Những khát vọng nhân văn trong "Tập đoàn quân kỵ binh" của Isaac Babel
UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC
NHỮNG KHÁT VỌNG NHÂN VĂN
TRONG TẬP ĐOÀN QUÂN KỴ BINH CỦA ISAAC BABEL
Đỗ Thị Hường
Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Việt Nam
Tác giả liên hệ: Đỗ Thị Hường - Email: huongvhnnvvh@gmail.com
Ngày nhận bài: 29-5-2021; ngày nhận bài sửa: 14-6-2021; ngày duyệt đăng: 17-6-2021
Tóm tắt: Isaac Babel là một nhà văn Nga Do Thái đặc biệt trong văn học Nga. Bản thân nhà văn và tác phẩm xuất sắc nhất của
ông Tập đoàn quân Kỵ binh đã thực sự trở thành một hiện tượng đáng kể trong văn học Nga và thế giới. Với Tập đoàn quân Kỵ
binh, nhà văn không chỉ giúp người đọc hiểu thêm về cuộc sống, quá trình chiến đấu cũng như phẩm chất, lý tưởng của những
chiến sỹ Hồng quân Codăc, mà còn giúp người đọc thấy được những giá trị nhân văn, nhân bản, những mong ước giản dị và cả
những khát vọng cao cả của con người, đặc biệt những người trí thức Do Thái trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Qua đó,
người đọc thêm trân trọng một cây bút tài năng và dũng cảm, cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về một giai đoạn đầy biến động
của văn học Nga – Xô Viết. Với một góc nhìn tâm lý ít thấy khi tiếp cận các tác phẩm viết vềchiến tranh bài viết hy vọng sẽ làm nổi
bật được những vấn đề trên.
Từ khóa: Isaac Babel; Tập đoàn quân Kỵ binh; khát vọng nhân văn; trí thức; Do Thái.
những vụ trấn áp văn chương những năm 30 - 40 của
thế kỷ XX. Nói đến Babel người ta nói đến một nhà văn
Nga gốc Do Thái đặc biệt và tài năng. Ngay khi mới
1. Mở đầu
Văn học Nga nổi tiếng là một nền văn học lớn trên
thế giới với sự xuất hiện của nhiều người khổng lồ có
xuất hiện trên văn đàn Babel đã được ca ngợi là “ngôi
sao mới xuất hiện trong nền văn học chúng ta” (Freidin,
cũng nổi tiếng với những vụ án văn chương hết sức
1990). Babel được biết đến trên văn đàn Nga và thế giới
ảnh hưởng lớn lao tới văn hóa nhân loại. Văn học Nga
khốc liệt trong lịch sử văn học thế giới. Có lẽ cũng bởi
văn học Nga “hưởng ứng rất nhạy bén với các vấn đề xã
hội” (Nguyen, 2002) cho nên nhiều nhà văn Nga và
với tác phẩm Tập đoàn quân Kỵ binh. Ngay từ 1926, khi
mới ra đời Tập đoàn quân Kỵ binh đã được dịch ra 20
thứ tiếng và Babel đã nổi tiếng rất xa bên ngoài biên
những đứa con tinh thần của họ phải chịu những số
giới Liên Xô. Nguyễn Hải Hà đã dẫn lời Erenburg trong
phận đầy thăng trầm. Chính M.Gorky đã từng viết: “Đời
các nhà văn Nga rất dồi dào những tấn bi kịch…”
Chuyện làng văn: “Quân đoàn kỵ binh (cách dịch của
Nguyễn Hải Hà) của Babel chiếm được cảm tình của
(Gorky, 1970). Có thể kể ra một danh sách dài “những
Maiacovsky, Esenin, A.Belưi, T.Mann và H.Barbusse,
người tuẫn nạn trong văn học Nga thế kỷ XX”:
A.Platonov, B.Pasternak, M.Bulgakov, A.Solzhenitsyn,
I.Brodsky… Isaac Emmanuilovit Babel cũng là một
người trong danh sách ấy. Ông là một nạn nhân của
R.Rolland, và Bress cùng nhiều nhà văn lớn trên thế
giới” (Nguyen, 2004). Giáo trình Lịch sử văn học Nga
khen ngợi Tập đoàn quân Kỵ binh: “Tập truyện viết hấp
dẫn, đậm đà (nồng như rượu mạnh, sặc sỡ như ngọc
quý)” (Multiple authors, 2003). Với tập truyện này, tên
tuổi của Babel được ca ngợi, nhưng cũng với tập truyện
Cite this article as: Do, T. H. (2021). The humane
aspirations in Isaac Babel’s Red Cavalry. UED Journal of
Social Sciences, Humanities and Education, 11(1), 163-171.
này, Babel bị kết án bởi nguyên soái Budionyi – Tư
lệnh quân đoàn Kỵ binh số Một. Tập đoàn quân Kỵ binh
là một tập truyện ngắn gồm 34 tác phẩm ghi lại cuộc
sống và quá trình chiến đấu của những chiến sĩ kỵ binh
Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 11, Số 1 (2021), 163-171 | 163
Đỗ Thị Hường
Hồng quân trong cuộc chiến tranh khốc liệt giữa Liên
Xô và Ba Lan 1920. Mặc dù là một tác phẩm viết về
chiến tranh nhưng trong Tập đoàn quân Kỵ binh người
đọc vẫn thấy sự xuất hiện của những nhân vật nghệ sĩ
với thế giới của những tác phẩm nghệ thuật, những nhân
vật tôn giáo với nhà thờ, giáo đường, những nhân vật
triết gia Do Thái với những nghi lễ cổ truyền… Chính
sự tái hiện chân thực cuộc sống chiến đấu của cả các
chiến sỹ Hồng quân lẫn những nạn nhân chiến tranh đã
khiến Babel trở thành nạn nhân của tác phẩm của mình.
Nhưng Gorky đã bênh vực Babel: “Babel tô đẹp các
nhân vật của ông đạt hơn, thật hơn Gogol đã làm với
những con người của vùng Daporozhe (các nhân vật
trong Taras Bulba)… Babel đã bổ xung tài tình khái
niệm của tôi về chủ nghĩa anh hùng của quân đội đầu
tiên trong lịch sử”… “Babel là một hy vọng lớn của văn
học Nga” (Babel, 2000).
