"Những ngã tư và những cột đèn" của Trần Dần và vụ án của Franz Kafka: Từ góc nhìn hiện sinh

VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN CỦA TRẦN DẦN  
VÀ VỤ ÁN CỦA FRANZ KAFKA: TỪ GÓC NHÌN HIỆN SINH  
Lê Thị Gấm  
Trường Đại học Văn Lang  
Nhận bài ngày: 6/6/2019; Ngày duyệt đăng: 27/08/2019  
Tóm tắt  
Xuất bản năm 2011, tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần gây ấn tượng đáng  
kinh ngạc bởi thi pháp trần thuật hiện đại. Tác phẩm gặp gỡ tiểu thuyết Vụ án (1914) của Franz  
Kafka ở nhiều phương diện. Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận hai tác phẩm từ góc độ cảm thức  
hiện sinh, một cách để khẳng định giá trị nhân văn của tác phẩm và mối tương liên vượt biên giới  
giữa những nghệ sĩ lớn.  
Từ khóa: Trần Dần, Những ngã tư và những cột đèn, Vụ án, Franz Kafka, chủ nghĩa hiện sinh.  
Tran Dan’s Crossroads and Lampposts and Franz Kafka’s The Trial:  
in the light of existentialism  
Abstract  
Published in 2011, Tran Dan’s Crossroads and Lampposts is a special novel with modern  
narrative style. It connects Franz Kafka’s The Trial (1914) on many aspects. In this article, two  
works from an existential perspective to emphasize their humanistic values and the connection  
between Tran Dan and Franz Kafka are approached.  
Keywords: Tran Dan, Crossroads and Lampposts, The Trial, Franz Kafka, existentialism.  
lưu triết – mỹ học phương Tây, nửa sau thế kỷ  
XX, với tinh thần khẳng định nhân vị. Theo đó,  
con người ý thức bản thể của mình và ý thức  
mình là một chủ thể; dấn thân tìm kiếm, khẳng  
định sự tự do, tạo lập ý nghĩa tồn tại người trong  
“cõi nhân gian bé tí”. Mặc dù triết – mỹ học hiện  
sinh chỉ thực sự khởi xướng và nở rộ ở phương  
Tây những năm thập niên 1950-1960, rồi nhanh  
chóng lan sang các nước phương Đông, song có  
thể nói tinh thần hiện sinh với ý nghĩa là những  
trăn trở, ưu tư về bản thân, về thân phận người  
thì trước đó từ lâu đã được xem như hạt nhân  
của giá trị nhân văn mà nghệ thuật chân chính  
hướng tới. Trước những va chạm, biến đổi  
không ngờ của đời sống xã hội hiện đại, một bộ  
phận văn học đi vào khám phá con người không  
phải là hiện thân của khối tập thể gắn kết, mang  
trên vai lý tưởng xã hội và trách nhiệm cộng  
đồng, mà là những cá thể với chiều sâu tâm hồn  
thăm thẳm, nặng ưu tư phận người. Những tác  
phẩm nghệ thuật theo chiều hướng hiện sinh  
thường khám phá con người trong quan hệ xung  
1. Đặt vấn đề  
Những ngã tư và những cột đèn (1966) của  
Trần Dần là thiên tiểu thuyết có số phận đặc  
biệt: trải qua hành trình gần nửa thế kỷ (44 năm)  
mới đến tay bạn đọc (1966-2010). Tác phẩm  
mang tới một ấn tượng đáng kinh ngạc bởi tính  
hiện đại vượt khỏi khung khổ đương thời của  
văn học Việt Nam, bắt nhịp thi pháp cùng tư  
tưởng nhân sinh sâu sắc của văn học hiện đại thế  
giới. Nếu đặt Những ngã tư và những cột đèn  
của Trần Dần bên cạnh Vụ án của Franz Kafka  
chúng ta sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi những  
điểm tương đồng của hai tác phẩm, nhìn từ góc  
độ cảm thức hiện sinh. Cảm thức này chi phối  
kiến tạo không gian, cấu trúc nghệ thuật cũng  
như những trăn trở, ám ảnh hiện sinh trong cả  
hai tác phẩm.  
2. Không gian tâm tưởng và cấu trúc  
truyện giả trinh thám  
2.1. Không gian tâm tưởng như là không  
gian hiện sinh  
Hiện sinh thường được biết đến là một trào  
26  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
đột với môi trường sống. Trong trường hợp này,  
môi trường – không gian hiện sinh thực tại giữ  
vai trò cản trở cá thể. Hệ quả là nhân vật hướng  
nội, tạo dựng không gian tâm tưởng như một  
cách tự vệ. Ở đó, nhân vật lục lọi bản sắc, lý giải  
tồn tại thế giới, lý giải thân phận, bản sắc cá  
nhân, những vênh lệch, sự xung đột giữa bản  
thân với môi trường xã hội. Không gian tâm  
tưởng trở thành không gian hiện sinh, nơi nhân  
vật tự do tạo lập thế giới của riêng mình, thăm dò  
và thực thi quyền lựa chọn ứng xử với bản thân  
và với thế giới. Nói cách khác, con người hiện  
sinh không sống cho và chỉ ở không gian bên  
ngoài. Bao giờ trong anh ta cũng có một không  
gian tâm tưởng như là thành trì hóa giải, đồng  
thời nuôi dưỡng tinh thần hiện sinh. Hoàn cảnh  
sống càng xung đột, ngăn trở bản sắc cá thể,  
không gian tâm tưởng càng tạo lập vững chắc.  
