Biểu tượng thiên nhiên trong "Quốc âm thi tập" và "Bạch vân quốc ngữ thi tập" từ góc nhìn văn hóa

TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
67  
BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN TRONG  
QUỐC ÂM THI TẬP Vꢀ BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP  
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA  
Phạm Thị Huyền Trang1  
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội  
Tóm tắt: Trong bài viết này, chúng tôi phân tích một số biểu tượng thiên nhiên trong  
Quốc âm thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập, so sánh sự tương đồng và khác biệt trong  
nghệ thuật xây dựng các biểu tượng thiên nhiên, lý giải từ tư tưởng thời đại và phong  
cách cá nhân của các tác giả.  
Từ khóa: Quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, biểu tượng thiên nhiên.  
1. MỞ ĐẦU  
Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là hai tác giả lớn không chỉ trong văn học trung  
đại mà đối với cả nền văn học Việt Nam. Nếu như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi - tác  
phẩm mở đầu đã là đỉnh cao của thơ Nôm trung đại, thì Bạch Vân quốc ngữ thi tập của  
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một cột mốc quan trọng trong quá trình vận động và phát triển thơ  
Nôm Đường luật ở nước ta. Vấn đề nhìn nhận hai tác giả ở thế đối chiếu với nhau khi xây  
dựng hệ thống biểu tượng nghệ thuật thiên nhiên trong hai tập thơ Nôm kiệt tác Quốc âm  
thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập giúp chúng ta đưa ra những kết luận sâu sắc hơn về  
sự cống hiến của hai tác giả đối với tiến trình văn học dân tộc.  
Từ trước tới nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ “biểu tượng”. Việc cắt  
nghĩa, giải nghĩa các biểu tượng không phải là việc dễ dàng, bởi mỗi biểu tượng đều có nội  
hàm mở. Pêtit Larousse (1993) quan niệm: “Biểu tượng là một dấu hiệu ám ảnh, con vật  
hay đồ vật biểu thị một điều trừu tượng; nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều  
gì đó”. Trong cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier - Alain Gheerbrant  
cho rằng: “Biểu tượng được dùng với những biến đổi đáng kể về ý nghĩa và chú ý nhiều ở ý  
nghĩa tượng trưng” [2, tr. 268]. Như vậy chúng ta có thể rút ra một số kết luận về biểu  
1
Nhận bài ngày 26.06.2016; gửi phản biện và duyệt đăng ngày 20.08.2016  
Liên hệ tác giả: Phạm Thị Huyền Trang; Email: [email protected]  
68  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
tượng: Thứ nhất, biểu tượng là nấc thang cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính. Cùng  
với cảm giác và tri giác, biểu tượng làm nền cho giai đoạn nhận thức lí tính về sau, góp  
phần quan trọng để nhận thức về thế giới khách quan. Thứ hai, biểu tượng bao giờ cũng  
bao gồm hai bình diện là cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Trong đó, cái biểu đạt luôn luôn  
lớn hơn cái được biểu đạt. Thứ ba, biểu tượng mang đậm màu sắc tâm linh, mang tính dân  
tộc, tính thời đại. Việc giải mã các biểu tượng sẽ góp phần không nhỏ trong việc chiếm  
lĩnh thế giới nghệ thuật của tác phẩm.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Biểu tượng thiên nhiên trong Quốc âm thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập  
Thiên nhiên là đề tài quen thuộc, nguồn cảm hứng bất tận, suối nguồn không bao giờ  
vơi cạn của thi ca nhân loại. Đặc biệt, với tâm thức thời trung đại, con người xem mình là  
một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Họ quan niệm “thiên nhân hợp nhất” cho nên giữa con  
người và tự nhiên có sự cộng hưởng, hòa đồng. Những tao nhân mặc khách sống an bần lạc  
đạo giữa thiên nhiên để chiêm nghiệm về vũ trụ, cuộc đời. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thiên  
Thụ đã nhận định: “Với Nguyễn Trãi cũng như các thi nhân khác, thiên nhiên là nguồn mĩ  
cảm vô cùng phong phú, đã làm cho tâm hồn thi nhân rung động... Thi nhân như là một kẻ  
đi tìm cái đẹp và thiên nhiên với muôn vàn vẻ đẹp đã gợi mỗi thi nhân thưởng thức”  
[7, tr. 668]. Đặc biệt ở thời đại của Nguyễn Bỉnh Khiêm khi hiểu rõ được bản chất của hiện  
thực xã hội thì các thi sĩ thường tìm đến thiên nhiên là nơi để gửi gắm tâm hồn mình, vì chỉ  
có sự đa chiều kích của thiên nhiên mới chứa đựng hết cái vô cùng, vô tận trong tâm hồn  
nhà thơ.  
