Một số vấn đề về hát kể sử thi và mối quan hệ của ot ndrong với đời sống cộng đồng dân tộc M’nông

Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 70-80  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÁT KỂ SỬ THI  
VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA OT NDRONG  
VỚI ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC M’NÔNG  
Triệu Văn Thịnh  
Trường Đại học Tây Nguyên, TP. Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk  
Ngày nhận bài 15/10/2020, ngày nhận đăng 14/12/2020  
Tóm tắt: Sử thi M’nông (ot ndrong) là một di sản văn hoá của tộc người M’nông  
cũng như của dân tộc Việt Nam. Trong bài viết này, chúng tôi nghiên cứu sử thi  
M’nông từ hai góc nhìn: thứ nhất, trong môi trường diễn xướng, ot ndrong gắn liền với  
vai trò của nghệ nhân hát kể sử thi và hoạt động hát kể sử thi; thứ hai, trong quan hệ  
với cộng đồng, ot ndrong gắn liền với tập tục, tín ngưỡng, căn tính văn hoá của tộc  
người M’nông. Để khảo sát các khía cạnh đó, chúng tôi sử dụng phương pháp điền dã  
dân tộc học, kết hợp phương pháp phân tích tư liệu. Đóng góp của bài viết là chỉ ra  
những nét đặc thù về nghệ nhân hát kể sử thi M’nông vào hoạt động hát kể sử thi  
M’nông, đồng thời diễn giải những biểu hiện của đời sống văn hoá cộng đồng dân tộc  
M’nông được lưu giữ trong ot ndrong. Từ đó, chúng tôi kêu gọi ý thức lưu giữ, bảo tồn  
ot ndrong nói riêng cũng như các giá trị văn hoá của dân tộc M’nông nói chung.  
Từ khoá: Nghệ nhân hát kể sử thi; sử thi M’nông (ot ndrong); cộng đồng; dân tộc  
M’nông; di sản văn hoá.  
1. Một số vấn đề về nghệ nhân hát kể sử thi M’nông và hoạt động hát kể sử  
thi M’nông  
1.1. Một số vấn đề về nghệ nhân hát kể sử thi M’nông  
Trong quá trình diễn xướng sử thi, nghệ nhân dân gian có vai trò hết sức quan  
trọng. Họ chính là người chuyên môn hoá đầu tiên trong công việc sáng tạo và biểu diễn  
loại hình “nghệ thuật” này. Tuy văn học dân gian là sáng tác của tập thể nhưng bản chất  
của tập thể đó là tập hợp của những cá nhân tài năng, có khả năng nghệ thuật vượt qua số  
đông quần chúng còn lại.  
Nghệ nhân ot ndrong là người có trí nhớ rất tốt, có thể nói là phi thường (có thể  
so sánh với các nghệ nhân hát kể sử thi của thế giới, tiêu biểu như nghệ nhân Trát Ba,  
người Tây Tạng, Trung Quốc đã hát kể được 25 truyện Cách Tát Nhĩ). Nghệ nhân hát kể  
sử thi M’nông có thể thuộc hàng vạn câu ndrong và diễn xướng trong nhiều ngày, tiêu  
biểu như Điểu Mpiơih, Điểu Klưt, Điểu Klung… Các nghệ nhân cho biết, muốn nắm bắt  
thành thạo các sử thi, thông thường họ phải trải qua một quá trình học tập và luyện tập  
tương đối dài. Xuất phát từ việc tìm hiểu bí mật tại sao các nghệ nhân mù chữ lại có thể  
ghi nhớ và lưu giữ hàng trăm ngàn câu thơ, các nhà nghiên cứu đã tiến hành điều tra,  
phân tích và nghiêng về khuynh hướng cho rằng, mặc dù các câu chuyện sử thi có hàng  
ngàn điểm khác biệt, nhưng “mô hình câu chuyện” của chúng lại chỉ có hạn và phương  
thức gắn kết môtíp của câu chuyện cũng có một số quy luật để tuân theo. Chính các “chi  
tiết lặp lại”, những “khuôn mẫu đúc sẵn” được tạo ra từ rất nhiều “thể thức sử thi” này đã  
giúp nghệ nhân nắm bắt thành thạo các kỹ xảo để kể lại câu chuyện một cách thuần thục  
và lưu loát.  
