Lý thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser

VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN CỦA WOLFGANG ISER  
Lưu Hồng Sơn  
Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ  
Nhận bài ngày: 6/6/2019; Ngày duyệt đăng: 27/08/2019  
Tóm tắt  
Iser đóng một vai trò tiêu biểu trong lý thuyết tiếp nhận Konstanz, lý luận của ông đặt nền tảng  
trên sự nghiên cứu, hiểu biết sâu sắc và tôn trọng vai trò của văn bản trong hoạt động tiếp nhận.  
Thời kỳ đầu, Iser tập trung vào việc tìm hiểu quá trình đọc cũng như quá trình xử lý văn bản của  
độc giả, phát hiện rằng không chỉ có vấn đề người đọc cải tạo văn bản mà đồng thời với nó còn có  
vấn đề văn bản cải tạo người đọc, tức là một mối quan hệ hai chiều. Trong thời kỳ thứ hai, Iser tập  
trung nghiên cứu nguyên nhân cũng như mục đích con người tìm đến với văn học, phát hiện hư cấu  
và tưởng tượng giúp con người mở rộng, siêu việt những giới hạn trong hiện thực, tự sáng tạo nên  
chính mình và thế giới như một trò chơi, từ đó tìm thấy tự do, thoát khỏi những trói buộc và bất mãn  
ở thực tại.  
Từ khóa: Wolfgang Iser, lý thuyết tiếp nhận Konstanz, hành động đọc, hành động hư cấu.  
The reception theory of Wolfgang Iser  
Abstract  
Iser was a prominent representative of the reception theory – the Konstanz school. He built his  
theory with a profound understanding of and serious respect for the literary text during the receiving  
process. In the first period of his studying, Iser focused on the reading and processing the literary  
text, and discovered that, during the reception, not only did the readers re-create the text but the  
text also re-cereated the readers, in other words, the re-creation process happened in a two-way  
manner. In the second period, Iser studied why and for what readers seeked out literature, and  
concluded that fiction and imagination enabled people to extend or get beyond the limits of reality,  
empowering them to build their own inner selves and the world as a game, in which they freed  
themselves from the burden of all disappointments and restrictions in life.  
Keywords: Wolfgang Iser, Konstanz reception theory, act of reading, act of fictionalizing  
(Phê bình phản ứng độc giả) với đại biểu là  
Stanley Fish.  
1. Cuộc đời và hoạt động học thuật của Iser  
Lý luận phê bình văn học chú ý đến độc giả  
(Audience-Oriented Criticism) không phải là  
một khuynh hướng hay trường phái xuất hiện  
riêng ở một nhóm nào hay một quốc gia nào, mà  
có tính phổ biến rộng rãi tại nhiều nước trên thế  
giới và được biết đến với cái tên chung phổ biến  
là “Reception theory” (Lý thuyết tiếp nhận). Ở  
Đức nó thường được gọi là “Rezeptionsästhetik”  
(Mỹ học Tiếp nhận) trường phái Konstanz với  
hai nhân vật đại biểu là Hans Robert Jauss (1921  
- 1997) và Wolfgang Iser (1926 - 2007), ở Mỹ  
thường được gọi là “Reader Response Criticism”  
Lý thuyết tiếp nhận trường phái Konstanz ra  
đời cuối thập niên 1960 tại đại học Konstanz ở  
Tây Đức do các nhà nghiên cứu, giáo sư đại học  
như Jauss và Iser sáng lập. Sau đó trường phái  
này nhanh chóng lan truyền khắp nơi trên thế  
giới, tạo thành “cơn sốt” ở phương Tây trong  
thập niên 1970 và từ thập niên 1980 đến nay vẫn  
gây ảnh hưởng không nhỏ đến nghiên cứu văn  
học trên thế giới.  
Đóng góp quan trọng nhất của trường phái  
Konstanz là chuyển trung tâm chú ý trong  
60  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
nghiên cứu văn học từ tác giả, văn bản sang độc  
giả, xem người tiếp nhận có vai trò mang tính  
quyết định trong việc tạo nên cuộc đời và sức  
sống, giá trị của văn học. Trên cơ sở kế thừa  
thành tựu của nhiều lý thuyết lý luận triết học,  
mỹ học, văn nghệ khác, các nhà Konstanz đã  
xây dựng được một hệ thống lý thuyết riêng, có  
đóng góp mang tính quốc tế về nghiên cứu văn  
học, đặc biệt là lý luận về quan hệ giữa văn học  
và lịch sử (Jauss), quan hệ giữa độc giả và văn  
bản (Iser). Một trong những nguyên nhân quan  
trọng khiến lý thuyết tiếp nhận Konstanz tồn tại  
và phát triển dài lâu, là nhờ chủ trương liên tục  
thu nhận thành tựu lý luận của các trường phái  
khác trên hành trình để tự làm mới mình của nó.  
Lý thuyết tiếp nhận Konstanz không phải chỉ  
có hai người, mà là một nhóm, nhưng với những  
đóng góp to lớn và liên tục trong suốt quá trình  
phát triển, Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser  
được công nhận là hai nhân vật đại biểu xuất sắc  
cho lý thuyết tiếp nhận trường phái Konstanz.  
Jauss và Iser thuộc về hai khuynh hướng lý luận  
khác nhau nhưng bổ sung cho nhau. Đặc điểm  
của một trường phái lý luận cũng không chỉ thể  
hiện ở các tính chất chung, mà còn thể hiện qua  
những khuynh hướng khác biệt trong nội bộ bản  
thân trường phái ấy.  
Trong lời tựa cho bản dịch công trình Hành  
động đọc ra tiếng Trung Quốc năm 1991, Iser  
(1978: 18) cũng đã nói khá rõ: “Thứ mà chúng  
ta gọi là Mỹ học tiếp nhận ngày nay có nội dung  
không thống nhất với tên gọi mà nó mang, về  
nguyên tắc, tên gọi này đã che mất hai loại  
phương pháp nghiên cứu khác nhau, dù rằng đó  
là hai phương pháp có quan hệ mật thiết, song  
sự khác nhau ấy lại dễ nhận thấy”. Theo Iser, lý  
thuyết tiếp nhận được hợp thành từ hai khuynh  
hướng khác nhau là: lý thuyết phản ứng thẩm  
mỹ của ông và mỹ học tiếp nhận của Jauss,  
chúng có quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau;  
điểm khác biệt là lý thuyết phản ứng thẩm mỹ  
bắt rễ trong văn bản, còn lý thuyết mỹ học tiếp  
nhận sinh ra từ lịch sử phán đoán tác phẩm của  
độc giả. Iser lại khẳng định thêm quan điểm đó  
trong công trình giới thiệu nghiên cứu lý luận  
văn học phương Tây How to Do Theory, ông đặt  
tên cho chương viết về trường phái Konstanz do  
mình và Jauss lập thuyết và phát triển là  
“Reception theory” (Iser, 2006: 57).  