2.1.1. Biểu tượng thiên nhiên là hình tượng vũ trụ  
Các biểu tượng thiên nhiên là hình ảnh vũ trụ phong phú và đa dạng, trong đó những  
biểu tượng được sử dụng với tần suất cao, thể hiện được tư tưởng của tác giả và giàu giá trị  
nghệ thuật là: biểu tượng trăng, biểu tượng trời, biểu tượng mây.  
Trong Quốc âm thi tập, biểu tượng trăng xuất hiện 66 lần, trong đó có 56 lần dùng từ  
nguyệt và 10 lần dùng từ trăng. Trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, trăng xuất hiện 40 lần,  
trong đó có 30 lần dùng từ “nguyệt” và 10 lần dùng từ “trăng”. Điều đó chứng tỏ trăng  
được Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đặc biệt yêu thích và sử dụng như một phương  
tiện hữu hiệu để chuyển tải thế giới cảm xúc của mình, thể hiện tâm hồn thanh cao, luôn  
giao hòa, giao cảm với vầng trăng của muôn đời. Trăng là “cái đẹp trong vũ trụ” giao hòa  
với “cái đẹp thường trực trong tâm hồn”. Vì thế vẻ đẹp của trăng tròn đầy, trữ tình tạo nên  
những cảnh quan thiên nhiên mỹ lệ trong Quốc âm thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
69  
Qua biểu tượng trăng, ta cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, thanh cao,  
nâng niu từng vẻ đẹp của quê hương đất nước. Dù thời gian của phủ lớp bụi mờ thì vầng  
trăng sáng trong, nghĩa tình trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn là biểu  
tượng nghệ thuật có dư ba ngân vang tới trái tim người đọc muôn đời. Trăng hiện lên trong  
nhiều trạng huống khác nhau: là người bạn tri âm, tri kỉ, là nơi gửi gắm niềm vui, nỗi buồn;  
là bến đỗ cho Ức Trai và Tuyết Giang phu tử khi trống vắng, cô đơn. Trong Quốc âm thi  
tập, những bài thơ mà cả bài viết về trăng chiếm số lượng không nhiều và có tỉ lệ nhỏ so  
với tổng các bài thơ có trăng. Đó là các bài: Trăng thu, Mặt trăng trong nước, Nước trời  
một sắc. Tác giả sử dụng hình ảnh mặt trăng trong nước:  
“Nguyệt trong đáy nước nguyệt trên không”  
(Quốc âm thi tập, Mặt trăng trong nước)  
Trăng và nước tạo nên bức tranh tuyệt đẹp, thi vị trong hoang tịch, đẫm màu hư  
không. Với một hình ảnh mang tính công thức, nhà thơ đã tìm được nhiều lớp từ biểu hiện.  
Điều đó cho thấy sự phong phú của bút pháp miêu tả, cách sử dụng ngôn ngữ linh hoạt tinh  
tế trong từng chi tiết. Trăng là người bạn đặc biệt nhất. Mỗi lần trăng xuất hiện lại mang  
đến một sắc thái mới. Lúc thì hờ hững, vô tâm “Mây quyến khách nguyệt vô tình” (Bạch  
Vân quốc ngữ thi tập - Bài 149) lúc lại gắn bó thân thiết với cuộc sống của con người.  
