Yếu tố văn hóa trong kịch bản văn học Lưu Quang Vũ

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
YẾU TỐ VĂN HÓA TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC LƯU QUANG VŨ  
Lê Thị Minh Hiền  
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế  
TÓM TẮT  
Văn hóa là một phạm trù rất rộng, biểu hiện của nó trong văn học cũng rất đa dạng, phong  
phú. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nêu lên những bình diện văn hóa cơ bản,  
một trong những yếu tố tạo nên thành công và sức sống lâu bền cho kịch bản văn học Lưu  
Quang Vũ, đó là: Hệ thống ngôi nhân xưng, tên gọi phong phú, dân dã; Sử dụng các thể  
loại văn học dân gian; Biểu hiện văn hóa qua các quan niệm nhân sinh và Những góc độ  
văn hóa dân tộc đa dạng khác.  
Từ khóa: kịch bản văn học, Lưu Quang Vũ, yếu tố, văn hóa.  
Văn hóa với văn học vốn đã có sự gắn kết sâu sắc và không thể chia tách. Văn học là sự  
tự ý thức văn hóa. Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối, ảnh  
hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa.  
Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc  
đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và  
một cộng đồng dân tộc. Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của  
một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà cả  
cộng đồng tôn trọng và tuân thủ.  
Mặt khác, nhà văn – chủ thể sáng tác phải là con đẻ của một cộng đồng, thuộc về một  
cộng đồng nhất định, dù muốn hay không cũng tiếp nhận những thành tố văn hóa của cộng đồng  
mình, những lối tư duy, những mô thức ứng xử, trong đó chứa đựng nội hàm văn hóa tâm lý  
riêng của thời đại và giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng, dân tộc. Vì vậy, nhà văn dù  
sáng tạo đề tài gì, viết ra hay nói ra vấn đề gì, thì cũng vẫn thể hiện cảm thức văn hóa và những  
kết cấu tâm lý văn hóa độc đáo của dân tộc mình.  
Văn hóa được thể hiện trong các tác phẩm văn học một cách đa dạng, phong phú như  
chính nó. Vậy nên, khi đi vào nghiên cứu các khía cạnh văn hóa trong một số kịch bản văn học  
của tác giả Lưu Quang Vũ, chúng tôi tập trung đi sâu vào những khía cạnh nổi trội, mang tính  
chất biểu trưng được thể hiện qua các tín hiệu thẩm mĩ, kết cấu bề mặt cũng như kết cấu bề sâu  
của các kịch bản văn học.  
13  
Yếu tố văn hoá trong kịch bản văn học Lưu Quang Vũ  
1. HỆ THỐNG NGÔI NHÂN XƯNG, TÊN GỌI PHONG PHÚ, DÂN DÃ  
Có thể nói, tác phẩm văn học nói chung và kịch bản văn học nói riêng là sản phẩm của  
nghệ thuật ngôn từ. Từ ngữ tham gia vào trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong tác phẩm  
văn học với nhiều đặc điểm về nguồn gốc, ngữ nghĩa, phong cách, chức năng mang đậm bản sắc  
văn hóa dân tộc phong phú và đa dạng. Cũng như các tác phẩm văn học khác, thế giới nhân vật  
trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ khá đa dạng, nhiều chủ đề như là một bức tranh xã  
hội thu nhỏ với đủ các đặc điểm về giới tính (nam, nữ), thành phần xuất thân (bộ đội, công  
nhân, trí thức,…), cương vị xã hội, thái độ, đạo đức, các quan hệ xã hội… với thời gian và  
không gian được miêu tả, trần thuật mang tính bao quát, rộng lớn.  
