Diễn ngôn độc thoại trong truyện ngắn hiện thực ở miền Bắc Việt Nam 1932-1945
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)
DIỄN NGÔN ĐỘC THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN HIỆN THỰC
Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM 1932-1945
y Phạm Thị Lương(*)
Tóm tắt
Bài viết tìm hiểu diễn ngôn độc thoại trong truyện ngắn hiện thực của các tác giả tiêu biểu ở miền
Bắc Việt Nam 1932-1945 để cho thấy sự nỗ lực sáng tạo không ngừng trên hành trình đổi mới tư duy
nghệ thuật theo hướng hiện đại của các nhà văn. Hình thức diễn ngôn độc thoại của nhân vật trong
truyện ngắn giai đoạn này được thể hiện dưới ba dạng thức: độc thoại nội tâm ở dạng thông thường;
độc thoại mang tính chất đối thoại và độc thoại ở dạng nửa trực tiếp. Chúng tôi đi đến khẳng định sự
chuyển dịch trong nghệ thuật xây dựng diễn ngôn qua mỗi chặng vận động của truyện ngắn hiện thực
Việt Nam 1932-1945 thông qua tác phẩm của các nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng
Phụng, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao.
Từ khóa: Diễn ngôn, nhân vật, truyện ngắn hiện thực, độc thoại bên trong, tình huống.
1. Đặt vấn đề
ngôn độc thoại của nhân vật đều có sự đổi mới
so với trước đây.
Truyện ngắn hiện thực 1932-1945 đã khẳng
định một vị thế chắc chắn trong dòng chảy của nền
văn học Việt Nam đầu thể kỷ XX. Có được thành
tựu đó là do sự nỗ lực sáng tạo không ngừng của
các nhà văn trên hành trình đổi mới tư duy nghệ
thuật so với văn xuôi truyền thống. Sự nỗ lực này
thể hiện trên tất cả các phương diện từ nội dung
phản ánh đến hình thức thể hiện. Giai đoạn có sự
xuất hiện của những cây bút tiêu biểu như: Nguyễn
Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Tô
Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân, Nam Cao, Phi Vân,
Trần Quang Nghiệp, Sơn Đông,... Họ đã làm nên
diện mạo mới của nền văn học Việt Nam nửa đầu
thế kỷ XX. Mảng truyện ngắn giai đoạn này xuất
hiện rất nhiều tác phẩm giá trị khẳng định sự đổi
mới, cách tân trong nghệ thuật kể chuyện. Hiện
thực nhức nhối của xã hội được thể hiện đậm nét
và chân thực hơn bao giờ hết.
Tìm hiểu vấn đề diễn ngôn có nghĩa là đang
tìm hiểu về sự thể hiện bản chất lời nói của người
kể chuyện, của nhân vật. Mỗi tác phẩm là sự kết
hợp của nhiều thành phần diễn ngôn như diễn
ngôn người kể chuyện, diễn ngôn của nhân vật,
tạo nên sự linh hoạt, đa dạng trong hình thức kể
chuyện. Giai đoạn này các nhà văn đã cho thấy
nhiều cách tân trong vấn đề diễn ngôn, khẳng
định sự sáng tạo trong quá trình đổi mới tư duy
nghệ thuật theo hướng hiện đại. Từ diễn ngôn
người kể chuyện đến diễn ngôn đối thoại, diễn
2. Vai trò của diễn ngôn độc thoại trong tác
phẩm tự sự
Diễn ngôn từ góc nhìn ngôn ngữ học có khá
nhiều quan niệm khác nhau. Một trong những
quan niệm nhận được sự đồng thuận của nhiều nhà
nghiên cứu đó là quan niệm của Irena Bellert. Tác
giả cho rằng: “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những
phát ngôn S1..., Sn, trong đó việc lý giải nghĩa
của mỗi phát ngôn S1 (với 2 ≤ i ≤ n) lệ thuộc vào
sự lý giải những phát ngôn trong chuỗi S1 …Si-1.
Nói cách khác, sự giải thuyết tương đương một
phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết
ngữ cảnh đi trước” [2, tr. 199]. Nhà ngôn ngữ
học Guy Cook xem diễn ngôn như là: “các chuỗi
ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống
nhất và có mục đích” [4, tr. 31]. Thông thường
một tác phẩm tự sự có nhiều lớp diễn ngôn kết
hợp với nhau tạo nên sự linh hoạt, đa dạng trong
hình thức thể hiện. Có hai lớp diễn ngôn chính
trong một tác phẩm tự sự đó là diễn ngôn người
kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật. Mỗi lớp
diễn ngôn này lại được cấu thành từ nhiều thành
phần diễn ngôn khác nhau. Diễn ngôn của nhân
vật trong truyện hay tiểu thuyết thường được tìm
hiểu ở hai dạng thức cơ bản đó là diễn ngôn đối
thoại trực tiếp giữa các nhân vật và diễn ngôn độc
thoại của nhân vật khi tự nói với chính mình. Mỗi
loại diễn ngôn của nhân vật có chức năng và giá
trị nghệ thuật riêng trong cấu trúc diễn ngôn để
thể hiện phẩm chất, tính cách, hành động cũng
(*) Trường Đại học Bạc Liêu.
48
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)
3. Các hình thức diễn ngôn độc thoại trong
truyện ngắn hiện thực ở miền Bắc Việt Nam
1932-1945
như tâm trạng của họ. Cùng với diễn ngôn người
kể chuyện, diễn ngôn của nhân vật góp phần tạo
nên chỉnh thể nghệ thuật hoàn chỉnh từ cấp độ nội
dung đến cấp độ hình thức.
Truyện ngắn hiện thực ở miền Bắc Việt Nam
1932-1945 đã cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong
hình thức diễn ngôn độc thoại nội tâm. Điều này
được thể hiện qua số lượng truyện ngắn có xuất
hiện hình thức độc thoại nội tâm của các nhà văn
tiêu biểu giai đoạn này. Chúng tôi tiến hành khảo
sát 150 truyện ngắn của 5 tác giả và thấy rằng
càng về sau các nhà văn càng chú trọng nhiều
hơn đến việc xây dựng diễn ngôn độc thoại nội
tâm nhằm khắc họa nhân vật ở mọi phương diện
khiến nhân vật hiện lên đầy đủ, chân thực và sinh
động hơn bao giờ hết. Bảng thống kê dưới đây
phần nào cho thấy sự chuyển dịch trong hình thức
diễn ngôn độc thoại nội tâm của truyện ngắn hiện
Về thuật ngữ “độc thoại”, các nhà ngôn ngữ
học quan niệm là “Biểu hiện lời nói trước hết vào
bản thân mình, không tính trước đến phản ứng
bằng lời của người đối thoại. So với đối thoại thì
cơ cấu cú pháp của độc thoại phức tạp hơn, nội
dung chủ đề được thể hiện cũng rộng hơn” [3, tr.