“Thưởng mai về đạp bóng trăng” (Quốc âm thi tập, Ngôn chí - Bài 15) lúc là tri âm, tri kỉ  
của thi nhân “lòng bạn trăng vằng vặc cao” (Quốc âm thi tập, Tự thán - Bài 40). “Trăng  
thanh gió mát là tương thức” (Bạch Vân quốc ngữ thi tập - Bài 92). Ta hình dung nhà thơ  
với vầng trăng đồng điệu, giao hòa với nhau. Trăng mang ý vị thiền: “ánh cửa trăng mai  
thấp thấp” (Quốc âm thi tập, Tự thán - Bài 27). Trăng hiện lên vừa bát ngát vừa cao rộng  
vừa đa sắc vừa đa âm. Đó là một thế giới trăng muôn màu sắc, từ vẻ cổ kính, thâm nghiêm  
đến ánh trăng mộc mạc, dân dã của thiên nhiên, quê hương đất nước Việt.  
“Trời là biểu tượng phức hợp của trật tự thiêng liêng vũ trụ, trật tự này vừa được biểu  
lộ qua sự vận động tuần hoàn, có quy củ của các thiên thể lại vừa được ẩn giấu để chỉ gợi ý  
tưởng về những trật tự siêu đẳng và vô hình trong thế giới vật thể, trật tự siêu tại của thánh  
thần và trật tự nội tại của con người” [16, 956]. Biểu tượng trời trong Quốc âm thi tập  
được tác giả nói tới trong 17 bài, chiếm tỉ lệ 6,69% (17/254) và trong Bạch Vân quốc ngữ  
thi tập được tác giả nói tới trong 26 bài, chiếm tỉ lệ 14,69% (26/177). Nguyễn Trãi và  
Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn xem trời là đấng tối cao của vạn vật và con người. Bởi thế tư  
tưởng thiên mệnh xuyên suốt cả tập thơ. Trời có địa vị đặc biệt luôn được phụng thờ, tôn  
kính. Trời là một vị thần quyền ban phúc cho thiên hạ nhưng cũng trừng trị những hành  
động đi ngược lại đạo lý của con người. Trời trong Quốc âm thi tập và Bạch Vân quốc ngữ  
thi tập là một biểu tượng xuất hiện nhiều lần với nghĩa thống nhất: trời sinh ra tất cả và  
70  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
quyết định vận mệnh của muôn vật, muôn loài. “Trời” quyết định số kiếp, vận mệnh của  
con người. Con người phải hành động theo ý trời, lẽ trời, không có cách nào vượt qua  
“thiên mệnh”.  
“Sang cùng khó bởi chưng trời  
Lặn mọc làm chi cho nhọc hơi”  
(Quốc âm thi tập, Ngôn chí – Bài 9)  
Tư tưởng chịu sự chi phối bởi trời làm con người bằng lòng với hoàn cảnh, không coi  
trọng yếu tố quyết định cá nhân nên con người thời trung đại không bộc lộ rõ nét. Trời  
đóng vai trò chủ thể, sắp đặt tất cả. “Ai từng dời được đạo trời” (Bạch Vân quốc ngữ thi  
tập - Bài 92)  
Tiếp theo, biểu tượng mây trong Quốc âm thi tập được tác giả nói tới trong 13 bài,  
chiếm tỉ lệ 5,11% (13/254) và trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập được tác giả nói tới trong 3  
bài, chiếm tỉ lệ 1,7% (3/177). Hai tâm hồn cao khiết ấy trở về quê hương và sống vui với  
cảnh nghèo, vui say, thả hồn mình vào những áng mây bồng bềnh trôi đầy lãng mạn. “Cày  
mây cuốc nguyệt gánh yên hà” (Bạch Vân quốc ngữ thi tập - Bài 19); “Mây tuôn phủ rợp  
thư phòng” (Quốc âm thi tập - Bài 51); “Mây khách khứa nguyệt anh tam” (Quốc âm thi  
tập, Bài 64) Hình khối, đường nét, màu sắc của trời, trăng và mây quyện hòa vào nhau  
trong một khung cảnh diễm lệ. Ta như được chiêm ngưỡng bức tranh thiên nhiên tươi đẹp,  
có sự giao hòa giữa con người và vạn vật.  
2.1.2. Biểu tượng thiên nhiên là hình tượng cây cỏ, hoa lá  
Cây cỏ với đặc điểm là loài sống bám vào đất mẹ, cành phân tán ra xung quanh và  
hướng về phía mặt trời. Ý nghĩa biểu trưng của cây là sự ứ tràn của cái được biểu đạt trong  
cái vỏ biểu đạt nhỏ bé. Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, cây là biểu tượng của  
sự sống đồng thời nó cũng biểu thị tính tuần hoàn biến hóa vũ trụ, sự chết và sự tái sinh.  