Nhiều nhà nghiên cứu đã thử phân chỉ ra  
những tương đồng và khác biệt trong lý luận của  
Jauss và Iser. Ví dụ, Holub cho rằng cả Jauss và  
Iser đều tập trung vào nghiên cứu độc giả,  
nhưng đường hướng nghiên cứu cụ thể và trọng  
tâm chú ý lại rất khác biệt nhau, trong khi nghiên  
cứu của Jauss hướng đến tầm vĩ mô, thì Iser lại  
hướng đến tầm vi mô (Holub, 1984: 367). Hay  
phân tích đối chiếu của Kim Nguyên Phố qua  
lược đồ sau:  
Trong Konstanz, Jauss và Iser là hai nhân vật  
tiêu biểu nhất, đồng thời cũng là những người  
thể hiện rõ nhất những bình diện khác biệt trong  
lý luận tiếp nhận Konstanz. Điều này được  
chính Iser nói rõ trong các nghiên cứu của ông.  
Nghiên cứu tiếp nhận  
(lấy Jauss làm đại biểu)  
Nghiên cứu hiệu quả  
(lấy Iser làm đại biểu)  
Lý luận giao lưu văn học  
↓
Độc giả  
↓
Văn bản  
Tầm đón đợi  
Kinh nghiệm thẩm mỹ  
Văn học sử  
Khoảng trống và kết cấu vẫy gọi  
Độc giả hàm ẩn  
Hoạt động đọc  
↓
↓
Tác động qua lại  
Giải thích học văn học  
Phương pháp xã hội – lịch sử  
(xu hướng phương pháp luận)  
Nhân học văn học  
Phân tích văn bản  
(xu hướng phương pháp luận)  
(Kim Nguyên Phố, 1998: 47)  
61  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
Ở Việt Nam, lý thuyết tiếp nhận trường phái  
Konstanz của Đức đã được bắt đầu giới thiệu từ  
cuối thập niên 1970, nhưng cho đến hết thập  
niên đầu của thế kỷ XXI, dù “đã có hàng chục  
bài báo và tiểu luận khoa học trong đó có cả  
những công trình nghiên cứu được in thành sách  
đề cập đến nó” nhưng “chủ yếu mới có tính chất  
giới thiệu khái quát” (Huỳnh Vân, 2009: 55).  
Hiện trạng này đến nay cũng không có nhiều  
thay đổi đáng kể, số chuyên gia về lĩnh vực này  
còn rất hiếm hoi. Và một điều đáng lưu ý là, các  
nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết tiếp nhận  
trường phái Konstanz hiện nay ở Việt Nam cũng  
mới chủ yếu dừng lại chung quanh quan điểm  
về “tầm đón nhận” của Jauss, còn lý thuyết tiếp  
nhận của Iser cùng những người khác trong  
trường phái Konstanz vẫn còn chưa được nhiều  
học giả quan tâm nghiên cứu sâu về lý thuyết lẫn  
ứng dụng.  
của Karl Jaspers (1883-1969). Năm 1960, Iser  
chính thức trở thành giáo sư tại Đại học  
Würzburg và năm 1963 là giáo sư ở Đại học  
Köln (Cologne), thời gian này ông đã cùng Hans  
Robert Jauss và những người khác thành lập  
nhóm nghiên cứu “Poetik und Hermeneutik”  
(Thi học và Giải thích học).  
Từ năm 1967 đến năm 1991, Iser là giáo sư  
văn học so sánh và văn học Anh tại Đại học  
Konstanz. Ngoài ra, Iser cũng tích cực trong  
hoạt động nghiên cứu và giảng dạy tại nước  
ngoài, như Center for the Humanities (Đại học  
Wesleyan: 1970-1971), Netherland Institute for  
Advanced Study Wassenaar (Hà Lan, 1973-  
1974), Đại học Princeton (Mỹ), Advanced  
Study (Đại học Hebräische, Jerusalem: 1985-  
1986), Rockefeller Foundation (1991), là giáo  
sư thỉnh giảng thường xuyên tại Đại học  
California ở Irvine.  
Trong khi thực tế nhu cầu vận dụng lý thuyết  
tiếp nhận Konstanz vào nghiên cứu thực tiễn,  
trường hợp cụ thể ở Việt Nam khá lớn, nhưng  
việc giới thiệu, nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận  
Konstanz đến nay dù có tiến triển theo thời gian,  
vẫn còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục đào sâu  
cũng như mở rộng. Bởi nhìn chung, các kết quả  
giới thiệu, dịch thuật, nghiên cứu, ứng dụng lý  
thuyết tiếp nhận Konstanz của chúng ta hiện nay  
vẫn còn khá khiêm tốn, chưa đáp ứng được nhu  
cầu mà thực tiễn đặt ra. Bài viết này giới thiệu  
một số luận điểm trong lý luận phản ứng độc giả  
của Iser là phần chưa được nhiều người nghiên  
cứu tại Việt Nam đào sâu, chưa thấy các luận án  
luận văn vận dụng, để làm rõ hơn vai trò của  
người tiếp nhận.  
Các chức danh và tặng thưởng khác của Iser:  
Tiến sĩ danh dự Đại học Sofia, thành viên Viện  
Hàn lâm Khoa học Heidelberger (Akademie der  
Wissenschaften (HAdW)), thành viên danh dự  
Hội Văn học So sánh Anh (British Comparative  
Literature Association), thành viên danh dự  
Hiệp hội Ngôn ngữ hiện đại Mỹ (Modern  
Language Association of America (MLA)),  
thành viên danh dự Học viện Mỹ thuật và Khoa  
học Viện Hàn lâm Châu Âu (Academy of Arts  
and Sciences Academia Europaea).  
Trong quãng thời gian 30 năm, Iser đã cho ra  
đời khoảng 10 đầu sách được dịch ra nhiều ngôn  
ngữ khác nhau trên thế giới và hàng trăm bài  
nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí trong và  
ngoài nước. Các công trình tiêu biểu của Iser  
được ông viết bằng tiếng Đức và tiếng Anh, tiêu  
biểu như: Walter Pater: Die Autonomie des  
Asthetischen (Walter Pater: Quyền tự trị của  
Iser sinh năm 1926 tại Marienberg Đức, cha  
mẹ là những doanh nhân thành đạt. Nhập ngũ  
năm 17 tuổi và khi chiến tranh thế giới thứ hai  
kết thúc, ông mới có cơ hội vào đại học, trường  
Leipzig và Tübingen là nơi Iser từng học tiếng  
Anh, ngữ văn Đức và triết học. Luận án tiến sĩ  
của Iser là Die Weltanschauung Henry  
Fieldings (Thế giới của Henry Fielding, bảo vệ  
năm 1950, Tübingen M. Niemeyer xuất bản  
năm 1952) lấy cảm hứng từ lý luận về thế giới  
của Wilhelm Dilthey (1833-1911) và tâm lý học  
literarischer Prosa (Kết cấu vẫy gọi của văn  
bản: Tính bất xác định như là điều kiện cho văn  
xuôi sinh ra hiệu quả, 1970); Der implizite  
Leser: Kommunikations formen des Romans  
von Bunyan bis Beckett (Độc giả hàm ẩn:  
Phương thức giao lưu từ Bunyan đến tiểu thuyết  
62  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
Beckett, 1972); Der Akt des Lesens. Theorie  
ästhetischer Wirkung (Hành động đọc: Lý luận  
phản ứng thẩm mỹ, 1976); Laurence Sternes  
"Tristram Shandy". Inszenierte Subjektivität  
(Chủ thể chủ đề trong tác phẩm Tristram Shandy  
của Laurence Sterne, 1987); Shakespeares  
Historien. Genesis und Geltung (Lịch sử  
Shakespeare: khởi đầu và hiệu quả, 1988);  
Prospecting: From Reader Response to Literary  
Anthropology (Khảo sát: Từ phản ứng độc giả  
đến nhân học văn học, 1989); Fingieren als  
Anthropologische Dimension der Literatur (Cái  
giả như là một chiều kích của nhân học văn học,  
1990); Das Fiktive und das Imaginäre.  