Codăc anh dũng, thiện chiến, mang nặng lý tưởng chiến
đấu và chiến thắng, người đọc còn thấy nhiều những
con người lương thiện, giản dị và đầy khát vọng. Họ là
những chiến binh trí thức với khát vọng hòa nhập,
những triết gia Do Thái với khát vọng gìn giữ các giá trị
văn hóa, những họa sĩ với khát vọng tự do sáng tạo và
những con người nhiều tầng lớp với khát vọng về một
thế giới lý tưởng. Đó thực sự là những khát vọng nhân
văn cao quý và đáng trân trọng trong bối cảnh chiến
tranh ác liệt.
2. Nội dung
2.1. Khát vọng hòa nhập và gìn giữ
2.1.1. Chiến binh trí thức với khát vọng hài hòa
Viết về Quân đoàn kỵ binh số Một, Babel viết về
những chiến binh ưu tú nhất trong quân đội Xô Viết.
Không ít trong số họ là những chiến binh xuất thân trí
thức. Họ không chỉ đóng góp một phần quan trọng vào
thắng lợi của Tập đoàn quân, họ còn mang đến một nét
đẹp riêng cho cuộc sống, chiến đấu của đội quân ấy –
nét đẹp văn hóa. G.Freidin viết về họ: “Dù cho có người
nói thế nào đi nữa thì phần văn hóa của cuộc Cách mạng
vẫn thuộc về giới trí thức” (Freidin, 1990).
“Thời gian sẽ mài giũa những viên ngọc thật”
(Nguyen, 2002), Babel đã được phục hồi danh dự và tên
tuổi vào tháng 12/1954. Năm 1988, Tuyển tập Babel (2
tập), hồi ký của những nhà văn cùng thời viết về Babel
được xuất bản ở Nga. Năm 2001, Toàn tập Babel (The
Complete Work of Isaak Babel) được phổ biến rộng rãi
ở phương Tây. Freidin khẳng định “Tập đoàn quân Kỵ
binh – tác phẩm làm nên tên tuổi của Babel đã được tái
bản 35 lần chỉ tính riêng ở Nga” (Freidin, 1990).
“Không thể hình dung được hoàn chỉnh bức tranh văn
học Nga nếu bỏ qua mảng văn học đã từng bị cấm đoán
trước đây” (Dao, 2002) – nhà nghiên cứu Đào Tuấn
Ảnh đã đưa ra nhận xét rất xác đáng. Ở Việt Nam, năm
2000 dịch giả Nguyễn Thụy Ứng đã cho công bố Tuyển
tập I.Babel gồm ba tập truyện ngắn (Tập đoàn quân Kỵ
binh, Truyện ngắn Odessa, Truyện ngắn) và hai vở kịch
(Maria và Hoàng hôn). Trong số những tác phẩm của
Babel được dịch và giới thiệu ở Việt Nam cho đến nay,
Tập đoàn quân Kỵ binh là tác phẩm lớn nhất, xuất sắc
nhất, thể hiện rõ nhất tài năng của nhà văn Nga Do Thái
này.
Qua 34 truyện ngắn trong Tập đoàn quân Kỵ binh
dần dần chúng ta thấy nổi bật lên hình ảnh của chàng kỵ
binh trí thức Kyril Vasilievitr Liutov. Liutov xuất hiện
trong tác phẩm với tư cách là “đại diện của tầng lớp trí
thức tham gia Cách mạng vô sản, tìm kiếm vị trí của
mình trong đó và cố hòa nhập vào quần chúng Cách
mạng” (Babel, 2000). Tuy nhiên, trong suốt hành trình
khó khăn và không ít gian khổ ấy dù có cố gắng đến
đâu, dù có gặt hái được những thành công thế nào chăng
nữa Liutov vẫn chưa một lần trở thành một chiến binh
thực thụ. Bởi trong khi khát khao gia nhập vào nhóm
các chàng trai Côdăc anh vẫn không thể xa rời được bản
chất vừa nhạy cảm vừa đa cảm của người trí thức trong
mình. Khát vọng lớn nhất của Liutov và những người
cùng xuất thân như anh là khát vọng hài hòa: vừa dung
hợp được chất Côdăc dũng mãnh và thiện chiến vừa gìn
giữ được chất trí thức và những nét đẹp văn hóa trong
một con người. Thực tế tác phẩm đã cho thấy những khi
Liutov giành được cảm tình của các đồng đội thì tâm
hồn anh lại nhói đau, còn khi sống thật với bản chất của
mình anh lại bị xa lánh, hắt hủi, coi thường, thù ghét,
thậm chí họ gọi anh là kẻ phản bội.
Nhà văn Erenburg đã viết: “Babel không giống ai
và chẳng ai có thể giống Babel. Ông khác các tác giả
khác không chỉ ở phong cách viết văn độc đáo mà còn ở
cách nhận thức thế giới rất đặc biệt” (Babel, 2000). Dù
được coi “là một bậc thầy về truyện ngắn trong nội
chiến” (Huu, 1982) nhưng trong tác phẩm xuất sắc nhất
của ông, người đọc không chỉ thấy hình ảnh của những
chiến sĩ Hồng quân, đặc biệt những chiến sĩ Hồng quân
164
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 163-171
Nói tới những thử thách của chiến tranh người ta
thường nói tới những chặng đường hành quân gian khổ,
đói rét, bệnh tật, sự chết chóc. Nhưng đối với những
chiến binh trí thức, đặc biệt là với những anh chàng đeo
kính làm thế nào để thực sự trở thành một thành viên
trong đại gia đình kỵ binh Hồng quân có lẽ là thử thách
đầu tiên và khó khăn nhất. Liutov cũng phải đương đầu
với thử thách ấy. Quyết định gia nhập vào đội ngũ
những người lính kỵ binh đầu tiên của quân đội, Liutov
được biệt phái tới sư đoàn bộ. Tại đây trước khi được
đưa xuống đơn vị của mình Liutov đã nhận một đòn phủ
đầu của sư trưởng: “… lại thêm cái kính trên mũi. Thiếu
tư thế quá thôi!... Người ta phái anh đi mà không hỏi, ở
đây chúng nó thường xỉa cho chỉ vì cái kính thôi đấy.
Anh sẽ sống được với chúng tôi chứ?” (Babel, 2000).
Ngay anh chàng phụ trách trú quân cũng kể cho Liutov
nghe chuyện về một người đeo kính đã bỏ mạng và
khuyên Liutov: “Nếu như các anh làm hại đời một cô
nàng, một cô nàng thật trong trắng, thì lúc ấy các anh sẽ
được các chiến sĩ yêu mến…” (Babel, 2000).