73  
T. V. Thịnh / Một số vấn đề về hát kể sử thi và mối quan hệ của ot ndrong với đời sống cộng đồng dân tộc…  
Theo khảo sát của chúng tôi, nghệ nhân hát kể ot ndrong không phải là những  
nghệ nhân chuyên nghiệp, cũng không phải là những nghệ nhân bán chuyên nghiệp và  
việc hát kể ot ndrong chưa trở thành một nghề như ở một số dân tộc trên thế giới (ví dụ ở  
Hy Lạp). Nghệ nhân M’nông diễn xướng sử thi là theo yêu cầu của cộng đồng và nhu  
cầu nội tại của bản thân. Họ không hưởng riêng một quyền lợi vật chất nào, ngoài phần  
thưởng vô giá là lòng tin yêu và sự kính phục của cộng đồng (Đỗ Hồng Kỳ, 2008). Họ  
hát kể sử thi là để đáp ứng nhu cầu thưởng thức của dân làng, cũng có khi chỉ đơn giản là  
hát trong lúc rảnh rỗi, khi lao động sản xuất để thỏa mãn nhu cầu tinh thần của bản thân;  
và cũng có thể được các thầy cúng, thầy bói vận dụng vào việc tang ma, bói toán, cúng  
đoán bệnh (tất nhiên là chỉ mượn một số lời hát, còn giọng điệu, cách hát, động tác đã  
khác xa “bản gốc”). Tóm lại, nghệ nhân diễn xướng ot ndrong là những người lao động  
bình thường. Trong cộng đồng người M’nông chưa xuất hiện lớp người sống bằng nghề  
hát kể sử thi. Hiện nay hầu hết các nghệ nhân đều đã lớn tuổi và gần như không còn sức  
để hát kể nữa. Những năm 2013, 2014 chúng tôi đã nhiều lần đến xã Đăk Ndrung, huyện  
Đắk Song, tỉnh Đắk Nông gặp nghệ nhân Điểu Klưt và đề xuất ông ot cho chúng tôi nghe  
nhưng ông chỉ hát được vài câu rồi không thể hát tiếp được nữa. Ông cho biết là mệt lắm,  
không còn sức để “kéo” nữa. Mỗi lần như vậy chúng tôi không khỏi băn khoăn nghĩ về  
một nghệ nhân tài hoa, một “báu vật sống” đang gìn giữ những giá trị văn hoá tộc người  
chẳng bao lâu nữa sẽ về với tổ tiên…  
1.2. Về hoạt động hát kể sử thi M’nông  
Trong cuốn sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, Võ Quang  
Nhơn đã nói, môi trường diễn xướng của sử thi thần thoại luôn kèm theo các nghi lễ tôn  
giáo. Về đặc điểm này, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong kho tàng văn học dân  
gian các dân tộc ít người ở Việt Nam thì chỉ có sử thi của người Mường và sử thi của  
người M’nông là được dùng với ý nghĩa thiêng liêng này. Trong sử thi của người Mường  
và người M’nông có nhiều câu, nhiều đoạn được dùng để hát kể khi đưa tiễn linh hồn  
người chết, để bói toán, đoán bệnh. Người diễn xướng sử thi trong lễ tang ma của người  
Mường là những ông mo, của người M’nông là những bơjâu. Trong khi sử thi của các  
dân tộc khác như khan của người Êđê, hơmon của người Bana lại được diễn xướng bởi  
các nghệ nhân bình thường và thường được diễn xướng trong lúc vui chơi, rỗi rãi…  
Đối với khan Êđê, khi diễn xướng, nghệ nhân chủ yếu chỉ dùng ngôn ngữ và  
giọng điệu để biểu đạt nội dung truyện kể, rất ít khi người nghệ nhân dùng động tác nào  
đó để mô phỏng cử chỉ, hành động của nhân vật. Tuỳ theo nội dung cụ thể của truyện kể  
mà nghệ nhân có giọng kể sao cho phù hợp, nhằm đưa lại hiệu quả nhận thức, thẩm mĩ  
cao nhất cho người nghe. Nhìn chung, hát kể khan được tiến hành theo một quá trình khá  
đơn giản. Khi bắt đầu, giọng nghệ nhân từ thấp lên cao, diễn tả hết một câu, một ý thì  
giọng nghệ nhân ngân dài để ngắt câu, chuyển ý và tiếp đó người nghệ nhân lại trở về  
giọng kể như lúc bắt đầu. Nghệ nhân diễn kể khan đã kết hợp được một cách nhuần  
nhuyễn giữa hát kể khan với những sắc thái của điệu hát đối đáp và khóc kể để biểu đạt  
từng sắc thái hành động, cảnh ngộ của nhân vật, cảnh sắc thiên nhiên, tiếng chim kêu,  
tiếng ngựa hí, tiếng gọi voi… một cách cuốn hút, hấp dẫn người nghe.  
