Những khát vọng nhân văn trong "Tập đoàn quân kỵ binh" của Isaac Babel

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
NHỮNG KHÁT VỌNG NHÂN VĂN  
TRONG TẬP ĐOÀN QUÂN KỴ BINH CỦA ISAAC BABEL  
Đỗ Thị Hường  
Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Đỗ Thị Hường - Email: huongvhnnvvh@gmail.com  
Ngày nhận bài: 29-5-2021; ngày nhận bài sửa: 14-6-2021; ngày duyệt đăng: 17-6-2021  
Tóm tắt: Isaac Babel là một nhà văn Nga Do Thái đặc biệt trong văn học Nga. Bản thân nhà văn và tác phẩm xuất sắc nhất của  
ông Tập đoàn quân Kỵ binh đã thực sự trở thành một hiện tượng đáng kể trong văn học Nga và thế giới. Với Tập đoàn quân Kỵ  
binh, nhà văn không chỉ giúp người đọc hiểu thêm về cuộc sống, quá trình chiến đấu cũng như phẩm chất, lý tưởng của những  
chiến sỹ Hồng quân Codăc, mà còn giúp người đọc thấy được những giá trị nhân văn, nhân bản, những mong ước giản dị và cả  
những khát vọng cao cả của con người, đặc biệt những người trí thức Do Thái trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Qua đó,  
người đọc thêm trân trọng một cây bút tài năng và dũng cảm, cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về một giai đoạn đầy biến động  
của văn học Nga – Xô Viết. Với một góc nhìn tâm lý ít thấy khi tiếp cận các tác phẩm viết vềchiến tranh bài viết hy vọng sẽ làm nổi  
bật được những vấn đề trên.  
Từ khóa: Isaac Babel; Tập đoàn quân Kỵ binh; khát vọng nhân văn; trí thức; Do Thái.  
những vụ trấn áp văn chương những năm 30 - 40 của  
thế kỷ XX. Nói đến Babel người ta nói đến một nhà văn  
Nga gốc Do Thái đặc biệt và tài năng. Ngay khi mới  
1. Mở đầu  
Văn học Nga nổi tiếng là một nền văn học lớn trên  
thế giới với sự xuất hiện của nhiều người khổng lồ có  
xuất hiện trên văn đàn Babel đã được ca ngợi là “ngôi  
sao mới xuất hiện trong nền văn học chúng ta” (Freidin,  
cũng nổi tiếng với những vụ án văn chương hết sức  
1990). Babel được biết đến trên văn đàn Nga và thế giới  
ảnh hưởng lớn lao tới văn hóa nhân loại. Văn học Nga  
khốc liệt trong lịch sử văn học thế giới. Có lẽ cũng bởi  
văn học Nga “hưởng ứng rất nhạy bén với các vấn đề xã  
hội” (Nguyen, 2002) cho nên nhiều nhà văn Nga và  
với tác phẩm Tập đoàn quân Kỵ binh. Ngay từ 1926, khi  
mới ra đời Tập đoàn quân Kỵ binh đã được dịch ra 20  
thứ tiếng và Babel đã nổi tiếng rất xa bên ngoài biên  
những đứa con tinh thần của họ phải chịu những số  
giới Liên Xô. Nguyễn Hải Hà đã dẫn lời Erenburg trong  
phận đầy thăng trầm. Chính M.Gorky đã từng viết: “Đời  
các nhà văn Nga rất dồi dào những tấn bi kịch…”  
Chuyện làng văn: “Quân đoàn kỵ binh (cách dịch của  
Nguyễn Hải Hà) của Babel chiếm được cảm tình của  
(Gorky, 1970). Có thể kể ra một danh sách dài “những  
Maiacovsky, Esenin, A.Belưi, T.Mann và H.Barbusse,  
người tuẫn nạn trong văn học Nga thế kỷ XX”:  
A.Platonov, B.Pasternak, M.Bulgakov, A.Solzhenitsyn,  
I.Brodsky… Isaac Emmanuilovit Babel cũng là một  
người trong danh sách ấy. Ông là một nạn nhân của  
R.Rolland, và Bress cùng nhiều nhà văn lớn trên thế  
giới” (Nguyen, 2004). Giáo trình Lịch sử văn học Nga  
khen ngợi Tập đoàn quân Kỵ binh: “Tập truyện viết hấp  
dẫn, đậm đà (nồng như rượu mạnh, sặc sỡ như ngọc  
quý)” (Multiple authors, 2003). Với tập truyện này, tên  
tuổi của Babel được ca ngợi, nhưng cũng với tập truyện  
Cite this article as: Do, T. H. (2021). The humane  
aspirations in Isaac Babel’s Red Cavalry. UED Journal of  
Social Sciences, Humanities and Education, 11(1), 163-171.  
này, Babel bị kết án bởi nguyên soái Budionyi – Tư  
lệnh quân đoàn Kỵ binh số Một. Tập đoàn quân Kỵ binh  
là một tập truyện ngắn gồm 34 tác phẩm ghi lại cuộc  
sống và quá trình chiến đấu của những chiến sĩ kỵ binh  
Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 11, Số 1 (2021), 163-171 | 163  
Đỗ Thị Hường  
Hồng quân trong cuộc chiến tranh khốc liệt giữa Liên  
Xô và Ba Lan 1920. Mặc dù là một tác phẩm viết về  
chiến tranh nhưng trong Tập đoàn quân Kỵ binh người  
đọc vẫn thấy sự xuất hiện của những nhân vật nghệ sĩ  
với thế giới của những tác phẩm nghệ thuật, những nhân  
vật tôn giáo với nhà thờ, giáo đường, những nhân vật  
triết gia Do Thái với những nghi lễ cổ truyền… Chính  
sự tái hiện chân thực cuộc sống chiến đấu của cả các  
chiến sỹ Hồng quân lẫn những nạn nhân chiến tranh đã  
khiến Babel trở thành nạn nhân của tác phẩm của mình.  
Nhưng Gorky đã bênh vực Babel: “Babel tô đẹp các  
nhân vật của ông đạt hơn, thật hơn Gogol đã làm với  
những con người của vùng Daporozhe (các nhân vật  
trong Taras Bulba)… Babel đã bổ xung tài tình khái  
niệm của tôi về chủ nghĩa anh hùng của quân đội đầu  
tiên trong lịch sử”… “Babel là một hy vọng lớn của văn  
học Nga” (Babel, 2000).  