Độc giả Việt Nam được biết đến tiểu thuyết  
Vụ án của Franz Kafka – nhà văn Do Thái vĩ đại  
– từ những năm cuối thập niên 80 thế kỷ trước  
qua bản dịch từ tiếng Anh của Phùng Văn Tửu  
(1989) và mới đây là bản dịch từ tiếng Đức của  
Lê Chu Cầu (2015). Buổi sáng ngày sinh nhật  
thứ 30, nhân vật Josef K. – một cán bộ ngân  
hàng mẫn cán – bị tòa án bắt ngay tại giường  
ngủ của mình vì một tội danh nào đó mà anh  
không rõ. Mười chương sách là hành trình nhân  
vật chính tìm mọi cách thăm dò tội danh của  
mình và biện minh với tòa án – cơ quan quyền  
lực. Trên hành trình ấy, nhiều người lạ và quen  
xuất hiện, hứa hẹn giúp đỡ nhưng thực chất là  
thăm dò, cô lập, mỉa mai, đẩy bi kịch của anh  
lên kịch điểm. Vốn là người thông minh, có học  
thức, K. quyết định không nhờ cậy người khác  
giúp đỡ và thụ động đợi lệnh tòa án, thay vào đó  
tự dấn thân vào hành trình tìm kiếm chứng cứ,  
thảo đơn nguyện. Kết quả mọi nỗ lực của anh  
đều vô ích. Bộ máy quyền lực tuy đã tha hóa,  
nhưng gọng kìm của nó mỗi ngày một siết chặt  
sinh quyển. Cuối cùng, K. chấp nhận bị xử tử  
như là chức năng cuối cùng cần thiết để kết thúc  
chuỗi vận hành của thiết chế quyền lực ấy đối  
với sự sinh tồn của một kiếp người. Cuốn tiểu  
thuyết gây nhiều tranh cãi bởi các tầng nghĩa  
đan cài, xếp chồng. Bất luận đứng ở góc độ nào  
để nhìn nhận (hiện đại chủ nghĩa, hiện sinh chủ  
nghĩa hay hậu hiện đại,…), chúng ta cũng thấy  
rằng vấn đề sinh tồn của con người hiện đại  
trong sinh quyển đặc thù của nó là vấn đề cơ  
bản, then chốt của cuốn tiểu thuyết (cũng như  
nhiều tác phẩm khác của Kafka).  
Vụ án của Kafka và Những ngã tư và những  
cột đèn của Trần Dần có nhiều điểm tương đồng  
thú vị. Cả hai cuốn tiểu thuyết đều lấy bối cảnh  
là không gian đô thị hiện đại của xã hội chuyên  
chế (trong bối cảnh có sự chuyển giao quyền lực  
quản trị)  
Không gian Vụ án là đô thị phương Tây đầu  
thế kỷ XX với sự ngự trị của công sở, công  
quyền. K. một người đã nhiều năm làm việc ở  
thành phố, nhưng mãi đến khi vướng vào lao lý  
anh mới nhận ra điều ấy. Anh kinh hãi, hoang  
mang khi biết trên mỗi tòa nhà lụp xụp, cũ nát  
đều có văn phòng tòa án. Đâu đâu cũng có nhân  
viên đang làm nhiệm vụ pháp luật. Bao trùm vũ  
trụ một màu xám xịt, tối tăm. Chút ánh sáng nhỏ  
nhoi từ cửa sổ, từ ngọn nến, từ tượng thánh,…  
chẳng những không đủ đẩy lùi sắc ảm đạm ấy  
mà còn làm cho chúng trở nên mờ mịt hơn, như  
thể sự tràn đến của bóng tối là không gì cản nổi.  
Bóng tối bủa vây vũ trụ, bủa vây cuộc đời K..  
Nhưng đấy là không gian tâm tưởng – không  
gian hiện sinh của anh. Chỉ mình anh cảm thấy  
ngột ngạt trong văn phòng tòa án ở tầng áp mái  
và cũng chỉ anh không biết lối ra trong Thánh  
đường tối của Nhà Thờ Lớn.  
Không gian chính của Những ngã tư và  
những cột đèn là đô thị Hà Nội những năm đầu  
sau kháng chiến chống Pháp, dưới sự tiếp quản  
của chính quyền cách mạng. Hà Nội những năm  
ấy nhiều khó khăn. Không khí chính trị căng  
thẳng, nhạy cảm bởi quan niệm phân biệt thành  
phần xã hội. Dưỡng, nhân vật chính của tác  
phẩm, bị xếp vào thành phần bất hảo vì quá khứ  
đi lính Ngụy (Pháp). Anh luôn cảm thấy tự ti,  
day dứt bởi những ánh mắt dòm ngó, những lời  
xúc xiểm, mỉa mai của bà con và cán bộ phường.  