187]. Rõ ràng, giữa lời đối thoại và lời độc thoại
có những biểu hiện khác biệt cơ bản. Mỗi dạng lời
đều có nhiệm vụ và chức năng riêng góp phần tạo
nên phương thức tự sự. Diễn ngôn độc thoại là một
thành phần quan trọng tạo nên tiếng nói của nhân
vật. Tuy nhiên, trong văn học không phải bao giờ
xây dựng nhân vật nhà văn cũng chú ý đến lớp diễn
ngôn này. Việc kiến tạo mỗi lớp diễn ngôn tùy thuộc
rất nhiều vào ý đồ, vào dụng ý nghệ thuật của nhà
văn. Lớp diễn ngôn độc thoại thường chiếm tỉ lệ
thấp hơn so với các lớp diễn ngôn khác trong một
tác phẩm tự sự. Đây là hình thức diễn ngôn mà ở
đó nhân vật tự nói với chính mình, tự nhủ, nói thầm
hoặc bộc bạch những dòng suy nghĩ cá nhân. Đôi
khi độc thoại cũng có thể được thể hiện dưới hình
thức của người kể chuyện nhưng phải mang ý thức
và tâm trạng nhân vật, giọng điệu của nhân vật.
Độc thoại nội tâm là một trong những hình thức
diễn ngôn giúp nhà văn khám phá những xung đột
bên trong tính cách nhân vật. Nhiều nhà văn hiện
thực đã tận dụng thế mạnh của kiểu diễn ngôn này
để khám phá nhiều góc khuất, lí giải bi kịch đời tư
của nhân vật.
Trong hình thức độc thoại nội tâm, nhân vật tự
suy nghĩ, tự nói với chính mình nên có thể tự do thể
hiện bất cứ khi nào nhân vật có nhu cầu bật ra tiếng
nói của mình và không bị xen ngang hay ngắt quãng
bởi lời của người khác. Khi tìm hiểu về nhân vật,
hình thức độc thoại cũng là một “kênh” để người
đọc khám phá dòng suy nghĩ bên trong, khám phá
những góc khuất ẩn sâu trong tính cách nhân vật,
hiểu được những mâu thuẫn nội tâm, những giằng
xé, trăn trở, suy tư, chiêm nghiệm hay những toan
tính và thái độ của nhân vật trước hiện thực đang
xảy ra. Khám phá ở góc độ tâm lý người đọc hiểu
thêm về nhân vật, và thông điệp, tư tưởng mà nhà
văn xây dựng.
thực giai đoạn này.
Bảng 1. Thống kê số truyện ngắn hiện thực có diễn
ngôn độc thoại nội tâm của một số nhà văn tiêu biểu
Số truyện có
Tổng số
truyện độc thoại nội
diễn ngôn
STT
Tác giả
tâm
1
2
3
4
5
Nguyễn Công Hoan
Vũ Trọng Phụng
Nguyên Hồng
Tô Hoài
62
14
16
18
40
31 (50,0%)
08 (57,1%)
14 (87,5%)
17 (94,4%)
38 (95,0%)
Nam Cao
3.1. Hình thức độc thoại nội tâm ở dạng
thông thường
Diễn ngôn độc thoại nội tâm ở dạng thông
thườnglàhìnhthứcdiễnngônxuấthiệnđầyđủnhững
thành phần và cấu tạo theo cấu trúc truyền thống:
chủ thể + động từ + lời trực tiếp của nhân vật.
Dấu hiệu nhận biết ở động từ thường là những
từ ngữ như: nhủ thầm, nghĩ, tự nhủ,… Và sau các
động từ trên câu nói của nhân vật thường được
đặt trong dấu ngoặc kép, hoặc xuất hiện hình thức
xuống dòng, gạch đầu dòng và lời của nhân vật
cũng được để trong ngoặc kép. Đôi khi lời nhủ
thầm của nhân vật không xuất hiện các dấu hiệu
nhận biết như trên.
Tần suất xuất hiện cao nhất hình thức độc thoại
nội tâm ở dạng thông thường là ở trong truyện của
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài.
49
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)
Thông thường suy nghĩ của các nhân vật được diễn
[Trong khoảng im lặng như tờ, lắng tai nghe,
đạt theo đúng mô hình cấu trúc như trên. Chẳng Huyến thấy một hơi thở hổn hển và một giọng nói
hạn, truyện ngắn Mất cái ví (Nguyễn Công Hoan), yếu đuối. Huyến sửng sốt, nói một mình:
xuất hiện 7 phân đoạn diễn ngôn độc thoại nội tâm - Lạ kìa! Một người nữa trong chùa Âm Hồn!
của nhân vật ông cụ (cậu của ông Tham), nhưng 7 Nhà sư nữ cụt tay và ai?
phân đoạn diễn ngôn này đều được thể hiện ở dạng
Thì một làn ánh sáng vàng ngà ngà tản ra ở
thông thường, dưới đây là một phân đoạn như vậy: phía trái bàn thờ. Huyến ngạc nhiên hơn tự nhủ
Rồi ông cụ nghĩ lại cái địa đồ nhà ông cháu thầm:
để tự xét đoán việc mất bạc này thế nào. - Đến giờ vẫn còn thắp đèn! Thức nữa sao?]
“Ngoài nhà ngoài có cái giường mình nằm, (Nhà sư nữ chùa âm hồn).
thông với buồng trong của vợ chồng nó. Nhưng
Cả ba phát ngôn độc thoại trong hai trích đoạn
hôm qua nó ngủ ở ngoài này với mình. Thế rồi đến trên đều thể hiện sự băn khoăn, hoài nghi của Huyến
cửa ra sân, chính tay mình đóng và gài then. Mà về một sự việc gây tò mò. Hàng loạt câu hỏi xuất
trước khi đi ngủ, nhà Tham nó còn soi các then cửa hiện trong các phát ngôn độc thoại thể hiện sự hoài
cẩn thận. Thế thì chỉ có thể nghi con vú em ăn cắp nghi và sửng sốt của Huyến trước hành động mờ
được, vì thằng bếp, thằng xe ngủ cả nhà dưới, cạnh ám, khó hiểu của một nhà sư nữ cụt tay. Chính điều
bếp. Vậy chỉ truy con vú là ra ngay” (Mất cái ví). đó càng thôi thúc Huyến phải theo dõi và khám phá
Phân đoạn trên mang đầy đủ những đặc điểm điều mà Huyến đang nghi ngờ. Nhưng sự thực mà
của một kiểu diễn ngôn độc thoại thông thường. Huyến khám phá ra lại vô cùng kinh hãi và động
Trong truyện ngắn này các diễn ngôn độc thoại của chạm đến lòng đau xót tận cùng trong lòng Huyến.