Đối với ot ndrong, trước lúc hát kể, nghệ nhân thường tóm tắt nội dung phần  
mình sẽ trình bày và giải thích những chỗ khó hiểu cho người nghe. Xong phần dẫn  
truyện, nghệ nhân nhấp một hơi rượu cần, đằng hắng lấy giọng, rồi cất cao giọng ot  
74  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 70-80  
ndrong. Trong khi hát kể, đôi khi nghệ nhân giơ tay làm điệu bộ để diễn tả hành động  
của nhân vật trong truyện.  
Khi nghệ nhân hát kể khan, người nghe chủ yếu thấy được sự việc thông qua  
giọng hát kể chứ không phải qua những điệu bộ như khi hát kể ot ndrong của nghệ nhân  
M’nông. Trong khan của người Ê đê, khi diễn tả về những trận đánh nhau của nhân vật  
anh hùng với các tù trưởng đối lập hoặc chuyện các anh hùng đi cướp vợ của người khác  
thì giọng nghệ nhân dồn dập, mạnh mẽ, mang âm hưởng anh hùng ca. Khi diễn tả cảnh  
sắc thiên nhiên tươi đẹp, giọng nghệ nhân lại chậm dãi, nhẹ nhàng, êm ái, dàn trải... Khi  
nói về các hành vi không đàng hoàng, không trung thực của các tù trưởng đối địch thì  
giọng người hát kể toát ra vẻ trách móc, chê bai… Tóm lại tùy vào hành động của nhân  
vật trong truyện mà nghệ nhân Ê đê có những giọng điệu hát kể thích hợp.  
Khác với khan của dân tộc Êđê, ot ndrong được các nghệ nhân M’nông diễn  
xướng theo phương thức kết hợp các yếu tố: hát, kể, đối thoại và làm điệu bộ theo kiểu  
diễn xướng sân khấu. Điều đó cho thấy sử thi M’nông mang tính nguyên hợp cao hơn và  
đậm chất cổ sơ hơn sử thi Êđê.  
Khi diễn xướng ot ndrong, người M’nông có những cấm kỵ, kiêng cữ như: nghệ  
nhân M’nông không được diễn xướng ot ndrong tại nhà mình hoặc nếu trong gia đình  
nghệ nhân có người chết thì ba năm sau mới được hát kể (tất nhiên cũng không được hát  
kể tại nhà mình); trong bon có người chết thì không ai được hát kể sử thi, nếu muốn hát  
kể sử thi thì phải ra khỏi phạm vi của bon làng; khi ot ndrong qua đêm, sáng mai chủ nhà  
phải làm lễ cúng các thần cư ngụ xung quanh nhà để báo rằng mình đã nhờ người hát kể  
ot ndrong cho cộng đồng nghe. Khi nghệ nhân muốn diễn xướng ot ndrong tại nhà mình  
thì phải giết một con gà và phải có một ché rượu cần để làm lễ cúng thần linh. Theo  
người M’nông, nếu không làm cúng mà hát kể sử thi thì người trong gia đình nghệ nhân  
sẽ bị ốm đau, bệnh tật hoặc bon làng sẽ gặp tai hoạ. Theo Đỗ Hồng Kỳ cho biết, năm  
2002 ông và các đồng nghiệp có yêu cầu nghệ nhân Điểu Kuk ở xã Quảng Trực, huyện  
Đắc Rlấp, tỉnh Đắk Lắk (nay thuộc huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông) hát ndrong tại nhà  
mà chưa kịp mua gà, rượu cho gia đình làm lễ cúng khấn thần linh. Sau đó không may  
con rể nghệ nhân này bị ngã, gia đình nghệ nhân Điểu Kuk đã bắt phạt vạ bằng cách phải  
mua rượu, gà để làm lễ cúng thần (Đỗ Hồng Kỳ, 2008, tr. 193). Đỗ Hồng Kỳ còn cho  
biết, khi tiếp xúc với các nghệ nhân thuộc nhóm M’nông Preh, ông được họ cho biết ot  
ndrong còn được diễn xướng trong lễ đâm trâu và lễ tang. Những nhà giàu khi có người  
chết, người ta tổ chức ot ndrong ba đêm. Khi nghệ nhân diễn xướng, mọi người ngồi  
nghe chăm chú. Trong khi đó, nhóm M’nông Nong lại không diễn xướng ot ndrong trong  
đám tang mà chỉ được mượn lời của ot ndrong để khóc thương người quá cố (khi đó gọi  
là nhĭm khĭt). Rất có thể trước đây nhóm Nong (và có thể một số nhóm khác nữa) cũng  
diễn xướng ot ndrong trong đám tang, nhưng vì một lý do nào đó họ đã bỏ tập tục  
này(Đỗ Hồng Kỳ, 2008, tr. 194). Điều này cho thấy ot ndrong còn có một giá trị linh  
thiêng trong đời sống cộng đồng người M’nông.  