Nó giao tiếp với ba cấp bậc của vũ trụ. Rễ cây chìm trong lòng đất và cành vươn ra bầu trời  
thể hiện những quan hệ mật thiết giữa đất và trời.  
Trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã dành riêng một đề mục Hoa mộc môn để nói  
về cỏ cây, hoa lá. Trong đề mục này, các hình tượng: tùng - cúc - trúc - mai được Nguyễn  
Trãi tập trung khắc họa. Cũng giống như thi pháp cổ phương Đông, Nguyễn Trãi và  
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khai thác các hình ảnh thiên nhiên trên để thể hiện phẩm chất  
thanh tao, cao nhã, trong sáng của người quân tử. Cảnh vật thiên nhiên nhờ ông trở nên đầy  
thi vị, nên thơ, có tâm tư, khi kín đáo, khi sôi nổi, lúc trìu mến nhưng tất cả như người bạn  
tâm giao của chúng, đều thanh khiết, cao đẹp, hiền hoà. Giữa thiên nhiên và con người  
luôn giao cảm, nâng niu, vỗ về, an ủi nhau.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
71  
2.1.2.1. Biểu tượng hoa mai  
Biểu tượng hoa mai trong Quốc âm thi tập được tác giả nói tới trong 25 bài, chiếm tỉ  
lệ 9,84% (25/254) và trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập được tác giả nói tới trong 10 bài,  
chiếm tỉ lệ 5,65% (10/177). “Mai” là một trong tứ quý, hoa mai năm cánh tượng trưng cho  
ngũ phúc, lại nở vào dịp tết nguyên đán với sắc trắng thanh khiết, tinh khôi:  
“Mai bạc lạnh quen nhiều tháng tuyết”  
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập – Bài 16)  
“Hoa nẩy cây nên thuở đốc sương  
Chẳng tàn chẳng cỗi hãy phong quang”  
(Quốc âm thi tập, Lão mai)  
Thiên nhiên quấn quýt, hòa quyện với con người: “Trúc mai làm bạn hứng thơ nồng”  
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập - bài 33). Kỳ lạ ở chỗ người hiểu Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh  
Khiêm nhất chính là trúc mai. Giữa thi nhân và thiên nhiên đã có mối giao cảm, giao hòa  
về tâm hồn. Nước tuyết, chè mai là những hình ảnh ước lệ để nói lên cái cao khiết, không  
vướng bụi trần, lấy thiên nhiên làm bầu bạn. “Song có hoa mai, tề có nguyệt/ Án còn phiến  
sách, triện còn hương” (Quốc âm thi tập, Tự thán - bài 12)  
2.1.2.2. Biểu tượng hoa cúc  
Biểu tượng hoa cúc trong Quốc âm thi tập được Nguyễn Trãi nói tới trong 18 bài thơ,  
chiếm tỉ lệ 7,0% (18/254), trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập được Nguyễn Bỉnh Khiêm nói  
tới trong 3 bài, chiếm tỉ lệ 1,7% (3/177).  
Trong thơ Nôm, hình ảnh hoa cúc được Nguyễn Trãi sử dụng nhằm để ví với phẩm  
chất thanh cao, khí tiết trong sáng của người quân tử. Cúc là loài hoa “diệp bất ly thân” (lá  
không rời khỏi cành dù tàn khô héo rũ). Giữa tiết trời mùa thu sương giăng mây phủ thì  
“Cúc ngạo hàn sương”, cúc vẫn hiên ngang ngạo nghễ đâm hoa kết nhánh mặc cho thời tiết  
khắc nghiệt, cúc vẫn mang nét điềm đạm ung dung, cúc vẫn vươn mình đứng thẳng giữa  
phong ba bão táp. Điều này được thể hiện rõ qua bài Cúc đỏ:  
“Cõi đông cho thức xạ cho hương  
Tạo hóa sinh thành khác đấng thường”  
(Quốc âm thi tập, Cúc đỏ)  
Hoa cúc đi vào trong thơ Bạch Vân cư sĩ với vẻ đẹp thanh tân và rực rỡ :  
“Cúc vàng thơm đổi mấy phen hoa”  
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập – Bài 16)  
72  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
Hình ảnh thơ sinh động tự nhiên, không đẽo gọt tỉ mỉ, mà lại thanh thoát, nhẹ nhàng  
cho ta thấy thi nhân đã hòa mình vào thiên nhiên để thưởng thức vẻ đẹp cao khiết, sáng  
trong của hoa cúc.  
