
Hải Nam)64,65. Một hiện tượng tương tự cũng được 805
quan sát thấy trong tiếng Giẻ-Triêng (Bahnaric), nơi 806
mà âm cuối xát thanh hầu được thay thế bằng một 807
biến thể của một thanh điệu ngang-đi lên66: giai đoạn 808
đi lên đột ngột của cao độ khiến cho nguyên âm có 809
thể bị bẻ gãy bởi một âm tắc thanh hầu, rất giống 810
với hiện thực hoá ngữ âm của thanh hỏi và ngã trong 811
tiếng Việt. Tác động của hai âm cuối thanh hầu [-ꢀ 812
-h] do đó được hiện thực hoá khác biệt (đối ngược) 813
giữa các ngôn ngữ khác nhau, và thậm chí là giữa 814
các phương ngữ của cùng một ngôn ngữ: cả hai đều 815
có thể nâng hoặc hạ thấp cao độ của nguyên âm/vần 816
768 Cập nhật mô hình của Haudricourt (1954)
769 về hình thành thanh điệu tiếng Việt: trường
770 hợp thanh hỏi và thanh ngã
771 Các đặc trưng F0 của hai thanh C1, C2 trong tiếng
772 Rục (ngắn, bằng phẳng, cao độ lớn, chất giọng căng
773 hơn) đặt ra yêu cầu về việc xem xét lại vai trò, tác động
774 của âm cuối xát thanh hầu trong quá trình hình thành
775 thanh điệu, trước hết là trong tiếng Việt, và sau đó là
776 mở rộng ra các ngôn ngữ Vietic.
777 Haudricourt17 cho rằng ở giai đoạn thứ nhất của quá
778 trình hình thành thanh điệu tiếng Việt, âm cuối tắc
779 thanh hầu [-ꢀ] có ảnh hưởng đồng cấu âm ngược lên
780 vần trước nó do trạng thái thanh quản căng làm tăng
781 tần số dao động (do đó được thụ cảm như là có cao
782 độ lớn hơn). Trong khi đó, âm xát thanh hầu [-h]
783 với cấu âm chùng hơn—do đó tần số dao động thấp đi trước. Nhận xét này được urgood đưa ra năm 817
14
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
818 200233 trong nỗ lực lí giải các khác biệt trong quá như trong các ngôn ngữ vừa đề cập. Tiếp theo, cũng 871
819 trình hình thành thanh điệu từ các chiết đoạn thanh có thể xuất hiện sự tách đôi thanh điệu nguyên thuỷ 872
820 hầu cuối vần ở các ngôn ngữ khác nhau. Tác giả này đề này khi thanh tính âm đầu bước vào giai đoạn trung 873
821 xuất rằng nên phân chia các chiết đoạn âm cuối thanh hoà hoá (Giai đoạn (II),Hình 9). Tuy nhiên, thanh 874
822 hầu thành hai nhóm (hai kiểu biến thể): nhóm thứ điệu ngang với F0 cao (ở trần của không gian cao độ) 875
823 nhất gồm âm cuối tắc thanh hầu đột ngột [-ꢀ abrupt] không tối ưu cho việc phát âm, và do đó để tăng tính 876
824 và âm cuối xát thanh hầu không có tính thở (tức là đối lập cho hệ thế thông điệu thì thanh điệu ngang- 877
825 cấu âm căng hơn) [-h nonbreathy], liên quan tới sự cao này biến đổi thành thanh gãy (tức là xuống-lên, 878
826 nâng lên của cao độ ở cuối vần, hoặc quy định cao độ bị gián đoạn ở giữa bởi yếu tố thanh quản hoá, hoặc 879
827 cao tổng thể; nhóm thứ hai gồm âm cuối tắc thanh mạnh như một âm tắc thanh hầu). Sự biến đổi này 880
828 hầu kẹt thanh [-ꢀ creaky] và âm cuối xát thanh hầu có nảy sinh hai thanh hỏi và ngã trong tiếng Việt (Giai 881
829 tính thở (tức là cấu âm chùng hơn) [-h breathy], liên đoạn (III),Hình 9).
830 quan tới sự hạ thấp của cao độ ở cuối vần, hoặc quy Kịch bản trên (Hình 9) có sức mạnh giải thích cho một 883
831 định cao độ thấp tổng thể (urgood 2002: 343)33
số hiện tượng thanh điệu trong các ngôn ngữ Vietic, 884
882
.
832 Tuy nhiên, urgood vẫn đi theo giả thuyết kinh điển và tôi điểm qua ngắn gọn ở đây—việc phát triển chi 885
833 của Haudricourt17 khi cho rằng [-h] trong lịch sử tiết thuộc phạm vi một nghiên cứu khác đang được 886
834 tiếng Việt đã hạ thấp cao độ (F0) của nguyên âm đi triển khai.