Theo nhà nghiên cứu Triều Qua Kim (người Trung Quốc) thì ở rất nhiều cộng  
đồng, tộc người, vai trò cơ bản của hoạt động biểu diễn sử thi là vui chơi giải trí, qua đó  
thính giả đạt được rất nhiều niềm vui thẩm mỹ. Nhưng ở một số truyền thống khác, công  
việc diễn xướng sử thi lại mang các chức năng khác, như người Mông Cổ tin rằng việc  
diễn xướng sử thi có tác dụng trong việc xua đuổi dịch bệnh, giải trừ thiên tai. Do tin  
tưởng rằng sử thi có một pháp lực nào đó nên ở một số cộng đồng, trước khi diễn xướng  
75  
T. V. Thịnh / Một số vấn đề về hát kể sử thi và mối quan hệ của ot ndrong với đời sống cộng đồng dân tộc…  
và trong quá trình diễn xướng sử thi đều có rất nhiều nghi lễ và những cấm kỵ để đảm  
bảo cho sự bình an của nghệ nhân và khán giả, đảm bảo cho hoạt động diễn xướng được  
tiến hành thuận lợi và đạt được những kết quả mà mọi người mong muốn (Viện KHXH  
Việt Nam, 2009, tr. 324). Dựa vào ý kiến của Triều Qua Kim và kết quả khảo sát, chúng  
tôi thấy rằng về phương diện diễn xướng thì ot ndrong của người M’nông có thể được  
diễn xướng kèm theo các nghi lễ tôn giáo, và trong khi diễn xướng có kèm theo điệu bộ,  
cử chỉ. Điều này cho chúng ta thấy rõ được tính chất cổ sơ (thần thoại) của sử thi  
M’nông, đúng như Võ Quang Nhơn đã viết “về phương thức diễn xướng, trong khi sử thi  
thần thoại là một thành tố trong cơ cấu diễn xướng nghi lễ tôn giáo dân gian thì sử thi  
anh hùng là một sinh hoạt văn hoá thế tục, được diễn xướng một cách bình thường, tách  
rời khỏi nghi lễ tôn giáo” (Võ Quang Nhơn, 1981, tr. 43).  
2. Mối quan hệ của ot ndrong với đời sống cộng đồng dân tộc M’nông  
Ot ndrong là bức tranh toàn cảnh, là kho tri thức về cuộc sống của người  
M’nông thời cổ xưa. Người ta có thể tìm thấy ở đó những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong  
cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đến những vấn đề lớn lao về nhân sinh quan và thế giới  
quan của người M’nông. Khi nghe hát kể ot ndrong, người diễn xướng cũng như người  
nghe đều không coi đó chỉ đơn thuần là trò giải trí, mà còn là những bài học về lịch sử  
của dân tộc mình. Khi diễn xướng, người nghệ nhân không hề có ý thức là mình nói lên  
tiếng nói của tâm tư, tình cảm cá nhân, mà đó là tiếng nói chung của tư tưởng, tình cảm  
của cả cộng đồng.  
Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay ot ndrong vẫn có một ý nghĩa rất quan  
trọng trong đời sống hằng ngày của người M’nông. Nhiều câu ot ndrong đã trở thành  
thiêng liêng trong cuộc sống của họ. Những câu mà thủ lĩnh Tiăng dạy các thành viên thị  
tộc ở trong ot ndrong đã trở thành những câu châm ngôn quen thuộc mà người thợ săn  
nào cũng phải biết trước lúc vào rừng:  
Săn bò rừng không được nói tên chỉ được gọi là con đỏ  
Săn trâu rừng không được nói tên chỉ gọi là con sừng.  
Ot ndrong còn phản ánh rất nhiều vấn đề về đời sống tinh thần của người M’nông  
mà qua đó chúng ta thấy được những tri thức, kinh nghiệm sống của họ. Đã thành tập  
tục, trước lúc đi đâu xa hay trước khi thực hiện một công việc quan trọng nào đó, người  
M’nông thường cúng khấn thần linh để mong thần linh che trở, phù hộ cho họ. Mỗi khi  
lên đường thực hiện một công việc nào đó, dọc đường đi, nếu gặp chim sẻ kêu phía bên  
trái thì người M’nông cho rằng sẽ gặp may mắn, còn nếu gặp cây đổ sẽ không tránh khỏi  
trắc trở, rủi ro. Điều này cũng được thể hiện trong các tác phẩm ot ndrong:  
Cây guih ngã bên phía tay phải  
Cây sa ngã bên phía tay trái  
Dong nói với Ndru rằng  
Những cái xảy ra là điềm xấu…  
(Đỗ Hồng Kỳ, 2008, tr. 258)  
Qua tác phẩm ot ndrong chúng ta biết được trước đây, khi gia đình M’nông có  
người hay một con vật nào đó sinh nở thì gia đình phải kiêng cữ, người ngoài gia đình  
chỉ được đến chơi và vào nhà sau một khoảng thời gian nhất định:  
76  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 70-80  
Con dê đẻ ba đêm hết cữ  
Con heo đẻ bốn đêm hết cữ  
Con người đẻ bốn đêm hết cữ…  
(Đỗ Hồng Kỳ, 2008, tr. 259)  
Ot ndrong còn cho chúng ta thấy được rất nhiều sắc thái văn hoá, những tập quán  
sinh hoạt của người M’nông. Ví dụ, mỗi khi nhà có khách, gia chủ sẽ mời uống rượu cần  
theo tập quán của người M’nông: khách nếm một hơi rượu đầu, sau đó chủ uống trước,  
khách uống sau. Những tập quán về dựng vợ gả chồng cũng được ot ndrong nói đến  
nhiều và đây là lời của Yang đòi cha mẹ đi hỏi vợ cho mình: Sao mẹ cha không đem con  
heo, ché rượu, không kiếm vòng bạc, vòng đồng, không tìm chuỗi hạt nhiều màu để làm  
đồ hỏi vợ cho con. Theo lễ tục của người M’nông thì con trai đến tuổi trưởng thành thì  
bố mẹ phải tính đến việc đi hỏi vợ cho con và lễ vật khi đi hỏi vợ phải có đầy đủ những  
thứ như trên. Trong sử thi cũng như trong cuộc sống hiện nay ở cộng đồng người  
M’nông vẫn lưu giữ tập quán, khi có con, nếu sinh con gái người ta cúng Yang cho đứa  
bé bằng cào, bằng lược; còn nếu sinh con trai thì người ta sẽ cúng Yang cho nó bằng rìu,  
bằng rựa.  
Tác phẩm Mùa rẫy bon Tiăng là câu chuyện nói về quá trình lao động sản xuất,  
về đời sống xã hội và về cuộc đấu tranh chống thiên tai của người M’nông. Tác phẩm  
chứa đựng những hiểu biết, kinh nghiệm của người M’nông xưa trong việc canh tác  
nương rẫy và thời vụ gieo trồng:  
Tháng một ta đốt rẫy cũ  
Tháng hai ta phát rẫy mới  
Tháng ba ta đốt rẫy mới  
Tháng bốn ta đi trỉa rẫy cũ  
Tháng năm ta đi trỉa rẫy mới  
Tháng sáu, tháng bảy phải làm cỏ lúa  
Tháng tám đuổi chim rách giữ rẫy  
Tháng chín, tháng mười tuốt lúa về nhà…  
(Trần Tấn Vịnh, 1994, tr. 28)  
Trong ot ndrong cũng chứa đựng rất nhiều những câu tục ngữ, thành ngữ nhằm  
khuyên răn con người cách sống, cách lao động sản xuất:  
Muốn có rẫy phải rủ nhau làm  
Muốn bắn con sóc phải làm ná  
Muốn bắt được con cá phải làm rớ  
Muốn bắt được con chuột phải làm bẫy đung.  
