Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” và những biểu hiện cốt lõi trong văn chương Tản Đà

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
QUAN NIỆM “VĂN DĨ TẢI ĐẠO” VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỐT LÕI  
TRONG VĂN CHƯƠNG TẢN ĐÀ  
Lê Thanh Sơn  
Nhận bài:  
15 – 04 – 2020  
Chấp nhận đăng:  
10 – 09 – 2020  
Tóm tắt: Có thể nói, giềng mối cố kết với văn hóa truyền thống là một trong những hệ giá trị ổn định,  
bền vững, hằn sâu nơi văn chương Tản Đà. Sống trong thời đại “gió Á, mưa Âu” vốn chứa đựng những  
xáo động, tranh chấp giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, Tản Đà vẫn giữ được ngòi  
bút trong sạch, thanh cao, để có thể vị đời một cách say mê và thực hiện hoài bão hành đạo, gìn giữ  
thiên lương của một kẻ “chân tâm với Nho học”.  
Từ khóa: Tản Đà; văn chương cổ điển; tư duy nghệ thuật; Nho giáo; văn hóa giao thời.  
1. Mở đầu  
2. Nội dung  
Có thể nói, toàn bộ văn nghiệp của Tản Đà trải dài  
trong khoảng trên dưới ba mươi năm đầu thế kỉ XX,  
nhưng trên thực tế, đỉnh cao của sự nghiệp văn chương  
Tản Đà chỉ gói gọn trong hai mươi năm, từ 1916 đến  
1935. Đó là khoảng thời gian chứa đựng những biến  
động lớn nhất trong lịch sử dân tộc - “một cuộc đổi thay  
mà bất cứ một cuộc bể dâu nào trước đây cũng không  
thể so sánh” (Trần & Lê, 1988, 21) - một thời kì xung  
đột về xã hội, phức tạp về chính trị, và đặc biệt là sự va  
chạm giữa các nền văn hóa trước sức ép của chế độ thực  
dân. Đây là thời gian mà nền văn học Việt Nam bước  
vào giai đoạn tái cấu trúc, hướng đến mô hình văn học  
hiện đại - phương Tây, nhưng không vì thế mà dấu ấn  
của văn học cổ điển đã bị xóa sạch trong tư duy của  
người sáng tác, đặc biệt là ở những nhà Nho vốn xuất  
thân từ “cửa Khổng, sân Trình” như Tản Đà. Tuy ít  
nhiều chịu sự chi phối, cộng hưởng của lối sống thành  
thị trong nhân sinh quan, nhưng thế giới nghệ thuật của  
Tản Đà vẫn đậm đặc tinh thần đạo đức Nho gia, cùng  
ước mơ mang “thiên lương” phủ khắp nhân quần.  
2.1. Khái lược về mệnh đề “văn dĩ tải đạo”  
trong tư duy sáng tác của nhà Nho trung đại  
Quan niệm về một thứ văn chương coi trọng chữ  
đạo, để từ đó gìn giữ thiên lương, giáo huấn con người  
đã có từ xa xưa trong hệ tư tưởng Nho giáo, và được  
thấm nhuần trong nền văn hóa truyền thống ở nước ta  
trong suốt chiều dài của nhà nước phong kiến. Từ nền  
tảng thuyết lí Nho gia, đến hệ thống lí luận văn chương  
cổ điển, mối quan hệ giữa văn và đạo giữ vai trò đặc  
biệt quan trọng và trở thành một hệ giá trị cốt lõi chi  
phối đến quá trình sáng tác của các nhà Nho.  
Trong kho tàng văn hóa phương Đông, đạo là một  
trong những phạm trù trung tâm, phức tạp, bởi nó bao  
trùm từ quy luật vận hành của vũ trụ đến sự nhất quán  
trong thế giới tinh thần của con người. Đạo là cái lẽ tự  
nhiên (thiên đạo), là nguyên lí hình thành của càn khôn,  
là chu trình biến dịch trong sự hài hòa Âm Dương, và  
gần gũi nhất, đạo là cách cư xử tốt đẹp, hướng thiện của  
con người (nhân đạo). Đó là giá trị cốt lõi của con  
người, từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi, để phân biệt  
với vạn vật trong vũ trụ bao la này. Khổng Tử từng dạy:  
“Đạo không xa người. Khi người làm cho Đạo xa mình,  
thì nó không thể xem là Đạo được nữa”1.  
*
Tác giả liên hệ  
Lê Thanh Sơn  
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng  
1Nguyên văn: “Đạo bất viễn nhân. Nhân chi vi đạo nhi  
viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo” (Lê, 1971, 32).  