Không gian của Dưỡng chỉ nhộn nhịp, tươi vui  
vào ngày ăn mừng chiến thắng cách mạng, mà  
Dưỡng vẫn thích gọi đấy là ngày Tết. 364 ngày  
còn lại của năm đều là những buổi sáng “bát  
nháo”, buổi chiều “nhọ”, buổi đêm “bú dù”. Tất  
cả một màu mưa bụi trắng nhợt. Song hành với  
không gian nhật ký của Dưỡng là không gian 11  
năm sau của nhân vật nhà văn, cũng chỉ hai màu  
27  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
tím và xanh. Quá khứ tím nhật ký và bản sao  
nhật ký ở “bên này cửa sổ”. Hiện tại xanh tháng  
sáu vắng và phố thời chiến vắng lặng ở “bên kia  
cửa sổ tôi”. Quá khứ là Dưỡng với những lưu  
niệm phức tạp, những ngã tư “láo nháo”, những  
cột đèn đêm trắng nhợt mưa bụi. Hiện tại là tôi  
với phố vắng lặng chỉ một hướng rẽ vào đại lộ.  
Không gian quá khứ và hiện tại của hai con  
người ấy trong Những ngã tư và những cột đèn  
hợp làm một: không gian tâm tưởng cũng là  
không gian hiện sinh.  
K. phủ nhận phán quyết. Anh từ đầu đã công  
khai tuyên chiến với tòa án bằng cách tìm đến  
họ để biện minh (thực chất là chửi rủa), âm thầm  
tìm kiếm bằng cứ chứng minh mình vô tội, đồng  
thời để vạch trần sự tha hóa của tòa án. Nói cách  
khác, K. bằng tất cả sự bi phẫn, khinh bỉ, lòng  
tự tin đã luôn cho rằng có thể dùng tri thức, lý  
trí để tuyên chiến với cái phi lý, tha hóa. Nhưng  
đấy là cuộc chiến giữa cá nhân đơn lẻ với guồng  
máy thiết chế. Một cuộc chiến bất cân đối. Cách  
K. xử lý tình huống cho thấy biểu hiện xung đột  
giữa con người hiện đại vốn tự tin vào năng lực  
lý trí, khoa học với guồng máy xã hội toàn trị  
đang hiện hình bản chất phi lý.  
Những ngã tư và những cột đèn của Trần  
Dần cũng có cấu trúc tương tự. Tình huống mà  
Dưỡng – nhân vật chính – gặp phải gần giống  
tình huống K. đối mặt. Là một quân nhân từng  
phục vụ trong quân đội Pháp, sau kháng chiến  
thắng lợi, cuộc sống của Dưỡng ở Hà Nội gặp  
nhiều khó khăn: không có việc làm, bà con khu  
phố miệt thị, xa lánh. Một buổi tối, xảy ra vụ ám  
sát bộ đội tại vườn, đúng lúc anh đang âu yếm  
vợ trong nhà tắm. Mặc dù có chứng cứ ngoại  
phạm nhưng anh vẫn bị cho là tình nghi số 1,  
thậm chí bà con khu phố và cán bộ phường gần  
như coi anh là thủ phạm. Dưỡng cũng chọn cách  
xử lý tình huống gần như cách của K.: tự sắm  
vai thám tử phân tích các khả năng, điều tra  
chứng cứ nghi phạm, đồng thời sắm vai tòa án  
tuyên phạt chính mình.  
2.2. Cấu trúc giả trinh thám  
Liên quan đến không gian tâm tưởng là cấu  
trúc giả trinh thám. Cả hai tác phẩm đều được  
xây dựng theo thể tài giả trinh thám, đặt con  
người vào thế buộc phải đối diện với quyền lực  
thiết chế, với cái tôi cô đơn, từ đấy làm bật lên  
ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.  
Ở Vụ án, K. bất ngờ bị tòa án bắt mà không  
rõ tội danh. Sau một thời gian thuê luật sư giúp  
nhưng không đạt kết quả khả quan, anh quyết  
định tự điều tra, biện hộ, vạch mặt tòa án. Có ý  
kiến cho rằng nhà văn đã tô đậm tính chất phi lý  
đến mức ngay cả bản thân K. cũng thờ ơ, hờ  
hững với vụ án của chính mình. Thực tế, mặc dù  
nhà văn đã lược đi những màn độc thoại nội tâm,  
nhưng chúng ta vẫn nhận thấy những biểu hiện  
kịch điểm cảm xúc của nhân vật. Hơn một năm  
theo đuổi vụ án là quãng thời gian đày đọa với  
K. Ban đầu vì bất ngờ bị bắt một cách kỳ lạ như  
trò đùa nên anh không khỏi ngạc nhiên, bực dọc.  
Anh nghĩ đấy là sự hiểu lầm nên nóng lòng gặp  
cán bộ chức trách tòa án để làm sáng tỏ vấn đề.  
Nhưng khi biết rằng thiết chế tòa án đã tha hóa  
và rằng vụ việc không dễ dàng giải quyết, anh  
đã tự điều tra. Chính K. cũng không ngờ luồng  
suy nghĩ của anh lại luôn hướng về vấn đề ấy.  
Nó dường như nuốt trọn tâm trí, khiến anh  
không thể chuyên tâm vào công việc ở ngân  
hàng. Trong vụ án của mình, K. vừa đóng vai  
nạn nhân, vai tội phạm, vai thám tử, đồng thời  
là luật sư biện hộ. Quá trình tuyên án, điều tra,  
biện hộ là có thật nhưng không có vụ án cụ thể  
nào xảy ra, không phiên tòa nào được mở, không  
tội danh chính xác nào được làm rõ. Cho nên, K.  
không hẳn là tội phạm, không hẳn là nạn nhân,  
không phải là luật sư, cũng không là thám tử  
theo đúng nghĩa.  