887
835 trước, do đó đã làm nảy sinh thanh điệu đi xuống ứ nhất, nó giải thích được hai ánh xạ nổi bật của 888
836 trong thế đối lập với thanh đi lên là hệ quả của âm cuối thanh điệu có đồng nguyên là âm cuối xát thanh hầu [- 889
837 tắc thanh hầu [-ꢀ]. urgood có lẽ, cũng như các tác h] trong một số ngôn ngữ Vietic: (i) thanh cao, ngang 890
838 giả khác, vẫn dựa trên thể hiện ngữ âm của hai thanh bằng trong tiếng Mường Kim ượng, tiếng Cuối, 891
839 hỏi và ngã trong tiếng Việt Bắc Bộ hiện nay và cho tiếng avung (và các ngôn ngữ Chamic như Chăm 892
840 rằng giai đoạn đi xuống của hai thanh này (dẫn theo Đông, Tsat); (ii) thanh gãy trong tiếng Việt (đặc biệt 893
841 thanh quản hoá và tắc thanh hầu ở giai đoạn giữa) là phương ngữ Bắc).
894
842 hệ quả của tác động hạ thấp cao độ do [-h] gây ra vẫn ứ hai, nó giải thích được rằng sự xuất hiện của 895
843 được bảo lưu, duy trì trong tiếng Việt cho tới tận ngày thức tạo thanh thở ở giai đoạn đầu của thanh hỏi30,67 896
844 nay. Tuy nhiên, kết hợp kết quả về hai thanh C1, C2 không liên quan đến quá trình vô thanh hoá phụ âm 897
845 trong tiếng Rục và đề xuất phân loại âm cuối thanh đầu (không có sự đảo âm vực, do thanh hỏi có nguồn 898
846 hầu của urgood, tôi đề xuất một kịch bản khác về gốc âm đầu vô thanh), mà chỉ là một phương thức 899
847 sự hình thành hai thanh hỏi và ngã trong tiếng Việt. cấu âm tuỳ chọn khi cao độ đi xuống thấp. ức tạo 900
848 Kịch bản đó như sau (Hình 9).
thanh thở và kẹt thường hạ thấp cao độ trong so sánh 901
849 Tương tự tiếng Rục (và cả các ngôn ngữ khác vừa đề với thức tạo thanh thường, một hiện tượng ngữ âm 902
850 cập như Mường Kim ượng, Cuối, avung, Tsat, phổ quát. Tương tự, tính chất thanh quản hoá mạnh, 903
851 Giẻ-Triêng), [-h] từng tồn tại trong tiếng Việt trước hay thậm chí âm tắc thanh hầu, ở giai đoạn giữa của 904
852 khi ngôn ngữ này phát sinh hệ thống thanh điệu là thanh ngã cũng là hệ quả của việc cao độ đi xuống quá 905
853 một âm cuối xát thanh hầu căng (không có tính thở thấp và đi lên độ ngột ngay sau đó (bẻ gãy cao độ).
906
854 = [-h nonbreathy] trong phân loại của urgood33). ứ ba, nó có tiềm năng giải thích được hiện tượng 907
855 Đặc trưng cấu âm của âm xát này là sự mở rộng của nhập thanh xảy ra thường xuyên giữa các thanh hỏi, 908
856 thanh môn, đồng thời hai dây thanh được kéo căng để ngã và nặng trong các thổ ngữ Mường, phương ngữ 909
857 ngăn cản rung động khi luồng hơi chạy qua. Cấu hình Trung của tiếng Việt, và các ngôn ngữ Vietic khác. Sự 910
858 thanh quản căng này có hai tác động chính lên nguyên hỗn nhập này xảy ra khi thanh điệu xuất phát từ [-h] 911
859 âm đi trước: (i) giảm trường độ của nguyên âm (do bị gãy hoá và thay đổi đường nét.