152 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số Đặc biệt (2020), 152-158  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số Đặc biệt (2020), 152-158  
Tính giáo huấn mạnh mẽ của quan niệm này đã  
được nhà nước phong kiến tận dụng một cách triệt để và  
nâng lên thành quy tắc sáng tác trong văn chương, đặc  
biệt là văn chương khoa cử. Từ rất sớm, trong sách  
Luận ngữ, Khổng Tử đã bước đầu xác lập mối quan hệ  
giữa hình thức và nội dung thông qua tương quan giữa  
hai phạm trù “thơ” và “đạo”. Ở thiên “Dương hóa”,  
Khổng Tử nói: “Thơ có thể khiến người ta phấn chấn,  
có thể khiến người ta quan sát phong tục, có thể khiến  
người ta hợp quần, có thể khiến người ta phúng thích  
chính trị đương thời. Gần thì biết đạo thờ cha, xa thì biết  
đạo thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông cỏ  
cây”2. Đến thời Đông Hán, xuất phát từ quan niệm của  
Khổng Tử, Vương Sung đã bổ sung và hoàn thiện  
thành một mệnh đề có tính bao quát hơn là “văn vị tế  
dụng”. Trong sách Luận hành, ông nói: “Có ích dụng  
cho đời thì trăm thiên cũng vô hại. Không có ích dụng  
cho đời, thì một chương cũng vô bổ. Còn như đều có  
ích dụng cả, thì nhiều là hơn, ít là kém”3, ý chỉ là khi  
sáng tác văn chương phải đề cao tính “dụng ích” cho  
đời, phải thực hành đạo đức, bồi bổ giáo hóa, gìn giữ  
thiên lương… để từ đó có thể “di phong dịch tục”, sửa  
đổi những “tệ lậu xã hội”, hướng đến cái thiện của con  
người và duy trì chính giáo. Càng về sau, cùng với sự  
hậu thuẫn của chính quyền phong kiến, các nhà lí luận  
văn học đã biến nhiệm vụ tải đạo trở thành một yêu  
cầu gần như bắt buộc đối với những nhà Nho khi sáng  
tác. Trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp khẳng định:  
“Đạo nhờ thánh nhân mà thành văn chương, nhưng  
thánh nhân những nhờ văn chương mà làm sáng tỏ  
được đạo” (Lưu, 2007, 19), cho nên, “không thuật lại  
lời dạy của bậc hiền triết đời trước, là vô ích đối với  
điều lo nghĩ của hậu sinh” (Lưu, 2007, 181). Đến đời  
nhà Minh, Tống Cảnh Liêm cho rằng: “Giảng minh  
được đạo lý mới gọi là văn, lập được giáo hóa mới gọi  
là văn, có thể giúp được phong tục, hóa được nhân  
nhân mới gọi là văn” (Phạm, 2006, 252).  
Như vậy, văn chương gắn liền với đạo trở thành  
một trong những ý niệm cốt lõi chi phối trực tiếp đến tư  
duy sáng tác của các nhà Nho trung đại. “Văn học của  
Nho giáo chính thống là một thứ văn học chí thiện, phải  
hoàn toàn phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức, được  
đo bằng những thước đo đạo đức” (Trần N. V., 1999, 53),  
vì thế, bên cạnh việc lựa chọn thi đề và khả năng dụng  
ngôn, người sáng tác phải chú trọng đến nội dung giáo  
huấn. Xét cho cùng, mục đích then chốt của văn chương  
thời phong kiến vẫn là cổ xúy cho lễ giáo, luân thường,  
nhằm hướng đến sự ổn định trong ý thức hệ và duy trì  
một nền tảng xã hội ôn hòa, đề cao tính thiện. Cho nên,  
hình ảnh của văn nhân khi cầm bút “dù là ngâm vịnh  
mây ráng, thưởng thức gió trăng nhưng kỳ thực thì  
không rời khỏi đạo thường của cha con vua tôi” (Phan,  
2007, 168) đã trở thành mẫu mực trong văn hóa cổ điển  
phương Đông. Cũng phải nói thêm rằng, tuy công thức  
“văn dĩ tải đạo” ràng buộc nhà Nho trong những nội  
dung khuôn sáo, nhưng nó cũng mang đến cho họ sự  
sủng hạnh tuyệt đối từ cộng đồng, điều mà sau này  
những văn sĩ chuyên nghiệp trong xã hội hiện đại không  
dễ gì có được.  
2.2. Những biểu hiện cốt lõi của “đạo” trong  
thế giới văn chương Tản Đà  
Tản Đà, trước hết được sinh ra và lớn lên gắn liền  
với môi trường Nho học, cho nên, tư duy sáng tác chịu  
ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm “văn dĩ tải đạo” là  
điều tất yếu. Nhân sinh quan nhập thế tích cực của cụ  
Nguyễn Danh Kế đã thấm nhuần trong tâm thức cậu ấm  
Hiếu ngay từ thời thơ ấu. Chính điều đó đã khiến văn  
nghiệp của Tản Đà sau này chủ yếu đi vào quán tính  
“hành đạo nhập thế”, chứ không phải là “yếm thế thoát  
li”. Dẫu rằng, một bộ phận văn chương của ông vẫn đề  
cập đến cuộc sống an nhàn, tiêu diêu, tự tại của kẻ tài  
tử, nhưng ở sâu trong cốt tủy, tinh thần đạo đức Nho  
gia, với “Ngũ luân”, “Ngũ thường” vẫn là một ý niệm  
chưa hề phai phôi, và luôn âm ỉ trong suy nghĩ của nhà  
Nho “thất thời” ấy.  
Tản Đà tự nhận mình là “Á Châu Khổng phu tử chi  
đồ”, nên từ thủy đến chung, một mực “chân tâm với  
Nho học”, cố gắng đưa cái đạo của Khổng – Mạnh đến  
với quần chúng, để khôi phục lại luân thường, phong  
hóa. Ở buổi giao thời chạng vạng “tranh tối tranh sáng”,  
2Nguyên văn: “Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần,  
khả dĩ oán. Nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức ư điểu  
thú thảo mộc chi danh” (Nguyễn, 2003, 489).  