Perspektiven literarischer Anthropologie (Hư  
cấu và tưởng tượng: ranh giới của nhân học văn  
học, 1991); The Range of Interpretation (Phạm  
vi của giải thích, 2000); How to Do Theory  
(Làm lý luận như thế nào?, 2006).  
trong công trình này là: “siêu việt”, “hư cấu”,  
“tưởng tượng”.  
Phần tiếp theo, chúng tôi chủ yếu dựa trên  
một số luận điểm chính của Iser trong hai công  
trình kể trên để tập trung vào các lập luận, diễn  
giải, kết luận của Iser về hai vấn đề cơ bản trong  
lý luận tiếp nhận (phản ứng thẩm mỹ độc giả)  
của Iser là Hành động đọc và Hành động hư cấu.  
2. Các luận điểm cơ bản trong lý thuyết  
tiếp nhận của Iser  
2.1. Hành động đọc  
Trong lý thuyết tiếp nhận nói chung, độc giả  
giữ vai trò trung tâm, thậm chí có người bị chỉ  
trích là chỉ quan tâm đến độc giả mà quên mất  
văn bản, như Stanley Fish (Mỹ) với lý luận phản  
ứng độc giả cho rằng: “Có thể nói văn bản  
không có tác dụng đối với giải thích, tất cả đều  
do độc giả quyết định” (Holub, 1984: 440). Ở  
phương diện này, Iser cũng khẳng định vai trò  
đặc biệt, chủ động của độc giả, nhưng theo  
phương pháp và tinh thần đặc biệt tôn trọng vai  
trò của văn bản. Ông đặt ra vấn đề về độc giả  
trên cơ sở kế thừa nền tảng và thành tựu nghiên  
cứu văn bản, từ đó xây dựng giả thuyết văn bản  
văn học sẽ sinh ra một ảnh hưởng nào đó đối với  
độc giả.  
Trong số các tác phẩm kể trên, có thể nói  
Hành động đọc, Hư cấu và tưởng tượng là hai  
công trình tiêu biểu, bởi nó thể hiện một cách  
tập trung nhất, hệ thống nhất những luận điểm  
cũng như phương pháp của Iser, tiêu biểu cho  
hai thời kỳ khác nhau trong hoạt động học thuật  
của ông.  
Hành động đọc tiêu biểu cho quan điểm học  
thuật thời kỳ thứ nhất của Iser, tập hợp hầu hết  
những luận điểm cơ bản của ông về tiếp nhận  
thể hiện qua các khái niệm then chốt: Độc giả  
hàm ẩn (Implied Reader), Bất xác định  
(Indeterminacy), Khoảng trống (Blank), Phủ  
định (Negation),... Quan điểm cơ bản của Hành  
động đọc, thực chất như chính Iser nói, là sự  
hoàn thiện vấn đề nghiên cứu đã đặt ra trong bài  
tiểu luận đã công bố từ năm 1970 trước đó: Die  
Appellstruktur der Texte. Unbestimmtheit als  
Wirkungsbedingung literarischer Prosa (Kết  
cấu vẫy gọi của văn bản: Tính bất xác định như  
là điều kiện sinh ra hiệu quả văn xuôi)(*).  
Tác phẩm Hư cấu và tưởng tượng tiêu biểu  
cho quan điểm học thuật thời kỳ thứ hai của Iser,  
chuyển từ hướng nghiên cứu tiếp nhận dựa trên  
nền tảng của Hiện tượng học sang hướng nghiên  
cứu tiếp nhận dựa trên nền tảng của Nhân loại  
học. Các thuật ngữ lý luận được chú ý đặc biệt  
Vấn đề trọng tâm mà Iser suy nghĩ và tìm  
cách trả lời là mối quan hệ giữa văn bản và độc  
giả. Khi khảo sát từ phương diện văn bản, câu  
hỏi mà ông muốn đặt ra cụ thể là: Văn bản thu  
hút độc giả bằng những yếu tố nào?; còn khi  
khảo sát từ phương diện độc giả, Iser đặt ra câu  
hỏi nghiên cứu: Độc giả phản ứng như thế nào  
khi tiếp xúc, giao lưu với văn bản?  
Tại đây Iser đã thể hiện một cách rõ nhất  
những phát hiện, quan điểm của mình về vai trò,  
quyền hạn của độc giả. Điều đầu tiên trong phản  
ứng của độc giả đối với văn bản, là họ không  
những có quyền đón nhận văn bản, mà đồng thời  
họ cũng có quyền từ chối văn bản nếu cảm thấy  
vô vị hoặc không hài lòng với tư thế bị động của  
mình. Tiếp theo, độc giả không phải là những  
người chỉ có quyền thưởng thức, phê bình văn  
bản với tư cách khách quan, bên ngoài văn bản  
như một khán giả trước một bức tranh trong  
phòng triển lãm hay một thính giả ngồi dưới sân  
63  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
khấu trong một buổi hòa nhạc, mà ở đây, cùng  
với quyền nhận thức, độc giả còn có quyền “gia  
công” hoặc “xử lý” (process) văn bản tác phẩm,  
làm thay đổi trật tự, mối liên kết của các nội  
dung trong văn bản. Nghĩa là theo Iser, độc giả  
hoàn toàn có quyền tham gia vào văn bản.  
Nhưng việc tham gia (involvement) này không  
đơn giản là sự “nội hóa” (internalize) những nội  
dung do văn bản cung cấp, mà phải khiến cho  
những nội dung ấy trong văn bản tương tác, cải  
biến lẫn nhau, tạo thành đối tượng thẩm mỹ.  
Quyền năng ấy của độc giả do đâu mà có?  
Từ những diễn giải của Iser cho thấy, thứ nhất  
là bởi những yếu tố nội tại sẵn có trong văn bản  
như khoảng trống, điểm bất xác định tạo nên;  
thứ hai là bởi những yếu tố nội tại của độc giả  
như cá tính, năng lực tưởng tượng, điểm nhìn  
tạo nên. Và lý thuyết phản ứng thẩm mỹ của Iser  
tập trung ở vào giao điểm giữa cực văn bản và  
cực độc giả. Trong lý luận của Iser, mối quan hệ  
giữa cực văn bản và cực độc giả rất chặt chẽ,  
phức tạp. Điều này được chứng minh cụ thể và  
tiêu biểu qua việc xây dựng và lý giải khái niệm  
“Implied reader” (Độc giả hàm ẩn) của Iser.  