3. Những trăn trở và bi kịch lựa chọn của  
con người hiện sinh  
3.1. Những trăn trở hiện sinh  
Không tìm được sự tương thích với môi  
trường bên ngoài, K. và Dưỡng thu mình vào  
không gian tâm tưởng tìm kiếm logic hợp lý, cắt  
nghĩa sự tồn tại của bản thân và thế giới.  
Câu chuyện của Vụ án và Những ngã tư và  
những cột đèn đều mang tính chất phi lý: sự  
trừng phạt được thực thi dù tội ác chưa được  
thực hiện. Sự trừng phạt dành cho K. và Dưỡng  
là thái độ dòm ngó, giễu cợt, chỉ trích của những  
người xung quanh; là những lo lắng, day dứt vò  
xé tâm tư khiến họ trở nên thất thường, dị biệt.  
K. và Dưỡng – những chàng trai đương tuổi  
xuân trẻ, mong sống một đời sống bình thường,  
được tự do làm công việc mình yêu thích, yêu  
28  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
người yêu theo cách mình muốn, không tham  
gia luận bàn chính trị, tôn giáo. Một đời sống  
được tự do lựa chọn. Nhưng rồi xã hội đẩy họ  
vào thế phải đối diện với hàng loạt câu hỏi bế  
tắc tại sao, như thế nào, bằng cách nào,... mà  
những điều không tưởng ấy lại ập xuống đời  
mình? K. biết mình vô tội nhưng lại đi tìm  
chứng cứ để biện hộ cho một thứ tội lỗi mà anh  
không nắm rõ. Rồi chính K., trong thời gian tự  
điều tra ấy luôn tỏ ra lo sợ thông tin vụ án truyền  
đến tai người xung quanh – trạng thái tâm lý chỉ  
xuất hiện ở tội phạm thực sự. Vụ án của K. giẫm  
chân tại chỗ nhiều tháng. Mỗi khi anh hiểu ra  
một vấn đề thì lại có nhiều điều khác anh chưa  
hiểu được. Để rồi, vụ án lúc nào cũng đang ở  
giai đoạn viết đơn nguyện đầu tiên. K. lạc lõng,  
cô độc, bức bối, tự hỏi: “Sau này rồi sẽ ra sao?  
Những ngày như thế nào sẽ chờ đợi anh”  
(Kafka, 1925: 161). Vụ án của Dưỡng cũng bị  
treo lơ lửng vô thời hạn: “Vụ phát súng vậy là  
treo, lơ lửng không thời hạn. Nhưng thành kiến  
của khu phố với tôi ngày càng nặng nề” (Trần  
Dần, 2011: 69). Dưỡng cô đơn, sầu muộn như  
điên dại. Anh gọi quãng thời gian hiện sinh đấy  
“là những ngày chua loét và những chủ nhật  
mắm thối, những tuần lễ khắm và những buổi  
sáng đi-cũng-dở-ở-cũng-không-xong” (Trần  
Dần, 2011: 69). Dù không bị kết tội chính thức  
nhưng Dưỡng đã sống và nghĩ như kẻ phạm tội.  
Anh không ám sát bộ đội nhưng sẽ tự trừng phạt  
bản thân – như người ta muốn. Anh cần một  
logic đúng: có tội, có phạt. Vậy nên, anh tự thú:  
“Tôi là thằng tàu bò, có tội là thằng tàu bò”  
(Trần Dần, 2011: 109); tự phỉ báng nhân cách:  
“tôi xấu xí quá. Tôi chơi ảnh truồng, tôi ngốn  
trinh thám, tôi chụp ảnh nghệ thuật em Cốm, là  
nghệ thuật dằn di. Tôi bất mãn với khu phố, tôi  
đi câu nhái, để chiều tính lêu lổng, sợ đi làm, bó  
buộc (Trần Dần, 2011: 147).  
chìm trong nỗi sợ hãi vô hình, không một ai tự  
tin và kiêu hãnh như anh. Tương tự, Những ngã  
tư và những cột đèn cho ta thấy rõ quyền lực của  
một thiết chế xã hội ở thời điểm mà con người  
chỉ lỡ lời là có thể bị kết án. Bỏ qua yếu tố chính  
trị, việc Dưỡng bị những người trong phường xa  
lánh, miệt thị, mỉa mai cũng mang ít nhiều dấu  
ấn thói quen cộng đồng Việt, vốn có từ trong  
máu nỗi sợ định kiến luân lý, sợ khác biệt nên  
không ai dám tách khỏi thành lũy cộng đồng để  
sống và làm điều mình yêu thích, để biết khích  
lệ và ngưỡng vọng cái mới mẻ, cá biệt.  