3Nguyên văn: “Vi thế dụng giả, bách thiên vô hại; bất vi  
dụng giả, nhất chương vô bồ. Nhu giai vi dụng, tắc đa giả vi  
thượng. thiểu giả vi hạ” (Khâu, 1994, 9).  
153  
Lê Thanh Sơn  
cũ - mới lẫn lộn, xã hội đề xướng cái tài, chiều chuộng  
cái đẹp nhưng lại xem nhẹ cái đức:  
rằng: “Trong quyển tiểu thuyết Thù nhà nợ nước nầy,  
tác giả sẽ chỉ rõ những sự nào mà đoàn thể ta nên bắt  
chước, những đoạn nào mà đồng bào ta nên xa chừa; tác  
giả viết ra quyển tiểu thuyết này là muốn tập rèn cái nết  
tốt cho đoàn thể quốc dân, cho đoàn thể quốc dân mình  
biết cái luân lý Việt Nam là tốt đẹp, cái phong hoá ở  
nước mình là hoàn toàn” (Dương, 1928, 11-12). Sống  
trong một xã hội giao thời, “các nhà văn của văn học  
mới cố hình dung một xã hội tư sản mà họ coi là lý  
tưởng – xã hội tư sản với đạo đức cũ” (Trần & Lê, 1988,  
35), bởi vậy, một phần không nhỏ văn chương Tản Đà  
tập trung phản ánh những biến động của xã hội tư sản  
mới, nhưng tận sâu trong cốt lõi tư tưởng, văn chương  
ấy vẫn lấy nền tảng đạo đức, luân lí của Nho giáo làm  
trọng, nếu như không muốn nói công thức “văn dĩ tải  
đạo” như là bản mệnh của văn chương Tản Đà. Nguyễn  
Mạnh Bổng, khi viết lời Tựa cho cuốn Thần tiền của  
Tản Đà, đã xác quyết rằng: “Văn chương Tản Đà dù viết  
ra nhời xuôi, nói ra câu chuyện, không một bài nào,  
cuốn nào là chúng ta chẳng thấy ở trong hàm súc những  
thi vị chứa chan. Cái tư tưởng của Tản Đà bao giờ cũng  
căn cứ vào đạo nghĩa và cảm tình, những ước muốn cho  
người đời sẽ là bực siêu nhân sống với Thiên lương cao  
khiết” (Nguyễn K. X., 2002b, 416). Thực tế, khi nhìn lại  
bộ phận “văn vị đời” – tức phần văn xuôi trong văn  
nghiệp của Tản Đà, chúng ta nhận ra rằng, bên cạnh  
việc ra sức gìn giữ luân thường, đạo lí, Tản Đà còn đặc  
biệt đề cao trọng giá của “thiên lương”. Hai chữ “thiên  
lương” vốn cao quý, thiêng liêng, Tản Đà muốn mang  
cái “đệ nhất vô hình” ấy đến với cõi phàm, coi đó như  
bổn phận mà Tiên Đế đã giao cho một văn nhân, kẻ sĩ  
như mình: “Thiên lương là một vật đứng đầu loài vô  
hình, là cái hay của Giời cho tự nhiên trong loài người;  
phàm người ai cũng có […] loài người hơn loài khác cái  
thiên lương” (Nguyễn K. X., 2002b, 225). Tản Đà đã cố  
gắng xây dựng cơ sở lí luận về phạm trù “thiên lương”,  
với ba đặc tính ưu trội, điều hòa lẫn nhau: lương tri,  
lương tâm, lương năng. Theo đó, lương tri là cái tri giác  
để cảm biết sự vật, lương tâm là cái cảm giác để tiếp  
nhận sự vật, lương năng là cái tài để làm theo sự vật. Đó  
là những phẩm chất mà Tạo hóa ban tặng cho riêng con  
người, nhờ vậy mà loài người ngày càng văn minh, tiến  
hóa và giữ được cho mình vị trí cao nhất trong tiến hóa  
của vũ trụ. “Người có cái thiên lương để đến mất, thời  
khác chi như hạng cà cuống chợ Đồng Xuân” (Nguyễn  
K. X., 2002b, 232), cho nên, nhìn lại quá khứ, các tiền  
Luân thường đổ nát, phong hóa suy,  
Tiết nghĩa rẻ rúng, ân tình ly...  