Trong lý thuyết tiếp nhận, người đọc là đối  
tượng thu hút sự quan tâm nghiên cứu và người  
ta cố gắng vượt thoát khỏi những quan niệm và  
giới hạn về vai trò của người đọc trong truyền  
thống. Công việc trước hết mà các nhà nghiên  
cứu thường làm là phân loại độc giả, và có hai  
loại độc giả được chỉ ra: (1) Độc giả thực tế  
(Real Reader), (2) Độc giả giả định  
(Hypothetical Reader). Trong Độc giả giả định  
người ta lại phân làm Độc giả lý tưởng (Ideal  
Reader) và Độc giả cùng thời (Contemporary  
Reader). Các học giả hiện đại đã phát huy tính  
tích cực trong việc khám phá các khái niệm cũng  
như nội hàm mới cho độc giả. Michael  
Riffaterre với khái niệm “Super-reader” (siêu  
độc giả) trong công trình Strukturale Stilistik,  
Stanley Fish với khái niệm “Informed Reader”  
(độc giả tri thức) trong công trình Literature in  
the Reader: Affective Stylistics, Erwin Wolff với  
khái niệm “Intended Reader” (độc giả ý  
hướng/ý định) trong công trình Der intendierte  
Leser,... thể hiện rõ những nỗ lực tìm tòi ấy.  
Theo Iser, cả Riffaterre, Fish và Wolff đều  
muốn vượt qua những hạn chế về phương pháp  
của ngôn ngữ học cấu trúc, ngữ pháp tạo sinh-  
chuyển đổi hoặc xã hội học văn học, nhưng Iser  
cho rằng tất cả những khái niệm khác nhau về  
về Độc giả thực tế và Độc giả giả định đều dẫn  
đến những hạn chế là làm suy yếu khả năng áp  
dụng chung của các lý thuyết. Vì thế, Iser (1978:  
44) đưa ra khái niệm khác là “Implied Reader”  
(Độc giả hàm ẩn) và nhấn mạnh, “khái niệm  
Độc giả hàm ẩn là sản phẩm của tư duy, cắm rễ  
sâu trong cấu trúc văn bản, hoàn toàn không  
đồng đẳng với bất kỳ một độc giả hiện thực  
nào”. Iser phê phán những người theo quan  
điểm cho rằng nghĩa là ý nghĩa văn bản nằm bên  
ngoài văn bản, do độc giả quyết định hoàn toàn,  
theo ông, ngay trong văn bản chắc chắn đã có  
những điều kiện thực hiện điều ấy và chúng chờ  
đợi sự phản ứng của độc giả khi hai bên có sự  
tiếp xúc. Đến đây Iser đưa ra một kết luận quan  
trọng: “Vì vậy, khái niệm Độc giả hàm ẩn là một  
cấu trúc văn bản, nó chờ đợi người tiếp nhận  
xuất hiện mà không hạn chế anh ta”. Có thể nói,  
đây cũng chính là “Kết cấu vẫy gọi” (response-  
inviting structures) mà Iser từng đề xuất, chính  
kết cấu này thu hút, dẫn dắt độc giả nắm bắt,  
hiện thực hóa văn bản. Như thế cũng có nghĩa  
rằng, Độc giả hàm ẩn không phải trỏ độc giả  
hiện thực bình thường khách quan bên ngoài văn  
bản, mà là một cấu trúc văn bản mở, nhưng  
chính vai trò đặc biệt của độc giả hiện thực lại  
tạo nên khái niệm Độc giả hàm ẩn. Và quan hệ  
ấy tạo nên tính chất phức hợp-lưỡng phân của  
“Độc giả hàm ẩn” mà Iser lưu ý là, bản thân khái  
niệm này tồn tại hai phương diện cơ bản có liên  
quan mật thiết với nhau: (1) Vai trò độc giả được  
xem như là cấu trúc văn bản, (2) Vai trò độc giả  
như là hành vi hóa cấu trúc (Iser, 1978: 44).  
Bởi quan niệm về độc giả với tính chất phi  
hiện thực và mối liên hệ gắn kết chặt chẽ sâu xa  
của “Độc giả hàm ẩn” với văn bản trừu tượng,  
phức tạp như vậy khiến Iser bị chỉ trích là người  
muốn quay về mô hình nghiên cứu cũ lấy văn  
bản làm trung tâm.  
Một trong những ý nghĩa quan trọng của lý  
thuyết tiếp nhận là nó tái lập lịch sử, quá khứ của  
64  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
văn bản, thông qua đó người ngày nay có thể đối  
thoại, giao lưu với người ngày xưa. Cho nên có  
thể nói quá trình đọc thực ra cũng là quá trình đối  
thoại, giao lưu giữa độc giả và tác giả, giữa hiện  
tại và quá khứ thông qua văn bản tác phẩm.  
đọc; ngược lại, người đọc tất nhiên cũng chịu  
ảnh hưởng từ văn bản mà anh ta gia công”. Như  
thế, người đọc có quyền tham gia, gia công văn  
bản, đó là phương diện thứ nhất của hoạt động  
đọc, còn phương diện thứ hai của hoạt động này  
là sự tác động ngược trở lại của văn bản đối với  
độc giả như một sự “tất nhiên”, nghĩa là không  
chỉ có việc người đọc gia công làm thay đổi văn  
bản, mà văn bản cũng có thể “gia công” làm thay  
đổi người đọc. Và như thế, “đọc” là một hoạt  
động hay quá trình hai chiều, có quan hệ biện  
chứng với nhau.  
Trong lời tựa viết cho bản dịch sang Anh văn  
công trình Hành động đọc, Iser nói: “Chỉ khi  
được đọc, văn bản văn học mới sinh ra hiệu  
ứng(*), vì vậy miêu tả phản ứng cần được tiến  
hành đồng thời với việc phân tích quá trình đọc.  
Đọc do đó trở thành tiêu điểm của nghiên cứu,  
bởi nó dẫn đến một chuỗi những hoạt động vừa  
phụ thuộc vào văn bản vừa dựa vào sự phát huy  
những năng lực cơ bản của con người. Hiệu quả  
(effect) và phản ứng (response) không phải là  
đặc tính của văn bản, cũng không phải là đặc  
tính của độc giả; văn bản hàm chứa hiệu quả  
tiềm ẩn trong nó và quá trình đọc sẽ khiến cho  
hiệu quả tiềm ẩn ấy được thực hiện” (Iser, 1978:  
26). Như thế nghĩa là Iser muốn nhấn mạnh  
rằng, trọng tâm hay đối tượng nghiên cứu của  
ông không phải ở cực văn bản, cũng không phải  
ở cực độc giả, mà chính là sự tiếp xúc, tương  
tác, giao lưu hoặc giao thoa giữa hai cực ấy với  
nhau, nói cách khác đó là “act to reading”  
(hành/hoạt động đọc), và lý thuyết mà Iser kiến  
lập trên cơ sở nghiên cứu đó được ông gọi là  
“aesthetic response” (phản ứng thẩm mỹ).  
“Đọc” là một hoạt động có tính quá trình,  
song là một hoạt động thể hiện tư thế tích cực,  
năng động, chủ động, sáng tạo của người đọc,  
có vai trò chủ đạo trong việc xác định nghĩa cho  
văn bản tác phẩm, chứ không phải ở tư thế thụ  
động đi tìm nghĩa sẵn có trong văn bản. Hoạt  
động đọc có thể làm biến đổi diện mạo văn bản  
như thế nào thì Iser chưa nói rõ, nhưng “văn bản  
tạo ra điều gì cho người tiếp nhận” thông qua  
hoạt động đọc thì được ông diễn giải cụ thể hơn.  
Theo Iser (1978: 207), đọc là “một hoạt động  
tích cực dưới sự chỉ dẫn của văn bản, nên tất  
nhiên nó phải trải qua sự gia công của người  
“Điều thú vị nhất của lý luận tiếp nhận là việc  
xử lý văn bản, tôi nghĩ rằng vấn đề này đến nay  
vẫn quan trọng”.  