912
860 cấu âm di chuyển nhanh và mạnh hướng tới sự hình ứ tư, nó giải thích được tại sao trong lớp từ Hán 913
861 thành của [-h]), và (ii) nâng cao hoặc quy định cao độ Việt hậu kì (Late Sino-Vietnamese), thượng thanh 914
862 cao tổng thể của nguyên âm đi trước (do ảnh hưởng tiếng Hán—có nguồn gốc [-ꢀ]—lại chuyển thành hỏi 915
863 đồng cấu âm ngược của dây thanh căng trong chiết và ngã trong Hán-Việt, chứ không phải sắc và nặng; 916
864 đoạn [-h]) (Giai đoạn (I), Hình 9). Khi đối lập thanh và ngược lại, khứ thanh tiếng Hán—có nguồn gốc 917
865 quản cuối vần bị trung hoà hoá, trường độ nguyên âm [-h/s]—lại chuyển thành sắc và nặng trong Hán- 918
866 được kéo dài để đảm bảo yêu cầu trường độ tối thiểu Việt68–70. Nguyên nhân là do tác động trái ngược của 919
867 của vần (không tồn tại vần chỉ có nguyên âm ngắn), và hai âm cuối thanh hầu trong tiếng Hán và tiếng Việt ở 920
868 cao độ cao vẫn được duy trì suốt diễn tiến nguyên âm. giai đoạn vay mượn: (i) cả [-ꢀ] tiếng Hán và [-h] tiếng 921
869 anh điệu cao, hoặc ngang-đi lên, quy định bởi [-h] Việt đều có tác động nâng cao độ của nguyên âm đi 922
870 này có thể tiếp tục tồn tại như một thanh vị độc lập, trước, do đó bắt cặp với nhau; trong khi đó (ii) [-h] 923
15
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Hình 9: Kịch bản ba giai đoạn hình thành thanh hỏi (màu cam) và ngã (màu xanh) tiếng Việt: (I) [-h] quy định cao
độ lớn và ngang bằng (hoặc có thể nâng lên ở cuối) trên nguyên âm đi trước, nguyên âm có trường độ ngắn, âm
đầu hữu thanh và vô thanh ảnh hưởng lên cao độ đầu nguyên âm. (II) [-h] rụng đi, nguyên âm được kéo dài để
bù đắp trường độ của vần, thanh tính âm đầu bị trung hoà hoá khiến cho ảnh hưởng lên cao độ đầu nguyên âm
được khuếch đại. (III) Thanh điệu biến đổi thành hai thanh gãy, đặc trưng bởi giai đoạn thanh quản hoá hoặc tắc
họng ở giữa.
924 tiếng Hán hạ thấp cao độ của nguyên âm đi trước (vẫn B2, C2) có nguyên âm với cấu âm hẹp hơn và thức tạo 956
925 còn lưu dấu vết là thức tạo thanh kẹt trong các phương thanh thở. Các kết quả này gợi ý rằng tiếng Rục là một 957
926 ngữ hiện đại), do đó bắt cặp với [-ꢀ] tiếng Việt, cụ thể mắt xích quan trọng, liên kết hai quá trình biến đổi 958
ngữ âm lịch sử đặc trưng của các ngôn ngữ Vietic nói 959
riêng và các ngôn ngữ Môn-Khmer nói chung: hình 960
thành thanh điệu và hình thành âm vực. Hơn nữa, 961
các kết quả nghiên cứu cũng được ứng dụng (và vẫn 962
còn nhiều tiềm năng) trong việc giải thích các biến 963
đổi nội tại của các hệ thống thanh điệu, cũng như các 964
hiện tượng vay mượn-tiếp xúc ngôn ngữ: biến động 965
của thanh hỏi và ngã trong các phương ngữ của tiếng 966
Việt, tương ứng thanh điệu trong lớp từ Hán-Việt, v.v.. 967
968
927 là với biến thể phổ biến của nó là thức tạo thanh kẹt
928 thanh vẫn còn tồn tại trong thanh nặng tiếng Việt và
929 đưa đến thanh thứ tư kẹt thanh đặc biệt trong tiếng
930 Mường Kim ượng62
.
931 Do đó, trường hợp các thanh điệu xuất phát từ [-h]
932 trong tiếng Rục, tiếng Việt và các ngôn ngữ Vietic
933 khác là một minh hoạ tiêu biểu cho tính chất động
934 của hệ thống thanh điệu một khi chúng đã hình thành
935 trong các ngôn ngữ71j. Nguyên lí động do đó cũng
936 cần được áp dụng vào nghiên cứu các vấn đề thanh
937 điệu và âm vực trên cả hai bình diện đồng đại và lịch
938 đại.