ông cụ đều xuất hiện sau mỗi lời tra hỏi của ông Có thể nói, các phân đoạn độc thoại trên đã góp
Tham với người ở trong nhà về chuyện mất cái ví. phần thúc đẩy mạch tự sự và tạo ra sự hấp dẫn, cuốn
Lời nói của ông Tham như cố tình hướng vào cậu hút trong nghệ thuật kể chuyện của Nguyên Hồng.
của mình. Ông cụ hiểu điều đó mới cảm thấy bực
Truyện ngắn của Nam Cao cũng có nhiều phân
bội trong lòng và có những suy nghĩ khó chịu như đoạn diễn ngôn độc thoại nội tâm của nhân vật. Mô
vậy. Rõ ràng đối tượng tham chiếu trong các phát hình thể hiện dạng thức này trong truyện của ông
ngôn trực tiếp của ông Tham tuy không phải là thường là: Chủ từ + nghĩ rằng/ Tự nhủ/ ngẫm
cậu của mình, nhưng hàm ý trong lời nói của ông nghĩ + (:) + lời trực tiếp của nhân vật. Dưới đây
Tham lại hướng về ông cụ. Cho nên ông cụ mới là một số phân đoạn diễn ngôn độc thoại ở dạng
có những phát ngôn độc thoại ngầm phản ứng sau thông thường:
mỗi lời của ông Tham.
“Tôi ngẫm nghĩ: hắn đã muốn chết thì cho hắn
Truyện Nhà sư nữ chùa âm hồn (Nguyên chết. Tôi có quyền gì cấm hắn? Hắn không bán cho
Hồng) xuất hiện khá nhiều phân đoạn diễn ngôn tôi thì bán cho người khác. Tôi để lỡ một dịp tốt là
độc thoại nội tâm, trong đó có 7 phân đoạn diễn tôi ngu. Vậy thì tôi mua cái nhà” (Mua nhà) (1).
ngôn ở dạng thông thường theo mô hình: Chủ từ
“Anh nằm trong đây, như một cái xác chết
+ nhủ thầm/ thì thầm/ lẩm bẩm nói một mình/ trong mả lạnh, chua chát nghĩ rằng: mình không
tự nhủ + (:) + (xuống dòng và gạch đầu dòng), ăn nhập gì đến cảnh đùa vui của người…” (Điếu
chẳng hạn:
[Huyến ngờ vực, tự nhủ thầm:
văn) (2).
Phát ngôn độc thoại (1) lại là sự tự vấn của
- Lạ, lạ thật! Rõ ràng ở xóm Tư Ất gần xóm “tôi” thể hiện một thái độ quyết tâm khi trước đó
thằng bạn của mình ra mà y dám nhận ở chùa Thêm anh còn do dự, cảm thấy mình có lỗi với mấy đứa
cách đấy hàng mấy cây số về. Chùa gì trong cái nhỏ khi cha chúng vì thua bạc mà phải bán nhà cho
xóm hạ lưu này? Kinh gì ở gần cái nhà chứa chấp anh. Phát ngôn độc thoại (2) lại là một tâm trạng
đủ mọi hạng người rượu chè cờ bạc, trai gái, trộm chua chát, chán nản của nhân vật trong cảnh ốm
cắp kia? Lại là một nhà sư nữ, kì dị!] (Nhà sư nữ đau, bệnh tật sắp cận kề cái chết, đối lập hẳn với
chùa âm hồn).
Hay một phân đoạn khác:
cảnh vui vẻ, đầy sự sống bên ngoài. Có thể thấy,
các diễn ngôn độc thoại trong truyện ngắn của Nam
50
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)
Cao ở trên đều hướng đến thể hiện một khía cạnh trong khi trước đó “tôi” được anh ta thông báo đó
nào đó trong tâm trạng nhân vật, đồng thời cũng chỉ là sự nói dối của người yêu anh ta. Cả hai phân
thể hiện được tình cảnh, hành động của nhân vật đoạn độc thoại trên đều góp phần làm cho lời của
trong hoàn cảnh hiện tại. Đó chính là sự độc đáo nhân vật trở nên sinh động hơn. Ở phân đoạn (1)
trong nghệ thuật viết truyện của Nam Cao.
còn bộc lộ sự “đa thanh” trong diễn ngôn độc thoại.
Có thể nói, hình thức diễn ngôn độc thoại ở Ở đây, suy nghĩ và tâm trạng là của nhân vật Kép
dạng thông thường cho người đọc trực tiếp nhận Tư Bền - Anh đang rầu rĩ và lo lắng cho người cha
biết suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật giúp người bị bệnh khi anh vắng nhà. Nhưng trong cách hô
đọc hiểu rõ hơn về hoàn cảnh cũng như tính cách, gọi (anh) trong diễn ngôn trên cho thấy có lời của
cảm xúc của họ.
người kể chuyện đan xen vào. Rõ ràng, mỗi diễn
3.2. Hình thức diễn ngôn độc thoại mang ngôn đều có một dụng ý nghệ thuật góp phần làm
tính chất đối thoại
cho nhân vật hiện lên toàn diện từ góc độ nội tâm,
Đây là một hình thức diễn ngôn biến thể của cảm xúc khi đứng trước các sự kiện, tình huống,
kiểu diễn ngôn trực tiếp, bởi vì chỉ có một bên phát vấn đề trong cuộc sống.