Tuy vụ án của K. và Dưỡng có nhiều điểm  
khác nhau, cơ bản một bên là câu chuyện về cái  
phi lý có tính bản chất vĩnh cửu của tội trạng  
(kiểu Eva và Adam) và bộ máy quyền lực (mang  
tính biểu trưng); một bên là cái phi lý của thành  
kiến mang tính nhất thời của bối cảnh, nhưng cả  
hai tác phẩm đều bộc lộ rõ nét cảm thức hiện  
sinh, theo nghĩa hiện sinh là tâm thế sống cho  
hiện tại, là sự trăn trở về đời sống, thân phận  
người. Cả Vụ án và Những ngã tư và những cột  
đèn đều đặt ra vấn đề tồn tại người trong xã hội  
chuyên chế (có sự chuyển giao quyền lực). Khu  
văn phòng tòa án trên các tầng áp mái, văn  
phòng luật sư, giáo đường (thuộc về tòa án) là  
những không gian tập thể. Chúng có xu hướng  
bóp nghẹt, xóa nhòa cá thể đơn lẻ. Ở đấy, K.  
cảm thấy ngột ngạt, chao đảo mặt mày như có  
ngàn con sóng xô tới. Ngược lại, anh cảm thấy  
tâm hồn thênh thang mỗi khi được bước trên  
đường lớn, hít thở bầu không khí thoáng mát và  
cũng chỉ mong mỏi được dồn tâm sức hoàn  
thành tốt công việc quản lý ở ngân hàng. Một  
con người làm việc tích cực, yêu đương chân  
thành (với Elsa) làm sao lại có tội? K. vô tội.  
Anh khẳng định điều ấy là hiển nhiên và cật vấn  
linh mục: “Đó là một sự nhầm lẫn. Vả lại, làm  
sao một con người lại có tội được chứ? Ở đây  
chúng ta đều là con người cả, ai cũng như ai?”  
(Kafka, 1925: 246). Giờ phút cuối cùng của  
cuộc đời, anh mới hiểu: tội của anh là “cứ luôn  
muốn xông vào đời với hai mươi bàn tay, hơn  
nữa không phải vì một mục đích đáng khen  
ngợi”, tức là khác với cung cách của những  
người xung quanh (Kafka, 1925: 263). Dù thế,  
K. vẫn không thỏa hiệp: “Chẳng lẽ sau khi mình  
giã từ thế gian người ta lại có quyền nói rằng  
Bối cảnh truyện ở cả hai tác phẩm đều gợi  
lên vai trò của thiết chế quyền lực trong cuộc  
sinh tồn cá nhân. Trong Vụ án, tòa án đại diện  
cho bộ máy thực thi pháp luật, nhưng cũng có ý  
nghĩa là bức tường thành định kiến xã hội. Nó  
khiến con người sợ hãi, chấp nhận sống trong  
khuôn khổ chật hẹp, không trăn trở với cá tính,  
không có nhu cầu vượt thoát rào cản. Chúng ta  
hiểu vì sao các nhân vật mà K. quen biết đều  
29  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
khi vụ án bắt đầu mình muốn kết thúc nó, còn  
bây giờ nó kết thúc, mình muốn nó bắt đầu trở  
lại? Mình không muốn người ta nói thế” (Kafka,  
1925: 264).  
để nó lại là hiện tại, để sống mãi với cảm giác  
những ngày nhiều đớn đau, sầu muộn. Nhưng  
rồi anh xé đi 2 tuần sau buổi chiều phát súng.  
Tập bản thảo bị thương. Nỗi đau quá lớn. Anh  
muốn xóa đi mãi mãi những ngày nhọ, bởi: “Sự  
vĩnh cửu giống như vũng nước tù, càng vĩnh cửu  
càng hôi thối, càng lắm kí sinh trùng” (Trần  
Dần, 2011: 111); “Đã 3 mùa trôi qua, mà hiện  
tại của tôi ngày một tệ hại… Người tôi rã rời…  
Đêm ngủ đầy ác mộng. Tôi xé nhật kí, viết rồi  
xé, chưa viết xong, cũng xé, mà hiện tại vẫn hủi”  
(Trần Dần, 2011: 111, 112). Dẫu thế thì cuộc  
đời vẫn cần níu giữ: “Tôi sẽ cứ là người đứng  
cuối cùng hạng ngôi thứ xã hội không vì con gà  
hơn nhau tiếng gáy, không vì hơn nhau một chút  
đau thương, Tôi biết Mày vẫn rất muốn còn  
trong đời, tất nhiên Tôi cũng muốn còn lại trong  
đời, không dưng Tôi tự xóa Tôi làm gì, vì đời dù  
sao vẫn đẹp…” (Trần Dần, 2011: 70).  
3.2. Con người hiện sinh và bi kịch lựa chọn  
Hệ quả của những trăn trở hiện sinh là bi kịch  
lựa chọn. Nếu Vụ án là câu chuyện phi lý bởi  
tính chất mù mịt, mơ hồ, có cuối không có đầu,  
thì Những ngã tư và những cột đèn được trần  
thuật rõ ràng: có đầu, có cuối. Với Vụ án người  
đọc không biết quá khứ của K. như thế nào, giao  
du với những ai, chỉ biết hiện tại anh là nhân  
viên giỏi ở một ngân hàng. K. không biết mình  
phạm tội gì. Còn Dưỡng, người đọc biết rõ về  
quá khứ và tính cách của anh. Nỗi hàm oan của  
anh có tên gọi, diễn biến cụ thể. Dưỡng đi tìm  
kẻ phạm tội thực sự để gỡ mối oan. Tuy biết  
mình không phải là kẻ bắn bộ đội, nhưng thái độ  
kỳ thị, mỉa mai của bà con khu phố cũng đã là  
một sự trừng phạt. Không chấp nhận cái phi lý:  
có phạt mà không có tội, Dưỡng lục lọi trong sọ,  
tìm ra một tội danh: tội là thằng tàu bò (từng đi  
lính ngụy) và tự trừng phạt bản thân bằng những  
day dứt, dằn vặt, xỉ vả nhân cách. K. thì khác.  