LỜI CẢM ƠN
969
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cộng tác 970
viên người Rục đã tham gia vào nghiên cứu. Cảm ơn 971
Sở Văn hoá - ông tin tỉnh Quảng Bình đã cấp phép 972
cho tôi tiến hành nghiên cứu. Cảm ơn các cán bộ 973
chiến sĩ đồn biên phòng Cà Xèng đã tạo điều kiện hậu 974
cần trong quá trình thực hiện nghiên cứu. ầy Marc 975
Brunelle đã hướng dẫn tôi cách thức và các kĩ thuật 976
nghiên cứu điền dã cũng như làm việc với dữ liệu 977
ngay từ những bước đầu tiên. James Kirby và Alexis 978
Michaud đã giúp đỡ tôi với các vấn đề kĩ thuật xử lí dữ 979
liệu, cũng như đã dành thời gian cho những cuộc trao 980
đổi dài, chi tiết về các vấn đề nghiên cứu ngữ âm nói 981
chung và đưa ra những góp ý, gợi mở cho nghiên cứu 982
hiện tại. Tôi xin được dành nghiên cứu này kính dâng 983
lên thầy tôi, GT.TS Nguyễn Văn Lợi, người đã đưa 984
tôi đến với con đường nghiên cứu khoa học, người 985
đã cung cấp nhiều thông tin về người Rục, tiếng Rục 986
và có nhiều góp ý cho quá trình nghiên cứu nhưng 987
đã không thể chờ đợi được đến ngày nghiên cứu này 988
được xuất bản. Phạm ị uHà, Nguyễn Minh Châu 989
và Albert Baro cũng đã cùng tôi chia sẻ những vấn 990
939 KẾT LUẬN
940 Nghiên cứu ngữ âm thực nghiệm đầu tiên về tiếng
941 Rục này xác nhận sự tồn tại của hệ thống bốn thanh
942 điệu trong tiếng Rục như đã được mô tả trước đây,
943 được khu biệt dựa trên các đặc trưng về cao độ, đường
944 nét F0, thức tạo thanh (chất giọng), và các đặc trưng
945 khác như trường độ nguyên âm, chất lượng nguyên
946 âm. anh điệu trong các vần kết thúc bằng yếu tố
947 xát thanh hầu [-h] tuy được coi là tha thanh vị của
948 hai thanh A1, A2 nhưng chúng có những đặc trưng
949 ngữ âm riêng biệt như trường độ ngắn, cao độ lớn và
950 đường nét bằng phẳng. Sự khác biệt về chất lượng
951 nguyên âm và thức tạo thanh được hiện thực hoá một
952 cách hệ thống và nhất quán giữa hai nhóm thanh điệu,
953 theo đó các thanh điệu nhóm âm vực cao (A1, B1, C1)
954 có nguyên âm với cấu âm mở hơn và thức tạo thanh
955 thường, các thanh điệu thuộc nhóm âm vực thấp (A2,
jam khảo một nghiên cứu tiêu biểu về sự biến đổi của hệ thống
thanh điệu tiếng ái Bangkok trong phạm vi thế kỉ XX của Pit-
tayawat Pittayaporn (2018).
16
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
991 đề về nghiên cứu các ngôn ngữ Vietic. Dương Xuân trực tuyến truy cập mở. Các kết quả của nghiên cứu 1041
992 Quang và Tạ Quang Tùng đã luôn giúp đỡ tôi về tư này đóng góp những hiểu biết mới và hệ thống hơn về 1042
993 liệu nghiên cứu xuất bản ở Việt Nam. Cảm ơn Sue-
994 Anne Richer và Aiden Ross đã trợ giúp việc chú thích
995 dữ liệu. Nghiên cứu này được hỗ trợ tài chính một
996 phần bởi Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội và
997 Nhân văn Canada [435-2017-0498] (chủ nhiệm đề tài
998 Marc Brunelle).
không những hệ thống thanh điệu tiếng Rục mà còn 1043
lịch sử hình thành, phát triển của các hệ thống thanh 1044
điệu, âm vực trong các ngôn ngữ Vietic, và rộng hơn 1045
là các ngôn ngữ khu vực ĐNAL.