Vợ chồng kết tóc chưa khăng khít  
Nhân tình nhân ngãi còn kể chi  
(Nguyễn K. X., 2002, 173)  
Quan ngại hơn, sự thay đổi ấy phần nhiều nằm ở  
giới trẻ - thế hệ nắm trong tay tiền đồ của quốc dân An  
Nam. Hiểu rõ điều ấy, Tản Đà đã nhiều lần bày tỏ niềm  
canh cánh trong văn chương của mình. Ông ra sức giáo  
huấn: “cái bụng trú vọng ở các bạn thanh niên, không  
những chỉ mong bên tài, mà phần nhiều còn mong ở bên  
đức. Cái quan niệm về đạo đức mới thực là phần gốc để  
lập thân cho khắp thẩy mọi người; nói về nông nỗi gần  
hơn, thời lễ giáo cũng tức là một vậy” (Nguyễn K. X.,  
2002, 95). Noi theo thánh hiền, thân nam nhi phải đề  
cao cái chí khí, nghị lực, sống sao cho vươn đến cái  
nghĩa anh hùng, chứ đừng như kẻ hèn yếu thấy nhiễu  
nhương mà lẩn tránh, thấy cảnh ngộ mà chùn bước:  
“Tôi nói đến câu chuyện về cảnh ngộ, liệu tất cố nhân  
lấy làm khinh, vì làm người mà sợ cảnh ngộ, mà để cho  
cảnh ngộ đè lấn được, thời còn làm được việc gì nữa,  
còn nói chi đến chữ anh hùng nữa” (Nguyễn K. X.,  
2002b, 174). Đặc biệt, Tản Đà còn nhiệt tâm soạn bộ  
sách Đài gương truyện, thuật lại những câu chuyện về:  
Thái Nhâm, Kính Khương, Mẫu sư, Nga Hoàng, Nữ  
Anh, Tề Khương, Phàn Cơ… đều là những người phụ  
nữ nổi tiếng trong sách vở bên Tàu, mượn chuyện xưa  
để răn dạy đời nay, qua đó đề cao luân thường, đạo lí,  
hiếu thuận, mẫu tử, hữu ái, tiết hạnh, trung nghĩa, khiêm  
nhường. Thực tế, việc dùng văn chương để chuyển tải  
nội dung đạo lí, hướng đến những giá trị truyền thống  
đã là một lối mòn trong văn hóa phong kiến, nhưng đến  
thời điểm cuối thế kỉ XIX, đầu thế XX, vấn đề đạo đức  
xã hội trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, khi nền tảng  
văn hóa cộng đồng lúc này đang bị xói mòn nghiêm  
trọng trước những đổi thay chóng mặt của cuộc sống  
kim tiền. Không phải ngẫu nhiên, Trương Quang Tiền  
khi viết tiểu thuyết Hoàng Nguyệt Ánh đã có những lời  
mở đầu rằng: “Tôi viết bộ tiểu thuyết nầy, cốt là mong  
thức tỉnh nhơn tâm muôn một, đang buổi thói đời tục  
đổi, đang buổi mà thiên hạ vẫn cúi đầu nhắm mắt sùng  
bái cái chủ nghĩa kim-tiền này” (Trương, 1924, 2), còn  
Dương Quang Nhiều thì rào đón trong Thù nhà nợ nước  
154  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số Đặc biệt (2020), 152-158  
nhân ngày xưa như Khổng Tử, Mạnh Tử, Franklin,  
Gutenberg… dẫu sống trong thời cuộc bể dâu hay đất  
trời vần vũ, họ vẫn giữ cho mình cái “thiên lương” trong  
sạch, để hậu thế noi gương. Những điều Tản Đà luận  
bàn trong các tiểu mục “nguyên chất của thiên lương”,  
“sức vận động của thiên lương”, “công dụng của thiên  
lương”, “trọng giá của thiên lương” thực chất không có  
nhiều mới mẻ. Xét cho cùng, trong quan niệm về “thiên  
lương”, Tản Đà đã có sự phối trộn giữa chữ tâm4 của  
Mạnh Tử (372 TCN - 289 TCN) và lương tri5 của  
Vương Thủ Nhân (1472 - 1529) trong tư tưởng Trung  
Hoa, với lí tưởng giáo dục tự do, toàn diện, phù hợp với  
thiên nhiên và bản tính vốn có của con người trong cuốn  
Émile hay là về giáo dục của Jean-Jacques Rousseau  
(1712 - 1778). Trên thực tế, việc lấy trục dẫn đạo đức  
thay cho bạo lực làm yếu tối cốt lõi trong tiến trình cải  
tạo xã hội, vốn là những tư tưởng cải lương ngập tràn  
trong xã hội nước ta thời điểm đó, mà con đường cải  
cách của Phan Châu Trinh là một minh chứng rõ ràng  
nhất. Ngoài ra, chúng ta sẽ nhận thấy ở Tản Đà còn có  
ước vọng xây dựng một “xã hội không tưởng” (Utopian  
socialism) theo học thuyết của Saint Simon (1760 -  
1825), đã từng được đề cập một cách kín đáo trong tiểu  
thuyết Giấc mộng con, khi tác giả cho nhân vật Nguyễn  
Khắc Hiếu lưu lạc đến “vùng đất mới” và chứng kiến  
cuộc sống ôn hòa, hạnh phúc của những con người nơi  
đây. Có thể nói, “qua Giấc mộng con, Giấc mộng lớn,  
hay qua các Thề non nước, Kiếp phong trần…, Nguyễn  
Khắc Hiếu bao giờ cũng là tuyên truyền, cổ võ cho sự  
hồi phục của các giá trị tinh thần của đạo Nho. Cả  
cuộc đời của Nguyễn Khắc Hiếu hình như là để khởi  