ngôn, nhân vật tự đối thoại với một người khác
Nguyên Hồng đã kiến tạo lớp diễn ngôn độc
trong tưởng tượng hoặc đối thoại với chính mình. thoại có tính chất đối thoại khá thành công để thể
Ở truyện ngắn hiện thực 1932-1945, hình thức phát hiện nhân vật. Những phân đoạn độc thoại xuất
ngôn này thường được biểu hiện dưới dạng những hiện ngày càng nhiều, mỗi phân đoạn lại xuất hiện
câu hỏi. Nhân vật có khi tự hỏi, tự trả lời, hoặc hỏi dày đặc những câu hỏi thể hiện nỗi băn khoăn, trăn
để biểu thị một sự trăn trở, dằn vặt, day dứt. Gần trở, và tâm trạng giằng xé khôn nguôi. Phân đoạn
như hình thức diễn ngôn này được thể hiện dưới độc thoại dưới đây liên tục xuất hiện những câu
dạng những phân đoạn tập trung các câu hỏi trong hỏi thể hiện tâm trạng chất chứa trong lòng nhân
nội tâm của nhân vật. Nhưng không phải bao giờ vật: “Mợ Du đã chết rồi! Người mẹ khốn nạn kia
những phân đoạn câu hỏi này cũng là dạng diễn bị người chồng sau tình phụ, hay vì y chết, mợ sa
ngôn độc thoại nội tâm , bởi có khi đó là những câu sút, và cho mình đã phạm trọng tội, mợ đành sống
hỏi tu từ, hỏi để khẳng định, để tự mình xác thực lén lút để khỏi dây dính đến Dũng? Hay mợ đã tìm
điều gì đó thì nó sẽ không mang tính chất đối thoại. đến Dũng nhưng không được nhìn nhận? Hay Dũng
Nguyễn Công Hoan xây dựng diễn ngôn độc chết rồi? Hay những giấy mà hình ảnh kia chỉ là
thoại có tính chất đối thoại để thể hiện sự băn khoăn, của người đàn bà chết bắt được?!” (Mợ Du). Nhân
thắc mắc của nhân vật và muốn được sáng tỏ về vật “tôi” tự hỏi nhưng dường như để khẳng định
một vấn đề gì đó: “Anh Tư Bền nhắc lại ba tiếng chắc chắn những điều mình đã thấy. Tâm trạng tê
đó, trong óc anh lẩn vẩn nghĩ ngợi biết bao nhiêu tái dâng lên trong lòng nhân vật đằng sau những
điều: Trong nửa tháng, trong mười lăm hôm trời, câu hỏi nhức nhối về sự li tán của mẹ con mợ Du.
mỗi ngày anh phải xa cách cha anh mấy tiếng đồng
Những lời độc thoại có tính chất đối thoại
hồ để đi học diễn. Cha anh ốm. Trong khi anh vắng trong truyện ngắn của Nguyên Hồng không chỉ đơn
nhà, ai chăm nom săn sóc thay anh? Nghĩ vậy anh giản là những lời độc thoại thông thường xuất hiện
đáp phắt” (Kép Tư Bền) (1), hay: “Tôi lại một phen bất chợt trong suy nghĩ nhân vật mà đối với truyện
choáng óc, phân vân như mê mê, hoảng hoảng. Ơ ngắn của Nguyên Hồng thành phần diễn ngôn này
hay, thế nghĩa là làm sao? Hay là bố anh ấy chết không thể thiếu trong cấu trúc diễn ngôn của nhân
thật chăng? Tôi trố mắt lên nhìn anh Rũng” (Bố vật, bởi nó tạo ra hiệu quả thẩm mĩ nghệ thuật độc
anh ấy chết) (2). Cả hai phân đoạn diễn ngôn trên đáo trong việc xây dựng nội tâm, tính cách và bản
đều thể hiện sự băn khoăn của nhân vật về một chất của nhân vật.
chuyện gì đó.Anh Kép Tư Bền thì băn khoăn không
Ở truyện ngắn của Nam Cao hình thức diễn
biết ai sẽ chăm sóc người cha đang bệnh của anh ngôn độc thoại mang tính chất đối thoại xuất hiện
trong những ngày anh vắng nhà. Nhân vật “tôi” thì với mật độ khá dày, góp phần hiệu quả cho nghệ
băn khoăn không biết bố của anh bạn có chết thật thuật tự sự của ông. Những trường đoạn độc thoại
không mà anh ta ăn mặc như nhà vừa có đại tang, có tính chất đối thoại độc đáo trong truyện ngắn của
51
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)
Nam Cao thường bộc lộ tâm trạng, suy nghĩ, bộc hình thức diễn ngôn nửa trực tiếp. Các phân đoạn
lộ những giằng xé, trăn trở không nguôi. Ở truyện diễn ngôn độc thoại xuất hiện trong nhiều “ngữ
ngắn có kết cấu tâm lý, diễn ngôn độc thoại nội cảnh tình huống” (context of situation) khác nhau
tâm thường giữ vai trò chủ đạo. Khi thì dưới dạng của nhân vật. Nam Cao rất chú trọng đến việc xây
độc thoại thông thường, khi thì dưới dạng nửa trực dựng diễn ngôn độc thoại nội tâm của các nhân vật.
tiếp, khi thì nhân vật tự đối thoại với chính mình Mỗi tình huống đều xuất hiện những diễn ngôn độc
trong suy nghĩ. Sự đan cài đa dạng các hình thức thoại nội tâm . Người đọc như nghe thấy nhiều tiếng
diễn ngôn độc thoại khiến cho lời văn trong truyện nói, nhiều giọng điệu cất lên soi chiếu vào nhân
ngắn của Nam Cao trở nên sinh động và hấp dẫn. vật, vào sự kiện ở các điểm nhìn phức hợp tạo ra
Trong truyện ngắn Chí Phèo, diễn ngôn độc sự “đa thanh” cho truyện kể. Bảng thống kê dưới
thoại nội tâm xuất hiện tương đối nhiều cả hình thức đây minh họa phần nào cho sự phức hợp, đa thanh
thông thường, lẫn hình thức đối thoại nội tâm và trong truyện ngắn Chí Phèo.
Bảng 2. Một số phân đoạn diễn ngôn độc thoại nội tâm trong truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao)
Tình huống xuất hiện
Diễn ngôn độc thoại nội tâm của nhân vật
diễn ngôn độc thoại nội tâm
Các bà vợ của Bá Kiến suy nghĩ khi “Mắc phải cái thằng liều lĩnh quá, nó lại say rượu, tay nó lại nhăm nhăm cầm
thấy Chí Phèo rạch mặt ăn vạ trước cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả... Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật
nhà mình
chặt, rồi mặc thây cha nó, nó có chửi thì tai liền miệng đấy, chửi rồi lại nghe!”
Lý Cường tức tối khi thấy Chí Phèo
rạch mặt ăn vạ trước nhà mình
“Hừ! Ngỡ là gì, chẳng hóa ra nằm vạ! Thì ra hắn định đến đây nằm vạ!”
Dân làng sợ liên lụy nên “lảng dần”
sau khi Chí Phèo gây sự nhà cụ Bá
“Ai dại gì đứng ỳ ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng!”