Xưng hô là một tập quán và là một biểu hiện mang tính đặc trưng của văn hóa ứng xử  
của một cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Qua cách xưng hô, người ta có thể nhận biết thái độ, tình  
cảm, quan hệ của những người trong cuộc đối thoại. Trong giao tiếp nói chung, giao tiếp bằng  
tiếng Việt nói riêng, người ta huy động một số lượng khá lớn các từ để xưng hô trong giao tiếp  
hằng ngày, điều này thể hiện nét đặc trưng văn hóa riêng của dân tộc ta. Khác với các ngôn ngữ  
khác trên thế giới, như tiếng Anh chỉ sử dụng I – You trong xưng hô giao tiếp, thì ngược lại, lối  
xưng hô của người Việt lại rất phức tạp, đa dạng và phong phú. Điều này có thể nhận thấy rõ  
trong hệ thống kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ, các nhân vật sử dụng lối xưng hô rất đa  
dạng. Chẳng hạn như trong Hồn Trương Ba da hàng thịt, để chỉ nhân vật Hồn Trương Ba trong  
các mối quan hệ khác nhau với các nhân vật trong kịch bản văn học này, ứng với các mối quan  
hệ có các cách xưng hô khác nhau. Có thể liệt kê ra như sau: Hồn Trương Ba với vợ: tôi – bà;  
với con trai: thầy – anh; với con dâu: thầy – con; với bé Gái: ông – cháu, với Đế Thích: tôi –  
ông; với vợ anh hàng thịt: tôi – chị; với bác Trưởng Hoạt: tôi – bác… Ngoài ra, trong nhiều kịch  
bản văn học của Lưu Quang Vũ, các nhân vật thường gắn với mỗi trách nhiệm và quyền lợi của  
mình trong mối quan hệ cá nhân và xã hội. Họ có tên gọi riêng và cũng là tên gọi của nhân vật,  
đó là: Anh công nhân, Bà trưởng phòng tài vụ, Trưởng phòng tổ chức lao động, Người khách  
hàng, Sĩ quan công an, Bộ trưởng… trong Tôi và chúng ta. Một số cách xưng hô khác như là  
Một người bán thuốc, Người hành khách, Một nhân viên phòng thuế,… trong Điều không thể  
mất. Có thể nói, khác với ngôn ngữ nhiều nước trên thế giới, ngôn ngữ Việt Nam rất đa dạng và  
phong phú trong hệ thống ngôi xưng và gọi đáp, điều này đã được Lưu Quang Vũ vận dụng tối  
đa trong kịch bản văn học của mình. Chính điều ấy cũng góp phần tạo nên sự gần gũi cho kịch  
bản của ông với người tiếp nhận, làm cho cuộc đối thoại giữa các nhân vật trong kịch trở nên  
gần gũi như cuộc sống hàng ngày.  
Bên cạnh hệ thống ngôi nhân xưng, trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ còn  
chứa đựng những tên gọi của các nhân vật mang đậm bản sắc văn hóa gọi tên của dân tộc. Các  
tên gọi ấy đa phần đều mang đặc trưng quê mùa, dân dã như: cụ Gồi trong Những ngày đang  
sống; ông Quých, bà Bộng trong Tôi và chúng ta; lão Chạp trong Đôi dòng sữa mẹ; bé Diêm  
trong Muối mặn đời em; cái Gái trong Hồn Trương Ba da hàng thịt; bé Nha trong Lời nói dối  
cuối cùng… đã hé mở cho người xem về một kiểu nhân vật, một loại tính cách của những người  
dân chỉ biết sống thẳng ngay, hồn hậu, trung thực và chứa chan tình người. Ngoài ra, tên nhân  
14  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
vật còn được gọi theo chức vụ, theo công việc hoặc theo thể trạng hay những đặc điểm, thậm  
chí là những khuyết tật của cơ thể như: Ông già gác nghĩa trang trong vở Tôi và chúng ta; Lý  
trưởng trong vở Hồn Trương Ba da hàng thịt; anh thanh niên bị lác mắt trong vở Nguồn sáng  
trong đời; anh gầy, chị béo, người chồng say rượu trong vở Hoa cúc xanh trên đầm lầy; anh Vĩ  
Nhân trong vở Quyền được hạnh phúc….  
Ngay cái tên đã nói lên hết nét tính cách hay đặc điểm của mỗi nhân vật đó. Ông Cau  
Có thì đúng là lúc nào cũng tỏ ra cau có với người khác. Khi các nhân viên của ủy ban đặc biệt  
tới kiểm tra ở nhà ga để bắt hai người máy bỏ trốn thì ông ta đã tỏ ra rất khó chịu “Sao lại phải  
kiểm tra? Lắm chuyện, chúng tôi có buôn lậu đâu” [3,265], “Thật không hiểu ra sao! Chỉ vẽ sự  
gây phiền hà. Kiểu này lại để kiếm chác đây mà” [3,266]. Ông ta còn bực mình nên quay sang  
dọa bà Sợ Sệt: “Cứ đòi đi thăm họ hàng nữa đi! Bây giờ xộc vào đây thì… Nó bóp cổ cho bà lè  
lưỡi ra” [3,267]. Còn bà Sợ Sệt thì lúc nào cũng tưởng tượng ra những điều luôn khiến mình bất  
an, lúc nào cũng hoảng sợ đúng như tên gọi của bà. Khi ở trong nhà ga, bà luôn lo lắng sợ mất  
cái ví: “Họ bảo ở ga là dễ mất cắp lắm… Tôi sờ sợ là… Đông người quá, mà trông là toàn  
người gian cả” [3,262]. Rồi khi nghe có hai người máy trốn thoát thì bà ta đã rất sợ hãi “Sợ thật!  