xướng ra một triết lý sống mới mà ông gọi là thuyết  
Thiên Lương” (Thanh, 1967, 544). Việc đề cao “thiên  
lương” và những giá trị đạo đức truyền thống trở  
thành một nội dung quan trọng và chiếm phần lớn  
dung lượng các tác phẩm văn xuôi của Tản Đà. Điều  
này, một mặt, lí giải thế giới quan của những nhà  
Nho tài tử “cải lương”, mang trong mình lí tưởng về  
một xã hội mới, nhưng lại không muốn tách khỏi lề  
thói xưa cũ - một nền tảng xã hội vốn lấy hệ tư tưởng  
Nho gia làm căn cốt, với giường cột “tâm, chí, đạo”  
trong giáo huấn con người; mặt khác, do hạn chế về  
mặt nhận thức và thiếu đi một phương pháp luận tề  
chỉnh, nên những vấn đề mà Tản Đà đưa ra ở phần  
Thiên lương chỉ dừng lại ở mức độ lí thuyết mang  
tính “cải lương”, chưa thể vươn lên thành một triết  
thuyết hoàn chỉnh. Nhưng dẫu sao, đó cũng là cái tâm  
huyết, nhiệt thành của một nhà Nho như Tản Đà trên  
con đường bồi bổ phong hóa và truyền bá “thiên  
lương” đến nhân quần. Đến tận năm 1928, dẫu biết  
rằng “Hán học đã suy tàn, một hai quyển sách nhỏ con  
còn lấy chi làm công lực” (Nguyễn K. X., 2002b, 589)  
nhưng Tản Đà vẫn xuất bản lần lượt bốn cuốn Tam tự  
kinh An Nam ghi lại những điều răn dạy đạo lí ở đời,  
cốt mượn cái nghĩa lí trong sạch mà “dưỡng tâm” cho  
thế hệ mai sau. Ở điểm này, Tản Đà đích thị là một  
môn đệ cuồng giả của “cửa Khổng, sân Trình”. Vậy  
mà, sự đời trớ trêu, chính con người “chân tâm với  
Nho học” (Nguyễn K. X., 2002b, 151) cũng là kẻ đầu  
tiên trong thiên hạ bẻ bút lông qua bút sắt, trót “kiếm  
cơm” trên nghề “buôn chữ bán văn”, để “văn chương  
hạ giới rẻ như bèo”:  
4Quan niệm về chữ Tâm của Mạnh Tử đã có sự chuyển  
biến mạnh mẽ so với thời Tiên Tần. Ông cho rằng Tâm là bộ  
máy tư duy và quá trình tư duy, đạo đức nhân nghĩa của con  
người sinh ra từ cái tâm thiện nội tại. Chữ Tâm được mở rộng  
về ý nghĩa biểu niệm, từ tâm tạng (tim) sang tâm tư (hoạt  
động ý thức) và tâm đức (tinh thần đạo đức). Mạnh Tử đề cao  
sự hoàn thiện việc tu dưỡng cải tâm, sự tự giác về đạo đức, đi  
từ chỗ “tận tâm, tri tính, tri thiên” đến trạng thái hợp nhất giữa  
“tâm - tính - thiên” - tức cảnh giới hợp nhất giữa trời và người  
[xem thêm (L. V. Trương, 1999, 55)]  
5Vương Thủ Nhân cho rằng, lương tri - với tư cách bản  
thể của tâm, là một phạm trù gộp cả bản thể luận, nhận thức  
luận và đạo đức luận làm một. Theo đó, lương tri là bản thể vũ  
trụ, là chủ thể nhận thức tiên nghiệm và quy phạm đạo đức  
luân lí. Chính quan niệm này đã góp phần phát triển lí luận  
“Tâm tức lí” trong hệ thống Tâm học Trung Hoa. [xem thêm  
(L. V. Trương, 1999, 773)]  
Bây giờ anh đổi lông ra sắt  
Cách kiếm ăn đời có nhọn không  
(Nguyễn K. X., 2002, 70)  
Bởi thế, cái sự cật vấn “đời đáng chán hay không  
đáng chán” cứ đeo đẳng trong tâm trí Tản Đà suốt cả thi  
nghiệp của mình. May thay, càng “tê tái vì sự đời”, càng  
“chua cay với thế tục”, Tản Đà càng hướng đến ước  
vọng đem “thiên lương” phủ khắp thiên hạ, để chúng  
dân hạ giới nghe được lời khuyên răn mà tu thân, tích  
đức. Dầu có là “đường xa gánh nặng” âu cũng là điều  
đáng trân quý ở một nhà Nho thất thế như Tản Đà:  
155  
Lê Thanh Sơn  
Hai chữ “thiên lương” thằng Hiếu nhớ  
Dám mong không phụ giời trông mong  
(Nguyễn K. X., 2002, 194)  
công cuộc giữ nước, với những vị anh hùng ghi danh  
sử sách như Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Quang Trung…  
Tản Đà cũng có những bài báo luận bàn về “tinh thần  
yêu nước của người An Nam ta từ xưa đến nay”, đồng  
thời, ông cũng tỏ thái độ khinh miệt gay gắt với những  
kẻ lợi dụng chữ “ái quốc” để chuộc lợi: “Tội ác xã hội  
ngày nay, không gì lớn hơn lợi dụng sự ái quốc”  
(Nguyễn K. X., 2002c, 579). Ngoài ra, mượn những  
lời thơ trào phúng, Tản Đà ra sức đả kích bọn quan lại,  
tay sai thực dân:  
Ở một phương diện khác, đứng trước nguồn cơn  
lầm than của dân tộc, cái đạo mà văn chương Tản Đà đề  
cập đến còn là tinh thần yêu nước, thương nòi, đoàn kết  