Codăc anh dũng, thiện chiến, mang nặng lý tưởng chiến  
đấu và chiến thắng, người đọc còn thấy nhiều những  
con người lương thiện, giản dị và đầy khát vọng. Họ là  
những chiến binh trí thức với khát vọng hòa nhập,  
những triết gia Do Thái với khát vọng gìn giữ các giá trị  
văn hóa, những họa sĩ với khát vọng tự do sáng tạo và  
những con người nhiều tầng lớp với khát vọng về một  
thế giới lý tưởng. Đó thực sự là những khát vọng nhân  
văn cao quý và đáng trân trọng trong bối cảnh chiến  
tranh ác liệt.  
2. Nội dung  
2.1. Khát vọng hòa nhập và gìn giữ  
2.1.1. Chiến binh trí thức với khát vọng hài hòa  
Viết về Quân đoàn kỵ binh số Một, Babel viết về  
những chiến binh ưu tú nhất trong quân đội Xô Viết.  
Không ít trong số họ là những chiến binh xuất thân trí  
thức. Họ không chỉ đóng góp một phần quan trọng vào  
thắng lợi của Tập đoàn quân, họ còn mang đến một nét  
đẹp riêng cho cuộc sống, chiến đấu của đội quân ấy –  
nét đẹp văn hóa. G.Freidin viết về họ: “Dù cho có người  
nói thế nào đi nữa thì phần văn hóa của cuộc Cách mạng  
vẫn thuộc về giới trí thức” (Freidin, 1990).  
“Thời gian sẽ mài giũa những viên ngọc thật”  
(Nguyen, 2002), Babel đã được phục hồi danh dự và tên  
tuổi vào tháng 12/1954. Năm 1988, Tuyển tập Babel (2  
tập), hồi ký của những nhà văn cùng thời viết về Babel  
được xuất bản ở Nga. Năm 2001, Toàn tập Babel (The  
Complete Work of Isaak Babel) được phổ biến rộng rãi  
ở phương Tây. Freidin khẳng định “Tập đoàn quân Kỵ  
binh – tác phẩm làm nên tên tuổi của Babel đã được tái  
bản 35 lần chỉ tính riêng ở Nga” (Freidin, 1990).  
“Không thể hình dung được hoàn chỉnh bức tranh văn  
học Nga nếu bỏ qua mảng văn học đã từng bị cấm đoán  
trước đây” (Dao, 2002) – nhà nghiên cứu Đào Tuấn  
Ảnh đã đưa ra nhận xét rất xác đáng. Ở Việt Nam, năm  
2000 dịch giả Nguyễn Thụy Ứng đã cho công bố Tuyển  
tập I.Babel gồm ba tập truyện ngắn (Tập đoàn quân Kỵ  
binh, Truyện ngắn Odessa, Truyện ngắn) và hai vở kịch  
(Maria và Hoàng hôn). Trong số những tác phẩm của  
Babel được dịch và giới thiệu ở Việt Nam cho đến nay,  
Tập đoàn quân Kỵ binh là tác phẩm lớn nhất, xuất sắc  
nhất, thể hiện rõ nhất tài năng của nhà văn Nga Do Thái  
này.  
Qua 34 truyện ngắn trong Tập đoàn quân Kỵ binh  
dần dần chúng ta thấy nổi bật lên hình ảnh của chàng kỵ  
binh trí thức Kyril Vasilievitr Liutov. Liutov xuất hiện  
trong tác phẩm với tư cách là “đại diện của tầng lớp trí  
thức tham gia Cách mạng vô sản, tìm kiếm vị trí của  
mình trong đó và cố hòa nhập vào quần chúng Cách  
mạng” (Babel, 2000). Tuy nhiên, trong suốt hành trình  
khó khăn và không ít gian khổ ấy dù có cố gắng đến  
đâu, dù có gặt hái được những thành công thế nào chăng  
nữa Liutov vẫn chưa một lần trở thành một chiến binh  
thực thụ. Bởi trong khi khát khao gia nhập vào nhóm  
các chàng trai Côdăc anh vẫn không thể xa rời được bản  
chất vừa nhạy cảm vừa đa cảm của người trí thức trong  
mình. Khát vọng lớn nhất của Liutov và những người  
cùng xuất thân như anh là khát vọng hài hòa: vừa dung  
hợp được chất Côdăc dũng mãnh và thiện chiến vừa gìn  
giữ được chất trí thức và những nét đẹp văn hóa trong  
một con người. Thực tế tác phẩm đã cho thấy những khi  
Liutov giành được cảm tình của các đồng đội thì tâm  
hồn anh lại nhói đau, còn khi sống thật với bản chất của  
mình anh lại bị xa lánh, hắt hủi, coi thường, thù ghét,  
thậm chí họ gọi anh là kẻ phản bội.  
Nhà văn Erenburg đã viết: “Babel không giống ai  
và chẳng ai có thể giống Babel. Ông khác các tác giả  
khác không chỉ ở phong cách viết văn độc đáo mà còn ở  
cách nhận thức thế giới rất đặc biệt” (Babel, 2000). Dù  
được coi “là một bậc thầy về truyện ngắn trong nội  
chiến” (Huu, 1982) nhưng trong tác phẩm xuất sắc nhất  
của ông, người đọc không chỉ thấy hình ảnh của những  
chiến sĩ Hồng quân, đặc biệt những chiến sĩ Hồng quân  
164  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 163-171  
Nói tới những thử thách của chiến tranh người ta  
thường nói tới những chặng đường hành quân gian khổ,  
đói rét, bệnh tật, sự chết chóc. Nhưng đối với những  
chiến binh trí thức, đặc biệt là với những anh chàng đeo  
kính làm thế nào để thực sự trở thành một thành viên  
trong đại gia đình kỵ binh Hồng quân có lẽ là thử thách  
đầu tiên và khó khăn nhất. Liutov cũng phải đương đầu  
với thử thách ấy. Quyết định gia nhập vào đội ngũ  
những người lính kỵ binh đầu tiên của quân đội, Liutov  
được biệt phái tới sư đoàn bộ. Tại đây trước khi được  
đưa xuống đơn vị của mình Liutov đã nhận một đòn phủ  
đầu của sư trưởng: “… lại thêm cái kính trên mũi. Thiếu  
tư thế quá thôi!... Người ta phái anh đi mà không hỏi, ở  
đây chúng nó thường xỉa cho chỉ vì cái kính thôi đấy.  
Anh sẽ sống được với chúng tôi chứ?” (Babel, 2000).  
Ngay anh chàng phụ trách trú quân cũng kể cho Liutov  
nghe chuyện về một người đeo kính đã bỏ mạng và  
khuyên Liutov: “Nếu như các anh làm hại đời một cô  
nàng, một cô nàng thật trong trắng, thì lúc ấy các anh sẽ  
được các chiến sĩ yêu mến…” (Babel, 2000).  