2.1.2.3. Biểu tượng hoa nói chung  
“Hoa” trở thành một biểu tượng chủ đạo, xuyên suốt với biểu nghĩa thống nhất. Từ ý  
nghĩa bản thể: hoa là dấu hiệu của thực vật đến thời kì sinh trưởng, là kết tinh vẻ đẹp tinh  
túy của tự nhiên: mang màu sắc, hương thơm nhưng “hoa” cũng là thực thể thụ động có  
tính chất không bền vững: mong manh, dễ tàn phai, “hoa” trở thành biểu tượng văn hóa với  
các biểu nghĩa: hiện thân của sức sống và sự sống, tình yêu và sự phong tình, cái đẹp và sự  
mong manh, ngắn ngủi của cái đẹp. Biểu tượng sử dụng từ hoa nói chung được Nguyễn  
Trãi nói đến trong 51 bài ở Quốc âm thi tập chiếm tỉ lệ 20,07% (51/254) và được Nguyễn  
Bỉnh Khiêm được tác giả nói tới trong 27 bài ở Bạch Vân quốc ngữ thi tập, chiếm tỉ lệ 15,  
25% (27/177).  
“Hé cửa đêm dòm hương quế lọt  
Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”  
(Quốc âm thi tập – Bài 160)  
Nguyễn Trãi mở rộng cánh cửa tâm hồn để đón chờ thiên nhiên như đón một người  
khách tâm giao, một người bạn tri kỉ, người chẳng dám quét đi những cánh hoa vương vãi  
vì sợ làm tan biến mất. Câu thơ biểu lộ tình cảm yêu mến, hòa nhập gắn bó của nhà thơ với  
thiên nhiên. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoa cũng là người khách quý mà thi nhân đầy nâng  
niu, trân trọng:  
“Ngày chầy họp mặt hoa là khách”  
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập – Bài 13)  
2.1.2.4. Biểu tượng trúc  
Biểu tượng trúc trong Quốc âm thi tập được Nguyễn Trãi nói tới trong 33 bài thơ,  
chiếm tỉ lệ 13% (33/254) và được Nguyễn Bỉnh Khiêm nói tới trong 16 bài trong Bạch Vân  
quốc ngữ thi tập, chiếm tỉ lệ 9% (16/177). Từ giã chốn quan trường, Ức Trai và Bạch Vân  
cư sĩ quay trở về sống chan hòa, làm bạn với mây núi, trăng sao. Cuộc sống dân dã nơi  
thôn quê đã giúp Nguyễn Bỉnh Khiêm phát hiện ra biết bao cảnh đẹp, coi thiên nhiên như  
người bạn tâm giao.  
“Cửa trúc vỗ tay cười khúc khích”  
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập – Bài 33)  
Trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi dùng hình ảnh trúc để ví với khí tiết và phẩm  
cách của người quân tử. Chẳng hạn:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
73  
“Trúc Tưởng Hủ nên thêm tiết cứng,  
Mai Lâm Bô đâm được câu thần”  
(Quốc âm thi tập, Tự thán – Bài 11)  
Với việc sử dụng hai điển cố văn học: “trúc Tưởng Hủ” và “mai Lâm Bô” Nguyễn  
Trãi nhằm so sánh với khí phách, phẩm tiết trong sạch, cao thượng của người quân tử, mà  
cụ thể ở đây là thể hiện niềm tâm sự của nhà thơ. Nhà thơ ví khí phách của mình cứng như  
“trúc Tưởng Hủ”, phẩm chất của mình trong sáng như “mai Lâm Bô”. Lâm Bô là nhà thơ  
đời Bắc Tống được gọi là “Tây Hồ ẩn sĩ”. Bức tranh thiên nhiên bốn mùa trong Quốc âm  
thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm rất đa  
dạng và phong phú với những hình ảnh sinh động, gần gũi với con người. Đúng như Xuân  
Diệu từng nói: “Lòng yêu thiên nhiên, tạo vật là kích thước để đo tâm hồn”.  