Trong Cái chết của Dolgushov Liutov suýt bị
Afonka Bida giết chết chỉ vì anh không đủ dũng cảm
bắn một viên đạn vào người đồng đội đang bị thương
nặng để giảm bớt đau đớn cho anh ta. Trong Đại đội
trưởng Trunov anh bị coi là người gây ra cái chết của
Trunov khi phán xét hành vi bạo hành đối với tù binh
của đại đội trưởng. Trong Argamak cả anh chàng kỵ
binh Chikhomolov và đại đội trưởng Baulin đều coi
thường và xa lánh anh. Thậm chí Baulin còn thẳng
thừng đuổi anh ra khỏi đơn vị: “Thôi cút mẹ anh ra khỏi
chỗ chúng tôi đi…” (Babel, 2000). Có lần Liutov bị
Ivan Akinfiev lên án là một kẻ molocan (giáo phái phủ
nhận mọi nghi thức tôn giáo) vì anh không lắp đạn vào
súng, anh không đủ lạnh lùng để giết người Ba Lan.
Liutov đau đớn đến mức cầu xin Thượng đế ban cho
mình khả năng giết người: “Tôi không còn sức lực gì
nữa, cứ còng lưng dưới vành hoa nơi mộ địa, đi về phía
trước và van nài số phận ban cho mình kỹ năng đơn
giản nhất là giết người” (Babel, 2000). Mong muốn đó
của Liutov không phải là mong muốn được trở thành
một kẻ tàn bạo, nó chính là biến thể của khát khao được
hòa nhập trong nhân dân, trong quần chúng Cách mạng.
Ở đây, trong tác phẩm này, nhân dân ấy, quần chúng
Cách mạng ấy chính là những chàng nông dân Côdăc
như Akinfiev, Afonka Bida, Trunov, chính là những
người công nhân đầy sức mạnh như Baulin, thậm chí là
sư trưởng Savitsky – Phó tiến sỹ luật đại học Peterburg
đầy chất thép. Nhưng dường như đối với Liutov “nhân
dân” mãi mãi là một bí ẩn đối lập với anh, anh không
sao hòa nhập, không sao trở thành một trong số họ.
Liutov cũng giống như nhiều trí thức tham gia chiến
tranh trong các tác phẩm văn học khác, không đủ can
đảm để thẳng tay tàn sát đồng loại, ngay cả khi kẻ đồng
loại ấy ở bên kia chiến tuyến. Bởi dù thế nào chăng nữa
họ cũng là một con người, một số phận. Tình yêu
thương, lòng nhân đạo nơi anh bị coi là mềm yếu. Đồng
đội coi anh là kẻ mang “dòng máu của kẻ tôi đòi”. Họ
coi thường tình yêu thương của anh, coi thường lòng
nhân đạo nơi anh, dù đối tượng của tình yêu thương ấy
chính là đồng đội của họ. Afonka quát lên với anh: “Bọn
đeo kính chúng mày, chúng mày thương anh em chúng
tao như con mèo thương con chuột” (Babel, 2000). Phải
chăng đó chính là sự đối lập vĩnh cửu muôn đời giữa trí
thức và nhân dân Nga? Phải chăng họ sẽ mãi mãi là tầng
lớp trí thức, là giai cấp tiểu tư sản mà không thể trở
Xuống nơi trú quân Liutov nhận được sự đón tiếp
thô lỗ và không thiện chí của những anh chàng Côdăc
khi một trong số họ vừa mỉa mai vừa ném hòm đồ của
người mới tới ra cổng, còn những tay Côdăc khác thì
“trêu chọc không biết mệt”. Liutov quyết định thể hiện
mình theo đúng cách của họ. Anh giết chết con ngỗng
vô tội – tài sản cuối cùng của cụ già chủ nhà. Ngay lập
tức Liutov nhận được thái độ tôn trọng và thân thiện của
những kẻ vừa hắt hủi mình. Nhưng niềm hân hoan và
sung sướng vì được thu nhận vào đội ngũ cũng không
xua tan được ám ảnh về “tội ác” đầu tiên nơi người trí
thức: “Tôi nằm mơ, có cả những người đàn bà trong
giấc mơ, chỉ có trái tim tôi nhuộm đỏ vì sát sinh, cứ
nhoi nhói rỉ máu” (Babel, 2000). Lần đầu tiên Liutov sát
sinh vô cớ, lần đầu tiên anh vi phạm nguyên tắc của
chính bản thân mình. Những tưởng có được “lễ ra mắt”
suôn sẻ trái tim chàng trai sẽ chai sạn, nhưng không, từ
thẳm sâu tâm hồn của mình anh vẫn không thể thản
nhiên giết người, báng bổ nhà thờ, bạo hành đối với phụ
nữ, hành hạ tù binh hay tàn sát những người Do Thái.
Có những khi Liutov làm tổn thương những người phụ
nữ vì họ ngoan cố cất giấu lương thực nhưng những khi
ấy anh không hề cảm thấy thanh thản. Anh vẫn là con
người giàu tình cảm tận trong cốt tủy.
165
Đỗ Thị Hường
thành một bộ phận hữu cơ của nhân dân Nga như
N.A.Berdiaev đã từng khẳng định?
nhân vật như thế. Chúng ta không thể không nói tới nhân
vật Ghedali chủ cửa hàng buôn bán bấc đèn, phấn, lơ bột
và là một triết gia Do Thái điển hình.
Trong Tập đoàn quân Kỵ binh không chỉ một mình
Liutov ôm ấp khát vọng hòa nhập và gìn giữ. Ilia – con
trai rapbi Do Thái Motale cũng là một nhân vật luôn bị
ám ảnh bởi hai ước muốn: hòa nhập vào đoàn binh
Côdăc và giữ gìn tố chất của ông hoàng cuối cùng của
vương triều Trecnobưn. Gia nhập Hồng quân anh bị cha
– rapbi Motale Bratslavsky, bị bõ Mockhe – người hầu
của cha anh coi thường, sỉ nhục, coi là kẻ tồi tệ, đáng
nguyền rủa. Thậm chí vì anh, cả mẹ anh cũng bị coi
thường, hành hạ. Trở về nhà vì không thể bỏ mẹ ở lại
anh héo hon, tiều tụy. Cuối cùng Ilia chết khi chưa tới
được Rovno, chết khi chưa thực hiện được lý tưởng,
chết mà không nhận được sự tôn trọng và thương tiếc
của đồng đội. Trong hành trang ra mặt trận của Ilia có
cả chân dung của Lênin và Maimonit, có cả những tờ
truyền đơn cộng sản, bên cạnh những dòng thơ Do Thái.