Trong Cái chết của Dolgushov Liutov suýt bị  
Afonka Bida giết chết chỉ vì anh không đủ dũng cảm  
bắn một viên đạn vào người đồng đội đang bị thương  
nặng để giảm bớt đau đớn cho anh ta. Trong Đại đội  
trưởng Trunov anh bị coi là người gây ra cái chết của  
Trunov khi phán xét hành vi bạo hành đối với tù binh  
của đại đội trưởng. Trong Argamak cả anh chàng kỵ  
binh Chikhomolov và đại đội trưởng Baulin đều coi  
thường và xa lánh anh. Thậm chí Baulin còn thẳng  
thừng đuổi anh ra khỏi đơn vị: “Thôi cút mẹ anh ra khỏi  
chỗ chúng tôi đi…” (Babel, 2000). Có lần Liutov bị  
Ivan Akinfiev lên án là một kẻ molocan (giáo phái phủ  
nhận mọi nghi thức tôn giáo) vì anh không lắp đạn vào  
súng, anh không đủ lạnh lùng để giết người Ba Lan.  
Liutov đau đớn đến mức cầu xin Thượng đế ban cho  
mình khả năng giết người: “Tôi không còn sức lực gì  
nữa, cứ còng lưng dưới vành hoa nơi mộ địa, đi về phía  
trước và van nài số phận ban cho mình kỹ năng đơn  
giản nhất là giết người” (Babel, 2000). Mong muốn đó  
của Liutov không phải là mong muốn được trở thành  
một kẻ tàn bạo, nó chính là biến thể của khát khao được  
hòa nhập trong nhân dân, trong quần chúng Cách mạng.  
Ở đây, trong tác phẩm này, nhân dân ấy, quần chúng  
Cách mạng ấy chính là những chàng nông dân Côdăc  
như Akinfiev, Afonka Bida, Trunov, chính là những  
người công nhân đầy sức mạnh như Baulin, thậm chí là  
sư trưởng Savitsky – Phó tiến sỹ luật đại học Peterburg  
đầy chất thép. Nhưng dường như đối với Liutov “nhân  
dân” mãi mãi là một bí ẩn đối lập với anh, anh không  
sao hòa nhập, không sao trở thành một trong số họ.  
Liutov cũng giống như nhiều trí thức tham gia chiến  
tranh trong các tác phẩm văn học khác, không đủ can  
đảm để thẳng tay tàn sát đồng loại, ngay cả khi kẻ đồng  
loại ấy ở bên kia chiến tuyến. Bởi dù thế nào chăng nữa  
họ cũng là một con người, một số phận. Tình yêu  
thương, lòng nhân đạo nơi anh bị coi là mềm yếu. Đồng  
đội coi anh là kẻ mang “dòng máu của kẻ tôi đòi”. Họ  
coi thường tình yêu thương của anh, coi thường lòng  
nhân đạo nơi anh, dù đối tượng của tình yêu thương ấy  
chính là đồng đội của họ. Afonka quát lên với anh: “Bọn  
đeo kính chúng mày, chúng mày thương anh em chúng  
tao như con mèo thương con chuột” (Babel, 2000). Phải  
chăng đó chính là sự đối lập vĩnh cửu muôn đời giữa trí  
thức và nhân dân Nga? Phải chăng họ sẽ mãi mãi là tầng  
lớp trí thức, là giai cấp tiểu tư sản mà không thể trở  
Xuống nơi trú quân Liutov nhận được sự đón tiếp  
thô lỗ và không thiện chí của những anh chàng Côdăc  
khi một trong số họ vừa mỉa mai vừa ném hòm đồ của  
người mới tới ra cổng, còn những tay Côdăc khác thì  
“trêu chọc không biết mệt”. Liutov quyết định thể hiện  
mình theo đúng cách của họ. Anh giết chết con ngỗng  
vô tội – tài sản cuối cùng của cụ già chủ nhà. Ngay lập  
tức Liutov nhận được thái độ tôn trọng và thân thiện của  
những kẻ vừa hắt hủi mình. Nhưng niềm hân hoan và  
sung sướng vì được thu nhận vào đội ngũ cũng không  
xua tan được ám ảnh về “tội ác” đầu tiên nơi người trí  
thức: “Tôi nằm mơ, có cả những người đàn bà trong  
giấc mơ, chỉ có trái tim tôi nhuộm đỏ vì sát sinh, cứ  
nhoi nhói rỉ máu” (Babel, 2000). Lần đầu tiên Liutov sát  
sinh vô cớ, lần đầu tiên anh vi phạm nguyên tắc của  
chính bản thân mình. Những tưởng có được “lễ ra mắt”  
suôn sẻ trái tim chàng trai sẽ chai sạn, nhưng không, từ  
thẳm sâu tâm hồn của mình anh vẫn không thể thản  
nhiên giết người, báng bổ nhà thờ, bạo hành đối với phụ  
nữ, hành hạ tù binh hay tàn sát những người Do Thái.  
Có những khi Liutov làm tổn thương những người phụ  
nữ vì họ ngoan cố cất giấu lương thực nhưng những khi  
ấy anh không hề cảm thấy thanh thản. Anh vẫn là con  
người giàu tình cảm tận trong cốt tủy.  
165  
Đỗ Thị Hường  
thành một bộ phận hữu cơ của nhân dân Nga như  
N.A.Berdiaev đã từng khẳng định?  
nhân vật như thế. Chúng ta không thể không nói tới nhân  
vật Ghedali chủ cửa hàng buôn bán bấc đèn, phấn, lơ bột  
và là một triết gia Do Thái điển hình.  
Trong Tập đoàn quân Kỵ binh không chỉ một mình  
Liutov ôm ấp khát vọng hòa nhập và gìn giữ. Ilia – con  
trai rapbi Do Thái Motale cũng là một nhân vật luôn bị  
ám ảnh bởi hai ước muốn: hòa nhập vào đoàn binh  
Côdăc và giữ gìn tố chất của ông hoàng cuối cùng của  
vương triều Trecnobưn. Gia nhập Hồng quân anh bị cha  
– rapbi Motale Bratslavsky, bị bõ Mockhe – người hầu  
của cha anh coi thường, sỉ nhục, coi là kẻ tồi tệ, đáng  
nguyền rủa. Thậm chí vì anh, cả mẹ anh cũng bị coi  
thường, hành hạ. Trở về nhà vì không thể bỏ mẹ ở lại  
anh héo hon, tiều tụy. Cuối cùng Ilia chết khi chưa tới  
được Rovno, chết khi chưa thực hiện được lý tưởng,  
chết mà không nhận được sự tôn trọng và thương tiếc  
của đồng đội. Trong hành trang ra mặt trận của Ilia có  
cả chân dung của Lênin và Maimonit, có cả những tờ  
truyền đơn cộng sản, bên cạnh những dòng thơ Do Thái.  