Nó có gây nguy hiểm không, có… có cướp bóc không”, “khiếp quá! Tôi không còn hồn vía  
nào” [3,267]. Chị Béo – cái tên làm người ta nghĩ ngay đến đặc điểm là ăn nhiều như anh Gầy  
đã nói “em là… cái máy ăn” [3,264]. Còn anh Gầy thì hình dáng như cái que. Đây là những  
nhân vật thuần nhất theo tên gọi và thể hiện rất rõ đặc trưng đặt tên của người Việt.  
2. SỬ DỤNG CÁC THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN (THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA  
DAO, DÂN CA)  
Một nét đặc sắc khác trong hệ thống kịch bản văn học của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ  
đó chính là việc sử dụng một hệ thống ngôn ngữ riêng, vừa tự nhiên, vừa gọn, và mang đậm dấu  
ấn văn hóa dân tộc. Điều đó được minh chứng bằng việc sử dụng những kinh nghiệm nhìn nhận,  
quan sát, đánh giá về con người cũng như các hiện tượng tự nhiên của người xưa thông qua các  
câu tục ngữ và ngữ cố định; đồng thời tăng chất thơ cho kịch bản văn học bằng các câu ca dao,  
dân ca.  
Khảo sát kịch bản văn học Lưu Quang Vũ, chúng tôi nhận thấy rằng trong hầu hết các  
vở kịch của ông đều sử dụng dù ít hay nhiều các câu tục ngữ, hay cụm ngữ cố định. Chẳng hạn  
như: “kết cỏ ngậm vành” [4,137], “phương phi quắc thước” trong Ông vua hóa hổ; “chó cụp tai,  
mèo trụi lông” [4,149], “bóp hầu bóp họng” [4,150], “vật đổi sao dời” [4,152], “nâng khăn sửa  
túi” [4,154], “trăm nghe không bằng một thấy” [4,157], “bầm gan tím ruột” [4,186], “lá ngọc  
cành vàng” [4,186], “đũa mốc mà chòi mâm son” [4,189], “thân gái dặm trường” [4,195] trong  
Ngọc Hân công chúa; “giao gì làm nấy” [4,230], “khôn ba năm dại một giờ” [4,230], “nhẹ dạ cả  
tin” [4,246], “cháy lây vạ thành” [4,296], “sự thật mất lòng” [4,308], “quan đần dân khổ”[4,309]  
trong Tôi và chúng ta, “bút sa gà chết” trong Điều không thể mất, “rụt rè như rắn mối” trong  
Bệnh sĩ…Tất cả đều có vai trò làm tăng sức lập luận, độ tin cậy cho lời nói của nhân vật trong  
15  
Yếu tố văn hoá trong kịch bản văn học Lưu Quang Vũ  
kịch bản. Bên cạnh đó, có thể thấy rất rõ rằng, Lưu Quang Vũ còn tăng chất thơ cho kịch bản  
văn học của mình bằng các câu thơ, mà chủ yếu là các bài ca dao, dân ca hay các bài thơ thuộc  
thể thơ lục bát – thể thơ đặc trưng của văn học dân gian Việt nam. Chẳng hạn các bài thơ trong  
Ngọc Hân công chúa đều thuộc thể lục bát: “Việc đời việc nước khó sao /Gặp nhau buổi ấy phải  
đâu chuyện tình / Hai ta hai ngả cách ngăn / Muốn yêu xã tắc nên anh lấy nàng / Mối duyên xa  
lạ ngỡ ngàng / Nước non gánh nặng chứa chan lệ sầu” [4,165]. Hay là đoạn đối đáp bằng lời ca,  
tiếng hát giữa Sâm và Mai đã cho thấy thêm một nét văn hóa đặc sắc trong văn hóa dân gian của  
người Việt nữa, đó là hát giao duyên. Sâm: “Hát nhé! (Hắng giọng, một điệu hò Bình Định)  
Thuốc ngon Bình Định / Giấy quyến Sa Huỳnh / Ai xa thì mặc họ, hai đứa mình nỏ xa!... Đến  
lượt Mai: (hát)- Sông Tô nước chảy quanh co / Cầu Đông sương sớm, quán Giò trăng khuya /  
Buồn tình vừa lúc phân chia / Tiếng ai như đã bên kia hẹn hò. Tiếng Sâm: (hát) – Anh mắc mối  
tơ, anh quơ mối chỉ / Thấy em thùy mị, anh thương hủy nhớ hoài / Anh ở Đàng Trong, em ở  
Đàng Ngoài” [4,172].  
3. NHỮNG GÓC ĐỘ VĂN HÓA DÂN TỘC ĐA DẠNG TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC  
LƯU QUANG VŨ  
Văn học là tấm gương phản ánh văn hóa của mỗi dân tộc, trong đó có văn hóa giao tiếp.  