K. đi tìm kẻ kết tội mình và tìm tội danh bị quy  
kết, nhưng bất thành. K. từ chối những lựa chọn  
nhằm trì hoãn, kéo dài vụ án (do luật sư Huld và  
họa sĩ Titorelli gợi ý). Anh nôn nóng giải quyết  
sòng phẳng, triệt để mọi vấn đề nên chọn cách  
đấu tranh không nhân nhượng. K. bị xử tử không  
phải vì phạm tội mà vì trước sau không thừa  
nhận (và cũng không biết) tội danh, cũng đồng  
nghĩa không thừa nhận, không thỏa hiệp với  
Còn Dưỡng, trong kiếp nạn tù tội, anh sinh  
ra nỗi ám ảnh về thời gian, day dứt về con người,  
về số kiếp bản thân. Anh băn khoăn có lẽ nào  
con người sống với thú vui của mình là có tội:  
“…ừ thì Thằng, ừ thì Tôi, ừ thì Mày, phải đâu vì  
mê mải thú vui quả đất mà thằng nào cũng là  
Mày, thằng nhọ tàu bò, thằng dằn di, dâm ô đồi  
trụy lạc, chỉ đớp hít, giở trò cao bồi ngụy quân  
mất dạy gì gì nữa cũng là Mày, Mày còn là  
thằng-vài-nghìn-thằng chứ gì, Tôi biết cả rồi, ừ  
thì cứ cho là thằng-vài-nghìn-thằng, bây giờ  
còn thiếu một thằng-phát-súng nữa, nhưng đừng  
tàn đời,… Mày là thằng người dẫu có là thằng-  
vài-nghìn-thằng thì Mày vẫn là thằng người…”  
(Trần Dần, 2011: 69); nhưng rồi lại cảm thấy bế  
tắc, tù đọng: “Chiều nay là một buổi chiều cuối  
hạ, vậy mà tôi cảm giác lúc này, là ngày không  
mùa, là lúc không giờ, là giờ ngoài đồng hồ, là  
ngày ngoài quyển lịch” (Trần Dần, 2011: 104).  
Anh thấy mình như viên gạo vỡ bị kẹt lại trong  
rá: “Như mẻ gạo đổ vào nồi, đổ khéo vẫn sót lại,  
trong rá, vài hạt. Thường là hạt vỡ bị kẹt lại.  
Liệu tôi có bị tai nạn éo le, như hạt gạo vỡ, tôi  
chờ kết luận”; không ngừng băn khoăn, tiếc nuối  
cuộc sống: “Nhưng nếu không có tôi, đời vẫn  
không sao, các nồi cơm vẫn chín và thơm phức,  
nội ngoại thành vẫn làm lụng, đi lại và ăn uống  
vui vẻ. Nếu không có tôi, thì buồn lắm, tôi sẽ kẹt  
lại trong trại giam nào, buồn như hạt gạo vỡ…”  
(Trần Dần, 2011: 107).  
Những ngày tự trừng phạt ấy là quãng thời  
gian khủng khiếp với Dưỡng. Anh phải tự soi  
vào sâu thẳm cái tôi lấy ra những sở thích trước  
đây để đay nghiến, xỉ vả. Hành động ghi lại nhật  
ký cho thấy Dưỡng đau khổ, cô đơn tột cùng.  
Anh muốn ghi lại những ngày tự trừng phạt ấy,  
nghĩa là muốn bộc lộ thái độ tích cực với hiện  
tại, vĩnh cửu hóa nó: “Đúng là tôi viết nhật kí,  
để đưa hiện tại của tôi ra khỏi thời gian, để ngày  
hôm nay được tồn tại, vĩnh viễn” (Trần Dần,  
2011: 111). Vì sao Dưỡng muốn lưu lại vĩnh cửu  
cái hiện tại ê chề, “bú dù” ấy? Phải chăng vì tận  
cùng đau đớn cũng là khoái cảm. Một lúc nào  
đấy như anh nói, anh đều có thể lật xem nhật ký  
30  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
quyền lực thiết chế. Sự phi lý được đẩy lên kịch  
cùng. Còn gì phi lý hơn là việc một tội nhân  
chưa kịp nhận thức tội danh đã bị xử tử chỉ vì  
nôn nóng muốn làm sáng tỏ vụ việc! K. chọn cái  
chết “Như một con chó!”. Có một số ý kiến cho  
rằng K. là biểu tượng bảo thủ. Theo tôi, việc anh  
lựa chọn để tòa án xử tử mình một cách thầm  
lặng trong đêm tối cũng là cách biểu thị sự  
kháng cự của nhân vật với quyền lực toàn trị.  
Bởi anh biết “nỗi nhục sẽ sống lâu hơn anh”, để  
đời thêm nhức nhối.  