Đáng tiếc, hành trang ra mặt trận cũng là hành trang  
sang thế giới bên kia của anh, trong hành trang ấy giờ  
đây có cả nỗi đau của một kẻ bất đắc chí.  
Cách mạng đến, mọi người trong khu chợ đã bỏ đi  
hết nhưng Ghedali vẫn ở lại. Ủng hộ Cách mạng nhưng  
không vì thế cụ bỏ truyền thống dân tộc: “Cách mạng,  
với Cách mạng chúng ta nói ủng hộ nhưng chẳng lẽ với  
ngày thứ bảy chúng ta nói phản đối hay sao?” (Babel,  
2000). Tuyệt đối tôn phục luật Moise, kiên quyết thực  
hiện ngày Sabat, tôn trọng và bảo vệ những nét văn hóa  
truyền thống dân tộc còn là phẩm chất của những  
Motale – rapbi cuối cùng của vương triều Trecnobưn,  
bõ Mockhe, Ilia… Ở họ, khát vọng lớn nhất chính là  
khát vọng giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa đẹp đẽ của  
dân tộc Do Thái khỏi những sự tàn phá của chiến tranh.  
Babel qua việc miêu tả những con người hoài cổ ấy  
muốn khẳng định một điều: chiến tranh dù có nghiệt ngã  
đến đâu, có sức phá hoại ghê gớm đến đâu cũng không  
thể tiêu diệt được chất người, đặc biệt là vẻ đẹp tâm hồn  
của con người. Khát vọng nhân văn sẽ mãi mãi là khát  
vọng cao đẹp không bao giờ chết.  
Cả Liutov, cả Ilia chính là những đại diện cho số  
đông tầng lớp trí thức tham gia Cách mạng trong Tập  
đoàn quân Kỵ binh. Qua Liutov, Babel đã biểu hiện  
được “lịch sử của tầng lớp trí thức tiểu tư sản, lịch sử  
các số phận và những sự trăn trở quằn quại của tầng lớp  
này trong những năm Cách mạng…” (Babel, 2000).  
2.1.3. Nhân vật tôn giáo với khát vọng bảo vệ  
thánh địa  
Ngoài những triết gia Do Thái hoài cổ, trong tác  
phẩm chúng ta còn bắt gặp không ít nhân vật tôn giáo.  
Họ có thể là những cha cố, cha phó hay những người  
phục vụ trong nhà thờ. Dù là ai, họ đều gặp nhau ở  
mong muốn gìn giữ nhà thờ - thánh địa thiêng liêng  
trước sức mạnh phá hủy của chiến tranh. Được khắc họa  
sắc nét hơn cả là pan Robatsky – lão bõ nhà thờ trong  
Nhà thờ Novograd và pan Liudomiasky – người đánh  
chuông nhà thờ trong Ở chỗ thánh Valangtanh.  
2.1.2. Triết gia Do Thái với khát vọng bảo tồn  
các giá trị văn hóa cũ  
Chiến đấu tại Ba Lan, Liutov thường xuyên phải  
chứng kiến những hành động xúc phạm tình cảm tôn  
giáo của dân địa phương, những hành động coi thường  
dân Do Thái và những hành động phá hoại nhà thờ xuất  
phát từ chính những người đồng đội trong Tập đoàn  
quân của mình.  
Pan Robatsky không thể chấp nhận được việc người  
ta xâm phạm hầm thiêng của nhà thờ. Phản ứng của ông  
rất dữ dội. Người đọc bắt gặp “cái ánh điên dại như của  
loài quạ trong con mắt pani Elida, tiếng cười như sấm  
của Romuan và tiếng gầm rú không ngớt của những quả  
chuông mà pan Robatsky, người đánh chuông nhà thờ  
phát điên dóng liên hồi” (Babel, 2000). Tiếng chuông  
của pan Robatsky là tiếng chuông cảnh báo về sự xúc  
phạm tôn giáo đang tràn lan trong chiến tranh; là tiếng  
chuông thức tỉnh sự tôn trọng những thánh địa thiêng  
liêng, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng; hay là tiếng  
chuông đánh thức tình cảm tôn giáo tốt đẹp trong mỗi  
con người?  
Cũng giống như những người Do Thái khác, từ thuở  
ấu thơ văn hóa Do Thái đã có một ý nghĩa hết sức đặc  
biệt đối với Liutov. Dù gia nhập Hồng quân nhưng anh  
không thể cho phép mình được lãng quên nguồn gốc.  
Những cuộc chuyện trò với triết gia Do Thái Ghedali, với  
rapbi Do Thái Motale, sự trân trọng những di sản văn hóa  
trong các nhà thờ Do Thái, những bản báo cáo kêu gọi  
bảo vệ các thánh địa tôn giáo… đã khẳng định chất nhân  
văn Do Thái trong con người anh. Không chỉ Liutov,  
trong tác phẩm của mình Babel còn miêu tả rất nhiều  
166  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 163-171  
Khác với Robatsky, phản ứng của pan Liudomiasky  
mạnh mẽ hơn. Vẫn trung thành với các nghi lễ tôn giáo  
“người đánh chuông phủ phục xuống những tấm đá lát  
sàn màu xanh da trời” (Babel, 2000) trước bàn thờ. Và  
“pan Liudomiasky đang đứng dưới bức tượng trong  
chiếc áo lễ phục màu xanh lá cây. Ông vươn bàn tay gầy  
khô trên đầu chúng tôi và nguyền rủa chúng tôi (…)  
Giọng ồm ồm như sấm, người kéo chuông nhà thờ thánh  
Valangtanh dùng tiếng Latinh rất thuần rút phép thông  
công của chúng tôi. Rồi ông quay đi, quỳ xuống, ôm lấy  
hai chân Chúa Cứu Thế” (Babel, 2000). Có thể có người  
cho rằng hành động của pan Liudomiasky là hành động  
của kẻ sùng tín mù quáng, sẵn sàng tử vì đạo nhưng  
theo chúng tôi, miêu tả pan Liudomiasky trong những  
hành động như vậy nhà văn bày tỏ sự kính trọng đối với  
những người thực sự kính Chúa, tin Chúa, thực sự tôn  
trọng những giá trị tín ngưỡng tốt đẹp của loài người.  
Đó cũng là một biểu hiện đầy tính nhân văn của con  
người, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh.  