1046
PHỤ LỤC
1047
999 DANH MỤC TỪ (KÍ HIỆU) VIẾT TẮT
1000 ĐNAL Đông Nam Á lục địa
1001 CTV Cộng tác viên
1002 < Hình thành từ
1003 > Phát triển thành
1004 ϕ âm cuối zero (vần mở - kết thúc bằng nguyên âm)
1005 ∆ Khoảng giá trị khác biệt
1006 **, * Dạng phục nguyên tiền ngôn ngữ
1007 A1 anh điệu hình thành từ các âm tiết có kết thúc
1008 vang và phụ âm đầu vô thanh
1009 A2 anh điệu hình thành từ các âm tiết có kết thúc
1010 vang và phụ âm đầu hữu thanh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1048
1. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng 1049
điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn 1050
bộ [The 2009 Vietnam Population and Housing Census: Com- 1051
pleted Results]. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê; 2010;Avail- 1052
2. Ủy ban Dân tộc, Tổng cục Thống kê. Đặc trưng cơ bản của 1055
53 dân tộc thiểu số năm 2019: Nhà xuất bản Thống kê; 1056
1054
2020;Available from:
1059
3. Ferlus M. Arem, a Vietic Language. Mon-khmer studies. 1060
1062
1011 B1 anh điệu hình thành từ các âm tiết có vần kết
1012 thúc bằng yếu tố tắc thanh hầu /-ꢀ/ và phụ âm đầu vô
1013 thanh
4. FerlusM. LesSystèmesDeTonsDansLesLanguesViet-Muong. 1063
1065
5. Ferlus M. Le maleng brô et le vietnamien. Mon-khmer 1066
1014 B2 anh điệu hình thành từ các âm tiết có vần kết
1015 thúc bằng yếu tố tắc thanh hầu /-ꢀ/ và phụ âm đầu
1016 hữu thanh
1017 C1 anh điệu hình thành từ các âm tiết có vần kết
1018 thúc bằng yếu tố xát thanh hầu /-h/ và phụ âm đầu vô
1019 thanh
1020 C2 anh điệu hình thành từ các âm tiết có vần kết
1021 thúc bằng yếu tố xát thanh hầu /-h/ và phụ âm đầu
1022 hữu thanh
1023 D1 anh điệu hình thành từ các âm tiết có vần kết
1024 thúc bằng phụ âm tắc /-p -t -c -k/ và phụ âm đầu vô
1025 thanh
6. Ferlus M. Langues et peuples viet-muong. Mon-khmer stud- 1069
1068
1071
7. Hayes LVH. Vietic and Viet-Muong: a new subgrouping in 1072
Mon-Khmer. Mon-khmer studies. 1992;21:211-28;Available 1073
from:
1075
8. FerlusM. LesSystèmesDeTonsDansLesLanguesViet-Muong. 1076
1078
9. Chamberlain JR. Vanishing Nomads: Languages and Peoples 1079
of Nakai, Laos, and Adjacent Areas. In: Brunn SD, Kehrein 1080
R, editors. Handbook of the Changing World Language Map: 1081
Springer International Publishing; 2020. p. 1589-605;Available 1082
1083
1026 D2 anh điệu hình thành từ các âm tiết có vần kết
1027 thúc bằng phụ âm tắc /-p -t -c -k/ và phụ âm đầu hữu
1028 thanh
10. Chamberlain JR. A Kri-Mol (Vietic) Bestiary: Prolegomena 1084
to the Study of Ethnozoology in the Northern Annamites. 1085
1086
11. Chamberlain JR. Vietic Speakers and Their Remnants in 1087
Khamkeut District (Old Khammouane). Festschrift for Prof. 1088
Udom Warotamasikkhadit [Internet]. 2014;Available from: 1089
1029 XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
1030 Tác giả không có xung đột lợi ích trong việc công bố
1031 nghiên cứu này
12. Enfield NJ, G Diffloth. Phonology and sketch grammar of Kri, a 1092
Vietic language of Laos. Cahiers de Linguistique - Asie Orien- 1093
1032 ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ
1095
1033 Tác giả thực hiện công việc điền dã, thu thập dữ liệu
1034 phát âm của 20 CTV người Rục tại bản Mò O Ồ Ồ
1035 (ượng Hoá, Minh Hoá, Quảng Bình). Dữ liệu được
1036 tác giả xử lí, trích xuất, phân tích định lượng bằng
1037 các phần mềm Praat, R. Dữ liệu tiếng Rục thu được
1038 đang trong quá trình chuẩn bị cùng với dữ liệu về
1039 các phương ngữ, ngôn ngữ khác thuộc ngữ chi Vi-
1040 etic (Arem, Việt) để đưa lên lưu trữ tại các bộ sưu tập
13. Zuckerman CHP, NJ Enfield. Heavy sound light sound: A Nam 1096
Noi metalinguistic trope. Studies in the Anthropology of Lan- 1097
guage in Mainland Southeast Asia, Journal of the Southeast 1098
14. Nguyễn VL. Tiếng Rục [The Rục language]. Hà Nội: NXB Khoa 1101
học Xã hội [Social Sciences Publishing House]. 1993;.