Khác với K., Dưỡng tìm được lối ra. Vụ án  
được giải quyết, xét trong mối liên hệ với  
Dưỡng. Anh hòa vào cộng đồng trong công cuộc  
xây dựng xã hội mới và chống Mỹ. Nhưng  
Dưỡng của mười 11 năm sau đã trở thành một  
người khác, cũng có nghĩa anh đã đánh đổi bản  
sắc cá nhân lấy một đời sống thông thường: “Tôi  
định nhân dịp này, kể với anh câu định nghĩa  
bất hủ về thời gian, của người Hi Lạp, nhưng lại  
thôi. Bởi vì trước mặt tôi lúc ấy, là một anh  
Dưỡng đã từ giã thú vui uống cà phê buổi sáng,  
và xa lạ với những day dứt của nhật kí” (Trần  
Dần, 2011: 75).  
K. và Dưỡng đều là ở độ tuổi xuân trẻ, có học  
thức, cùng gặp một tình huống éo le: bị kết tội  
không do bản thân gây ra, nỗ lực dùng tri thức  
để biện hộ, truy tìm vấn đề. Trong quá trình đó,  
họ cô đơn, bị mắc kẹt ở thực tại. K. tìm cách  
chống cự đến cùng mà vẫn không tìm được lối  
ra. Kết quả là anh bị xóa tên khỏi bản đồ sống  
của nhân loại. Dưỡng chống cự (ngầm) và tìm  
được lối thoát, nhưng lại mất mát nhiều thứ  
khác. Bước ra khỏi tấn bi kịch, Dưỡng chấp  
nhận hòa nhập cộng đồng, tham gia guồng quay  
thời đại, trở thành một biểu tượng trong một  
rừng biểu tượng, không còn day dứt về biểu đồ  
thời gian, thậm chí xa lạ với nhật ký của chính  
mình. Nhân vật xưng tôi – nhà văn biên lại câu  
chuyện đời Dưỡng – cũng là một người trí thức  
có cùng mối đồng cảm với Dưỡng về dòng thời  
gian, về lẽ tồn tại của đời người, về những ngã  
tư, những lựa chọn,… Dưỡng đã chọn một ngã:  
ngã rẽ vào đại lộ. Còn tôi? Nhân vật nhà văn  
nhận ra đường của mình không có ngã tư, chỉ là  
ngõ cụt với một hướng về đại lộ. Phố vắng lặng.  
Buồn trống rỗng dâng ngập hồn. Hóa ra đời  
nhiều ngã tư và đời không ngã tư đều bi kịch  
như nhau.  
4. Kết luận  
Dịch giả Phùng Văn Tửu trong lời giới thiệu  
Vụ án năm 1989 thừa nhận ở những lần đọc đầu  
tiên ông không đọc với tâm thế K. là cái bóng  
của Kafka như nhiều người nhận định, nhưng  
rồi ông cũng nhìn thấy bóng dáng của nhà văn.  
Phải chăng đấy là tòa án lương tâm của chính  
Kafka trong những biến cố cuộc đời vì mong  
muốn rời bỏ ràng buộc hôn nhân, tôn giáo, đảng  
phái, thậm chí cả nguồn gốc xuất thân để được  
tự do sống và làm việc mình yêu thích: viết văn?  
Người đọc Việt Nam cũng có thể nhìn thấy bóng  
dáng cuộc đời Trần Dần qua những trang nhật  
ký của Dưỡng và nỗi buồn sinh kiếp của nhân  
vật tôi – nhà văn – về thời gian hiện tại, về  
những ngã tư, về đại lộ. Thực ra, ngã tư từ trước  
đó rất lâu đã là biểu tượng trong hầu hết tác  
phẩm của Trần Dần. Vấn đề không phải là con  
đường nào đúng đắn, con đường nào sai lầm, mà  
là sự lựa chọn. Đời ông nhiều ngã tư. Nhưng  
cũng như Dưỡng, ông “đâu có biết, ngã tư nào  
lưu manh, ngã tư nào đọa lạc, ngã tư nào gian  
dối” (Trần Dần, 2011: 304), để rồi đôi lần  
“lường một đằng, thực tế giằng một nẻo” (Trần  
Dần, 2011: 288). Dẫu vậy, đời người vẫn cần có  
những lựa chọn và quyền được lựa chọn. Nhà  
thơ Lê Đạt khi viết: “Các đấng cứu thế có một  
thiếu sót đáng trách là dẫn dắt đám đông đến  
thiên đường mà quên không hỏi ý kiến của họ”,  
hẳn đã thấu cảm trăn trở của bạn văn, Trần Dần.  
Cả hai tác phẩm đều thể hiện tinh thần bất tín  
đại tự sự (chân lý xã hội, niềm tin tôn giáo), cho  
thấy dấu hiệu vượt ngưỡng khung khổ tư duy  
thời đại. Mặc dù yếu tố tôn giáo không phải là  
điểm nổi bật trong tiểu thuyết của Trần Dần,  
nhưng người đọc có thể nhận thấy giọng điệu  
giễu cợt trong ngôn ngữ nhật ký của Dưỡng.  
Anh thường xuyên cảm thán “A di đà bụt!” và  
đùa cợt câu chuyện của mình bằng những lý lẽ  
“i như trong thánh kinh”. Trong Vụ án, nhà văn  
dành hẳn một chương để thuật cuộc đối thoại bất  
đắc dĩ của K. với linh mục Nhà Thờ Lớn. Đấy  
không còn là cuộc trò chuyện tôn giáo, mà là  
một phiên tòa thăm dò thái độ, tra xét và kết án.  