dân tộc và hướng đến sự đổi mới, văn minh. Đây là một  
nội dung tưởng chừng tương đối mới mẻ và nhạy cảm  
do thời cuộc quy định, nhưng xét đến cùng, vẫn nằm  
trong quỹ đạo của lòng yêu nước từ xưa đến nay của cha  
ông ta. Chỉ có điều, đề tài yêu nước của Tản Đà được  
diễn dịch trong những hình tượng nghệ thuật khá kín  
đáo và mới mẻ. Đã có lúc, người ta cho rằng ông là một  
nhà tiểu tư sản, cổ xúy cho tinh thần bảo hộ của thực  
dân Pháp, nhưng dường như kết luận ấy nghiêng nhiều  
hơn về mục đích chính trị, mà xem nhẹ tính hình tượng  
và đa nghĩa của văn chương nghệ thuật. Thực tế, ở thời  
điểm ấy, những kẻ tài tử “cuối mùa” sống trong xã hội  
tư sản, hoặc là tha hóa trở thành những “đĩ bút” cho chế  
độ để kiếm chút công danh, hoặc là phải chịu những  
mặc cảm đến điêu đứng khi ôm trong mình những lí  
tưởng đã hết thời dùng đến, những niềm tin cố kết vào  
Nho học đã xói mòn nghiêm trọng. Đứng trước những  
thách thức cực hạn, Tản Đà chọn cho mình một “khoảng  
chân không nghệ thuật” đủ để ông luôn “đứng yên trong  
vòng hợp pháp” và giữ được một trữ lượng thẩm mĩ  
sáng tạo cần thiết để trụ vững trên văn đàn, hay nói cách  
khác: “Tản Đà bước vào xã hội đó không với cái nhìn  
cừu địch của nhà nho yêu nước nhưng cũng không nhập  
cuộc, chịu tha hóa để kiếm công danh và kiếm tiền”  
(Trần & Lê, 1988, 244). Bởi vậy, cái tình của Tản Đà  
với quê hương, đất nước dù không được thể hiện một  
cách trực tiếp, mãnh liệt như một lí tưởng cách mạng,  
nhưng nó vẫn rả rích, đượm đà đâu đó trong cả thi  
nghiệp của ông:  
Hơi đồng đã sạch mồm ông lớn  
Mặt sắt còn bia miệng thế gian  
Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn  
Cho nên quân nó dễ làm quan  
(Nguyễn K. X., 2002, 117)  
Dẫu có giọng điệu gay gắt với bè lũ tay sai, với  
hạng quan hèn kém, nhưng nhìn chung, Tản Đà không  
công kích chế độ bảo hộ thời điểm đó. Hay nói đúng  
hơn, tinh thần yêu nước của Tản Đà có phần ôn hòa: lấy  
truyền thống làm căn cốt, lấy đạo đức làm chính yếu,  
lấy văn chương làm phương tiện. Trong sâu thẳm tâm  
hồn, thi nhân vẫn hướng về “non nước” với nỗi niềm  
“quan hoài khôn xiết”: “Thơ ông không thôi thúc chiến  
đấu nhưng lòng tha thiết từ “thấy nước đáng yêu thì  
đem lòng mà yêu” vẫn làm xúc động những người dân  
mất nước, làm họ thấy sâu hơn, phong phú hơn cảm  
giác bất lực xấu hổ với đất nước” (Trần & Lê, 1988,  
292). Làm sao chúng ta có thể quên hình ảnh của một  
thi nhân mang theo mình tấm “dư đồ rách” đi từ Bắc chí  
Nam với câu hỏi đau đáu còn để trống lời đáp:  
Nọ bức dư đồ thử đứng coi  
Sông sông núi núi khéo bia cười!  
Biết bao lúc mới công vờn vẽ  
Sao đến bây giờ rách tả tơi?  
(Nguyễn K. X., 2002, 119)  
- Tiếng quốc gọi luôn hồn mộng tỉnh  
Ruột tằm thêm mãi mối tơ vương  
(Nguyễn K. X., 2002, 144)  
Làm sao chúng ta có thể quên phiến thiện tình của  
một kẻ “sương tuyết phong trần”, lặn lội từ Dương Quỳ  
đến Hàm Rồng, từ thủa “xanh tóc” đến hồi “bạc đầu”, mà  
vẫn giữ cái son sắc “tơ lòng một mối xin còn vấn vương”:  
- Lo nước thương đời đêm chẳng ngủ  
Vừng đông trông đã ngọn sào cao  
(Nguyễn K. X., 2002, 151)  
Dư đồ còn đó chưa phai  
Còn non, còn nước, còn người nước non  
(Nguyễn K. X., 2002, 240)  
Đối diện với thực tại đổ vỡ, Tản Đà quay về với  
lịch sử vàng son. Thi nhân đã sáng tác một loạt các bài  
thơ ngợi ca truyền thống bất khuất của dân tộc trong  
156  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số Đặc biệt (2020), 152-158  
Đặc biệt, trong Thề non nước, tình cảm sâu đậm  
giữa “non” và “nước” được hòa quyện cùng lời thề son  
sắc, như là một lời ẩn dụ kín đáo cho tình cảm của thi  
nhân với nước nhà. Ở thời điểm mà văn chương, báo chí  
bị kiểm duyệt gắt gao của chế độ thực dân, thật khó để  
một văn sĩ như Tản Đà có thể công khai biểu lộ nội  
dung cách mạng trên mặt báo. Có thể, ở Tản Đà, độc giả  
không thấy được cái thái độ quyết liệt, một nhiệt huyết  
sôi sục, cuồn cuộn của nhà cách mạng như trong thơ của  