đam mê và đồng cảm trước khát vọng sáng tạo nghệ  
thuật không ngừng ở họa sĩ Do Thái đầy tài năng.  
Những bức tranh của Apolech có vẻ đẹp khác  
thường và sức sống diệu kỳ. Vẻ đẹp ấy, sức sống ấy tỏa  
ra từ chất thơ của cuộc sống lam lũ, tỏa ra từ sự chân  
thực của những hình ảnh hiện ra trong tranh. Nhân vật  
của Apolech không phải là những thần thánh chỉ thấy  
trong truyền thuyết với phong thái đạo mạo, cao quý và  
quyền uy mà là những con người thật trong cuộc sống  
đời thường cũng biết yêu biết ghét, cũng biết làm đẹp,  
cũng sinh con đẻ cái… Đứng trước họ người ta không  
sợ sệt, phục tùng, ngưỡng vọng, đứng trước họ người ta  
có thể ngắm nghía, đùa vui, bình luận, chê bai, thậm chí  
nguyền rủa. Ở những bức tranh của Apolech, người ta  
thấy lồng trong hình dáng những vị thánh là khuôn mặt  
của những người nông dân Nga chất phác, thật thà,  
những con người lao động bị tầng lớp trên coi là thấp  
kém. Nghệ thuật của Apolech là thứ nghệ thuật tự do  
được chắp cánh bởi trí tưởng tượng bay bổng, không gò  
bó trong bất kỳ một khuôn phép nào. Đến một vùng đất  
mới Apolech lại đưa những con người nơi ấy vào tranh,  
đặt họ trong những sinh hoạt dân giã thường ngày.  
Những người Palestin có thể nhận ra các vị thánh của họ  
là: “Các ông già vui nhộn và có phần chất phác, với  
những chòm râu bạc, những cặp má hồng hào được bọc  
trong lụa là và đặt vào những tối vui sôi nổi”. Những  
người dân ở thành phố Novograd – Volưnsco lại thấy  
“trong thánh Paul tay Do Thái thọt chân Ianech, bỏ đạo  
Do Thái theo đạo Thiên Chúa”, thấy “Marie Mardalen  
là cô gái Do Thái Enca, không biết bố mẹ là ai và là mẹ  
của vô số đứa con hoang” (Babel, 2000).  
2.2. Khát vọng tự do sáng tạo  
“Các truyện ngắn của Babel sáng lóa mắt. Cũng  
như một số họa sĩ thế kỷ chúng ta, ông tìm kiếm những  
sắc màu rực rỡ” (Babel, 2000). Nếu như Erenburg đã  
từng ngất ngây trước những tác phẩm đậm màu sắc hội  
họa của Babel thì nhà văn khi hóa thân thành người kể  
chuyện xưng tôi trong Pan Apolech lại bị chinh phục  
bởi chính họa sĩ vẽ tranh tôn giáo người Do Thái:  
“Cuộc đời tuyệt đẹp và khôn ngoan của pan Apolech đã  
làm đầu óc tôi ngây ngất như một thứ rượu vang lâu đời  
(…). Ngập trong ánh hào quang hồn nhiên tỏa ra trên  
đầu các tượng thánh, hồi ấy tôi đã phát nguyện sẽ noi  
gương pan Apolech” (Babel, 2000). Có sức quyến rũ gì  
từ cuộc đời “tuyệt đẹp và khôn ngoan” ấy khiến “tôi”  
ngất ngây, thậm chí nguyện sẽ noi gương theo? Phải  
chăng đó chính là sức cuốn hút tỏa ra từ các bức tranh  
Apolech đã vẽ? Hay đó là chất lãng tử và hài hước trong  
con người ông? Hai điều đó đúng, nhưng có lẽ chưa đủ.  
Theo chúng tôi, viết về Apolech, Babel không chỉ đơn  
giản ca ngợi chất lãng tử trong con người và nét tài hoa  
trong các bức tranh của ông, đằng sau những lời ca ngợi  
ấy chính là thái độ trân trọng, lòng cảm phục và sự  
đồng cảm của một nghệ sĩ. Trân trọng những chân lí  
nghệ thuật toát ra từ các bức tranh của Apolech, cảm  
phục con người dũng cảm dám sống hết mình cho nỗi  
Người ta “tìm thấy trong những căn nhà nông dân  
nghèo nàn, hôi hám nhất, những bức chân dung gia đình  
quái đản, những bức vẽ báng bổ tôn giáo, ngây thơ  
nhưng rất nghệ thuật, những thánh Joseph tóc xám chải  
đường ngôi giữa, những Jesus đầu bôi pommat, những  
Đức Bà Maria nông thôn đã sinh nở nhiều lần ngồi dạng  
háng, các hình thánh này đã được đặt trong góc trang  
trọng nhất của các căn phòng, giữa những vòng hoa  
giấy”. Thậm chí “kẻ thù của người đặt hàng có thể bị vẽ  
thành tên Juda ở Kirios” (Babel, 2000).  
Không phải không có lý khi cha xứ vùng Dupno và  
Novoconstanchin khẳng định pan Apolech đã “phong  
thánh” cho nhân dân ngay khi họ còn sống, khi những  
người dân Nga trong vùng nhận ra “phải chăng có nhiều  
167  
Đỗ Thị Hường  
chân lý trong các bức tranh của pan Apolech, người  
thỏa mãn lòng kiêu hãnh của chúng tôi, hơn là trong  
những lời của cha, đầy ý mạt sát và tức tối của các ông  
chủ?” (Babel, 2000). Nghệ thuật chỉ có thể có sức sống  
lâu bền khi nó là thứ nghệ thuật chân chính được sáng  
tạo vì nhân dân, về nhân dân. Và chỉ có nhân dân chứ  
không phải tầng lớp quý tộc mới xứng đáng trở thành  
đối tượng của sáng tạo nghệ thuật. Nghệ thuật của  
Apolech chính là thứ nghệ thuật ấy.  
kiếm tìm một thành quốc tương lai - ở nơi ấy có sự bình  
yên tuyệt đối.  
Ghedali trong tác phẩm cùng tên là một triết gia Do  
Thái tiến bộ. Căm thù bọn Ba Lan độc ác tàn sát người  
Do Thái, cảm kích khi Cách mạng “đập chết bọn Ba  
Lan” nhưng cụ vẫn không hết băn khoăn về Cách mạng:  
“Nhưng bọn Ba Lan đã bắn vì chúng nó là phản Cách  
mạng. Các ngài bắn vì các ngài là Cách mạng. Nhưng  
Cách mạng lại là hân hoan hạnh phúc. Mà hân hoan  
hạnh phúc thì không thích trong nhà có trẻ mồ côi.  