Đáng tiếc, hành trang ra mặt trận cũng là hành trang
sang thế giới bên kia của anh, trong hành trang ấy giờ
đây có cả nỗi đau của một kẻ bất đắc chí.
Cách mạng đến, mọi người trong khu chợ đã bỏ đi
hết nhưng Ghedali vẫn ở lại. Ủng hộ Cách mạng nhưng
không vì thế cụ bỏ truyền thống dân tộc: “Cách mạng,
với Cách mạng chúng ta nói ủng hộ nhưng chẳng lẽ với
ngày thứ bảy chúng ta nói phản đối hay sao?” (Babel,
2000). Tuyệt đối tôn phục luật Moise, kiên quyết thực
hiện ngày Sabat, tôn trọng và bảo vệ những nét văn hóa
truyền thống dân tộc còn là phẩm chất của những
Motale – rapbi cuối cùng của vương triều Trecnobưn,
bõ Mockhe, Ilia… Ở họ, khát vọng lớn nhất chính là
khát vọng giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa đẹp đẽ của
dân tộc Do Thái khỏi những sự tàn phá của chiến tranh.
Babel qua việc miêu tả những con người hoài cổ ấy
muốn khẳng định một điều: chiến tranh dù có nghiệt ngã
đến đâu, có sức phá hoại ghê gớm đến đâu cũng không
thể tiêu diệt được chất người, đặc biệt là vẻ đẹp tâm hồn
của con người. Khát vọng nhân văn sẽ mãi mãi là khát
vọng cao đẹp không bao giờ chết.
Cả Liutov, cả Ilia chính là những đại diện cho số
đông tầng lớp trí thức tham gia Cách mạng trong Tập
đoàn quân Kỵ binh. Qua Liutov, Babel đã biểu hiện
được “lịch sử của tầng lớp trí thức tiểu tư sản, lịch sử
các số phận và những sự trăn trở quằn quại của tầng lớp
này trong những năm Cách mạng…” (Babel, 2000).
2.1.3. Nhân vật tôn giáo với khát vọng bảo vệ
thánh địa
Ngoài những triết gia Do Thái hoài cổ, trong tác
phẩm chúng ta còn bắt gặp không ít nhân vật tôn giáo.
Họ có thể là những cha cố, cha phó hay những người
phục vụ trong nhà thờ. Dù là ai, họ đều gặp nhau ở
mong muốn gìn giữ nhà thờ - thánh địa thiêng liêng
trước sức mạnh phá hủy của chiến tranh. Được khắc họa
sắc nét hơn cả là pan Robatsky – lão bõ nhà thờ trong
Nhà thờ Novograd và pan Liudomiasky – người đánh
chuông nhà thờ trong Ở chỗ thánh Valangtanh.
2.1.2. Triết gia Do Thái với khát vọng bảo tồn
các giá trị văn hóa cũ
Chiến đấu tại Ba Lan, Liutov thường xuyên phải
chứng kiến những hành động xúc phạm tình cảm tôn
giáo của dân địa phương, những hành động coi thường
dân Do Thái và những hành động phá hoại nhà thờ xuất
phát từ chính những người đồng đội trong Tập đoàn
quân của mình.
Pan Robatsky không thể chấp nhận được việc người
ta xâm phạm hầm thiêng của nhà thờ. Phản ứng của ông
rất dữ dội. Người đọc bắt gặp “cái ánh điên dại như của
loài quạ trong con mắt pani Elida, tiếng cười như sấm
của Romuan và tiếng gầm rú không ngớt của những quả
chuông mà pan Robatsky, người đánh chuông nhà thờ
phát điên dóng liên hồi” (Babel, 2000). Tiếng chuông
của pan Robatsky là tiếng chuông cảnh báo về sự xúc
phạm tôn giáo đang tràn lan trong chiến tranh; là tiếng
chuông thức tỉnh sự tôn trọng những thánh địa thiêng
liêng, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng; hay là tiếng
chuông đánh thức tình cảm tôn giáo tốt đẹp trong mỗi
con người?
Cũng giống như những người Do Thái khác, từ thuở
ấu thơ văn hóa Do Thái đã có một ý nghĩa hết sức đặc
biệt đối với Liutov. Dù gia nhập Hồng quân nhưng anh
không thể cho phép mình được lãng quên nguồn gốc.
Những cuộc chuyện trò với triết gia Do Thái Ghedali, với
rapbi Do Thái Motale, sự trân trọng những di sản văn hóa
trong các nhà thờ Do Thái, những bản báo cáo kêu gọi
bảo vệ các thánh địa tôn giáo… đã khẳng định chất nhân
văn Do Thái trong con người anh. Không chỉ Liutov,
trong tác phẩm của mình Babel còn miêu tả rất nhiều
166
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 163-171
Khác với Robatsky, phản ứng của pan Liudomiasky
mạnh mẽ hơn. Vẫn trung thành với các nghi lễ tôn giáo
“người đánh chuông phủ phục xuống những tấm đá lát
sàn màu xanh da trời” (Babel, 2000) trước bàn thờ. Và
“pan Liudomiasky đang đứng dưới bức tượng trong
chiếc áo lễ phục màu xanh lá cây. Ông vươn bàn tay gầy
khô trên đầu chúng tôi và nguyền rủa chúng tôi (…)
Giọng ồm ồm như sấm, người kéo chuông nhà thờ thánh
Valangtanh dùng tiếng Latinh rất thuần rút phép thông
công của chúng tôi. Rồi ông quay đi, quỳ xuống, ôm lấy
hai chân Chúa Cứu Thế” (Babel, 2000). Có thể có người
cho rằng hành động của pan Liudomiasky là hành động
của kẻ sùng tín mù quáng, sẵn sàng tử vì đạo nhưng
theo chúng tôi, miêu tả pan Liudomiasky trong những
hành động như vậy nhà văn bày tỏ sự kính trọng đối với
những người thực sự kính Chúa, tin Chúa, thực sự tôn
trọng những giá trị tín ngưỡng tốt đẹp của loài người.
Đó cũng là một biểu hiện đầy tính nhân văn của con
người, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh.