“Biết đâu cái lão cáo già này nó chả lại lừa hắn vào nhà rồi lôi thôi? Ồ mà thật
có thể như thế lắm! (...). Cái thằng Bá Kiến này, già đời đục khoét, còn đớn cái
nước gì mà chịu lép như trấu thế? Thôi dại gì mà vào miệng cọp, hắn cứ đứng
đây này, lại kêu toáng lên xem nào”
Chí Phèo suy nghĩ tình huống có thể
xảy ra khi thấy Bá Kiến “xử nhũn”
với mình
Cụ Bá suy nghĩ sau khi đã “vuốt “Cái nghề quan bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu? Bỏ tù nó thì dễ rồi; nhưng
xuôi” được Chí Phèo
bỏ tù nó, cũng có ngày nó được ra, liệu lúc ấy nó có để yên mình không chứ?”
“Buồn thay cho đời! Có lý nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao?”
“Thật đốn mạt. Ngoài ba mươi tuổi mà chưa trót đời. Ngoài ba mươi tuổi... ai
Chí Phèo tỉnh dậy sau những chuỗi
ngày triền miên trong cơn say
Suy nghĩ của bà cô Thị Nở sau khi lại còn đi lấy chồng. Ai đời lại còn đi lấy chồng! Ừ! Mà có lấy thì lấy ai chứ?...
biết cháu bà qua lại với Chí Phèo Đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao, mà lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha
(...). Trời ơi! Nhục nhã ơi là nhục nhã!”
Trong truyện Chí Phèo, có những phân đoạn phút Chí Phèo tự đối thoại với chính mình khi
giọng điệu của nhân vật gần như tách khỏi giọng được Thị Nở mang cho bát cháo hành. Chí Phèo
của người kể chuyện và câu chuyện phát triển bằng tự hỏi, nhưng rồi tự trả lời, chứng tỏ Chí Phèo ý
chính giọng kể của nhân vật, chẳng hạn: “Hắn húp thức hơn lúc nào hết về hoàn cảnh của mình. Đó là
một húp và nhận ra rằng: những người suốt đời một khía cạnh quan trọng để người đọc hiểu hơn
không ăn cháo hành không biết rằng cháo ăn rất về con người của Chí Phèo. Điểm nhìn đánh giá
ngon. Nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới của người kể chuyện về nhân vật được thể hiện ở
nếm vị mùi cháo? Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời: và nhiều chiều kích khác nhau.
có ai nấu cho ăn đâu? Mà còn ai nấu cho mà ăn
Ở nhiều truyện khác của Nam Cao, thủ pháp
nữa! Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một độc thoại nội tâm gắn với dòng ý thức đã mang lại
bàn tay “đàn bà” (Chí Phèo). Đó là những giây sự cách tân khác lạ cho diễn ngôn truyện ngắn của
52
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)
ông. Nam Cao xây dựng rất nhiều nhân vật với của nhân vật) được coi là dễ đem lại hiệu quả thẩm
những giây phút căng thẳng, đối diện với chính mỹ sâu sắc nhất trong việc thể hiện tiếng nói bên
mình để giãi bày, trần tình hay bộc lộ cảm xúc. trong nhân vật. Hình thức kết hợp đồng thời phát
Những trường đoạn nội tâm đó lí giải sâu sắc tính ngôn của người kể chuyện và nhân vật dễ dàng tạo
cách và nội tâm nhân vật, chẳng hạn: “Bán đi năm nên sự phức hợp giọng điệu cho tác phẩm. Về hình
thùng thóc? Thế là còn có hai mươi thùng nữa. Hai thức đây là diễn ngôn người kể chuyện (cách trình
mươi thùng ăn từ nay đến Tết, có lẽ ngoài Tết, đến bày, chấm câu, ngữ pháp), nhưng xen kẽ trong đó
tận vụ chiêm sang năm nữa, bởi vụ mùa nhà không là diễn ngôn mang phong cách, giọng điệu, thái độ,
có ruộng mà tiền để đong thì chắc gì tháng mười tiếng nói của nhân vật. Đây là diễn ngôn kết hợp
này có? Con mụ này nó mới điên đấy hẳn. Hắn đã nhiều tiếng nói khác nhau, nhiều giọng tự sự khác
thấy máu đưa lên cổ, nhưng cố nín. Hắn lặng im nhau: giọng nhân vật, giọng người kể chuyện, đôi
không đáp. Không đáp tức là hắn tức. Nhưng tức khi là cả giọng của cái tôi tác giả. Sự đan xen, hòa
cái gì mà tức? Vợ hắn hỏi bằng một giọng ôn tồn phối các hình thức diễn ngôn này thường nhằm
giả hiệu” (Cười). Anh thầy giáo trong phân đoạn làm nổi bật lên những suy nghĩ bên trong, những
diễn ngôn trên vừa tự hỏi, rồi vừa tự phân tích trả trăn trở, giằng xé của nhân vật. Điểm nhìn có sự
lời. Nhưng sự hỏi - đáp của anh chỉ nhằm mục đích dịch chuyển liên tục. Ở đó suy nghĩ, cảm xúc của
cho thấy sự vô lý của vợ anh về chuyện bán thóc, nhân vật được bộc lộ trực tiếp bằng chính giọng
đồng thời bộc lộ thái độ lo lắng về chuyện cơm áo điệu và lời nói của mình. Rõ ràng diễn ngôn người
và thể hiện sự nóng nảy, bực tức của anh.
kể chuyện có sự phân biệt rõ ràng với diễn ngôn
Thông qua dòng tâm tư, ý nghĩ trực tiếp, tâm độc thoại nội tâm dưới dạng nửa trực tiếp trong ý
trạng, cảm xúc, tính cách của nhân vật được bộc lộ thức, nội tâm, cảm xúc của nhân vật, nhưng trong
sâu sắc. Nam Cao cũng như các nhà văn hiện thực những trường hợp người kể chuyện ngôi thứ nhất
đã xây dựng hình thức diễn ngôn độc thoại có tính thì phát ngôn độc thoại của nhân vật không đối lập
chất đối thoại thể hiện những cách tân, đổi mới theo hoàn toàn với phát ngôn người kể chuyện. Điểm
hướng hiện đại của các nhà văn hiện thực giai đoạn nhìn của người kể chuyện hòa lẫn vào điểm nhìn
này. Họ để nhân vật của mình tự bộc lộ suy nghĩ, bên trong của nhân vật.
cảm xúc kết hợp với diễn ngôn miêu tả của người
kể chuyện để làm bật nổi các vấn đề hiện thực.