Giao tiếp là một nhu cầu tất yếu của con người. Mỗi dân tộc đều có những đặc trưng riêng trong  
văn hóa giao tiếp. Với người Việt, các đặc trưng trong văn hóa giao tiếp bao gồm: vừa thích  
giao tiếp lại vừa rất rụt rè; trọng tình nghĩa; quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá bề ngoài; thể  
hiện tính cộng đồng cao; ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận.  
Có thể nói rằng, kịch bản văn học là thể loại văn học thể hiện rõ nhất những đặc trưng  
về văn hóa giao tiếp, bởi đây là thể loại khai thác tối đa việc đối thoại giữa các nhân vật. Kịch  
bản văn học của Lưu Quang Vũ cũng chứa đựng những đặc trưng ấy qua lời thoại của các nhân  
vật và kể cả trong phần chú thích, hướng dẫn của tác giả đối với nhân vật (diễn viên).  
- Ưa quan sát, đánh giá vẻ bề ngoài của người khác cũng là một trong những đặc điểm  
trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam. Trong vở Hồn Trương Ba da hàng thịt, khi nhân  
vật Đế Thích xuất hiện với “bộ quần áo nón mê”, bà Vợ Trương Ba đã nghĩ Đế Thích là một lão  
ăn mày: “- Vợ Trương Ba: Lại thần thánh gì nữa! Các ông đúng là cứ như sống trong mơ ấy!  
Thế cái lão ăn mày lúc nãy đâu rồi? / - Trưởng Hoạt: Bà ơi, nói năng cho cẩn thận, có biết ai  
đấy không? Không phải lão ăn mày, mà là… ấy chết! (Vội đưa tay tự bịt mồm) /- Trương Ba:  
Không nhìn hình vóc bên ngoài mà xét đoán người được! Từ nay, bà phải nhớ điều đó!” [4,22].  
- Tính cộng đồng là một trong những đặc trưng rõ nét trong văn hóa giao tiếp của người  
Việt Nam. Tính cộng đồng là hệ quả của nét văn hóa làng xã và nền văn minh nông nghiệp lúa  
nước lâu đời của Việt Nam. Đặc trưng đó được thể hiện rất rõ trong văn hóa giao tiếp của người  
Việt. Trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ, tính cộng đồng giao tiếp được thể hiện qua  
việc nhân vật kịch bản của ông được đặt vào trong môi trường sống nhất định, và nhân vật ấy  
16  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
cùng với lập trường của mình có tiếng nói bảo vệ cho tập thể mà mình thuộc về hay mình ủng  
hộ. Chẳng hạn như trong vở Ngọc Hân công chúa, việc phân biệt Đàng Trong với Đàng Ngoài  
được thể hiện qua lời thoại của các nhân vật. Chẳng hạn: “Một anh lính: Các cô ấy hát, chẳng lẽ  
mình cứ im? Sâm, cậu hát lý, hò khoan, bài chòi đều giỏi, cất giọng đi, cho các cô ấy biết mặt  
giai Bình Định, Phú Yên!” [4,172] Hay: “Các anh lính: Các cô gái Thăng Long thấy trai Đàng  
Trong chúng tôi hát có được không hè?/ Một cô gái: Được! Phả cái hơi rè rè, bởi hút nhiều  
thuốc rê Bình Định quá!” [4,172]. Không chỉ thể hiện tính cộng đồng về mặt không gian địa lí,  
kịch bản văn học Lưu Quang Vũ còn thể hiện tính cộng đồng trong văn hóa giao tiếp ở cả cách  
nghĩ và lối sống. Trong vở kịch Tôi và chúng ta, tiếng nói của các nhân vật cũng là tiếng nói của  
tập thể, dù đó là những con người thuộc phe bảo thủ, hay là những người đi theo cái mới.  
- Trong giao tiếp, người Việt Nam luôn thích sự tế nhị, trọng sự hòa thuận. Đây cũng là  
một trong những hệ quả của tính cộng đồng trong văn hóa Việt. Bởi vậy, người ta luôn phải  
“uốn lưỡi” trước khi nói, và ngay cả khi không vừa lòng hay có ý mỉa mai, người ta vẫn dùng  
cách nói ý nhị nhưng lại đạt hiệu quả cao. Trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ, sự ý nhị  
cũng được thể hiện thông qua đối thoại giữa các nhân vật kịch. Trong kịch bản văn học của  
mình, Lưu Quang Vũ lựa chọn sự hài hước, dí dỏm để dẫn dắt, xây dựng và phát triển tình  
huống kịch.  