Mọi cách diễn giải câu chuyện dụ ngôn về nhân  
viên gác cổng Pháp Luật và lão nông dân (trong  
Thánh kinh) mà vị linh mục kể đều không thể  
31  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
thuyết phục K. thừa nhận bản chất cố hữu, toàn  
trị của thiết chế quyền lực. Anh phủ nhận ý kiến  
cho rằng nhân viên gác cổng Pháp Luật đã làm  
đúng. Linh mục nói: “không nhất thiết phải tin  
mọi điều hắn nói là xác thực, chỉ cần chấp nhận  
chúng là tất yếu”. K. mỉa mai: “Một kết luận  
đáng buồn. Nó biến sự dối trá thành phương  
châm xử thế của thế gian” (Trần Dần, 2011:  
257). Đây có thể coi là tinh thần bất tín đại tự sự  
– một trong nhiều dấu hiệu hậu hiện đại của hai  
tiểu thuyết này. Bất tín tôn giáo xuất phát từ  
niềm tin lấy con người làm trung tâm, nền tảng  
nhân văn. Vụ án của K., vụ án của Dưỡng không  
phải là vấn đề ban phạt của đấng toàn năng, mà  
là vấn đề ứng xử giữa những con người với  
nhau, giữa con người với thời đại của anh ta.  
Viết Vụ án, Kafka hẳn mang nỗi ám ảnh nguồn  
gốc Do Thái và đạo Do Thái – những thứ sinh  
thời ông nhiều lần phủ nhận ảnh hưởng. Sự ghẻ  
lạnh của cộng đồng, tội vô tội (guiltless guitl)  
mà K. mang phải chăng là tội tổ tông: tội được  
Chúa lựa chọn hứng chịu đau khổ bất công thay  
nhân loại, như đức tin của người Do Thái? Vẫn  
biết chúng ta có thể đọc Kafka theo nhiều cách,  
nhưng cách nào rồi cũng thấy thấp thoáng bóng  
dáng của chính ông.  
nắng đào cô đơn mưa tái nhợt đầu ô”, và rồi âm  
thầm “trữ đủ đau thương/Cho mãn hạn làm  
người” (Cổng tỉnh, 1960).  
Sáng tác từ những năm 1965-1966, tiểu  
thuyết Những ngã tư và những cột đèn của Trần  
Dần gặp gỡ tiểu thuyết Vụ án của Franz Kafka  
trên nhiều phương diện nghệ thuật, bộc lộ cảm  
thức hiện sinh sâu sắc. Việc so sánh hai cuốn  
tiểu thuyết cho ta hiểu thêm về Trần Dần – một  
tài năng lớn, một “văn cách” (chữ dùng của nhà  
văn Phạm Thị Hoài) đáng trọng của nền văn học  
hiện đại Việt Nam, nhưng phải chịu nhiều thăng  
trầm. Những điểm tương đồng giữa Vụ án và  
Những ngã tư và những cột đèn đã minh chứng:  
dù ở đâu, thời đại nào, người nghệ sĩ chân chính  
vẫn luôn là người trăn trở không phải về hướng  
xoay vần của thời cuộc, mà về cuộc sinh tồn và  
những ngã rẽ của đời người.  
Tài liệu tham khảo  
Trần Dần (2011). Những ngã tư và những cột đèn.  
Tp. HCM, Nxb Hội Nhà văn.  
Trần Dần (2008). Thơ. Tp. HCM, Nxb Đà Nẵng.  
Kayka, F. (1925). Der Prozess. Lê Chu Cầu (dịch)  
(2015). Hà Nội, Nxb Văn học.  
Phạm Thị Phương (2011). Cuộc vượt biên hệ hình  
nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa của  
Trần Dần trong tiểu thuyết Những ngã tư và  
những cột đèn. Kỷ yếu hội thảo quốc tế:  
Những lằn ranh văn học, Đại học Sư phạm  
Tp. HCM, tr. 950-987.  
Nguyễn Thành Thi (2011). Tiếng nói của “Cái tôi bị  
chấn thương” và tính khả dụng của yếu tố  
nhật ký, trinh thám trong tiểu thuyết. Kỷ yếu  
hội thảo quốc tế: Những lằn ranh văn học,  
Đại học Sư phạm Tp. HCM, tr. 227-249.  
Còn Trần Dần, với Những ngã tư và những  
cột đèn, bằng hình thức “nhật ký hóa tiểu  
thuyết”, ông đã nói “tiếng nói của cái tôi bị chấn  
thương” (Nguyễn Thành Thi, 2011), tiếng nói  
của người nghệ sĩ ham muốn sáng tạo tột bậc  
phải đi qua ngã tư đời lằng nhằng, chọn một ngã  
rẽ “kháng cự với mênh mông”, để rồi cô đơn  
đến xót xa: “cô trời xanh cô đơn trời tía/ Cô đơn  
32  
pdf 7 trang yennguyen 10761 Free
Bạn đang xem tài liệu ""Những ngã tư và những cột đèn" của Trần Dần và vụ án của Franz Kafka: Từ góc nhìn hiện sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_nga_tu_va_nhung_cot_den_cua_tran_dan_va_vu_an_cua_fran.pdf