Các diễn ngôn độc thoại dưới dạng nửa trực
tiếp trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và
3.3. Hình thức diễn ngôn độc thoại ở dạng Tô Hoài thường ngắn, đôi khi chỉ là một câu văn
nửa trực tiếp
xen kẽ trong diễn ngôn kể, miêu tả của người kể
Đây là hình thức diễn ngôn độc đáo mà các nhà chuyện. Đối với Nguyễn Công Hoan, hình thức
văn hiện thực đã vận dụng rất sáng tạo. Diễn ngôn diễn ngôn độc thoại dưới dạng nửa trực tiếp phần
trực tiếp của nhân vật đan xen, lồng ghép với diễn lớn để làm rõ những băn khoăn, suy nghĩ về một
ngôn người kể chuyện. Do vậy, giọng điệu của nhân sự việc nào đó. Đôi khi hình thức diễn ngôn độc
vật đan xen với giọng điệu của người kể chuyện thoại dưới dạng nửa trực tiếp xuất hiện đan xen
tạo ra sự đa thanh cho diễn ngôn tự sự. Hình thức trong diễn ngôn người kể chuyện chỉ đơn thuần thể
diễn ngôn ở dạng nửa trực tiếp thường hòa trộn một hiện một sự ngạc nhiên, hay một nhận định nào đó.
cách tự nhiên trong diễn ngôn người kể chuyện mà Số phân đoạn đan xen chứa đựng sự bộc lộ chiều
đôi khi rất khó phân biệt đâu là diễn ngôn của nhân sâu tâm trạng, tính cách nhân vật tuy không nhiều
vật, đâu là diễn ngôn người kể chuyện.
nhưng cũng luôn tạo được ấn tượng với người đọc,
Trong một tác phẩm văn học, nhất là trong các chẳng hạn: “Suốt từ sáng, nó chỉ được có sáu đồng
tác phẩm tự sự sẽ có sự kết hợp đan xen các thành trinh và một bát cơm nguội. Bát cơm ấy, chưa đủ
phần diễn ngôn. Việc kết hợp diễn ngôn người kể sức đền vào chỗ nhịn chiều hôm qua. Nhưng thôi,
chuyện và diễn ngôn độc thoại dưới dạng nửa trực làm quái gì cái vặt! Ăn không ra bữa quen từ thủa
tiếp của nhân vật thường được gọi là diễn ngôn bé. Nó chỉ thấy đói. Chứ không thấy cồn cào. Nó
gián tiếp hai giọng (vừa là diễn ngôn người kể ngồi sán vào cô bán bánh đúc. Nó chìa tay ra xin
chuyện vừa xen những yếu tố diễn ngôn trực tiếp một miếng. Cô hàng khư khư lấy mẹt vào lòng,
53
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)
xua lấy xua để” [5, tr.130]. Trong phân đoạn trên, độc thoại nội tâm trong truyện của Nguyễn Công
chủ yếu là thành phần diễn ngôn người kể chuyện, Hoan, Tô Hoài, diễn ngôn độc thoại nội tâm trong
diễn ngôn độc thoại của nhân vật dưới dạng nửa truyện ngắn Nguyên Hồng có dung lượng tương đối
trực tiếp chỉ xuất hiện trong một câu văn (Nhưng dài. Nhiều phân đoạn độc thoại như dòng chảy nội
thôi, làm quái gì cái vặt!) thể hiện thái độ bất cần tâm của nhân vật, trong đó nhân vật thể hiện những
hay đúng hơn là “tự dối mình” của “thằng ăn cắp”. suy nghĩ, trăn trở, tự vấn lương tâm.
Phân đoạn diễn ngôn dưới đây là một dạng
Ở truyện ngắn Miếng bánh, nhân vật Hưng
đan xen linh hoạt giữa diễn ngôn người kể chuyện được đặt vào tình huống tự nhận thức về giá trị của
và diễn ngôn độc thoại dưới dạng nửa trực tiếp nhân cách trong miếng ăn và cái đói. Hưng được
của nhân vật:
đặt trong sự giằng xé, day dứt, tự cảm thấy nhục
“Người ta mắng nó (1). Người ta không cho nhã và hèn mạt khi giấu người vợ đảm đang, cực
nó (2). Vì bộ mã của nó làm hại nó (3). Người ta khổ ở nhà để lén lút ăn miếng bánh: “Hưng mê man
chỉ trông thấy nó là ăn mày, mà bề ngoài không đui, thêm, lặng nhìn khía bánh. Hưng gai người tưởng
què, mẻ, sứt chứ người ta biết đâu là nó không thể đến nếu Hưng ăn chiếc bánh này, vợ y giờ đương
làm gì được (4). Nó cũng là người, nó biết đi xin lúi húi thổi cơm ở cái bếp chật chội khói mù trong
thế này là nhục (5). Nhưng làm thế nào được?(6) cái xóm nhà lá lụp sụp kín mít người kia, đâu có
Khốn nạn! Nào nó có lười biếng gì cho cam?(7) biết? Nhưng không, mãi mãi mỗi khi nhớ tới miếng
Nó có máu động kinh, lắm lúc đang yên lành tử tế, ăn này, Hưng sẽ bị một nhục nhã như chàm, như
thì lăn đùng ra đất, mắt trợn lên, bọt mép sùi ngầu lửa táp vào mặt, Hưng sẽ đau đớn còn hơn bị xác
(8)” (Cái vốn để sinh nhai).
thịt kìm cặp” (Miếng bánh). Có thể thấy, diễn ngôn
Các diễn ngôn (1), (2), (3), (4), (5), (8) là diễn độc thoại nội tâm dưới hình thức nửa trực tiếp đã
ngôn trần thuật và miêu tả của người kể chuyện, được Nguyên Hồng kiến tạo với nhiều hình thức
diễn ngôn (6), (7) chính là diễn ngôn độc thoại phong phú, bộc lộ những trạng thái tinh thần căng
dưới dạng nửa trực tiếp của nhân vật. Nếu như các thẳng, xung đột nội tâm gay gắt, dữ dội.
diễn ngôn người kể chuyện làm rõ hoàn cảnh đáng
Nam Cao được xem là nhà văn xây dựng nhiều
thương của nhân vật, thì diễn ngôn nửa trực tiếp nhất lớp diễn ngôn độc thoại trong số các nhà văn
của chính nhân vật lại cho người đọc cái nhìn toàn hiện thực. Ở truyện ngắn của ông, các hình thức
diện về nhân vật này. Anh ta hiểu rõ hoàn cảnh và diễn ngôn có sự đan cài rất linh hoạt, sinh động. Có
con người của mình hơn ai hết.