Sự hài hước, dí dỏm không chỉ giúp phản ánh vấn đề, hiện tượng được nói tới mà còn  
toát lên sự thông minh, nét duyên dáng và đáng yêu của nhân vật. Nhân vật ông Quých trong  
Tôi và chúng ta được khắc họa sống động bằng ngôn ngữ dí dỏm, vì thế mà để lại ấn tượng sâu  
đậm trong lòng người đọc. Qua chi tiết ông Quých nói với nhân vật Bộ trưởng, ta thấy rõ được  
điều đó: “Ông Quých: Dạ thưa bác đến thế nào được. Vẫn biết các bác là đầy tớ của nhân dân,  
nhưng đến nhà các ông đầy tớ… khó lắm. / Bộ trưởng: Sao lại khó? Không phải khẩu hiệu  
suông đâu mà là sự thật: Các bác là chủ xí nghiệp này, chủ đất nước này, các bác phải phát huy  
thật tốt quyền làm chủ của mình, còn nếu như ông bộ trưởng nào vi phạm quyền làm chủ thiêng  
liêng ấy của người lao động, dứt khoát phải bị cách chức. Tôi xin đảm bảo với bác điều đó. /  
Ông Quých: Vâng, vậy thì tôi xin nói ạ. Thưa bác, “quan đần dân khổ” mà nếu quan không đần  
thì quan lại khổ” [4,309].  
Đoạn đối thoại trên chứng tỏ cho sự thẳng thắn của nhân vật Ông Quých, nhưng mặt  
khác lại cho thấy sự tinh tế, khôn khéo và ý nhị của người công nhân này. Vấn đề là qua đây, ý  
nghĩa diễn ngôn được chuyển tải đến người đọc, người xem một cách nhẹ nhàng mà thâm thúy.  
Trong Lời thề thứ chín, sự dí dỏm, hài hước cũng được Lưu Quang Vũ tạo dựng thành công  
thông qua đối thoại giữa các nhân vật. Đặc biệt là trong đoạn đối thoại giữa bốn người lính trẻ  
khi buộc tên Tuần khai những tội ác của mình vào giấy “ Đôn: Viết đi! Biết chữ quốc ngữ chứ?  
“Tôi Quách Văn Tuần thú nhận rằng mình có những tội lỗi sau đây: Tôi là một tên cường hào ác  
bá mới làm hoen ố bức tranh nông thôn đáng lẽ tươi đẹp vô cùng…”… “lợi dụng sự sơ hở của  
Đảng và nhân dân, tôi đã chiếm lấy quyền chức để hoành hành phá hoại, đàn áp đất nước và ăn  
hốc cho căng cái bụng thối của tôi ra… [5,273].  
17  
Yếu tố văn hoá trong kịch bản văn học Lưu Quang Vũ  
Có thể khẳng định ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật mang đậm dấu ấn văn hóa giao  
tiếp của người Việt Nam, là một trong những yếu tố làm nên thành công trong việc khắc họa  
nhân vật kịch của Lưu Quang Vũ, làm nên phong cách và sức sống của kịch Lưu Quang Vũ.  
- Ẩm thực cũng là một trong những nét văn hóa đặc sắc của người Việt. Trong kịch bản  
văn học của Lưu Quang Vũ, ẩm thực chỉ xuất hiện như một nét điểm xuyết trong một số kịch  
bản của ông, nhưng lại mang nặng dấu ấn văn hóa truyền thống của người Việt. Ẩm thực đã  
vượt khỏi tầm vật chất mà trở thành yếu tố văn hóa, một mảng văn hóa đậm đà, duyên dáng và  
cốt cách. Không đề cập sâu về ẩm thực như Thạch Lam, Vũ Bằng hay Nguyễn Tuân…, trong  
một số vở kịch của mình, Lưu Quang Vũ đã lồng ghép vào lời thoại của nhân vật kịch những  
món ăn mang đặc trưng văn hóa ẩm thực của từng vùng quê miền kinh Bắc nói riêng và văn hóa  
ẩm thực Việt Nam nói chung. Chẳng hạn như trong vở Ngọc Hân công chúa, xuất hiện các hình  
ảnh: “chén rượu, bát cơm – miếng trầu, cốc nước” hay “bánh đúc chấm tương” [4,161], “nước  
chè nụ ướp hoa sen Hồ Tây” [4,177], “rượu hoa cúc Kinh Bắc” [4,195]; đó còn là hình ảnh của  
những “xôi chè, bánh trôi” [4,229] trong Tôi và chúng ta; bún ốc, nước vối trong Hồn Trương  
Ba da hàng thịt. …  
- Một đặc điểm nữa thuộc về văn hóa dân tộc được Lưu Quang Vũ xây dựng trong kịch  
bản văn học của mình, đó chính là nền văn minh nông nghiệp lúa nước lâu đời. Điều đó thể hiện  
trước hết ở không gian bối cảnh nơi xảy ra các tình huống kịch. Đa phần đó đều là không gian  
làng quê Việt, dù là đề tài lịch sử, hiện tại hay ở những vở kịch có xu hướng dự báo tương lai,  
thì kịch bản Lưu Quang Vũ đều xây dựng những không gian gắn bó với làng quê Việt. Đó là  
những không gian không chỉ mang tầm vóc là nền tảng của hiện thực, mà đó còn là những  
không gian mang tính văn hóa, biểu trưng. Trong vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt,nhân vật  
Trương Ba là hiện thân của một người nông dân hiền hậu, chất phác. Không gian mà nhân vật  
sinh sống, thể hiện những phẩm chất đáng quý trọng của mình và cũng là không gian xảy ra  
xung đột xung quanh mối quan hệ giữa hồn và xác trong vở kịch cũng gắn liền với hoàn cảnh  
làng quê Việt Nam thời trước. Đó là ngôi nhà với vườn cây, ao cá, là xóm làng và trên hết đó là  
không gian của lòng người, của tình người chất phác, đôn hậu.  