Đó là một câu trả lời của Iser trong chuyến  
sang Trung Quốc năm 2001, về ý nghĩa và giá  
trị của lý thuyết tiếp nhận trong nghiên cứu văn  
học hiện thời. Thông qua trả lời vắn tắt sau đây  
chúng ta có thể biết được những điểm căn bản  
của ông về vấn đề “xử lý văn bản” khi nghiên  
cứu phản ứng độc giả quá khứ: “Trong các tác  
phẩm cổ điển Trung Quốc đều có kèm theo  
những lời bình điểm, chúng báo cho độc giả biết  
rằng cần phải đọc văn bản đó như thế nào.  
Những lời thêm vào ấy chứng tỏ rằng, đọc là sự  
trình diễn đối với văn bản mà không thể tùy tiện  
theo ý của người đọc, ngược lại, ý nghĩa mang  
tính chủ ý của tác giả trực tiếp dẫn dắt ý thức  
độc giả, đề phòng việc độc giả tự động tái tạo ý  
nghĩa của văn bản. Nhưng có điều chúng ta chớ  
quên là, chủ ý của tác giả không thể hoàn toàn  
đảm bảo rằng nhất định sẽ được người đọc nắm  
bắt đúng. Khi độc giả xử lý chủ ý của tác giả,  
kết quả chưa chắc ăn khớp hoàn toàn với ý mà  
tác giả muốn truyền đạt, nguyên nhân chủ yếu  
nằm ở chỗ, mỗi độc giả đều có thể tạo ra ý nghĩa  
văn bản khác trong ngữ cảnh tình cảm và tri thức  
khác nhau” (Iser, 1991: 3).  
Mỗi văn bản đều có ý nghĩa riêng của nó do  
tác giả kiến tạo, nhưng qua hành động đọc tức là  
(*) Trong bản tiếng Anh, Iser chú thích khái niệm response:  
“Nguyên trong tiếng Đức đây là khái niệm Wirkung bao  
hàm hai ý nghĩa: hiệu quả (effect) và phản ứng (response),  
nhưng không hàm nghĩa tâm lý như từ response trong tiếng  
Anh. Từ effect khó biểu đạt được hàm nghĩa của Wirkung,  
còn từ response lại dễ dẫn đến khó hiểu. Nhưng không còn  
cách nào khác, tôi đành chọn từ response”. Tại Việt Nam,  
khái niệm này có nhiều cách dịch: hồi đáp, hồi ứng, phản  
ứng, phản hồi, hưởng ứng,... Ở đây chúng tôi tạm dịch từ  
“Wirkung” (response) là “phản ứng”.  
65  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
khi văn bản tiếp xúc với độc giả, thì ý nghĩa đó  
sẽ thay đổi, bởi không chỉ tác giả hay văn bản có  
ý hướng tính (chủ ý) mà độc giả cũng có ý hướng  
tính của riêng mình, ý hướng tính ấy lại thuộc vào  
ngữ cảnh (tình cảm, tri thức). Và chính ý hướng  
chủ quan kia tác động trực tiếp đến việc xử lý văn  
bản, tức là kiến tạo lại văn bản theo chủ ý của độc  
giả cụ thể. Ví dụ trong các văn bản cổ xưa ở  
Trung Quốc vốn không có chấm câu khiến cho  
việc hiểu cũng như lý giải ý nghĩa văn bản của  
người đời sau trở nên rất đa dạng phức tạp, nhiều  
khi trái ngược nhau, như trường hợp điển hình và  
phổ biến là Đạo đức kinh, Văn tâm điêu long hay  
thơ văn Đào Uyên Minh.  
Mỗi người sẽ có một cách xử lý văn bản khác  
nhau, song không phải ai cũng xuất phát hay căn  
cứ từ văn bản, mà xuất phát và căn cứ vào một  
chủ ý, động cơ ngoài văn bản, còn văn bản chỉ  
được xem như phương tiện để thực hiện ý đồ,  
động cơ ấy. Điều này cũng thể hiện rõ trong việc  
xử lý văn bản ở Trung Quốc, như Albert Richard  
Davis (1924 - 1983, giáo sư Đại học Cambridge,  
Anh) đã phê phán trường hợp người ta lý giải,  
diễn giải văn bản tác phẩm của Đào Uyên Minh  
trong Tao Yuan-ming 365-427: His Works and  
Their Meaning (1983): “Thơ trữ tình cá nhân,  
tức thơ miêu tả tình cảm của cá nhân là một ưu  
điểm lớn trong thơ ca truyền thống Trung Quốc;  
mà Đào Uyên Minh lại là một trong những  
người đi đầu vĩ đại. Hàng trăm năm qua độc giả  
Trung Quốc thích đọc thơ ông, bởi tác phẩm của  
ông thể hiện cá tính cá nhân ấy. Thơ trữ tình cá  
nhân là một thành tựu lớn lao của Đào Uyên  
Minh, chúng ta cũng hy vọng rằng bản thân ông  
cũng cảm thấy vui vì thành tựu ấy”, “Nhưng do  
một số nguyên nhân lịch sử và xã hội, rất nhiều  
người Trung Quốc có vẻ như không muốn  
thưởng thức thành tựu ấy của Đào Uyên Minh,  
mà họ muốn phát hiện ra những mục đích và chí  
hướng khác từ tác phẩm của ông. Tôi cho rằng  
vì vậy mà khi lý giải cuộc đời và tác phẩm của  
Đào Uyên Minh, người ta đã bóp méo ít nhiều”  
(Ngô Phục Sinh, 2013: 50). Và đó cũng là lý do  
mà Davis phải đặt thêm phụ đề “His Works and  
Their Meaning” cho công trình của ông.  
Iser xác định rõ ở trên bao gồm hai yếu tố cơ bản  
là “tình cảm” và “tri thức”, cũng tương tự với  
khái niệm then chốt “tầm đón đợi” hay “kinh  
nghiệm thẩm mỹ” của Jauss. Như vậy, tại đây  
chúng ta thấy rõ thêm sự tương đồng, bổ trợ và  
thống nhất trong phương pháp và quan niệm của  
hai đại biểu xuất sắc nhất lý thuyết tiếp nhận  
Konstanz. Chúng ta cũng thấy rằng, lúc nào và  
ở đâu, Iser cũng khẳng định vai trò quan trọng  
đặc biệt của văn bản như là cơ sở có ý nghĩa  
nhất, trong nghiên cứu hành động đọc hay phản  
ứng của độc giả.  
Từ gợi ý trên của Iser về xử lý văn bản,  
chúng ta có thể hình dung và vận dụng triển khai  
cụ thể vào nghiên cứu các trường hợp thực tế  
bằng cách thao tác hóa chi tiết trong nghiên cứu  
văn bản tác phẩm văn học cổ. Chẳng hạn như  
nghiên cứu kỹ lưỡng các bài tựa, bạt ở đầu và  
cuối văn bản, hay những lời bình chung quanh  
lòng văn bản, những dấu chấm câu những chữ  
ghi chú trong lòng văn bản, chọn lựa, in ấn,  
truyền bá văn bản, rồi tập hợp những “dấu hiệu”  
và “tài liệu” gắn liền với quá trình đọc ấy, phân  
tích, đối chiếu so sánh với nhau; đồng thời tìm  
hiểu thêm các dữ liệu khác ngoài văn bản như  
tiểu sử, thời đại của tác giả văn bản, chúng ta sẽ  
có những thông tin hữu ích, quan trọng giúp cho  
việc tìm hiểu, lý giải phản ứng của độc giả. Song  
phương pháp này chỉ thích dụng trong nghiên  
cứu những văn bản được in ấn, sao chép, hiệu  
đính nhiều lần, qua nhiều người, nhiều giai đoạn  
lịch sử và bối cảnh văn hóa khác nhau, như văn  
bản Đào Uyên Minh ở Trung Quốc, Truyện  
Kiều ở Việt Nam.  