khi độc thoại nội tâm được thể hiện ở dạng thông
Một số truyện của Bùi Hiển viết về người thường như những lời dẫn thoại trực tiếp, có khi độc
dân chài (Nằm vạ, Chiều sương, Một trận bão thoại nội tâm hòa phối với điểm nhìn, giọng điệu
cuối năm), hình thức diễn ngôn độc thoại ở dạng của người kể chuyện. Truyện ngắn của ông phần
nửa trực tiếp của nhân vật không nhiều. Ngôn ngữ lớn có kết cấu và cốt truyện tâm lý, có nhiều truyện
trong truyện ngắn của Bùi Hiển chủ yếu làm nổi mạch tự sự phát triển nương theo dòng tâm lý của
bật nên sự chân chất, mộc mạc thật thà của người nhân vật. Hình thức diễn ngôn độc thoại dưới dạng
dân xứ biển. Hình thức diễn ngôn độc thoại dưới nửa trực tiếp trong truyện ngắn Nam Cao được tổ
dạng nửa trực tiếp ở truyện ngắn của Tô Hoài đem chức khá độc đáo. Ông đã tận dụng triệt để chức
lại sự độc đáo, sinh động trong lời văn. Hình thức năng biểu hiện của nó, nhằm bộc lộ những đánh
diễn ngôn này xuất hiện khá nhiều và nằm rải rác giá, suy nghĩ, tư tưởng, dòng nội tâm của nhân vật,
trong khắp truyện ngắn, đôi khi chỉ là một vài câu giúp người đọc dễ dàng khám phá nhân vật ở chiều
xen ngang bình luận, đánh giá, hay biểu lộ tâm sâu tâm trạng và tính cách. Có thể kể đến các truyện
trạng của nhân vật.
như: Chí Phèo; Cái mặt không chơi được; Giăng
Truyện ngắn của Nguyên Hồng phần nhiều sáng; Mua nhà; Từ ngày mẹ chết; Điếu văn; Đời
là những truyện ngắn có kết cấu tâm lý được kể thừa; Cười; Nước mắt…
bởi người kể chuyện ngôi thứ ba toàn tri nên hình
Diễn ngôn người kể chuyện và diễn ngôn của
thức diễn ngôn độc thoại nội tâm dưới dạng nửa nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao thường
trực tiếp có nhiều nét đặc biệt. Khác với diễn ngôn có sự dịch chuyển qua lại rất linh hoạt, đôi khi hòa
54
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)
lẫn giọng điệu không dễ để phân biệt. Nhiều truyện nhận thức, hành vi và thái độ của mình đối với hiện
ngắn của Nam Cao có sự kết hợp này ngôn ngữ thực. Viết về đề tài người trí thức tiểu tư sản, Nam
trở nên linh hoạt, tự nhiên, không hề đơn giọng và Cao thường làm nổi bật những bi kịch tinh thần của
hết sức chân thực. Mỗi một đề tài, hình thức đan họ. Đó là bi kịch của những con người muốn cống
xen diễn ngôn đều đem lại hiệu quả thẩm mĩ nghệ hiến hết mình cho nghề nghiệp nhưng cứ phải canh
thuật nhất định.
cánh nỗi lo cơm áo gạo tiền. Bao nhiêu sự bức bối,
Ở Chí Phèo, mỗi nhân vật đều có những giây ngột ngạt xâm lấn vào đời sống gia đình và họ cứ
phút tự đối thoại với chính mình, tự bộc lộ những gồng mình lên để hi vọng thoát ra khỏi đó. Trong
suy nghĩ, toan tính của mình. Sau khi rạch mặt ăn truyện ngắn của Nam Cao ông thường sử dụng kết
vạ, được Bá kiến xử mềm, Chí Phèo đã tự phân hợp các hình thức diễn ngôn độc thoại nội tâm khác
tích hành động, thái độ của Bá Kiến, một chút hoài nhau, khi thì ở dạng thông thường, khi thì ở dạng
nghi, một chút băn khoăn, do dự và một chút bất đối thoại nội tâm, khi thì ở dạng nửa trực tiếp. Các
cần, liều lĩnh thể hiện trong đoạn độc thoại dưới hình thức diễn ngôn này đã được Nam Cao sử dụng
đây của Chí Phèo:
đan cài, kết hợp với các dạng thức diễn ngôn tự sự
“Cái thằng Bá Kiến này, già đời đục khoét, còn khác để miêu tả và khắc họa tâm trạng, tính cách
đớn cái nước gì mà chịu lép như trấu thế? Thôi dại nhân vật một cách chân thực và sống động nhất.
gì mà vào miệng cọp, hắn cứ đứng đây này, cứ lại
Rõ ràng hình thức diễn ngôn độc thoại dưới
lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xem nào…Thôi cứ dạng nửa trực tiếp của nhân vật trong truyện ngắn
vào! vào thì vào, cần quái gì. Muốn đập đầu thì vào hiện thực Việt Nam 1932-1945 đã có sự chuyển
ngay giữa nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài. Cùng dịch rõ rệt. Ở truyện ngắn của các tác giả thời kỳ
lắm nó có giở quẻ, hắn cũng chỉ đến đi ở tù. Ở tù đầu như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng tần
thì hắn coi là thường. Thôi cứ vào…” (Chí Phèo) số và dung lượng xuất hiện hình thức diễn ngôn
Cả một phân đoạn dài hoàn toàn là ngôn ngữ, này ít hơn so với truyện của một số tác giả thời kỳ
giọng điệu của Chí Phèo. Người kể chuyện không sau như Nguyên Hồng, Nam Cao. Vì sao lại có sự
can thiệp, mà tách hẳn mình ra để nhân vật tự bộc chuyển dịch như vậy? Chúng tôi cho rằng càng về
lộ tính cách, suy nghĩ nội tâm. Chức năng ngữ sau này các nhà văn càng chú ý nhiều hơn đến việc
nghĩa này luôn được Nam Cao chú ý khi ông xây khắc họa nội tâm, tính cách nhân vật thông qua
dựng các phân đoạn độc thoại nội tâm của nhân hình thức diễn ngôn độc thoại dưới dạng nửa trực
vật. Trong truyện Chí Phèo xuất hiện rất nhiều tiếp. Họ đi sâu nhiều hơn vào hiện thực tâm trạng,
phân đoạn độc thoại nội tâm như vậy, từ nhân vật vào góc độ đời tư, bi kịch cá nhân để hướng đến
Bá Kiến, đến Thị Nở đều được Nam Cao chú ý xây lí giải mọi hiện thực xã hội ở chiều sâu nhân bản,
dựng lớp diễn ngôn này để nhân vật tự bộc lộ bản hơn là phản ánh hiện thực trực diện như các nhà
chất, tính cách của họ.