Trong vở Điều không thể mất, hình ảnh con sông, bãi dâu nơi chị Nhâm trở về sau khi  
chiến tranh kết thúc cùng với niềm tin sẽ đoàn tụ với Minh như lời hẹn ước: “Dù mọi sự đổi  
thay, dù bất cứ giá nào, sẽ tìm gặp lại Nhâm mai này… sẽ có nhau mãi mãi. Nếu lạc tin nhau thì  
ngày hòa bình, cứ chờ Minh ở quê Nhâm, Minh sẽ tìm đến” [4,335]. Hình ảnh nền văn minh  
nông nghiệp còn được thể hiện ở những cánh đồng hoa cúc bạt ngàn trong vở Ngọc Hân công  
chúa; những bãi cỏ xanh mướt trong vở Ông vua hóa hổ mà ba người Thảo, Minh Không và Từ  
Đạo Hạnh gắn bó hay những con sông, những ruộng lúa trong vở hài kịch Bệnh sĩ.  
Một góc độ văn hóa không thể không kể đến hay nói một cách khác, đóng một vai trò  
quan trọng trong việc thể hiện văn hóa người Việt với hàng ngàn năm dựng nước, đó chính là  
truyền thống yêu nước. Trong hầu hết các vở kịch của Lưu Quang Vũ, dù ít hay nhiều, dù trực  
tiếp hay gián tiếp đều truyền tải thông điệp về truyền thống yêu nước của dân tộc ta. Dù viết về  
18  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
đề tài lịch sử hay đương đại, thì kịch bản văn học Lưu Quang Vũ đều phản ánh rõ rệt tinh thần  
yêu nước bao gồm giữ nước, xây dựng và phát triển đất nước. Kịch bản Lưu Quang Vũ xuất  
phát từ hiện thực rất đặc biệt của Việt Nam, nhưng ông luôn tìm thấy trong đó sự bao quát tư  
tưởng, sự tiếp cận với các vấn đề của hiện thực vừa có ý nghĩa thời sự, vừa có giá trị lâu dài.  
Trong kịch của ông có mối liên hệ giữa tính thời sự và tính lịch sử, đồng thời cũng thẩm thấu  
những ý tưởng khái quát cuộc đời và con người nói chung – một trong số đó chính là truyền  
thống yêu nước.  
4. BIỂU HIỆN VĂN HÓA QUA CÁC QUAN NIỆM NHÂN SINH  
Kịch bản văn học Lưu Quang Vũ có sức sống rất bền lâu bởi nó luôn hàm chứa tính xã  
hội nhân sinh sâu sắc, chất chứa những giá trị nhân văn, khẳng định niềm tin vào cuộc sống,  
chia sẻ những tình cảm yêu thương chân thành, tình yêu quê hương đất nước cũng như đánh  
thức tâm hồn con người về sự vị tha và bao dung trong cuộc sống. Có thể gói gọn những quan  
niệm nhân sinh trong kịch bản Lưu Quang Vũ trên hai phương diện cơ bản: 1/ mối quan hệ giữa  
hồn và xác và 2/ mối quan hệ giữa đạo và đời.  