2.2. Hành động hư cấu  
Năm 1976, Iser bắt đầu quan tâm đến nhân học  
văn học (tiếng Đức: literarische anthropologie,  
tiếng Anh: literary anthropology), đề xuất lý  
thuyết “mà ông gọi là nhân học xã hội, theo đó  
một cá nhân có ý thức muốn biểu lộ mình, nhưng  
đồng thời mặt khác anh ta lại muốn xuất hiện như  
là một người khác, nghĩa là anh ta vừa muốn biểu  
lộ mình lại vừa muốn siêu việt chính mình. Iser  
cho rằng hư cấu văn học thể hiện nhu cầu căn bản  
ấy bằng các phương thức khác nhau” (Uông  
Chính Long, 2005: 65). Năm 1991, Iser phát  
“Ngữ cảnh” đọc cũng như xử lý văn bản mà  
66  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
triển, hoàn chỉnh tư tưởng đó thành công trình lớn  
Das Fiktive und das Imaginäre: Perspektiven  
literarischer Anthropologie (Hư cấu và tưởng  
tượng – ranh giới của nhân học văn học).  
văn bản” thì lý luận cũ về mối quan hệ giữa hư  
cấu và hiện thực sẽ khó có thể tiếp tục đứng  
vững hay tồn tại.  
Vì thế, Iser (1991: 14 -15) đề nghị vứt bỏ  
quan điểm đối lập hư cấu – hiện thực, mà thay  
vào đó là quan điểm thống nhất giữa ba nhân tố  
hiện thực, hư cấu và tưởng tượng, ông cho rằng  
đây mới là “đặc trưng cơ bản của văn bản”, đồng  
thời cũng là “cơ sở tồn tại của văn bản văn học”.  
Bởi theo Iser, ba nhân tố này có chức năng tác  
dụng riêng, nhưng có sự giao thoa hòa trộn  
thống nhất để tạo nên văn bản. “Văn bản không  
chỉ bị giới hạn trong hiện thực đã định như là  
nhân tố tham chiếu, văn bản cũng không thể chỉ  
có đặc trưng hư cấu, do đó đối với văn bản, tính  
hư cấu không phải là thuộc tính cuối cùng của  
văn bản và cũng không phải là thuộc tính chỉnh  
thể của văn bản. Thực tế, ngoài việc lấy hiện  
thực và hư cấu làm trung gian, văn bản còn có  
nhân tố thứ ba, đó là tưởng tượng” và “việc công  
nhận quan hệ hợp nhất bộ ba ấy là cách hay nhất  
khi nghiên cứu vấn đề này”.  
Nghiên cứu của Iser (1991: 15) chỉ ra, “hiện  
thực” trong văn bản là những từ ngữ “có nguồn  
gốc từ xã hội”, có ý nghĩa xác định và chúng  
chiếm phần lớn trong văn bản, nhưng “bản thân  
thứ hiện thực ấy không có bao nhiêu ý nghĩa đối  
với văn bản, vì văn bản không phải là thứ hướng  
đến hiện thực mà là biểu hiện hiện thực”. Từ đó,  
Iser rút ra kết luận, văn bản không tất yếu phải  
dựa vào sự thực có căn cứ (ipso facto) để trở  
thành vật hư cấu, bởi những yếu tố như ý đồ,  
thái độ, kinh nghiệm,... của tác giả trong quá  
trình kiến tạo văn bản không nhất thiết phải  
phản ánh hiện thực, mà ngay “ý đồ, thái độ, kinh  
nghiệm ấy trong văn bản rất có thể chỉ là sản  
phẩm của hành vi hư cấu”.  
Tuy nhiên, Iser phủ nhận ý kiến cho rằng ông  
chuyển trọng tâm nghiên cứu từ độc giả sang tác  
giả, hoặc sang văn bản trung tâm luận(*). Iser  
khẳng định, nhân học văn học mà ông theo đuổi  
trong giai đoạn nghiên cứu sau của mình thực  
chất cũng vẫn là tiếp tục lý thuyết tiếp nhận của  
ông thời kỳ trước, tức là quan tâm đến độc giả,  
nhưng theo một con đường mới, mà “phương  
hướng mới của tôi là thử trả lời cho câu hỏi: Tại  
sao độc giả muốn đọc?, Tại sao người ta lại say  
mê văn chương dù họ cũng biết rằng văn chương  
chỉ là vật hư cấu?” và một câu hỏi quan trọng  
khác nữa là: “Mục đích của văn học là gì?”. Iser  
(1991: 12-13) cho rằng, để giải đáp vấn đề đó,  
việc cần phải làm là tìm hiểu sự ra đời của văn  
học, mà dù nghiên cứu sự tiếp nhận của độc giả  
hay nghiên cứu quá trình sản xuất của tác giả, thì  
việc phân tích văn bản là điều không thể thiếu.  
Nhưng bản chất của văn bản văn học theo  
Iser không phải chỉ là hư cấu và là thứ hư cấu  
đối lập với hiện thực như người ta vẫn nghĩ và  
tin chắc như một loại “tri thức mặc nhiên” (tacit  
knowledge). Với Iser, “văn bản văn học là vật  
hỗn hợp giữa hư cấu và hiện thực, là kết quả bổ  
sung qua lại, thẩm thấu vào nhau của cái đã biết  
và cái tưởng tượng, trong văn bản, đặc tính hỗn  
dung giữa hư cấu và hiện thực vượt xa đặc tính  
đối lập giữa chúng” (Iser, 1991: 14). Ông phê  
phán quan điểm đối lập nhị nguyên giữa hư cấu  
và hiện thực, bởi cái “tri thức mặc nhiên” đó  
không trả lời được những câu hỏi: “Thực tế giữa  
cái hư và cái thực có dễ phân biệt rõ ràng rành  
mạch như trắng với đen được không?”, “Văn  
bản hư cấu tất nhiên là thứ hư cấu, nhưng văn  
bản phi hư cấu có tất nhiên không liên hệ gì với  
hư cấu hay không?”. Và Iser cũng cho rằng, nếu  
văn bản hư cấu cắt đứt hết liên hệ với hiện thực  
thì không ai có thể hiểu được, cho nên, khi  
chúng ta thử miêu tả “cái gì là tính hư cấu của  
Mối quan hệ giữa “hư cấu” và “tưởng tượng”  
theo khảo sát của Iser, là ít được chú ý và thường  
lẫn lộn trong lịch sử tư tưởng, triết học phương  
Tây. Theo ông, muốn xác định được đặc tính,  
bản chất của từng nhân tố, phải căn cứ vào quan  
hệ, chức năng của nó. Về hư cấu, bởi hành vi hư  
(*) Như câu hỏi của Kim Huệ Mẫn 金惠敏 trong bài phỏng  
vấn Iser, in đầu bản dịch sang tiếng Trung công trình Das  
Fiktive und das Imaginäre: Perspektiven literarischer,  
Anthropologie (Iser, 1991: 12).  