Thông qua biểu tượng các loài cây, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn gửi  
gắm tâm sự khát vọng của mình vào đó. Các nhà thơ lấy những hình ảnh các loài cây mang  
tính chất ước lệ của văn học trung đại như tùng, cúc, trúc, mai..., làm phương tiện biểu đạt  
tiêu biểu cho người quân tử trong thơ Nôm của mình. Quan niệm này dựa trên một thực tế:  
trong ngày đông tháng giá, các loại cây khác đều rụng lá, trơ cành thì tùng, trúc vẫn xanh,  
còn mai vẫn bung nở những cánh hoa.  
2.2. Nghệ thuật xây dựng các biểu tượng thiên nhiên trong Quốc âm thi tập và  
Bạch Vân quốc ngữ thi tập  
2.2.1. Sử dụng nguyên vẹn khái niệm, hình ảnh chỉ biểu tượng vào sáng tác thơ Nôm  
Trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, những khái niệm chỉ biểu tượng  
được hai tác giả đưa vào sử dụng trong sáng tác rất phong phú. Đặc biệt là các biểu tượng  
thiên nhiên cây hoa như: tùng, cúc, trúc, mai,... Những biểu tượng đó được ông miêu tả từ  
nhiều góc độ khác nhau nhưng chúng đều chung là chỉ người quân tử. Nếu so sánh những  
biểu tượng đó với văn học dân gian, chúng ta thấy hình tượng đào, mận, trúc, mai có một  
nội dung biểu đạt khác hẳn: đó là nói về quan hệ nam nữ, về tình yêu lứa đôi:“Cúc mai  
trồng lộn một bồn/ Hai đứa mình chồng vợ, ai đồn mặc ai”  
Điều đó chứng tỏ mỗi phong cách - văn học bác học và văn học dân gian - có cách xây  
dựng hệ thống biểu tượng nghệ thuật riêng. Văn học dân gian xây dựng biểu tượng trên cơ  
sở những liên tưởng cụ thể, gần gũi - sự vật hiện tượng quen thuộc, thân mật với nhau  
trong cuộc sống. Ngược lại văn chương bác học xây dựng biểu tượng nghệ thuật trên cơ sở  
những liên tưởng chú ý đến tính cao cả, phẩm chất đặc biệt của sự vật, hiện tượng. Những  
biểu tượng tùng, cúc, trúc, mai là những ước lệ nghệ thuật có sẵn trong tư tưởng thời đại.  
Ức Trai và Tuyết Giang phu tử vận dụng một cách sáng tạo và tài tình những biểu tượng  
74  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
nghệ thuật đó vào trong sáng tác của mình, tạo thành giá trị thẩm mỹ trong thơ Nôm của  
họ. Ngoài ra, chúng ta còn thấy trong thơ Nôm Nguyễn Trãi thường kết hợp một số biểu  
tượng thành từng cặp để tạo ra sự đối lập về ý và hiện tượng đối ngẫu trong hình thức câu  
thơ: hoa đối lập với cỏ; một mình đối lập với ba đông; xanh đối lập với trắng, hoặc với  
đỏ”. Chẳng hạn như các cặp đối lập:  
“Phượng những tiếc cao diều hay liệng,  
Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi”  
(Quốc âm thi tập, Tự thuật – Bài 9)  
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng ưa sử dụng các cặp biểu tượng thiên nhiên đối lập để làm  
nổi bật chủ đề. Đó là các cặp phạm trù : “cửa mận - am hoa”, “đường thông nhà trúc - cửa  
mận tường đào”...  
“Nhà thông đường trúc lòng hằng mến  
Cửa mận tường đào biếng ngại chen”  
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập – Bài 51)  
Đó là sự đề cao lối sống thanh nhàn, trong sạch, phê phán tư tưởng chạy theo danh lợi  
phú quý, vinh hoa của người đời. Nguyễn Bỉnh Khiêm với cái nhìn của bậc triết gia, đã  
chiêm nghiệm và rút ra những vấn đề về thế thái nhân tình.  