- Quan niệm về mối quan hệ giữa hồn và xác:  
GS. Phan Ngọc từng nhận xét về cái biệt tài, tinh tế trong sáng tác kịch bản văn học của  
Lưu Quang Vũ, đó là biết “nêu lên cái muôn đời trong cái bình thường, biến cổ tích, huyền thoại  
thành chuyện thời sự, dùng cái hư để nói cái thực, dùng cái thô lỗ để khẳng định cái cao quý”  
[2,46]. Hồn Trương Ba da hàng thịt với tuyên ngôn bất hủ “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”  
[4,69] chính là câu chuyện triết học như thế. Nó mang nhiều chiều kích triết học như nhân sinh -  
xã hội, bản thể - siêu hình. Lưu Quang Vũ đặt ra vấn đề muôn đời của tồn tại bằng thái độ khách  
quan. Một mặt không thể phủ nhận sự phụ thuộc trong mối quan hệ của xác thịt tầm thường với  
tâm hồn cao khiết. Mặt khác, ông không quên khẳng định giá trị cao quý nhất của con người  
nằm ở cái bên trong, cái sâu thẳm của tâm hồn. Hồn Trương Ba da hàng thịt đủ lớn để trở thành  
một “danh thiếp” văn hóa (hai lần đi lưu diễn và tham gia các liên hoan sân khấu quốc tế lại  
Liên Xô và Mỹ) nhưng cũng đủ gắn bó, thân thuộc, nằm lòng trong trái tim của nhiều độc giả  
cho đến hôm nay. Đỉnh cao của tư tưởng triết lí trong vở kịch là đối thoại giữa linh hồn và thể  
xác. Thể xác cũng có tính độc lập tương đối, có tiếng nói riêng, có nhu cầu tự nhiên hợp lí,  
không thể bỏ qua. Nhưng, linh hồn phải kiểm soát những nhu cầu đó, phải điều chỉnh, thăng hoa  
“Người” hóa, văn hóa hóa những nhu cầu ấy. Con người nói chung phải biết kiềm hãm, tiết chế  
những nhu cầu bản năng và nếu cần, phải biết đè nén, biết hi sinh nó. Cuộc đấu tranh giữa linh  
hồn và thể xác thực sự là một cuộc đấu tranh trong bản thân con người để làm chủ những nhu  
cầu và ham muốn, nhất là khi bị hoàn cảnh tác động. Ở đây, cuộc đấu tranh này cũng cảnh báo  
khả năng lấn át của thể xác – tức là của những nhu cầu tầm thường – đối với linh hồn – tức là  
đối với khát vọng sống cao khiết. Từ sự lí giải lại một cách biện chứng về sự quan hệ giữa thể  
xác và linh hồn, triết lí nhân sinh của thời đại, Lưu Quang Vũ đã đi đến một quan niệm sống  
đẹp: Sống chân thật, mình phải là chính mình, cả linh hồn và thể xác, sống vì mọi người, vì  
19  
Yếu tố văn hoá trong kịch bản văn học Lưu Quang Vũ  
hạnh phúc và sự tốt đẹp của con người. Bi kịch xung đột giữa linh hồn và thể xác được giải  
quyết theo cái cách đã tạo ra bi kịch. Đến đây, cái “chết hẳn” của Trương Ba lại thể hiện một  
chiến thắng thuyết phục của “tồn tại – người”, của nhân cách, của khát vọng hoàn thiện nhân  
cách của con người. Từ triết lí đơn giản trong truyện cổ dân gian về vai trò quan trọng thứ nhất  
của linh hồn, Lưu Quang Vũ đã sáng tạo nên một vở kịch có sức lôi cuốn mạnh mẽ, gửi tới  
người đọc một thông điệp sâu sắc về triết lí sống: thể xác và linh hồn có mối quan hệ hữu cơ với  
nhau; con người không thể chỉ sống bằng thể xác, mà phải luôn đấu tranh với bản thân để có sự  
thống nhất hài hòa giữa thể xác và linh hồn, hướng tới một lối sống cao thượng, vươn tới một  
nhân cách hoàn thiện.  
- Quan niệm về mối quan hệ giữa đạo và đời:  
Trong kịch Lưu Quang Vũ, Phật giáo vẫn là tôn giáo được đề cập đến nhiều nhất. Quan  
niệm “đời là bể khổ” được Lưu Quang Vũ phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa đời và đạo trong  
văn hóa Việt Nam.  