Trong cuộc sống, người M’nông có tục chia của cải cho người chết. Tục này cũng  
đuợc ot ndrong đề cập như sau:  
Họ chia vòng tay một phần cho người chết  
Họ chia xâu cườm một phần cho người chết  
Họ chia răng bịt một phần cho người chết  
Bầu cơm vỡ chia cho Ting một cái  
Cái nồi vỡ chia cho Rung một cái  
(Viện KHXH Việt Nam, 2006, tr. 2455)  
77  
T. V. Thịnh / Một số vấn đề về hát kể sử thi và mối quan hệ của ot ndrong với đời sống cộng đồng dân tộc…  
Ot ndrong còn đề cập đến nhiều phong tục, tập quán khác của người M’nông, như  
khi lấy chiêng, trống ra đánh thì phải làm lễ cúng thần linh; trong gia đình, người đàn  
ông có việc phải đi xa, người phụ nữ ở nhà phải kiêng cữ:  
Đàn ông goá vợ mượn cuốc không cho  
Đàn ông goá vợ mượn cào cũng kiêng  
Đàn bà goá chồng mượn rìu không nên.  
Trong đời sống của người M’nông, tín ngưỡng về bùa ngải, ma lai chiếm giữ một  
vị trí cực kỳ quan trọng và họ luôn tin những thứ đó là có thật, chi phối mọi mặt đời sống  
của họ. Trong ot ndrong thì ma lai, bùa ngải và các hình thức bói toán để đoán bệnh xuất  
hiện với một tần suất khá đậm. Việc truyền ma lai cho nhau là nguyên nhân của mọi  
hiềm khích, mọi hận thù, là nguyên nhân dẫn đến những cuộc chiến tàn khốc giữa các  
nhân vật trong tác phẩm sử thi. Vì ma lai mà họ lừa gạt, chém giết lẫn nhau. Hiện nay,  
bùa ngải vẫn còn tồn tại trong tiềm thức của người M’nông. Họ vẫn tin rằng những câu  
chuyện về bùa ngải, ma lai là có thật, điều này đã gây ra những câu chuyện đau lòng  
trong cuộc sống của cộng đồng.  
Trong ot ndrong thì các loại nhạc cụ, chức năng và công dụng của nó đã được kể  
ra một cách khá chân thực và sinh động. Cồng chiêng là loại nhạc cụ vừa đáp ứng nhu  
cầu vui chơi giải trí vừa thực hiện chức năng là chiếc cầu nối giữa cuộc sống của con  
người với thế giới thần linh: Khi làm cỏ lúa người ta đánh chiêng nhỏ; lúc tuốt lúa đánh  
chiêng lớn; nhà có khách thì đánh chiêng yau; kèn mbuăt thường được thổi khi có cuộc  
sống thanh bình, tù và được thổi khi có chiến tranh, gong put được người ta treo trên rẫy,  
âm thanh phát ra có tác dụng đuổi khỉ, đuổi chim… Trong tác phẩm ot ndrong còn kể  
khá chi tiết về những nguyên liệu làm nên một loại nhạc cụ nào đó, như gâr - một loại  
trống chỉ đánh trong đám tang và báo động khi có chiến tranh thì được mô tả “một bên  
bịt bằng da bò, một bên bịt bằng da trâu”. Âm thanh của nhiều loại nhạc cụ được biểu  
hiện với những âm sắc khác nhau: tiếng kèn mbuăt thì du dương, dìu dặt; tiếng tù và thì  
ngân nga, vang vọng; tiếng cồng chiêng thì dồn dập, trầm hùng và rộn rã…  
Ot ndrong còn được dùng để khóc tang (chỉ mượn lời của ot ndrong và được khóc  
hát với một ngữ điệu khác với ot ndrong, họ gọi đó là nhĭm khit); để bói toán, đoán bệnh;  
để cúng khấn thần linh mỗi khi thực hiện một công việc gì đó…Nói tóm lại ot ndrong có  
mối quan hệ hết sức bền chặt và có vai trò rất quan trọng trong đời sống cộng đồng dân  
tộc M’nông cả trước đây cũng như hiện nay. Chúng ta cần nâng niu, trân trọng và gìn giữ  
nó. Vì vậy chúng tôi đưa ra một số kiến nghị nhằm để có thể bảo tồn và phát huy được  
những giá trị to lớn của nó.  