67  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
cấu khiến cho một vật đang “định hình” trở  
thành “đa dạng”, nên từ đó chúng ta có thể rút  
ra bản chất của nó là “siêu việt giới hạn”  
(crossing boundaries) hoặc “xâm lấn”  
(transgression). Như thế, một đặc điểm khác của  
hành vi hư cấu là tính ý thức, tính chủ động, tính  
mục đích, chịu sự khống chế và dẫn dắt của chủ  
thể hành vi.  
Còn tưởng tượng, theo Iser (1991: 15-16),  
“như bóng ma bất định thường vụt qua trước mắt  
ta, có lúc chỉ trong nháy mắt nó biến mất không  
để lại tăm tích nào, có khi nó biến hóa thành một  
diện mạo khác”. Vậy nên đặc tính của tưởng  
tượng là có hình thức tản mạn, thoáng qua, tùy  
hứng, không có hình thức cố định cụ thể.  
Như thế chúng ta không thể đánh đồng hành  
vi hư cấu và tưởng tượng, không thể xem chúng  
là một, bởi chúng có chức năng cũng như đặc  
tính bất đồng. Song hư cấu và tưởng tượng lại  
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, chúng đều tìm  
kiếm, kiến tạo một cái gì đó không có hay khác  
với cái đã có mà chúng ta biết, trong quá trình  
đó hành vi hư cấu tạo cho tưởng tượng (vốn bất  
định không thể nắm bắt) một hình thức cụ thể rõ  
ràng, một “diện mạo chân thực giả định” có thể  
nắm bắt, như vậy hành vi hư cấu là điểm tựa cơ  
sở để tưởng tượng cất cánh siêu việt giới hạn  
hiện thực.  
Vậy quan hệ giữa ba nhân tố hiện thực – hư  
cấu – tưởng tượng biểu hiện cụ thể như thế nào?  
Từ những dẫn giải của Iser, có thể nói, cả hư  
cấu và tưởng tượng cùng có đặc tính “siêu việt  
hiện thực”, nhưng đều cùng lấy hiện thực làm  
cơ sở, không phải hoàn toàn thoát ly cắt đứt với  
hiện thực. Do đó, trong “tưởng tượng” có những  
yếu tố “hiện thực”, mà những yếu tố hiện thực  
này lại do “hư cấu” dẫn dắt, bởi hư cấu kết nối  
hiện thực và tưởng tượng, hình thức hay tính  
hiện thực trong tưởng tượng là do hư cấu kiến  
tạo nên. Song Iser lưu ý rằng, “dù tưởng tượng  
chắc chắn phải dùng một diện mạo chân thực giả  
định hoặc dùng cách siêu việt thế giới hiện thực  
để phản ánh hiện thực, nhưng tưởng tượng  
không bao giờ đồng đẳng với hiện thực”. Tưởng  
tượng bắt nguồn từ hiện thực, vậy hiện thực bắt  
nguồn từ đâu? Theo Iser (1991: 20), “tính hiện  
thực” (actuality) của văn bản lại bắt nguồn từ  
“tính hữu hiệu của tưởng tượng về hiện thực”,  
ông đã dựa vào lý luận “cái chân thực bắt nguồn  
từ hư cấu” của triết gia Mỹ Nelson Goodman  
(trong Ways of Worldmaking, 1978) để nhấn  
mạnh rằng: “tính chân thực ấy sinh ra trong quá  
trình tác động qua lại giữa các yếu tố liên quan  
đến văn bản” (Iser, 1991: 22) và nó không phải  
là sự kết hợp tính chất của các yếu tố có trong  
văn bản.  
Theo Iser (1991: 16), trong ba nhân tố hư cấu  
– hiện thực và tưởng tượng kể trên, thì hư cấu là  
nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất, bởi nó siêu  
việt hiện thực và định hình tưởng tượng. Ngôn  
ngữ là phương tiện biểu đạt thế giới tinh thần  
của con người, trong văn học, nó được cấu trúc  
thành văn bản tác phẩm, nhưng “tác dụng của  
văn bản là có giới hạn” (Iser, 1991: 3), bởi nó có  
khuôn khổ, trong khi nhu cầu tìm kiếm, mở  
rộng, siêu việt giới hạn hiện thực, giới hạn nhận  
thức cũng như phá bỏ cái cũ kiến tạo cái mới của  
con người thì luôn vô cùng, cho nên người ta  
phải không ngừng hư cấu và tưởng tượng để  
thỏa mãn nhu cầu ấy.  
Chương thứ hai của công trình Hư cấu và  
tưởng tượng của Iser viết về mục ca thời Phục  
hưng và xem nó như một mô hình hư cấu văn  
học (Renaissance pastoralism as a paradigm of  
literary fictionality). Theo Iser, thế giới trong  
mục ca bao hàm hai lĩnh vực khác nhau và quan  
hệ giữa chúng yêu cầu một hình thức giải thích  
nào đó. Ở đây người chăn cừu được xem như  
một loại ẩn dụ chứ không phải là biểu hiện cho  
hình ảnh của người lao động nông thôn. Mục ca  
cũng không miêu tả cảnh vật đồng quê, lấy chỉ  
sử dụng các yếu tố của đồng quê để sắp đặt trật  
tự hình thức cho một thế giới khác, đó là thế giới  
của linh hồn, của tự do. Mục ca được người sáng  
tác xem là mô hình tốt trong việc cung cấp một  
thủ pháp ẩn dụ. Iser dẫn lời Puttenham (1529 -  
1590) trong The Arte of English Poesie: “Nhà  
thơ làm mục ca... không phải để mô phỏng hay  
biểu hiện tình cảm và đời sống làng quê, mà là  
để hóa trang thành người bình thường, dùng  
ngôn ngữ thô tục để ám chỉ một sự việc trọng  
đại khác” (Iser, 1991: 54).  
68  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
Như vậy, mục ca được người sáng tác thời  
Phục Hưng xem như một cấu trúc ẩn dụ với đặc  
trưng song trùng hóa (hai mặt) và tính tượng  
trưng ở đây trở thành một ký hiệu của khát vọng  
và bất mãn. Con người ở thế giới này không phải  
tiến đến phía trước, mà lùi về phía sau sống với  
những ký ức về thời hoàng kim đã qua. Trong  
mục ca, giữa tác giả và độc giả hình thành một  
quy ước chung, lúc này độc giả sẽ chú ý đến  
những ý nghĩa khác, thế giới khác nằm ngoài  
bản thân người chăn cừu và thế giới được miêu  
tả trên bình diện văn tự. Và trong mục ca ranh  
giới giữa hai thế giới: điền viên và lịch sử xã hội  
trở thành một vấn đề quan trọng. Người ta  
không thể đạt được sự tự do trong thế giới mà  
họ rời bỏ, nhưng thế giới ấy lại luôn tồn tại trong  
thế giới hiện tại của họ. Bởi mục ca ẩn giấu một  
thế giới khác nên nó kích thích trí tưởng tượng  
của độc giả.  