Những việc tốt thì do con người tốt làm ra. Cách mạng  
là công việc tốt của những con người tốt. Song người tốt  
không giết người. Như vậy có nghĩa là Cách mạng đang  
do những con người độc ác làm. Nhưng bọn Ba Lan  
cũng là những con người độc ác. Vậy ai sẽ nói cho  
Ghedali biết đâu là Cách mạng và đâu là phản Cách  
mạng” (Babel, 2000).  
Sau khi công bố những bức tranh “ngây thơ nhưng  
rất nghệ thuật” sau sáu tháng dày công sáng tạo trên các  
bức tường nhà thờ Apolech nhận được những lời đe dọa  
từ cha cả và các công dân quyền quý. Không chịu che  
các bức tường vẽ đầy tranh của mình, Apolech bị đuổi  
ra khỏi giáo đường. Dũng cảm, dám sống hết mình vì  
nghệ thuật đó là phẩm chất cao quý của Apolech. Trải  
qua 30 năm ở lại thành phố Novograd – Volưnsco, cho  
đến khi gặp “tôi” “họa sĩ cuồng” Apolech vẫn khát khao  
sáng tạo không ngừng. Câu chuyện về nàng Debora ăn  
nằm với Jesus ngay trên những thứ cô gái vừa nôn ra,  
hình ảnh “tôi” được Apolech lồng trong thánh  
Frăngxoa… tất cả cho thấy khát vọng cao đẹp đó. Với  
Apolech, được tự do sáng tạo cũng quan trọng như được  
sống trong cuộc đời này. Người nghệ sĩ chỉ có thể sáng  
tạo được những tác phẩm nghệ thuật đích thực chừng  
nào con người anh ta có óc tưởng tượng tự do, có trái  
tim say mê, đầy khát vọng và dũng khí. Hình ảnh của  
Apolech gợi cho chúng ta liên tưởng tới người nghệ sĩ  
Babel – một con người cho đến phút cuối cùng của cuộc  
đời vẫn khát khao được hoàn thành những tác phẩm  
nghệ thuật dang dở của mình. Khát vọng tự do sáng tạo  
nghệ thuật của Apolech cũng là khát vọng cháy bỏng  
của Babel. Bởi nhà văn nhận thức được sứ mệnh cao cả  
của mình: “Người nông dân nông trang tập thể này đã  
có lúa mì, anh ta có nhà ở, thậm chí có cả huân chương.  
Song đối với anh ta như thế vẫn chưa đủ, bây giờ anh ta  
đang muốn người ta làm thơ về mình” (Babel, 2000).  
Trong suy nghĩ đơn giản của Ghedali bọn Ba Lan là  
xấu, Cách mạng là tốt; bắt người Do Thái và giứt râu  
người Do Thái là xấu, cứu người Do Thái là tốt; bắn  
giết là xấu, mang lại niềm vui và hân hoan là tốt; giết  
người là những kẻ độc ác, việc tốt do những người tốt  
làm ra… Nhưng Ghedali đâu biết rằng trên cuộc đời này  
làm gì có cuộc Cách mạng nào là Cách mạng ngọt bùi,  
niềm vui và sự hân hoan có được phải đánh đổi bằng  
máu. Bọn Ba Lan nổ súng vì mục đích phi nghĩa còn  
Cách mạng nổ súng vì Cách mạng cần phải chống lại kẻ  
phi nghĩa bằng chính thứ vũ khí của chúng. Ngay Lênin  
cũng đã nói: “Những người xã hội không tưởng xưa kia  
tưởng tượng rằng chủ nghĩa xã hội có thể được xây  
dựng bởi những con người khác, rằng đầu tiên họ sẽ  
giáo dục những con người tốt đẹp, sạch sẽ, đã được  
huấn luyện thật tốt rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội  
với những con người ấy. Chúng ta bao giờ cũng cười họ  
và nói rằng đó là trò chơi búp bê, là trò đùa của các  
thiên kim tiểu thư về chủ nghĩa xã hội chứ không là  
chính trị nghiêm túc” (Babel, 2000). Tuy suy nghĩ của  
Ghedali có phần đơn giản và lệch lạc nhưng Babel tôn  
trọng tấm lòng của Ghedali – một người Do Thái đã  
nhiệt tình ủng hộ Cách mạng, trân trọng khát khao cháy  
bỏng của cụ về một thế giới đại đồng Nga – nơi ấy  
không còn máu chảy, không còn chiến tranh, nơi ấy chỉ  
có những người tốt. “Và chúng tôi muốn có Quốc tế của  
những người tốt, tôi muốn mỗi linh hồn đều được tính  
tới và được cấp cho một khẩu phần hạng nhất” (Babel,  
2000). Khát vọng của Ghedali cũng là khát vọng của  
2.3. Khát vọng về một thế giới lý tưởng  
Thế giới nhân vật của Babel là một thế giới của  
những con người khắc khoải kiếm tìm: những chiến binh  
Hồng quân kiếm tìm danh dự và chiến công; người trí  
thức tham gia Cách mạng Liutov và Ilia kiếm tìm vị trí  
của mình trong quần chúng Cách mạng; người nghệ sĩ  
Apolech kiếm tìm những tác phẩm nghệ thuật đích thực;  
còn những nhân vật như Ghedali, Sidorov, Arghev và  
Sashka Conhaev lại là “những người lữ khách Nga”  
168  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 163-171  
Babel và tất cả những ai tham gia Cách mạng. Có điều  
triết gia Do Thái chỉ dừng lại ở khát vọng, ước mơ còn  
Babel và các chiến sĩ Hồng quân trong Tập đoàn quân  
Kỵ binh không chỉ biết ước mơ, không chỉ tin tưởng vào  
tương lai, họ đã đấu tranh cho tương lai. Cũng bởi thế  
cho nên Babel gọi Quốc tế của Ghedali là Quốc tế thứ  
Tư – cái quốc tế không thể nào có.  
khả năng của mình. Đó chính là chân lí rút ra từ những  
câu chuyện của Ghedali, Sidorov, Arghev. Viết về họ  
Babel không hề có thái độ mỉa mai, trái lại nhà văn tỏ ra  
hiểu và thông cảm với họ. Bởi họ không thể chấp nhận  
những gì “tạm thời, tương đối, ước lệ” (chữ của  
Berdiaev) của thời kỳ quá độ, họ mong muốn đạt ngay  
đến một thế giới lý tưởng. Babel đồng cảm với mong  
ước của họ, trân trọng tinh thần hướng thiện và khát  
vọng lưu giữ lòng tốt của con người, một trong những  
giá trị đạo đức ngàn đời của nhân loại, ở họ.  