3. Kết luận  
Dân tộc M’nông là chủ nhân của một kho tàng văn hoá dân gian vô cùng sinh  
động và độc đáo. Trong kho tàng văn hoá dân gian ấy, nổi trội hơn cả là các tác phẩm sử  
thi, nó không chỉ là tài sản văn hoá vô giá của người M’nông mà còn của dân tộc Việt  
Nam và thế giới. Sử thi M’nông lưu giữ trong nó nhiều tư liệu quý về dân tộc học, ngôn  
ngữ học và văn hoá dân gian mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu. Nó chứa đựng  
nhiều vấn đề mà chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu để “giải mã”.  
Mặc dù được phát hiện chưa lâu nhưng công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên dịch  
và xuất bản sử thi M’nông đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Sử thi M’nông có số  
78  
Trường Đại học Vinh  
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 4B/2020, tr. 70-80  
lượng đồ sộ vào bậc nhất trong khu vực và trên thế giới. Nó có nội dung phong phú, hình  
thức đa dạng, môi trường diễn xướng và chức năng sinh hoạt độc đáo. Khi ot ndrong  
được diễn xướng, người M’nông cho rằng nó có thể giúp con người truyền tải được  
những thông tin đến với các đấng thần linh, đồng thời nó như là chiếc cầu nối để gắn kết  
giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau.  
Sử thi M’nông là bức tranh rộng lớn và sinh động phản chiếu một cách toàn vẹn  
đời sống xã hội của người M’nông thời cổ xưa. Là kho tri thức về kinh nghiệm sản xuất,  
sinh hoạt xã hội, về công cuộc đấu tranh để cải tạo, chinh phục tự nhiên của người  
M’nông.  
Trong ot ndrong, nghệ nhân đã xây dựng được những nhân vật lý tưởng, đại diện  
cho ước mơ, khát vọng, hoài bão của cộng đồng. Đó là những người anh hùng có sức  
mạnh phi thường, tài năng thiên bẩm, dung mạo phi phàm, luôn lập được những chiến  
công lừng lẫy. Các nghệ nhân M’nông đã xây dựng được thế giới nhân vật phong phú, đa  
dạng với những thủ pháp nghệ thuật độc đáo, đặc sắc đã làm cho những áng sử thi có sức  
sống mãnh liệt và có sức lay động lòng người sâu sắc  
Ngoài chức năng giải trí, ot ndrong còn được sử dụng để bói toán, đoán bệnh và  
đặc biệt ở một vài nhóm M’nông nó còn được diễn xướng trong đám tang, trong các nghi  
lễ tôn giáo ở dạng sơ khai.  
Ot ndrong là kết quả của sự kết hợp và nâng cao những truyện thần thoại lại với  
nhau. Những truyện thần thoại đó được bổ sung thêm nhiều câu dân ca, các nghi lễ, các  
tập quán sinh hoạt, các câu tục ngữ về những hiện tượng tự nhiên và xã hội. Sử thi  
M’nông là sự tổng hòa một cách nguyên hợp các thủ pháp nghệ thuật của văn học nghệ  
thuật dân gian với các hình thức khác của ý thức xã hội như triết học suy nguyên, tôn  
giáo dưới dạng ma thuật (Viện KHXH Việt Nam, 2005, tr. 20).  
Hiện nay các giá trị văn hoá dân gian của người M’nông đang ngày càng mất đi  
một cách nhanh chóng trước sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và xu thế hiện đại  
hoá. Thực trạng đó đang đặt văn hoá truyền thống của người M’nông trước những thách  
thức rất lớn, đòi hỏi cần phải nhanh chóng đề ra những chương trình, giải pháp nhằm bảo  
tồn các giá trị của nền văn hoá Tây Nguyên nói chung và dân tộc M’nông nói riêng.  