2.2.2. Sử dụng từ ngữ đi kèm  
Đứng trước biểu tượng trăng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi phần lớn là các động từ như:  
thưởng (nguyệt), hớp (nguyệt), đạp (nguyệt), hỏi (nguyệt), soi (nguyệt), đeo (nguyệt), chở  
(nguyệt), lồng (nguyệt), thức (trăng), quẩy (trăng),..”. Ta cũng bắt gặp hiện tượng này  
trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi tác giả kết hợp “nguyệt” với một động từ phía  
trước: cuốc (nguyệt), chở (nguyệt), đợi (nguyệt), thấy (nguyệt), in (nguyệt), dưỡng  
(nguyệt). Hình ảnh đó còn có sự kết hợp với các danh từ đứng trước nó, bao gồm: đêm  
(nguyệt), nhật (nguyệt), hoa (nguyệt), lầu (nguyệt), nguyệt (nguyệt), phong (nguyệt), cối  
(nguyệt), cửa (trăng), bóng (trăng),... Trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập cũng là danh từ đi  
cùng với “nguyệt”: hiên (nguyệt), phong (nguyệt), lòng (nguyệt), vừng (nguyệt), nhật  
(nguyệt), búa (nguyệt), thu (nguyệt), khách (nguyệt),... Hình ảnh trăng có khi lại có sự kết  
hợp với tính từ: minh (nguyệt), với số từ: một (nguyệt),...” và nguyệt một vừng trong Bạch  
Vân quốc ngữ thi tập. Tất cả những sự kết hợp đó làm cho biểu tượng trăng trong thơ Nôm  
của Ức Trai và Tuyết Giang phu tử có dáng vẻ riêng, được cá thể hóa chứ không còn tính  
chất chung như biểu tượng trăng trong ca dao.  
Có sự tương đồng về nghệ thuật xây dựng biểu tượng là bởi Nguyễn Trãi và Nguyễn  
Bỉnh Khiêm cùng hít thở bầu khí quyển của văn hóa thời trung đại. Ở đó, con người được  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
75  
coi là khách thể, con người phi ngã, con người trong thế đối sánh với thiên nhiên. Trước  
thiên nhiên tạo vật, họ trải lòng mình ra, họ day dứt về cuộc đời, họ khao khát hòa nhập  
vào vũ trụ vĩnh hằng. Nguyễn Trãi chủ yếu ảnh hưởng tư tưởng của Lão Tử, ít đề cập đến  
tư tưởng của Trang Tử - những vấn đề thần bí. Con đường đến với tư tưởng Đạo giáo của  
Nguyễn Trãi rất tự nhiên mà sâu sắc, thể hiện rất rõ trong tập thơ Nôm của ông. Nguyễn  
Trãi vận dụng triết lý sống “vô vi”, thuận theo tự nhiên của Lão Tử. Nguyễn Bỉnh Khiêm  
có vốn hiểu biết phong phú nhờ am tường nhiều sách vở. Suốt thời trẻ, ông đứng ngoài  
vòng công danh để suy xét, chiêm nghiệm về cuộc đời. Đó là quãng thời gian để ông miệt  
mài đọc đủ các sách thánh hiền, thâu thái nhiều học thuyết, tư tưởng Nho – Phật – Đạo.  
Học vấn uyên thâm giúp ông hiểu thấu mọi lẽ đời, nắm được sự biến dịch của vạn vật,  
những quy luật tất yếu của tự nhiên.  
Ở nước ta thế kỉ XVI, Nho giáo được chia thành hai hướng nghiên cứu: học nghĩa lý  
và học từ chương. Học từ chương là học sách vở thánh hiền để đáp ứng con đường khoa  
cử. Thứ hai là học nghĩa lý tức là đi sâu vào lý học, đạo học nhằm mục đích tìm ra bản thể  
luận, nhận thức luận để vận dụng vào thời cuộc giúp nước, giúp đời. Nguyễn Bỉnh Khiêm  
đã đi theo con đường thứ hai, thâm nhập vào đời sống để đúc kết những chân lí, vấn đề của  
thời đại.  