đam mê và đồng cảm trước khát vọng sáng tạo nghệ
thuật không ngừng ở họa sĩ Do Thái đầy tài năng.
Những bức tranh của Apolech có vẻ đẹp khác
thường và sức sống diệu kỳ. Vẻ đẹp ấy, sức sống ấy tỏa
ra từ chất thơ của cuộc sống lam lũ, tỏa ra từ sự chân
thực của những hình ảnh hiện ra trong tranh. Nhân vật
của Apolech không phải là những thần thánh chỉ thấy
trong truyền thuyết với phong thái đạo mạo, cao quý và
quyền uy mà là những con người thật trong cuộc sống
đời thường cũng biết yêu biết ghét, cũng biết làm đẹp,
cũng sinh con đẻ cái… Đứng trước họ người ta không
sợ sệt, phục tùng, ngưỡng vọng, đứng trước họ người ta
có thể ngắm nghía, đùa vui, bình luận, chê bai, thậm chí
nguyền rủa. Ở những bức tranh của Apolech, người ta
thấy lồng trong hình dáng những vị thánh là khuôn mặt
của những người nông dân Nga chất phác, thật thà,
những con người lao động bị tầng lớp trên coi là thấp
kém. Nghệ thuật của Apolech là thứ nghệ thuật tự do
được chắp cánh bởi trí tưởng tượng bay bổng, không gò
bó trong bất kỳ một khuôn phép nào. Đến một vùng đất
mới Apolech lại đưa những con người nơi ấy vào tranh,
đặt họ trong những sinh hoạt dân giã thường ngày.
Những người Palestin có thể nhận ra các vị thánh của họ
là: “Các ông già vui nhộn và có phần chất phác, với
những chòm râu bạc, những cặp má hồng hào được bọc
trong lụa là và đặt vào những tối vui sôi nổi”. Những
người dân ở thành phố Novograd – Volưnsco lại thấy
“trong thánh Paul tay Do Thái thọt chân Ianech, bỏ đạo
Do Thái theo đạo Thiên Chúa”, thấy “Marie Mardalen
là cô gái Do Thái Enca, không biết bố mẹ là ai và là mẹ
của vô số đứa con hoang” (Babel, 2000).
2.2. Khát vọng tự do sáng tạo
“Các truyện ngắn của Babel sáng lóa mắt. Cũng
như một số họa sĩ thế kỷ chúng ta, ông tìm kiếm những
sắc màu rực rỡ” (Babel, 2000). Nếu như Erenburg đã
từng ngất ngây trước những tác phẩm đậm màu sắc hội
họa của Babel thì nhà văn khi hóa thân thành người kể
chuyện xưng tôi trong Pan Apolech lại bị chinh phục
bởi chính họa sĩ vẽ tranh tôn giáo người Do Thái:
“Cuộc đời tuyệt đẹp và khôn ngoan của pan Apolech đã
làm đầu óc tôi ngây ngất như một thứ rượu vang lâu đời
(…). Ngập trong ánh hào quang hồn nhiên tỏa ra trên
đầu các tượng thánh, hồi ấy tôi đã phát nguyện sẽ noi
gương pan Apolech” (Babel, 2000). Có sức quyến rũ gì
từ cuộc đời “tuyệt đẹp và khôn ngoan” ấy khiến “tôi”
ngất ngây, thậm chí nguyện sẽ noi gương theo? Phải
chăng đó chính là sức cuốn hút tỏa ra từ các bức tranh
Apolech đã vẽ? Hay đó là chất lãng tử và hài hước trong
con người ông? Hai điều đó đúng, nhưng có lẽ chưa đủ.
Theo chúng tôi, viết về Apolech, Babel không chỉ đơn
giản ca ngợi chất lãng tử trong con người và nét tài hoa
trong các bức tranh của ông, đằng sau những lời ca ngợi
ấy chính là thái độ trân trọng, lòng cảm phục và sự
đồng cảm của một nghệ sĩ. Trân trọng những chân lí
nghệ thuật toát ra từ các bức tranh của Apolech, cảm
phục con người dũng cảm dám sống hết mình cho nỗi
Người ta “tìm thấy trong những căn nhà nông dân
nghèo nàn, hôi hám nhất, những bức chân dung gia đình
quái đản, những bức vẽ báng bổ tôn giáo, ngây thơ
nhưng rất nghệ thuật, những thánh Joseph tóc xám chải
đường ngôi giữa, những Jesus đầu bôi pommat, những
Đức Bà Maria nông thôn đã sinh nở nhiều lần ngồi dạng
háng, các hình thánh này đã được đặt trong góc trang
trọng nhất của các căn phòng, giữa những vòng hoa
giấy”. Thậm chí “kẻ thù của người đặt hàng có thể bị vẽ
thành tên Juda ở Kirios” (Babel, 2000).
Không phải không có lý khi cha xứ vùng Dupno và
Novoconstanchin khẳng định pan Apolech đã “phong
thánh” cho nhân dân ngay khi họ còn sống, khi những
người dân Nga trong vùng nhận ra “phải chăng có nhiều
167
Đỗ Thị Hường
chân lý trong các bức tranh của pan Apolech, người
thỏa mãn lòng kiêu hãnh của chúng tôi, hơn là trong
những lời của cha, đầy ý mạt sát và tức tối của các ông
chủ?” (Babel, 2000). Nghệ thuật chỉ có thể có sức sống
lâu bền khi nó là thứ nghệ thuật chân chính được sáng
tạo vì nhân dân, về nhân dân. Và chỉ có nhân dân chứ
không phải tầng lớp quý tộc mới xứng đáng trở thành
đối tượng của sáng tạo nghệ thuật. Nghệ thuật của
Apolech chính là thứ nghệ thuật ấy.
kiếm tìm một thành quốc tương lai - ở nơi ấy có sự bình
yên tuyệt đối.
Ghedali trong tác phẩm cùng tên là một triết gia Do
Thái tiến bộ. Căm thù bọn Ba Lan độc ác tàn sát người
Do Thái, cảm kích khi Cách mạng “đập chết bọn Ba
Lan” nhưng cụ vẫn không hết băn khoăn về Cách mạng:
“Nhưng bọn Ba Lan đã bắn vì chúng nó là phản Cách
mạng. Các ngài bắn vì các ngài là Cách mạng. Nhưng
Cách mạng lại là hân hoan hạnh phúc. Mà hân hoan
hạnh phúc thì không thích trong nhà có trẻ mồ côi.