văn thời kỳ đầu của giai đoạn này. Điều đó, càng
Mỗi một diễn ngôn nội tâm của nhân vật trong minh chứng rõ nét cho sự nỗ lực sáng tạo cách tân
Chí Phèo đều có một mối ràng buộc, quan hệ thiết về diễn ngôn trong truyện ngắn hiện thực.
thân với các nhân vật khác, khiến các nhân vật vừa
hiện lên trong sự tự bộc lộ, vừa hiện lên trong sự
4. Kết luận
Truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945
đánh giá của các nhân vật khác về mình. Đó là cái với sự đa dạng về cấu trúc và đan cài các lớp diễn
nhìn đa chiều về nhân vật mà Nam Cao đã tạo ra ngôn phong phú, linh hoạt, đã góp phần tạo nên
bằng việc sử dụng kiểu diễn ngôn hòa phối điểm sắc thái giọng điệu đa dạng cho truyện kể. Sự đa
nhìn và giọng điệu như vậy.
dạng này khiến mọi vấn đề của hiện thực được tái
Với việc khắc họa nhân vật qua hình thức diễn hiện chân thực và sinh động. Các nhà văn hiện
ngôn độc thoại dưới dạng nửa trực tiếp, Nam Cao thực bên cạnh việc kiến tạo thành công các thành
đã tạo điều kiện cho nhân vật có cơ hội suy ngẫm, phần diễn ngôn của người kể chuyện (trần thuật,
chiêm nghiệm và tự do bộc lộ suy nghĩ riêng tư của miêu tả, bình luận, triết lý), diễn ngôn của nhân
mình, nhân vật có điều kiện nhìn vào chính mình vật, còn thể hiện được sự lồng ghép, đan xen kiểu
để nhận thức, đánh giá bản thân mình, điều chỉnh hình thức diễn người kể chuyện và diễn ngôn đối
55
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP
Tap chí Khoa hoc so 35 (12-2018)
thoại của nhân vật, đan xen, hòa phối diễn ngôn này thường chú ý xây dựng những mâu thuẫn, va
người kể chuyện với diễn ngôn độc thoại của nhân chạm giữa các nhân vật thông qua hình thức diễn
vật dưới dạng nửa trực tiếp, khẳng định một bước ngôn đối thoại trực tiếp để làm bật nổi các vấn đề
tiến của nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn hiện hiện thực nhức nhối trong đời sống, xã hội. Nhưng
thực giai đoạn này.
các nhà văn thời kỳ sau như: Nguyên Hồng, Nam
Tìm hiểu sự vận động diễn ngôn trong truyện Cao lại rất chú trọng đến dạng thức diễn ngôn độc
ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945, chúng tôi thoại có tính chất đối thoại và diễn ngôn độc thoại
nhận thấy có sự dịch chuyển rõ rệt. So với diễn ở dạng nửa trực tiếp. Chính thành phần diễn ngôn
ngôn trong truyện của giai đoạn trước đó, diễn này đem lại giá trị và hiệu quả cao góp phần bộc lộ
ngôn trong truyện ngắn hiện thực đã thể hiện rõ hiện thực thông qua chiều sâu suy nghĩ, cảm xúc
dấu ấn của sự sáng tạo, cách tân. Càng về sau các của nhân vật. Ngôn ngữ trong diễn ngôn của nhân
nhà văn càng chú ý nhiều hơn vào lớp diễn ngôn vật và diễn ngôn người kể chuyện chân thực, gần
độc thoại. Nếu như thời kỳ đầu diễn ngôn đối thoại gũi với tính chất ngôn ngữ đời thường, thể hiện
giữ vai trò chủ đạo thì ở các nhà văn ở thời kỳ sau được đa dạng các chiều kích hiện thực phong phú,
lại chú ý nhiều hơn đến lớp diễn ngôn độc thoại. phức tạp. Một trong những sự chuyển dịch rõ rệt
Trong bản thân cấu trúc diễn ngôn độc thoại cũng là việc tập trung xây dựng ngôn ngữ độc thoại nội
có sự dịch chuyển trong hình thức thể hiện. Diễn tâm gắn với dòng ý thức, kết hợp đa dạng các hình
ngôn độc thoại ở dạng thông thường xuất hiện nhiều thức diễn ngôn, giúp nhà văn xây dựng những hình
trong truyện ở thời kỳ đầu trong những truyện của tượng nhân vật sinh động trong tâm lý, phức tạp
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng. Các tác giả trong cảm xúc, đa diện trong tính cách./.
Tài liệu tham khảo
[1]. Lại Nguyên Ân, (2004), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
[2]. Diệp Quang Ban (2012), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội.
[3]. Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 khái niệm ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
[4]. Nguyễn Hòa (2008), Phân tích diễn ngôn - Một số vấn đề lí luận và phương pháp, NXB Đại
học Quốc gia, Hà Nội.
[5]. I. P. Ilin và E. A. Tzurganova (chủ biên) (2003), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường
phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX (Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên
Ân dịch), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
MONOLOGUE DISCOURSE IN REALISTIC SHORT STORIES FROM
NORTHERN VIETNAM 1932-1945
Summary
The article investigated monologue discourse in realistic short stories by Northern Vietnam writers
typically during 1932-1945. As such, it showed their endless creative endeavor on innovating modernly
artistic thoughts. The monologue discourse of the short story characters in this period take three forms:
common inner monologue; monologue characteristic of dialogue and semi-direct monologue. Thereby,
it affirms shifts in their discourse art during the movement phases of Vietnam realistic short stories
1932-1945 found in the works by such prominent writers as Nguyen Cong Hoan, Vu Trong Phung, To
Hoai, Nguyen Hong, and Nam Cao.
Keywords: Discourse, character, realistic short story, inner monologue, situation.
Ngày nhận bài: 25/10/2018; Ngày nhận lại: 13/12/2018; Ngày duyệt đăng: 27/12/2018.
56
Bạn đang xem tài liệu "Diễn ngôn độc thoại trong truyện ngắn hiện thực ở miền Bắc Việt Nam 1932-1945", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dien_ngon_doc_thoai_trong_truyen_ngan_hien_thuc_o_mien_bac_v.pdf