Phan Bội Châu:  
chuyển. Phải nói rằng, dù ở cương vị là một nhà Nho tài  
tử, một văn sĩ chuyên nghiệp hay một ông chủ tờ báo,  
Tản Đà vẫn luôn đặt nặng trọng trách bản thân với cơ đồ  
dân tộc, xem đó như là cái tâm nhiệt huyết, cái chí khai  
minh của người quân tử. Lập ra tờ An Nam tạp chí  
(1926), Tản Đà, trước hết muốn đem cái tài văn chương  
của mình ra để tiến thân, lập nghiệp trong vị thế của một  
ông chủ báo, thứ nữa, còn muốn đem chữ nghĩa của  
mình ra để “quang gánh với đời”, kiếm “đồng ra đồng  
vào” mà lo sự “cơm áo”. Nhưng hơn hết thảy, cái sự  
làm báo của Tản Đà cũng là một con đường để ông có  
thể vị đời một cách triệt để, góp phần thực thi cái hoài  
bão hành đạo, cổ xúy việc gìn giữ thiên lương trong  
cuộc sống tục lụy. Dẫu rằng, con đường phát triển của  
tờ An Nam tạp chí không suôn sẻ, “chết đi sống lại” tới  
5 lần (từ 1926 đến 1933), nhưng có một điều duy nhất  
không hề thay đổi, đó chính là quốc hiệu “An Nam” vẫn  
được giữ lại để gọi tên cho tờ báo. Tản Đà đã từng viết  
trong An Nam tạp chí (số 11, 1930): “Nay cuốn tạp chí  
in ra là đối với khắp thảy quốc dân mà trần thuyết mọi  
sự, không phải là riêng đối với những người có học mà  
thôi. Cho nên lấy quốc hiệu đặt tên mà định là hai chữ  
“An Nam”, là ý kiến của tôi như thế. Mong rằng tạp chí  
lưu hành khắp cả toàn quốc, phàm là người An Nam đều  
có biết tạp chí An Nam, mà sự hay dở của tạp chí có  
quan hệ mật thiết với sự thịnh suy của quốc dân, thời  
tạp chí mới không phụ đặt tên bằng quốc hiệu vậy”  
(Nguyễn K. X., 2002c, 13-14). Thậm chí, sau lần xuất  
bản thứ 3, (số 14, tháng 12/1930), ở ngay ngoài bìa tạp  
chí, Tản Đà còn cho vẽ tấm bản đồ đất nước Việt Nam  
như là một lời kêu gọi tinh thần tự tôn và yêu nước của  
toàn thể dân tộc. Dẫu biết vận mệnh và thời thế không  
ủng hộ bản thân, nhưng ở thi nhân, vẫn còn đó một tấm  
thiện tình dành cho quê hương:  
Ngược gió mà xuôi dòng, ta sẽ vén xiêm mà sang  
này, dô hò khoan!  
Dù Pháp, dù Nhật, dù Nga này, sao lại ngăn chặn  
được ngang dòng?  
Ta tìm hỏi bến mà chèo sang này, dô hò khoan!  
Gió to cuồn cuộn này, biển lớn mênh mang, vừa hát  
vừa cười mà chèo qua này, dô hò khoan!  
Biển lớn thênh thênh này, sóng cả mênh mông, một  
lòng một sức mà chèo qua này, dô hò khoan!  
(Chương, 1990, 207)  
Nhưng cũng không vì thế mà Thề non nước của  
Tản Đà lại bị phủ nhận trong việc diễn tả nỗi niềm quan  
hoài của thi nhân trước vấn đề dân tộc. Sau những biến  
động của thời cuộc, giờ đây, chúng ta có đủ thời gian và  
kinh nghiệm để nhìn nhận lại Thề non nước với tất cả vẻ  
đẹp và sự đa nghĩa của nó. Tình yêu quê hương, đất  
nước được cộng hưởng và khuếch tán một cách tinh tế,  
sâu lắng qua chuyện tình lứa đôi:  
Dẫu rằng sông cạn đá mòn  
Còn non còn nước hãy còn thề xưa  
Non xanh đã biết hay chưa?  
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn  
(Nguyễn K. X., 2002, 221)  
Ruột tằm dù héo chưa mòn  
Tơ lòng một mối xin còn vấn vương  
(Nguyễn K. X., 2002, 240)  
Giữa cái mênh mông của vũ trụ, cái vô tình của  
dòng chảy thời gian, “nước” và “non” đều thinh lặng,  
chỉ có thi nhân trơ trọi với cái tình khắc khoải, da diết.  
Trước những biến động của thời cuộc, nhà Nho tài tử  
lâm vào khủng hoảng trầm trọng, từ thế giới quan đến  
nhân sinh quan. Xã hội lúc này không còn nằm trong  
khung giá trị của Nho giáo và người tài tử cũng không  
còn được trọng vọng, cho nên cái tôi nhập thế hăm hở  
của Tản Đà ít nhiều bị tổn thương, nhưng không vì thế  
mà tình cảm của thi nhân dành cho quê hương xoay  
Thật khó để có thể diễn dịch tường tận về nội dung  
yêu nước trong văn chương Tản Đà, bởi lẽ còn tồn tại ít  
nhiều điểm chiết trung, lưỡng lự trong tư tưởng của ông,  
nhưng có một điều minh định không thể xoay chuyển:  
tình yêu với quê hương, đất nước luôn là niềm quan  
hoài khôn xiết, là nỗi đau đáu khôn nguôi trong tâm  
thức Tản Đà, từ khi bước vào văn nghiệp cho đến khi  
giã từ bút nghiên.  