Nếu như Ghedali mơ tới một Quốc tế của những  
người tốt thì anh lính Hồng quân Sidorov trong Mặt trời  
nước Ý lại khát khao được sang đất Ý. Với anh, nước Ý  
chính là miền đất hứa, là nơi chốn bình an tuyệt đối, là  
thế giới lý tưởng. Ở đó sẽ không có những cuộc hành  
binh đánh bọn phản Cách mạng, sẽ không có một  
Matxcơva thờ ơ với Tập đoàn quân, sẽ không có cả mặt  
trận, không có “Tập đoàn quân Kỵ binh và cuộc đời lính  
tráng nồng nặc mùi máu và xác chết” (Babel, 2000).  
Anh viết trong bức thư gửi cho người yêu: “Nước Ý đã  
thấm nhập vào tim anh như bùa yêu. Ý nghĩ về đất nước  
này, đất nước mà anh chưa nhìn thấy bao giờ, đối với  
anh nó ngọt ngào như cái tên của một người đàn bà,  
như tên em, Victoria…” (Babel, 2000).  
Cũng ôm ấp khát vọng tình yêu thương, cũng từng  
mơ ước một thế giới chỉ có sự yên ả và thanh bình  
nhưng Sashka Conhaev không phải là người ảo tưởng  
như Ghedali, Sidorov hay Arghev. Sống ở bất cứ môi  
trường nào anh cũng sẵn sàng lắng nghe, thông cảm,  
chia sẻ nỗi buồn, sự tuyệt vọng của người khác; động  
viên, an ủi giúp đỡ họ vượt qua khó khăn. Bà con, đồng  
đội gọi anh là Sashka Chúa Cứu Thế. Cuộc sống lý  
tưởng trong mắt Sashka chính là cuộc sống của những  
người chăn bò chăn ngựa ở làng quê. Tuyệt vời làm sao  
khi được sống trên thảo nguyên mênh mông và tươi đẹp,  
chỉ có niềm vui của lao động hăng say và tình yêu cuộc  
sống, yêu thiên nhiên: “Đất mang khí ẩm tháng tư. Nước  
xanh nhấp nhoáng như ngọc bích dưới những hố đen  
ngòm. Cỏ xanh rờn nhú lên trên mặt đất thành những  
đường thêu rắc rối. Và từ dưới đất bốc lên cái mùi chua  
chua như mùi ả vợ lính lúc trời rạng. Trên những nấm  
cuốc gan, những đàn gia súc đầu mùa đổ xuống bên  
dưới. Những con ngựa non tơ nô rỡn trong khoảng không  
mênh mông xanh lơ ở chân trời” (Babel, 2000).  
Sidorov tự nhận mình là con người nhu nhược. Anh  
không chịu đựng nổi những sự thực khốc liệt của chiến  
tranh, nhất là sự thờ ơ của hậu phương và thái độ quan  
liêu của những viên chức ở Matxcova. Tuy còn nhiều  
dằn vặt, suy tư nhưng trong tâm hồn mệt mỏi của anh  
hình ảnh nước Ý cứ sáng lên, hấp dẫn anh, lôi cuốn anh,  
hứa hẹn với anh một cuộc sống bình yên. Anh muốn  
được sang nước Ý để trốn chạy tất cả dù không biết sẽ  
có điều gì chờ đón mình ở phía trước. Babel hiểu và  
thông cảm với khát vọng của Sidorov. Dù sao anh cũng  
là người dám sống thật với ước mơ của chính mình.  
Chẳng thế mà Sashka kiên quyết từ chối công việc  
của một thợ mộc ở thị trấn để được sống giữa thảo  
nguyên yên ả, sống giữa đàn gia súc thân thuộc và bà  
con Côdăc yêu lao động. Ra mặt trận, tâm hồn Sashka  
vẫn không hề bị chai sạn đi bởi súng đạn, máu lửa,  
chiến tranh. Ở anh vẫn dạt dào dòng chảy của tình yêu  
thương. Vốn hát hay, Sashka đã dùng tiếng hát của  
mình để đưa sự yên bình, tình yêu, niềm thương nỗi  
nhớ, khát vọng, mơ ước… trở lại thế giới tình cảm của  
những người chiến sĩ. Những giai điệu thắm thiết cổ xưa  
trong bài hát của anh đã làm sống dậy tình người, tưới  
tắm cho những mảnh đất tâm hồn đang khô hạn bởi  
chiến tranh. Chính “tôi” đã viết: “Các bài hát của anh  
cần cho chúng tôi, không ai biết chiến tranh bao giờ mới  
chấm dứt, mà Sashka Chúa Cứu Thế, ca sĩ của đại đội  
Trợ tế Arghev trong Hai tay Ivan cũng là một kẻ  
trốn chạy. Là người sùng tín, tôn thờ Chúa Jesus và lý  
tưởng về một thế giới an lành, lương thiện Arghev  
không chấp nhận nổi những sự khốc liệt của chiến tranh.  
Hai lần bị đưa ra mặt trận, hai lần trốn chạy. Lần thứ ba  
bị đưa vào trung đoàn các phần tử xấu ở Matxcova, lại  
giả điếc để không phải ra mặt trận, cuối cùng điếc thật.  
Sự hèn nhát và nhu nhược của Arghev tuy đáng lên án,  
nhưng số phận của Arghev lại gây ra sự thương cảm  
trong lòng người đọc. Muốn đạt được sự bình yên,  
muốn có được một thế giới an lành người ta phải đấu  
tranh cho nó chứ không phải trốn chạy. Hạnh phúc thực  
sự chỉ có được khi người ta biết đạt lấy nó bằng chính  
169  
Đỗ Thị Hường  
kỵ binh, còn chưa là một trái cây quá chín để rụng…”  
(Babel, 2000). Sashka không chờ đợi hay trốn chạy, anh  
hành động vì mình và vì mọi người. Bởi thế có thể nói  
Sashka chính là hiện thân hoàn hảo nhất của khát vọng  
nhân văn nhân bản trong chiến tranh. Cũng xuất thân  
nông dân Sashka của Babel gợi nhớ Platon Karataev  
trong Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy. Nếu  
như Platon Karataev chính là người đem lại ánh sáng  
chân lý cho Pie Bezukhov thì Sashka lại là người đem  
lại hơi ấm của tình người tới tất cả mọi nhân vật trong  
Tập đoàn quân Kỵ binh.  
Tài liệu tham khảo  
Babel, I. E. (2000). The collected stories (Tuyển tập) (T.  