15. Ferlus M. The origin of tones in Viet-Muong. In: Burusphat S, 1103
editor. Papers from the Eleventh Annual Conference of the 1104
Southeast Asian Linguistics Society 2001: Arizona State Uni- 1105
1100
1102
17
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Bảng 7: Bảng từ tiếng Rụck
Rục (IPA)
tin A1
ti A2
Việt
Rục (IPA)
lꢀ B2
Việt
1
nói chuyện
đi
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
gọt vỏ
khoai lang
lá lách
lưới cá
lạng
A1
2
laη
3
ti B1
đái
la A2
B1
4
tiek 2
điếc
laiꢀ
B2
5
tεn A1
tεn A2
màu đen
đèn
laη
6
kim A1
kim
B1
7
tε
mày
tki A2
cổ
2
8
tεuꢀ
đục đẽo
nghèo
điên, thần kinh
buộc lại
giao hợp
đo đạc
đòi hỏi
đón
(acꢀ B1) kiB1
chó cái
canh
A1
9
tuh A1
kεη
A2
B1
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
tuiꢀ
(tꢀk) kε
tắc kè
của tôi
chim cu
lõi ngô
bới
ktum B1
tu 2
kε B2 (ho A1
(ku A2) ku A1
kul A2 (cali A1
)
tꢀ A1
)
A2
tꢀiꢀ
(tuꢀ A2) kul B1
kul B2
tꢀn B1
lợn
2
tꢀiꢀ
tỏi
kꢀn A1 (ka A1
)
con (gà)
con cò
có
ta A1
ông ngoại
ngay bây giờ
đá
(kꢀn A1) kꢀ A2
kꢀ B1
(ngai A1) ta taA2
(la)ta B1
kꢀk B2
cái cọc
gãi
B2
B2
tata
(ta
,
thang
kakal A1
nta B2, lta B2
)
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
aliηA1
ở trên
gậy
54
55
56
57
58
59
60
61
62
63
64
65
66
kal A2
ka B1
kal B2
cài cửa
cá
A2
cliη
puli B1 (pli B1
)
trái cây
lấy vợ
mắt cá chân
rễ cây
cẳng thú
đùi
rau cải
đang
đường
nhạt
khỏe ốm
vỗ tay
vỡ
li4 (maki B1
)
taη
A1
A1
A2
klε
taη
lεh A2
tah C1
tah C2
B2
(k)lεη
pulu A1
pah C1 (si A1
kupah C2
pan B1
)
A2
luη
có thai
trứng
tlul B1
lut B2
lꢀ A1
bán
bão lụt
lo lắng
lúa
pan B2
bạn
tap B1
đắp
alꢀ B1
tap B2
đạp
18
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
Bảng 8: Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính cho H1*-H2* tại điểm cuối của sáu thanh điệu tiếng Rục với hai biến
độc lập thanh điệu và nguyên âm.
Hệ số ước lượng
4.148
Sai số chuẩn
0.292
0.419
0.402
0.402
0.512
0.515
0.456
0.458
0.454
0.457
0.682
0.712
0.641
0.658
0.666
0.738
0.686
0.644
0.650
0.638
0.629
0.659
t-thống kê
14.188
0.627
p(>|t|)
0.000***
0.531
(Hệ số chặn)
anhA2
0.263
-1.251
-1.729
3.578
2.959
2.338
4.461
0.088
3.644
anhB1
-3.109
-4.296
6.995
0.002**
0.000***
0.000***
0.000***
0.000***
0.000***
0.846
anhB2
anhC1
anhC2
5.744
NguyenamE
NguyenamI
NguyenamO
NguyenamU
5.123
9.733
0.195
7.974
0.000***
0.002**
0.057.
anhA2:NguyenamE -2.129
anhB1:NguyenamE -1.357
anhB2:NguyenamE -0.136
anhA2:NguyenamI 0.671
anhB1:NguyenamI 0.868
anhB2:NguyenamI 1.626
anhA2:NguyenamO -1.058
anhB1:NguyenamO 0.313
anhB2:NguyenamO -0.362
anhA2:NguyenamU -2.371
anhB1:NguyenamU -1.027
anhB2:NguyenamU 0.620
-3.121
-1.906
-0.212
1.020
0.832
0.308
1.303
0.193
2.203
0.028*
0.123
-1.542
0.486
0.627
-0.557
-3.714
-1.633
0.940
0.577
0.000***
0.102
0.347
Quy ước mức ý nghĩa thống kê: 0 ‘***’ 0.001 ‘**’ 0.01 ‘*’ 0.05 ‘.’ 0.1 ‘ ’ 1
1106
versity. 2004;p. 297–313.
In: al RJBe, editor. Selected Papers on Comparative Tai Studies. 1128
The University of Michigan: Center for South and Southeast 1129
1107 16. Henderson EJA. The Main Features of Cambodian Pronun-
1108
1110
ciation. Bulletin of the School of Oriental and African Stud-
ies. 1952;14(1):149-74;Available from: https://doi.org/10.1017/
Asian studies. 1989;p. 191–206.
1130
23. Michaud A. Final consonants and glottalization: new perspec- 1131
tives from Hanoi Vietnamese. Phonetica. 2004;61(2-3):119- 1132
1111 17. Haudricourt A-G. De l’origine des tons en vietnamien. Jour-
1134
1113
24. Haudricourt A-G. Two-way and three-way splitting of tonal 1135
systems in some Far Eastern languages. Tai phonetics and 1136
1114 18. Matisoff JA. Tonogenesis in Southeast Asia. In: Hyman LM, ed-
1115
itor. Consonant types and tones. Los Angeles: Linguistics Pro-
gram, University of Southern California. 1973;p. 72–95.