157  
Lê Thanh Sơn  
3. Kết luận  
Tài liệu tham khảo  
Nói tóm lại, bên cạnh những nội dung mới mẻ, táo  
Chương, T. (1990). Phan Bội Châu toàn tập. Thuận Hóa.  
Dương, Q. N. (1928). Thù nhà nợ nước. Xưa nay.  
Khâu, C. T. (1994). Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển  
Trung quốc (Mai X. H., Trans.). Giáo Dục.  
Lê, V. N. (1971). Trung Dung thuyết ước (Nguyễn D.  
T., Trans.). Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa.  
Lưu, H. (2007). Văn tâm điêu long (Phan N., Trans.).  
Lao động.  
Nguyễn, H. L. (2003). Khổng Tử và Luận Ngữ. Văn học.  
Nguyễn, K. X. (2002a). Tản Đà toàn tập (tập 1). Văn học.  
Nguyễn, K. X. (2002b). Tản Đà toàn tập (tập 2). Văn học.  
Nguyễn, K. X. (2002c). Tản Đà toàn tập (tập 3). Văn học.  
Phạm, Q. (2006). Thượng Chi văn tập. Văn học.  
Phan, H. C. (2007). Lịch triều hiến chương loại chí (tập  
4). Giáo dục.  
Thanh, L. (1967). Bảng lược đồ văn học Việt Nam  
(quyển hạ). Trình bày.  
Trần, Đ. H., & Lê, C. D. (1988). Văn học Việt Nam giai  
đoạn giao thời, 1900-1930. Đại học và giáo dục  
chuyên nghiệp.  
Trần, N. V. (1999). Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam.  
Giáo dục.  
Trương, L. V. (1999). Tâm – triết học phương Đông (P.  
C. Tạ, V. Đ. Nguyễn, & T. T. Hồ, Trans.). Khoa  
học xã hội.  
bạo, thì văn chương của Tản Đà, phần lớn, vẫn mang vẻ  
đẹp mềm mại, sâu đắm mà thâm tàng của nền minh triết  
Á Đông. Dẫu đường công danh trắc trở, chưa thể “kinh  
bang tế thế” hay “trí quân trạch dân”, nhưng Tản Đà,  
trong tư cách của một nhà Nho với chủ trương nhập thế,  
vẫn luôn mong mỏi dùng sự nghiệp văn chương của  
mình để “kiêm thiện thiên hạ”, gìn giữ phong hóa, thiên  
lương. Hơn ai hết, trong thời đại “gió Á mưa Âu”, kẻ  
“hủ Nho” như Tản Đà hiểu rõ những giá trị phong hóa,  
luân thường đang xói mòn nghiêm trọng và nền tảng  
văn hóa truyền thống đang bị lung lay đến tận gốc,  
trước hấp lực mạnh mẽ của một xã hội vận hành trên  
quy luật của đồng tiền. Không thể phủ nhận, một bộ  
phận văn chương của Tản Đà cổ xúy cho lối sống  
hưởng lạc, say sưa với sơn hào, mỹ tửu, với ca kĩ,  
hồng nhan, trượt đi trong những giấc mộng dằng dặc,  
triền miên. Nhưng sau hết, cái trọn vẹn, bền vững  
trong thế giới nghệ thuật của Tản Đà vẫn là những  
phạm trù đạo đức, “thiên lương” gắn liền với nội dung  
giáo huấn. Bởi vì, dẫu có khoái hoạt và “xông xênh”  
đến chừng nào, thì ở tận sâu trong tâm thức, tiên sinh  
hãy còn luyến thương lắm cái “vàng son” của “cửa  
Khổng, sân Trình”, cái mẫu mực của nền nếp gia  
phong, vốn đã ngự trị cả ngàn năm trong văn hóa dân  
tộc. Đó là nét đẹp cổ điển không thể nào phủ nhận  
trong tinh thần và văn chương của Tản Đà.  
Trương, Q. T. (1924). Hoàng Nguyệt Ánh. Imprimerie  
Du Centre.  
THE CONCEPT OF CONVEYING THE DAO THROUGH LITERATURE  
AND CORE EXPRESSION IN TAN DA’S POETRY  
Le Thanh Son  
The University of Danang - University of Science and Education  
Abstract: It can be said that the sustainable relationship with traditional culture was one of the most stable and profound  
value systems in Tan Da literature. Tan Da lived in a transitional period which contained fluctuations and conflicts between the  
old and the new, between tradition and modernity. However, Tan Da still retained his lofty principles so that he could dedicate  
himself to life passionately, could fulfill the dream of practicing the morality and could preserve the beauty of someone who always  
remained loyal to Confucianism.  
Key words: Tan Da; classical literature; artistic thinking; Confucianism; transitional culture.  
158  
pdf 7 trang yennguyen 21580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” và những biểu hiện cốt lõi trong văn chương Tản Đà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_niem_van_di_tai_dao_va_nhung_bieu_hien_cot_loi_trong_va.pdf