Trong vở kịch lịch sử Ông vua hóa hổ, qua cuộc đời và số phận của các nhân vật chính  
mà cụ thể hơn là cuộc đời của nhân vật Minh Không, với những cách ứng xử, với những câu nói  
của họ, người đọc có thể hiểu được những điều đơn giản, thông thường như đạo Phật là gì, và cả  
những điều cao xa như hai chữ tùy duyên, như mối quan hệ giữa từ bi và sát sinh trong ý nghĩ  
thường trực của Phật tử. Nhưng trên hết, bộc lộ rõ nhất và có ý nghĩa nhất trên hết là mối quan  
hệ giữa “đạo” – mà cụ thể là đạo Phật với “đời”- cuộc sống xung quanh. Thông qua cuộc đối  
thoại giữa nhân vật Thảo và Minh Không, Lưu Quang Vũ đã cho thấy mối quan hệ hữu cơ,  
thống nhất và không thể tách rời giữa “đạo” và “đời”: “Làm người một mình ư? Để cho ai? Để  
làm gì? Và có thực mãi mãi lánh xa tất cả được không? Có làm người thực sự được không, nếu  
dửng dưng với mọi niềm đau khổ?” [4,134]. Cuộc hội ngộ giữa hai nhân vật Thảo và Minh  
Không chính là cuộc giằng co giữa “đạo” và “đời” trong Minh Không. Minh Không, con người  
vốn tự cho rằng mình với thế sự ngoài khu rừng mình đang tu hành là “không còn gì chung nữa”  
[4,133], bởi chàng “Ghê sợ bể khổ, bể dữ của kiếp người, ta đi tìm sự bình an tâm trí” [4,133]  
nhưng khi xã tắc gặp loạn thì việc ra tay giúp đời đã thắng suy nghĩ tự mình được “thực làm  
người”. Minh Không quyết định “Ra khỏi rừng này… tới nơi ta cần đến… Có lẽ cũng giống  
như Ất, mười hai năm ta lánh ẩn góc rừng sâu, vẫn không dứt được mọi lo toan trần thế… Cõi  
đời lại gọi ta. Lần này thì không thể chối từ, cõi đời ghê gớm… cõi đời đã cho ta hơi thở và trí  
nhớ… Phải đi thôi Ất ạ” [4,135]. Và tình bạn, tình yêu và hơn hết là chính nghĩa đã thắng, Minh  
Không lại trở về trần thế và cứu người bạn năm xưa, cũng là cứu đất nước, cứu nhân dân. Như  
vậy, “đạo” và “đời” trong Minh Không là không thể tách rời mà là gắn bó hữu cơ. Nhân vật  
Minh Không cùng với sự giằng xé nội tâm của mình cũng là biểu trưng, là lời nhắn gửi của Lưu  
Quang Vũ và cũng là truyền thống văn hóa quý báu của nhân dân ta. Trong bao cuộc chiến tranh  
giữ nước và trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nhân dân ta không phân biệt dân  
tộc, tôn giáo đã cùng nhau làm nên bao chiến thắng vẻ vang của dân tộc.  
20  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
Có thể nói văn hóa là một phạm trù rất rộng, và biểu hiện của nó trong văn học cũng rất  
đa dạng phong phú. Ở bài viết này, chúng tôi nghiên cứu bình diện yếu tố văn hóa không nhằm  
mục đích và cũng không có tham vọng chỉ ra được hết những yếu tố thuộc về văn hóa trong văn  
học, cụ thể là trong kịch bản văn học Lưu Quang Vũ mà chỉ chú tâm đến những nét văn hóa cơ  
bản góp phần làm nên đặc sắc và đặc trưng, nhưng cũng là nét truyền thống trong kịch bản văn  
học Lưu Quang Vũ – một trong những yếu tố tạo nên thành công và sức sống lâu bền cho kịch  
bản văn học của kịch tác gia tài năng này. Chúng tôi cho rằng, văn hóa trong kịch bản văn học  
Lưu Quang Vũ, như ông nói, không gì khác chính là “Văn hiến- đó là những gì sâu kín làm nên  
mỗi tâm hồn” [4,179].  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ (tuyển chọn) (2007). Lưu Quang Vũ về tác giả và tác phẩm, NXB  
Giáo dục, Hà Nội.  
[2]. GS Phan Ngọc (1996). Kịch pháp Lưu Quang Vũ, Tạp chí Tia sáng, số 5.  
[3]. Lưu Quang Vũ (1994). Tuyển tập kịch, NXB Sân khấu, Hà Nội.  
[4]. Nhiều tác giả (1987). Đợi đến mùa xuân, NXB Sân khấu, Hà Nội.  
[5]. Lưu Quang Vũ (2013). Hồn Trương Ba da hàng thịt, NXB Hội nhà văn, Hà Nội.  
[6]. Lưu Quang Vũ (2003). Lưu Quang Vũ – Tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh, NXB Sân khấu,  
Hà Nội.  
[7]. Lý Hoài Thu (2006). “Lưu Quang Vũ và chặng đường kịch nói Việt Nam cuối thế kỉ XX”, Tạp chí  
Nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 8.  
21  
Yếu tố văn hoá trong kịch bản văn học Lưu Quang Vũ  
CULTURAL FACTORS IN LUU QUANG VU’S LITERARY PLAYS  
Le Thi Minh Hien  
Department of Literature and Linguitics, Hue University Colleges of Sciences  
ABSTRACT  
Culture is a very broad category, its expression in literature are diverse and abundant. In  
this article, we research the basic cultural factors in Lưu Quang Vu’s literary plays. They  
are one of the factors to make his plays more successful and rememberable, such as the  
popular and personal pronouns; use of the folk literature; cultural expression through the  
human conceptions and the views of diverse national culture.  
Keywords: Culture, factors, literary plays, Luu Quang Vu.  
22  
pdf 10 trang yennguyen 21921 Free
Bạn đang xem tài liệu "Yếu tố văn hóa trong kịch bản văn học Lưu Quang Vũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfyeu_to_van_hoa_trong_kich_ban_van_hoc_luu_quang_vu.pdf