Những việc tốt thì do con người tốt làm ra. Cách mạng
là công việc tốt của những con người tốt. Song người tốt
không giết người. Như vậy có nghĩa là Cách mạng đang
do những con người độc ác làm. Nhưng bọn Ba Lan
cũng là những con người độc ác. Vậy ai sẽ nói cho
Ghedali biết đâu là Cách mạng và đâu là phản Cách
mạng” (Babel, 2000).
Sau khi công bố những bức tranh “ngây thơ nhưng
rất nghệ thuật” sau sáu tháng dày công sáng tạo trên các
bức tường nhà thờ Apolech nhận được những lời đe dọa
từ cha cả và các công dân quyền quý. Không chịu che
các bức tường vẽ đầy tranh của mình, Apolech bị đuổi
ra khỏi giáo đường. Dũng cảm, dám sống hết mình vì
nghệ thuật đó là phẩm chất cao quý của Apolech. Trải
qua 30 năm ở lại thành phố Novograd – Volưnsco, cho
đến khi gặp “tôi” “họa sĩ cuồng” Apolech vẫn khát khao
sáng tạo không ngừng. Câu chuyện về nàng Debora ăn
nằm với Jesus ngay trên những thứ cô gái vừa nôn ra,
hình ảnh “tôi” được Apolech lồng trong thánh
Frăngxoa… tất cả cho thấy khát vọng cao đẹp đó. Với
Apolech, được tự do sáng tạo cũng quan trọng như được
sống trong cuộc đời này. Người nghệ sĩ chỉ có thể sáng
tạo được những tác phẩm nghệ thuật đích thực chừng
nào con người anh ta có óc tưởng tượng tự do, có trái
tim say mê, đầy khát vọng và dũng khí. Hình ảnh của
Apolech gợi cho chúng ta liên tưởng tới người nghệ sĩ
Babel – một con người cho đến phút cuối cùng của cuộc
đời vẫn khát khao được hoàn thành những tác phẩm
nghệ thuật dang dở của mình. Khát vọng tự do sáng tạo
nghệ thuật của Apolech cũng là khát vọng cháy bỏng
của Babel. Bởi nhà văn nhận thức được sứ mệnh cao cả
của mình: “Người nông dân nông trang tập thể này đã
có lúa mì, anh ta có nhà ở, thậm chí có cả huân chương.
Song đối với anh ta như thế vẫn chưa đủ, bây giờ anh ta
đang muốn người ta làm thơ về mình” (Babel, 2000).
Trong suy nghĩ đơn giản của Ghedali bọn Ba Lan là
xấu, Cách mạng là tốt; bắt người Do Thái và giứt râu
người Do Thái là xấu, cứu người Do Thái là tốt; bắn
giết là xấu, mang lại niềm vui và hân hoan là tốt; giết
người là những kẻ độc ác, việc tốt do những người tốt
làm ra… Nhưng Ghedali đâu biết rằng trên cuộc đời này
làm gì có cuộc Cách mạng nào là Cách mạng ngọt bùi,
niềm vui và sự hân hoan có được phải đánh đổi bằng
máu. Bọn Ba Lan nổ súng vì mục đích phi nghĩa còn
Cách mạng nổ súng vì Cách mạng cần phải chống lại kẻ
phi nghĩa bằng chính thứ vũ khí của chúng. Ngay Lênin
cũng đã nói: “Những người xã hội không tưởng xưa kia
tưởng tượng rằng chủ nghĩa xã hội có thể được xây
dựng bởi những con người khác, rằng đầu tiên họ sẽ
giáo dục những con người tốt đẹp, sạch sẽ, đã được
huấn luyện thật tốt rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội
với những con người ấy. Chúng ta bao giờ cũng cười họ
và nói rằng đó là trò chơi búp bê, là trò đùa của các
thiên kim tiểu thư về chủ nghĩa xã hội chứ không là
chính trị nghiêm túc” (Babel, 2000). Tuy suy nghĩ của
Ghedali có phần đơn giản và lệch lạc nhưng Babel tôn
trọng tấm lòng của Ghedali – một người Do Thái đã
nhiệt tình ủng hộ Cách mạng, trân trọng khát khao cháy
bỏng của cụ về một thế giới đại đồng Nga – nơi ấy
không còn máu chảy, không còn chiến tranh, nơi ấy chỉ
có những người tốt. “Và chúng tôi muốn có Quốc tế của
những người tốt, tôi muốn mỗi linh hồn đều được tính
tới và được cấp cho một khẩu phần hạng nhất” (Babel,
2000). Khát vọng của Ghedali cũng là khát vọng của
2.3. Khát vọng về một thế giới lý tưởng
Thế giới nhân vật của Babel là một thế giới của
những con người khắc khoải kiếm tìm: những chiến binh
Hồng quân kiếm tìm danh dự và chiến công; người trí
thức tham gia Cách mạng Liutov và Ilia kiếm tìm vị trí
của mình trong quần chúng Cách mạng; người nghệ sĩ
Apolech kiếm tìm những tác phẩm nghệ thuật đích thực;
còn những nhân vật như Ghedali, Sidorov, Arghev và
Sashka Conhaev lại là “những người lữ khách Nga”
168
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 163-171
Babel và tất cả những ai tham gia Cách mạng. Có điều
triết gia Do Thái chỉ dừng lại ở khát vọng, ước mơ còn
Babel và các chiến sĩ Hồng quân trong Tập đoàn quân
Kỵ binh không chỉ biết ước mơ, không chỉ tin tưởng vào
tương lai, họ đã đấu tranh cho tương lai. Cũng bởi thế
cho nên Babel gọi Quốc tế của Ghedali là Quốc tế thứ
Tư – cái quốc tế không thể nào có.
khả năng của mình. Đó chính là chân lí rút ra từ những
câu chuyện của Ghedali, Sidorov, Arghev. Viết về họ
Babel không hề có thái độ mỉa mai, trái lại nhà văn tỏ ra
hiểu và thông cảm với họ. Bởi họ không thể chấp nhận
những gì “tạm thời, tương đối, ước lệ” (chữ của
Berdiaev) của thời kỳ quá độ, họ mong muốn đạt ngay
đến một thế giới lý tưởng. Babel đồng cảm với mong
ước của họ, trân trọng tinh thần hướng thiện và khát
vọng lưu giữ lòng tốt của con người, một trong những
giá trị đạo đức ngàn đời của nhân loại, ở họ.