Trên cơ sở phân tích những đặc tính của văn  
bản và vai trò của hư cấu như thế, Iser (1991: 5-  
6) đã đưa đến những kết luận quan trọng trả lời  
cho vấn đề mà ông đặt ra khi nghiên cứu nhân  
học văn học là: Tại sao con người lại cần đến  
văn học và yêu thích nó, dù biết nó là thứ hư  
cấu? Đó là: “Hành vi hư cấu của chúng ta đưa  
chúng ta đi thật xa khỏi thế giới này cũng như  
trạng thái vốn có của chúng ta, đến một thế giới  
tưởng tượng”. Thế giới tưởng tượng xa xôi  
huyền viễn ấy hấp dẫn con người bởi nó khắc  
phục được những giới hạn về thời gian, không  
gian, nhận thức trong thế giới hiện thực để đạt  
đến sự tự do nhất, thỏa mãn những ước mơ khát  
vọng chưa thể hoặc không thể thực hiện được ở  
hiện tại. Iser cũng cho thấy, hư cấu và tưởng  
tượng quyết định đặc tính cơ bản của nhân học,  
vì vậy ảnh hưởng của chúng không giới hạn  
trong văn học, mà trong cuộc sống của chúng ta,  
hư cấu và tưởng tượng cũng đóng vai trò quan  
trọng. Đặc biệt là, quy luật chi phối quan hệ hư  
cấu và tưởng tượng làm hình thành nên một “kết  
cấu trò chơi” có tính năng động, nó khiến cho  
tác dụng của hư cấu và tưởng tượng thu được  
những hình thức khác nhau mà mỗi hình thức ấy  
lại mang một bối cảnh lịch sử tương quan. “Như  
vậy, văn bản là một không gian chơi và điều này  
có thể cung cấp một đáp án cho nan đề rằng tại  
sao con người phải cần đến văn học?” (Iser,  
1991: 7).  
Song như chính Iser nói, với tư cách là một  
nhà nghiên cứu thực thụ, việc trả lời vấn đề này  
sẽ làm nảy sinh những vấn đề khác và đó là việc  
hoàn toàn bình thường, cần thiết. Thậm chí  
người nghiên cứu phải nghi ngờ ngay những câu  
hỏi, câu trả lời của mình, chứ không phải là  
quyết liệt bảo vệ nó, chân lý hóa nó, vậy nên Iser  
(1991: 7) mới có kết luận đầy ưu tư mà sâu sắc  
về vấn đề, đối tượng mình đã dành cả đời tâm  
huyết: “Rốt cuộc, hư cấu và tưởng tượng là sự  
bịa đặt và lừa dối khiến chúng ta siêu việt hiện  
thực, hay là chúng ta vốn đang ở trong cuộc  
sống tưởng tượng với những mộng mơ, hoang  
tưởng và ảo giác?”.  
3. Kết luận  
Wolfgang Iser đóng một vai trò tiêu biểu  
trong lý thuyết tiếp nhận Konstanz, những nghiên  
cứu về hành động đọc và hành động hư cấu của  
ông tạo nên lý luận phản ứng thẩm mỹ của độc  
giả, cùng với lý luận mỹ học tiếp nhận của Jauss  
bổ túc cho nhau để củng cố và phát huy giá trị  
của lý thuyết tiếp nhận Konstanz. Lý thuyết tiếp  
nhận của Iser không những không phủ nhận vai  
trò của văn bản, mà còn đặt nền tảng trên sự  
nghiên cứu, hiểu biết sâu sắc và tôn trọng vai trò  
của văn bản trong hoạt động tiếp nhận.  
Thời kỳ đầu, lý luận của Iser tập trung vào  
việc tìm hiểu quá trình đọc cũng như quá trình  
xử lý văn bản của độc giả. Ở đây không chỉ có  
vấn đề người đọc cải tạo văn bản mà đồng thời  
với nó còn có vấn đề văn bản cải tạo người đọc,  
tức là một mối quan hệ hai chiều, một quá trình  
mang tính biện chứng tác động qua lại lẫn nhau  
giữa người tiếp nhận và văn bản. Cũng có nghĩa  
là đồng thời với vấn đề độc giả đã đọc văn bản  
như thế nào? và vấn đề văn bản đã “đọc” (cải  
biến) độc giả ra sao? Trong thời kỳ thứ hai, Iser  
tập trung nghiên cứu nguyên nhân cũng như  
mục đích con người tìm đến với văn học và phát  
hiện ra vai trò quan trọng của hành động hư cấu,  
tưởng tượng trong vấn đề này. Theo đó, hư cấu  
và tưởng tượng giúp con người mở rộng, siêu  
việt những giới hạn trong hiện thực, tự sáng tạo  
69  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
nên chính mình và thế giới, từ đó tìm thấy tự do,  
thoát khỏi những trói buộc và bất mãn ở thực tại.  
人类学疆界. Nxb. Nhân dân Cát Lâm 吉林  
人民出版.  
Iser, W. (2006). How to Do Theory?. Chu Cương,  
Cốc Đình Đình và Phan Ngọc Sa (dịch)  
Tài liệu tham khảo  
Holub R. C. (1984). Reception theory: Acritical  
introduction. London and NewYork:  
Methuen. Trong Kim Nguyên Phố và Chu  
(2008)朱刚&谷婷婷&潘玉莎(译). Làm lý  
luận như thế nào? 怎样做理论. Nxb. Đại học  
Nam Kinh 南京大学出版.  
Ninh (dịch) (1987) 金元浦&周宁(译). Mỹ  
học tiếp nhận và Lý thuyết tiếp nhận 接受美  
学与接受理论. Nxb. Nhân dân Liêu Ninh 辽  
Uông Chính Long 汪正龙 (2005). Lý luận hư cấu  
văn học và ý nghĩa của Iser 沃尔夫冈:伊瑟  
尔 的文学虚构理论及其意义. Tạp chí Bình  
宁人民出.  
Iser, W. (1978). The Act of Reading: A Theory of  
Aesthetic Response. Kim Huệ Mẫn, Trương  
Vân Bằng, Trương Dĩnh và Dịch Hiểu Minh  
luận Văn học 文学评, số 5.  
Kim Nguyên Phố 金元浦 (1998). Lý luận phản ứng  
(dịch) (1991) 金惠敏&张云 鹏 & 张颖&易  
晓明 (译). Hành động đọc 阅读 行为. Nxb.  
Văn nghệ Hồ Nam 湖南文艺出版社.  
thẩm mỹ 接受反应文论. Nxb. Giáo dục Sơn  
Đông 山东教育出版社.  
Ngô Phục Sinh 吴伏生 (2013). Nghiên cứu Đào Uyên  
Iser, W. (1991). The Fictive and The Imaginary:  
Charting literary anthropology. Trần Định  
Minh trong thế giới Anh ngữ 英语世界的陶渊  
明研究. Nxb. Học phạm 学苑出版社.  
Huỳnh Vân (2009). Vấn đề Tầm đón đợi và xác định  
tính nghệ thuật trong Mỹ học tiếp nhận của  
Hans Robert Jauss. Tạp chí Nghiên cứu Văn  
học, số 3.  
Gia và Uông Chính Long (dịch) (2003) 陈定  
家&汪正龙(译). Hư cấu và tưởng tượng: giới  
hạn của nhân học văn học 虚构与想像:文学  
70  
pdf 11 trang yennguyen 17880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lý thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfly_thuyet_tiep_nhan_cua_wolfgang_iser.pdf