Những biểu tượng thiên nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi có tần số xuất hiện cao hơn  
trong thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thời đại của Nguyễn Trãi khi sức mạnh ghê  
gớm, hủy diệt của đồng tiền chưa len lỏi vào từng ngõ hẹp nhất của cuộc sống thì con  
người sống giản dị, hồn hậu, gần gũi, chan hòa với thiên nhiên hơn là thời đại của Nguyễn  
Bỉnh Khiêm: “Người của lấy cân ta thử nhắc / Mới hay rằng của nặng hơn người”.  
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng viết về cây tùng nhưng chỉ đơn thuần là biểu tượng thiên nhiên,  
còn Nguyễn Trãi miêu tả cây tùng gắn với chính cuộc đời con người Nguyễn Trãi :  
“Hổ phách phục linh nhìn mới biết  
Dành còn để trợ dân này”  
(Quốc âm thi tập – Tùng)  
Nguyễn Trãi không đơn thuần vịnh cây tùng dù đứng trước sương gió và khắc nghiệt  
của thời tiết cũng không gục ngã như phẩm chất thanh cao, trong sạch của Nguyễn Trãi  
giữa chốn triều quan hiểm hóc vẫn vững vàng, không lay chuyển.  
3. KẾT LUẬN  
Việc sử dụng thành công, sáng tạo những biểu tượng nghệ thuật thiên nhiên khiến cho  
các bài thơ trong Quốc âm thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập rất giàu hình ảnh và giá trị  
76  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
biểu đạt, vừa dân gian lại vừa bác học. Hai tác giả đã sử dụng hệ thống điển cố, điển tích,  
ước lệ tượng trưng làm cho những biểu tượng thiên nhiên trở nên cân đối, hài hòa, tao nhã.  
Phải là những tâm hồn rung động mãnh liệt trước cái đẹp của tạo hóa, đập chung những  
nhịp đập của cuộc sống thì các thi sĩ mới có thể sáng tạo nên những biểu tượng thiên nhiên  
giàu giá trị biểu đạt và sinh động đến thế. Thiên nhiên là đối tượng đồng thời cũng là chủ  
thể để chiếm lĩnh thế giới khách quan và chủ quan. Qua thiên nhiên, hai tác giả bộc lộ cốt  
cách thanh cao, sống lánh đục về trong để di dưỡng tinh thần, làm giàu có thêm tâm hồn  
mình. Nghiên cứu thế giới biểu tượng trong hai tập thơ từ góc nhìn văn hóa là một hướng  
đi mới giúp chúng ta có thể khám phá tầng sâu nhất của thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn  
Bỉnh Khiêm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trần Trọng Dương (2014), Nguyễn Trãi quốc âm từ điển, Nxb Từ điển Bách khoa.  
2. Jean Chevalier - Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng.  
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ văn  
học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
4. Lê Thị Hương (2008), Bạch Vân Quốc Ngữ Thi tập: Đặc điểm nội dung và nghệ thuật,  
Luận án Tiến sĩ Văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
5. Bùi Văn Nguyên(1989), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
6. Nguyễn Trãi toàn tập (1976), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
7. Nguyễn Hữu Sơn (tuyển chọn) (2003), Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục  
Việt Nam, Hà Nội.  
8. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hoá, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.  
9. Lã Nhâm Thìn (2001), Thơ Nôm Đường luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
10. Trần Nho Thìn (2007), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục,  
Hà Nội.  
NATURAL SYMBOL IN “QUOC AM THI TAP” AND “BACH VAN  
QUOC NGU THI TAP” FROM CULTURE ASPECT  
Abstract: In this article, we focus on some natural symbols in “Quoc Am Thi Tap” and  
“Bach Van Quoc Ngu Thi Tap” by the following aspects: comparing the similarities and  
differences in the making of natural symbols through the author’s personality and era’s  
ideology in each anthology.  
Keywords: Quoc Am Thi Tap, Bach Van Quoc Ngu Thi Tap, natural symbol.  
pdf 10 trang yennguyen 75021 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biểu tượng thiên nhiên trong "Quốc âm thi tập" và "Bạch vân quốc ngữ thi tập" từ góc nhìn văn hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbieu_tuong_thien_nhien_trong_quoc_am_thi_tap_va_bach_van_quo.pdf