1116
1138
1117 19. Huffman FE. The Register Problem in Fifteen Mon-Khmer
25. Pittayaporn P. The phonology of proto-Tai [PhD Dissertation]. 1139
1118
1120
Languages. Oceanic Linguistics Special Publications.
26. Ratliff M. Hmong-Mien language history: Pacific Linguistics, 1142
Research School of Pacific and Asian Studies; 2010;Available 1143
1141
1121 20. Ferlus M. Formation des registres et mutations conso-
1122
1124
nantiques dans les langues Mon-Khmer. Mon-khmer stud-
27. Brunelle M, TT Tấn. Register in languages of Southeast Asia: 1145
the state of the art (submitted). 2020;.
1144
1146
1125 21. Li FK. A handbook of comparative Tai. 1977;Available from:
1127 22. Gedney WJ. A checklist for determining tones in Tai dialects.
28. Alves MJ, editor Ruc and other Minor Vietic languages: Lin- 1147
guistic strands between Vietnamese and the rest of the 1148
Mon-Khmer language family. Seventh Annual Meeting of the 1149
1126
19
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Social Sciences & Humanities, 5(1):xxx-xxx
1150
Southeast Asian Linguistics Society. 2003;.
1221
1151 29. Honda K, editor Tone correspondences and tonogenesis in Vi-
51. HayesLVH. TheregistersystemsofThavung. Mon-khmerstud- 1222
1152
1153
etic. 15th annual meeting of the Southeast Asian Linguistics
Society (SEALS XV); Canberra: Pacific Linguistics. 2005;.
1224
1154 30. Edmondson J, Lợi NV. Tones and voice quality in modern
52. Ferlus M. Lexique thavung-français. Cahiers de Linguistique- 1225
1155
1157
northern Vietnamese: instrumental case studies. Mon-khmer
53. Brunelle M. Register in Eastern Cham: Phonological, Phonetic 1228
and Sociolinguistic approaches [Ph.D. Ithaca: Cornell. 2005;. 1229
54. Huffman FE. Vowel permutations in Austroasiatic languages. 1230
Linguistics of the Sino-Tibetan Area: The State of the Art. Pa- 1231
1227
1158 31. Haudricourt A-G. Les mutations consonantiques des occlu-
1159
1161
sives initiales en môn-khmer. Bulletin de la Société de Linguis-
cific Linguistics Series C. 1985(87);.
1232
1162 32. Alves M. Tonal features and the development of Vietnamese
tones. Working Papers in Linguistics. 1995;27:1-13;.
1164 33. Thurgood G. Vietnamese and tonogenesis: Revising the
55. Cẩn NT. Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo) [A text- 1233
book on historical phonetics of Vietnamese (preliminary)]. Hà 1234
1163
Nội: Nhà xuất bản Giáo dục; 1995;.
1235
1165
model and the analysis. Diachronica. 2002;19(2):333-
56. Tài NV. Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn [The pho- 1236
netic system of Mường in its dialects]. Hà Nội: Nhà xuất bản 1237
1166
1167 34. Boersma P, Weenink D. Praat: doing phonetics by computer
6.0.50 ed2019;.
1171 36. Shue YL, P Keating, C Vicenik. VOICESAUCE : A program for
Từ điển bách khoa; 2005;.
1238
1168
57. Michaud A, Ferlus, NM Châu. Strata of standardiza- 1239
M
tion: the Phong Nha dialect of Vietnamese (Quảng Bình 1240
Province) in historical perspective. Linguistics of the 1241
Tibeto-Burman Area. 2015;38(1):124-62;Available from: 1242
1170
1172
1174
voice analysis. The Journal of the Acoustical Society of Amer-
ica. 2009;126(4):2221;Available from: https://doi.org/10.1121/
58. Ferlus M. Problèmes de la formation du système 1244
vocalique du vietnamien. Cahiers de Linguistique- 1245
1243
1175 37. Iseli M, Y-L Shue, A Alwan. Age, Sex, and Vowel Dependencies
Asie Orientale. 1997;26(1):37-51;Available from:
59. Mazaudon M, A Michaud. Tonal Contrasts and Initial Conso- 1248
nants: A Case Study of Tamang, a ’Missing Link’ in Tonogene- 1249
60. Hombert J-M, JJ Ohala, WG Ewan. Phonetic Explanations 1252
for the Development of Tones. Language. 1979;55(1):37- 1253
1176
1177
1178
of Acoustic Measures Related to the Voice Source. Journal of
the Acoustical Society of America. 2007;121(4):2283-95;PMID:
1247
1179 38. Iseli M, A Alwan, editors. An improved correction formula for
1180
1181
1182
the estimation of harmonic magnitudes and its application to
open quotient estimation. 2004 IEEE international conference
on acoustics, speech, and signal processing; 2004: IEEE;.