Nếu như Ghedali mơ tới một Quốc tế của những
người tốt thì anh lính Hồng quân Sidorov trong Mặt trời
nước Ý lại khát khao được sang đất Ý. Với anh, nước Ý
chính là miền đất hứa, là nơi chốn bình an tuyệt đối, là
thế giới lý tưởng. Ở đó sẽ không có những cuộc hành
binh đánh bọn phản Cách mạng, sẽ không có một
Matxcơva thờ ơ với Tập đoàn quân, sẽ không có cả mặt
trận, không có “Tập đoàn quân Kỵ binh và cuộc đời lính
tráng nồng nặc mùi máu và xác chết” (Babel, 2000).
Anh viết trong bức thư gửi cho người yêu: “Nước Ý đã
thấm nhập vào tim anh như bùa yêu. Ý nghĩ về đất nước
này, đất nước mà anh chưa nhìn thấy bao giờ, đối với
anh nó ngọt ngào như cái tên của một người đàn bà,
như tên em, Victoria…” (Babel, 2000).
Cũng ôm ấp khát vọng tình yêu thương, cũng từng
mơ ước một thế giới chỉ có sự yên ả và thanh bình
nhưng Sashka Conhaev không phải là người ảo tưởng
như Ghedali, Sidorov hay Arghev. Sống ở bất cứ môi
trường nào anh cũng sẵn sàng lắng nghe, thông cảm,
chia sẻ nỗi buồn, sự tuyệt vọng của người khác; động
viên, an ủi giúp đỡ họ vượt qua khó khăn. Bà con, đồng
đội gọi anh là Sashka Chúa Cứu Thế. Cuộc sống lý
tưởng trong mắt Sashka chính là cuộc sống của những
người chăn bò chăn ngựa ở làng quê. Tuyệt vời làm sao
khi được sống trên thảo nguyên mênh mông và tươi đẹp,
chỉ có niềm vui của lao động hăng say và tình yêu cuộc
sống, yêu thiên nhiên: “Đất mang khí ẩm tháng tư. Nước
xanh nhấp nhoáng như ngọc bích dưới những hố đen
ngòm. Cỏ xanh rờn nhú lên trên mặt đất thành những
đường thêu rắc rối. Và từ dưới đất bốc lên cái mùi chua
chua như mùi ả vợ lính lúc trời rạng. Trên những nấm
cuốc gan, những đàn gia súc đầu mùa đổ xuống bên
dưới. Những con ngựa non tơ nô rỡn trong khoảng không
mênh mông xanh lơ ở chân trời” (Babel, 2000).
Sidorov tự nhận mình là con người nhu nhược. Anh
không chịu đựng nổi những sự thực khốc liệt của chiến
tranh, nhất là sự thờ ơ của hậu phương và thái độ quan
liêu của những viên chức ở Matxcova. Tuy còn nhiều
dằn vặt, suy tư nhưng trong tâm hồn mệt mỏi của anh
hình ảnh nước Ý cứ sáng lên, hấp dẫn anh, lôi cuốn anh,
hứa hẹn với anh một cuộc sống bình yên. Anh muốn
được sang nước Ý để trốn chạy tất cả dù không biết sẽ
có điều gì chờ đón mình ở phía trước. Babel hiểu và
thông cảm với khát vọng của Sidorov. Dù sao anh cũng
là người dám sống thật với ước mơ của chính mình.
Chẳng thế mà Sashka kiên quyết từ chối công việc
của một thợ mộc ở thị trấn để được sống giữa thảo
nguyên yên ả, sống giữa đàn gia súc thân thuộc và bà
con Côdăc yêu lao động. Ra mặt trận, tâm hồn Sashka
vẫn không hề bị chai sạn đi bởi súng đạn, máu lửa,
chiến tranh. Ở anh vẫn dạt dào dòng chảy của tình yêu
thương. Vốn hát hay, Sashka đã dùng tiếng hát của
mình để đưa sự yên bình, tình yêu, niềm thương nỗi
nhớ, khát vọng, mơ ước… trở lại thế giới tình cảm của
những người chiến sĩ. Những giai điệu thắm thiết cổ xưa
trong bài hát của anh đã làm sống dậy tình người, tưới
tắm cho những mảnh đất tâm hồn đang khô hạn bởi
chiến tranh. Chính “tôi” đã viết: “Các bài hát của anh
cần cho chúng tôi, không ai biết chiến tranh bao giờ mới
chấm dứt, mà Sashka Chúa Cứu Thế, ca sĩ của đại đội
Trợ tế Arghev trong Hai tay Ivan cũng là một kẻ
trốn chạy. Là người sùng tín, tôn thờ Chúa Jesus và lý
tưởng về một thế giới an lành, lương thiện Arghev
không chấp nhận nổi những sự khốc liệt của chiến tranh.
Hai lần bị đưa ra mặt trận, hai lần trốn chạy. Lần thứ ba
bị đưa vào trung đoàn các phần tử xấu ở Matxcova, lại
giả điếc để không phải ra mặt trận, cuối cùng điếc thật.
Sự hèn nhát và nhu nhược của Arghev tuy đáng lên án,
nhưng số phận của Arghev lại gây ra sự thương cảm
trong lòng người đọc. Muốn đạt được sự bình yên,
muốn có được một thế giới an lành người ta phải đấu
tranh cho nó chứ không phải trốn chạy. Hạnh phúc thực
sự chỉ có được khi người ta biết đạt lấy nó bằng chính
169
Đỗ Thị Hường
kỵ binh, còn chưa là một trái cây quá chín để rụng…”
(Babel, 2000). Sashka không chờ đợi hay trốn chạy, anh
hành động vì mình và vì mọi người. Bởi thế có thể nói
Sashka chính là hiện thân hoàn hảo nhất của khát vọng
nhân văn nhân bản trong chiến tranh. Cũng xuất thân
nông dân Sashka của Babel gợi nhớ Platon Karataev
trong Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy. Nếu
như Platon Karataev chính là người đem lại ánh sáng
chân lý cho Pie Bezukhov thì Sashka lại là người đem
lại hơi ấm của tình người tới tất cả mọi nhân vật trong
Tập đoàn quân Kỵ binh.
Tài liệu tham khảo
Babel, I. E. (2000). The collected stories (Tuyển tập) (T.