Sử thi M’nông đang bị mai một một cách nhanh chóng. Hiện nay, tại các bon làng  
gần như đã vắng bóng những đêm diễn xướng sử thi, điều đó đặt ra cho chúng ta không ít  
khó khăn trong công tác bảo tồn và lưu giữ kho tàng sử thi M’nông. Theo chúng tôi, ot  
ndrong chỉ có thể “sống” được khi nó được đặt trong môi trường đã sản sinh và nuôi  
dưỡng nó. Vì vậy cần phải tăng cường hơn nữa hoạt động diễn xướng, ghi chép, in ấn  
thành văn bản để bảo tồn, lưu giữ được những giá trị văn hoá độc đáo của tiền nhân.  
Việc sưu tầm, dịch thuật, xuất bản và nghiên cứu sử thi M’nông đã gặt hái được  
nhiều kết qủa đáng trân trọng, song vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu  
để có cái nhìn tổng quan về thể loại văn học dân gian độc đáo này. Công việc trên chỉ  
thực hiện có kết qủa tốt khi có sự đầu tư thời gian, công sức và kinh phí xứng đáng của  
các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp… Và điều  
then chốt và quan trọng hơn cả là sự nhiệt tình, sự dấn thân của các nhà nghiên cứu cũng  
như trí thức tại địa phương.  
79  
T. V. Thịnh / Một số vấn đề về hát kể sử thi và mối quan hệ của ot ndrong với đời sống cộng đồng dân tộc…  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bế Viết Đẳng và cs. (1982). Đại cương các dân tộc Êđê, M’nông ở Đắc Lắc. NXB Khoa  
học xã hội.  
Nguyễn Việt Hùng (2011). Công thức truyền thống trong sử thi - Ot Ndrong. Luận án  
tiến sĩ Văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
Đinh Gia Khánh và cs. (1998). Văn học dân gian Việt Nam. NXB Giáo dục.  
Đỗ Hồng Kỳ (1996). Sử thi thần thoại M’nông. NXB Khoa học xã hội.  
Đỗ Hồng Kỳ (2008). Văn học dân gian Êđê - M’nông. NXB Khoa học xã hội.  
Đỗ Hồng Kỳ (2001). Những khía cạnh văn hóa dân gian M’nông. NXB Văn hóa dân tộc.  
Võ Quang Nhơn (1983). Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam. NXB Đại  
học và Trung học chuyên nghiệp.  
Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2005). Thuốc cá ở hồ Bầu Trời, Mặt Trăng. NXB Khoa  
học xã hội.  
Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2006). Ting, Rung chết. NXB Khoa học xã hội.  
Viện KHXH Việt Nam - UBND tỉnh Đắc Lắc (2009). Sử thi Việt Nam trong bối cảnh sử  
thi Châu Á. NXB Khoa học xã hội.  
Trần Tấn Vịnh (1994). Cây nêu thần. Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Đắc Lắc.  
SUMMARY  
SOME ISSUES ON M’NONG EPICS AND THE RELATIONSHIP  
BETWEEN OT NDRONG AND THE COMMUNAL LIFE  
OF THE M'NONG PEOPLE  
Trieu Van Thinh  
Tay Nguyen University, Buon Ma Thuot City, Dak Lak Province  
Received on 15/10/2020, accepted for publication on 14/12/2020  
The epic of M’nong (ot ndrong) is a cultural heritage of the M’nong ethnic group  
as well as that of the Vietnamese nation. In this article, the M’nong epic is studied from  
two perspectives: first, in the performing context, ot ndrong cannnot be performed  
without the epic rhapsodes; second, in the relationship with the community, ot ndrong is  
associated with the customs, beliefs and cultural identity of the M’nong ethnic group.  
Ethnographic fieldwork method is applied in this study, combined with data analysis.  
The contribution of the article is to indicate the specific features of the epic rhapsodes in  
M'nong community, and to interpret the communal culture hidden in M’nong people.  
The study therefore raises a voice of preserving ot ndrong in particular as well as the  
M’nong cultural values in general.  
Keywords: Epic rhapsodes; M’nong epic (ot ndrong); community; M’nong ethnic  
group; cultural heritage.  
80  
pdf 8 trang yennguyen 22040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề về hát kể sử thi và mối quan hệ của ot ndrong với đời sống cộng đồng dân tộc M’nông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_ve_hat_ke_su_thi_va_moi_quan_he_cua_ot_ndrong.pdf