1251
1183 39. RCoreTeam. R: A language and environment for statistical
1254
1184
computing. R Foundation for Statistical Computing, Vienna,
Austria. 2013;.
61. Hombert J-M. Towards a Theory of Tonogenesis: An Empir- 1255
ical, Physiologically and Perceptually Based Account of the 1256
Development of Tonal Contrasts in Languages [PhD The- 1257
sis/dissertation]. Berkeley: University of California; 1975;Avail- 1258
62. Nguyễn M-C. The tone system of Kim Thượng Mường: an 1260
experimental study of fundamental frequency, duration, 1261
and phonation types [M.A.: Vietnamese National Univer- 1262
1185
1186 40. Chao Y-R. sistim v” toun-letz” [A System of Tone Letters]. Le
1188
1189 41. Gordon M, P Ladefoged. Phonation types: a cross-linguistic
1190
overview. Journal of Phonetics. 2001:383-406;Available from:
1191
1192 42. Keating P, CM Esposito, M Garellek, J Kuang. WPP, No.
1193
1194
1196
108: Phonation Contrasts Across Languages. Department
of Linguistics, UCLA. 2010;108:188-202;Available from:
1264
63. Nguyen HH, VL Nguyen. Tones in the Cuoi Language of Tan Ki 1265
District in Nghe An Province, Vietnam. Journal of the South- 1266
east Asian Linguistics Society. 2019;12(1):lvii-lxvi;Available 1267
64. Thurgood G. From Ancient Cham to Modern Di- 1269
alects: Two Thousand Years of Language Contact 1270
and Change: With an Appendix of Chamic Re- 1271
constructions and Loanwords. Oceanic Linguistics 1272
1197 43. Garellek M, Keating P. The acoustic consequences of phona-
1268
1198
1199
1200
tion and tone interactions in Jalapa Mazatec. Journal of
the International Phonetic Association. 2011;41(2):185-
1201 44. Garellek M. Acoustic discriminability of the complex phona-
1202
tion system in! Xóõ. Phonetica. 2020;77(2):131-60;Available
Special
Publications.
1999(28):i-407;Available
from: 1273
1274
1203
1204 45. Sagart L. The origin of Chinese tones. Symposium/Cross-
65. Thurgood G. Language contact and the directionality of inter- 1275
nal drift: the development of tones and registers in Chamic. 1276
1205
Linguistic Studies of Tonal Phenomena/Tonogenesis, Typol-
ogy and Related Topics; Tokyo. 1999;p. 91–104.
1206
1207 46. Gedney WJ. Speculations on early Tai tones. Contributions to
Sino-Tibetan Studies. 1986;5:144;.
1209 47. Thongkum TL. Phonation types in Mon-Khmer languages. In:
1278
1208
66. Gradin D. Consonantal tone in Jeh phonemics. Mon-khmer 1279
1210
1211
1212
Fujimura O, editor. Vocal foldphysiology: voice production,
mechanisms and functions. New York: Raven Press. 1988;p.
319–334.
1281
67. Pham AH. Vietnamese tone: a new analysis: Routledge; 1282
68. Alves MJ. Early Sino-Vietnamese Lexical Data and the Relative 1284
Chronology of Tonogenesis in Chinese and Vietnamese. Bul- 1285
letin of Chinese Linguistics. 2018;11(1-2):3-33;Available from: 1286
1213 48. Gregerson KJ. Tongue-Root and Register in Mon-Khmer.
1214
Oceanic Linguistics Special Publications. 1976(13):323-
1215
1216 49. Lợi NV. Giọng nói xứ Đoài: Đặc điểm và lịch sử. Từ điển học &
Bách khoa thư. 2009;2:10-23;.
1218 50. Suwilai P. Phonological characteristics of So (Thavung), a
1287
1217
69. Phan J. Lacquered words: The evolution of Vietnamese under 1288
Sinitic influences from the 1st century B.C.E. through the 17th 1289
century C.E. In: Taylor K, Lhitman J, Rusk B, Warner D, editors.: 1290
1219
Vietic language of Thailand. Mon-khmer studies. 1996;26:161-
ProQuest Dissertations Publishing; 2013;.
1291
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hệ thống thanh điệu tiếng Rục và quá trình hình thành thanh điệu trong các ngôn ngữ Vietic", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
he_thong_thanh_dieu_tieng_ruc_va_qua_trinh_hinh_thanh_thanh.pdf