U. Nguyen, Trans.). Culture and Information.
Berdiaev, A. N. (2003). The Russian soul (Tâm hồn
Nga) (T. L. Tu, Trans.). Journal of Foreign
Literature, 6, 199–218.
Dao, T. A. (2001). A look back at the Soviet Russian
prose written about war (Nhìn lại văn xuôi Nga Xô
Viết viết về chiến tranh). Journal of Writer, 5,
124–133.
Dao, T. A. (2002). Critic Dao Tuan Anh: ‘I'm the
person who knows...to quit’ (Nhà phê bình Đào
Tuấn Ảnh: ‘Tôi là người biết... bỏ cuộc’).
Tuy có những nét tính cách khác nhau nhưng cả
Ghedali, cả Sidorov, cả Arghev và đặc biệt là Sashka
đều là những người có tâm hồn đẹp. Họ đã dám sống,
dám khát vọng, dám mơ ước dù có lúc biết rằng mơ ước
của mình là không tưởng. Họ cũng là những nhân vật
nói lên tiếng nói thiết tha của tác giả về tình người, về
vẻ đẹp của lòng tốt, lương tâm, sự đồng cảm. Trong
chiến tranh khốc liệt, giữa một thế giới những chiến
binh dễ gợi ra sự khắc khổ, khô khan những nhân vật
mang khát vọng về tình yêu thương của Babel như đem
đến một luồng sinh khí mới mềm mại hơn, lãng mạn
hơn, nhân văn hơn cho tác phẩm.
Vnexpress.
dao-tuan-anh-toi-la-nguoi-biet-bo-cuoc-
1875255.html.
Freidin, G. (1990). Isaac Babel (1894—1940).
Freidin, G. (2021). Isaac Babel. Encyclopedia
Britannica.
Babel.
Gorky, M. (1970). Gorky's discussions of literature
(Gorky bàn về văn học). Literature.
Hoang, T. X. (1999). The ten biggest religions in the
world (Mười tôn giáo lớn trên thế giới). National
Politicics.
Huu, N. (1982). The dictionary of foreign writers and
playwrights (Từ điển tác gia văn học và sân khấu
nước ngoài). Culture.
Le, D. T. (1999). A few characteristics of Russian-
Soviet short stories (Mấy đặc điểm truyện ngắn
Nga – Xô Viết). Journal of Military Arts, 4, 110–
112.
Multiple authors. (2003). The history of Russian
literature (Lịch sử văn học Nga). Education.
Nguyen, C. (1993). The Jewish folk legends (Những
truyền thuyết dân gian Do Thái). Culture.
Nguyen, H. D. (1963). Literature, arts and politics in the
Soviet Union (Văn nghệ với chánh trị tại Liên Xô).
Encyclopedia, 159+160, 57–61 & 21–26.
Nguyen, H. H. (2002). Russian literature, truth and
beauty (Văn học Nga sự thật và cái đẹp).
Education.
3. Kết luận
Như thế, Babel đã xây dựng nên trong Tập đoàn
quân Kỵ binh một thế giới nhân vật khát vọng. Khát
vọng hài hòa của Liutov, khát vọng tự do sáng tạo nghệ
thuật của Apolech, khát vọng về một thế giới lý tưởng
của Ghedali… là gì nếu không phải là khát vọng đạt tới
sự hoàn hảo trong con người? Tự đốt cháy mình, sống
hết mình cho bản thân và những người khác, họ giống
như nhân vật lãng mạn mang đầy màu sắc huyền thoại
Danko của Gorky. Có điều Babel không lý tưởng hóa,
thần thánh hóa những nhân vật của mình, nhà văn chỉ lý
tưởng hóa khát vọng của họ, gieo vào trong tâm hồn họ
khát vọng kiếm tìm cái đẹp tuyệt đối… Bởi thế, họ thật
hơn, gần gũi hơn với người đọc. “Trên đời này thật
không có gì khó khăn hơn là viết những trang văn xuôi
lương thiện, giản dị về con người” (Vuong, 1998), với
Tập đoàn quân Kỵ binh và những nhân vật luôn khát
khao những ước vọng nhân văn, Babel thực sự đã làm
được công việc khó khăn ấy.
Nguyen, H. H. (2004). Tragic/Miserable life (Cuộc đời
sóng gió bi thảm). Printed in Stories of Vietnamese
and world literature. Education.
170
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 163-171
Pautovsky, K., & Phan, H. G. (2004). Some words about
Babel (Mấy lời về Babel). Printed in Alone with
the autumn. Culture and Information.
Prokhorov, A. M. (n.d.). The Soviet commander
Budionyi (Будённый Семён Михайлович) (Vol.
30). The Soviet Encyclopedia.
народа в “Конармии” И.Э.Бабеля). (n.d.).
Vuong, T. N. (1998). The diary of short stories (Sổ tay
truyện ngắn). Vietnam Writers' Association.
About the relationship between the intellectuals and
ordinary people in "Red Calvary" by I. E. Babel”
(Проблема взаимоотношений интеллигенции и
THE HUMANE ASPIRATIONS IN ISAAC BABEL’S RED CAVALRY
Do Thi Huong
Vietnam Institute of Literature, Vietnam Academy of Social Sciences, Vietnam
Author corresponding: Do Thi Huong - Email: huongvhnnvvh@gmail.com
Article History: Received on 29th May 2021; Revised on 14th June 2021; Published on 17th June 2021
Abstract: Isaac Babel is an exceptional Russian-Jewish writer of Russian literature. The writer himself and his best work Red Cavalry
have truly become a remarkable phenomenon in Russian and world literature. Through Red Cavalry, Babel not only helps readers
understand more about the life, the fighting process as well as the virtues and the ideal of the Red Army Cossack soldiers, but also
allows them to see the human values, human nature, simple wishes and noble aspirations of people, especially the Jewish
intellectuals in violent war situations. His readers, therefore, pay even more respect for this talented and brave writer, and at the same
time, earn a more comprehensive view of a highly turbulent period of the Russian-Soviet literature. With an uncommon psychological
view used in approaching the works written about war, this article hopes to highlight the issues mentioned above.
Key words: Isaac Babel; Red Cavalry; humane aspiration; intellectual; Jew.
171
Bạn đang xem tài liệu "Những khát vọng nhân văn trong "Tập đoàn quân kỵ binh" của Isaac Babel", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhung_khat_vong_nhan_van_trong_tap_doan_quan_ky_binh_cua_isa.pdf