U. Nguyen, Trans.). Culture and Information.  
Berdiaev, A. N. (2003). The Russian soul (Tâm hồn  
Nga) (T. L. Tu, Trans.). Journal of Foreign  
Literature, 6, 199–218.  
Dao, T. A. (2001). A look back at the Soviet Russian  
prose written about war (Nhìn lại văn xuôi Nga Xô  
Viết viết về chiến tranh). Journal of Writer, 5,  
124–133.  
Dao, T. A. (2002). Critic Dao Tuan Anh: ‘I'm the  
person who knows...to quit’ (Nhà phê bình Đào  
Tuấn Ảnh: ‘Tôi là người biết... bỏ cuộc’).  
Tuy có những nét tính cách khác nhau nhưng cả  
Ghedali, cả Sidorov, cả Arghev và đặc biệt là Sashka  
đều là những người có tâm hồn đẹp. Họ đã dám sống,  
dám khát vọng, dám mơ ước dù có lúc biết rằng mơ ước  
của mình là không tưởng. Họ cũng là những nhân vật  
nói lên tiếng nói thiết tha của tác giả về tình người, về  
vẻ đẹp của lòng tốt, lương tâm, sự đồng cảm. Trong  
chiến tranh khốc liệt, giữa một thế giới những chiến  
binh dễ gợi ra sự khắc khổ, khô khan những nhân vật  
mang khát vọng về tình yêu thương của Babel như đem  
đến một luồng sinh khí mới mềm mại hơn, lãng mạn  
hơn, nhân văn hơn cho tác phẩm.  
Vnexpress.  
dao-tuan-anh-toi-la-nguoi-biet-bo-cuoc-  
1875255.html.  
Freidin, G. (1990). Isaac Babel (1894—1940).  
Freidin, G. (2021). Isaac Babel. Encyclopedia  
Britannica.  
Babel.  
Gorky, M. (1970). Gorky's discussions of literature  
(Gorky bàn về văn học). Literature.  
Hoang, T. X. (1999). The ten biggest religions in the  
world (Mười tôn giáo lớn trên thế giới). National  
Politicics.  
Huu, N. (1982). The dictionary of foreign writers and  
playwrights (Từ điển tác gia văn học và sân khấu  
nước ngoài). Culture.  
Le, D. T. (1999). A few characteristics of Russian-  
Soviet short stories (Mấy đặc điểm truyện ngắn  
Nga – Xô Viết). Journal of Military Arts, 4, 110–  
112.  
Multiple authors. (2003). The history of Russian  
literature (Lịch sử văn học Nga). Education.  
Nguyen, C. (1993). The Jewish folk legends (Những  
truyền thuyết dân gian Do Thái). Culture.  
Nguyen, H. D. (1963). Literature, arts and politics in the  
Soviet Union (Văn nghệ với chánh trị tại Liên Xô).  
Encyclopedia, 159+160, 57–61 & 21–26.  
Nguyen, H. H. (2002). Russian literature, truth and  
beauty (Văn học Nga sự thật và cái đẹp).  
Education.  
3. Kết luận  
Như thế, Babel đã xây dựng nên trong Tập đoàn  
quân Kỵ binh một thế giới nhân vật khát vọng. Khát  
vọng hài hòa của Liutov, khát vọng tự do sáng tạo nghệ  
thuật của Apolech, khát vọng về một thế giới lý tưởng  
của Ghedali… là gì nếu không phải là khát vọng đạt tới  
sự hoàn hảo trong con người? Tự đốt cháy mình, sống  
hết mình cho bản thân và những người khác, họ giống  
như nhân vật lãng mạn mang đầy màu sắc huyền thoại  
Danko của Gorky. Có điều Babel không lý tưởng hóa,  
thần thánh hóa những nhân vật của mình, nhà văn chỉ lý  
tưởng hóa khát vọng của họ, gieo vào trong tâm hồn họ  
khát vọng kiếm tìm cái đẹp tuyệt đối… Bởi thế, họ thật  
hơn, gần gũi hơn với người đọc. “Trên đời này thật  
không có gì khó khăn hơn là viết những trang văn xuôi  
lương thiện, giản dị về con người” (Vuong, 1998), với  
Tập đoàn quân Kỵ binh và những nhân vật luôn khát  
khao những ước vọng nhân văn, Babel thực sự đã làm  
được công việc khó khăn ấy.  
Nguyen, H. H. (2004). Tragic/Miserable life (Cuộc đời  
sóng gió bi thảm). Printed in Stories of Vietnamese  
and world literature. Education.  
170  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 163-171  
Pautovsky, K., & Phan, H. G. (2004). Some words about  
Babel (Mấy lời về Babel). Printed in Alone with  
the autumn. Culture and Information.  
Prokhorov, A. M. (n.d.). The Soviet commander  
Budionyi (Будённый Семён Михайлович) (Vol.  
30). The Soviet Encyclopedia.  
народа в “Конармии” И.Э.Бабеля). (n.d.).  
Vuong, T. N. (1998). The diary of short stories (Sổ tay  
truyện ngắn). Vietnam Writers' Association.  
About the relationship between the intellectuals and  
ordinary people in "Red Calvary" by I. E. Babel”  
(Проблема взаимоотношений интеллигенции и  
THE HUMANE ASPIRATIONS IN ISAAC BABEL’S RED CAVALRY  
Do Thi Huong  
Vietnam Institute of Literature, Vietnam Academy of Social Sciences, Vietnam  
Author corresponding: Do Thi Huong - Email: huongvhnnvvh@gmail.com  
Article History: Received on 29th May 2021; Revised on 14th June 2021; Published on 17th June 2021  
Abstract: Isaac Babel is an exceptional Russian-Jewish writer of Russian literature. The writer himself and his best work Red Cavalry  
have truly become a remarkable phenomenon in Russian and world literature. Through Red Cavalry, Babel not only helps readers  
understand more about the life, the fighting process as well as the virtues and the ideal of the Red Army Cossack soldiers, but also  
allows them to see the human values, human nature, simple wishes and noble aspirations of people, especially the Jewish  
intellectuals in violent war situations. His readers, therefore, pay even more respect for this talented and brave writer, and at the same  
time, earn a more comprehensive view of a highly turbulent period of the Russian-Soviet literature. With an uncommon psychological  
view used in approaching the works written about war, this article hopes to highlight the issues mentioned above.  
Key words: Isaac Babel; Red Cavalry; humane aspiration; intellectual; Jew.  
171  
pdf 9 trang yennguyen 13960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những khát vọng nhân văn trong "Tập đoàn quân kỵ binh" của Isaac Babel", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_khat_vong_nhan_van_trong_tap_doan_quan_ky_binh_cua_isa.pdf