Kí hiệu học dịch thuật: Kí hiệu và hệ hình trong bối cảnh số hoá

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
KÍ HIỆU HỌC DỊCH THUẬT: KÍ HIỆU VÀ HỆ HÌNH TRONG BỐI CẢNH SỐ HOÁ  
Nguyễn Quốc Thắng  
Trường Đại học Văn Lang, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Quốc Thắng - Email: thang.nq@vlu.edu.vn  
Ngày nhận bài: 04-01-2021; ngày nhận bài sửa: 15-5-2021; ngày duyệt đăng: 17-6-2021  
Tóm tắt: Nghiên cứu này thông qua hai góc độ tiếp cận ký hiệu học, đặt ra vấn đề dịch thuật từ cách tiếp cận ký hiệu học và bản  
thân vấn đề hệ hình ký hiệu học dịch thuật. Bởi, vấn đề ký hiệu học dịch thuật và điều kiện để hình thành tri thức về nó trong bối  
cảnh số hóa không tách khỏi nguồn gốc lý thuyết về ký hiệu. Vì vậy, cách triển khai của tác giả, một mặt, cho phép đặt ra những  
vấn đề về lý thuyết, mặt khác, gợi mở một số khía cạnh về phương pháp.  
Từ khóa: hệ hình; ký hiệu; ký hiệu học; ký hiệu học dịch thuật; số hóa.  
trình về kí hiệu ngôn ngữ, thi pháp dịch thuật tuy có  
nhắc đến một số khái niệm liên quan đến kí hiệu học (vì  
ta biết rằng ngôn ngữ học là ngành nền tảng của kí hiệu  
1. Mở đầu  
Được hình thành trên lý thuyết về logic - kí hiệu  
học của Peirce và ký hiệu học cấu trúc của Saussure, kí  
học) nhưng chưa triển khai vấn đề kí hiệu học dịch thuật  
(Mai, 2008; T. G. Nguyen, 1997; D. B. Nguyen, 2016).  
kiếm và phân tích kí hiệu để hình thành các cách giải  
Tuy nhiên, trên thế giới, mối quan hệ giữa ký hiệu học  
và dịch thuật, phân tích dịch thuật dưới góc nhìn ký hiệu  
tượng văn bản. Từ cách tiếp cận kí hiệu học, dịch thuật  
đã được bàn đến từ lâu. Thuật ngữ semiotranslation  
(sémiotraduction) không chỉ được phân tích trong các  
quá trình biểu đạt trong khuôn khổ các thuật ngữ logic,  
nghiên cứu ký hiệu học mà cả trong các nghiên cứu dịch  
thuật học (Chesterman, 1997; Deledalle-Rhodes, 1988;  
và không có tính liên hệ trong văn bản nguồn và văn  
Gambier, 2016; Lawendowski, 1978; Ludskanov,  
1975). Vấn đề hệ hình và dịch thuật đa phương tiện từng  
Peirce, kí hiệu được phân chia thành kí hiệu đại diện  
được Rovena Troqe (2015), Dinda L. Gorlee (2016) và  
Antonino Velez (2012) kiến giải. Dựa trên mô hình hình  
và kí hiệu đối tượng (object). Quá trình biểu đạt của  
vuông kí hiệu học của Greimas, Rovena Troqe đưa ra  
các hệ hình khác biệt, tương đương và đối lập mà theo  
cái biểu đạt và cái được biểu đạt, ngôn ngữ và lời nói,  
chúng tôi là ít có triển vọng vì tính đơn giản hóa trong  
hiệu học dịch thuật sử dụng phương pháp tư duy tìm  
thích và xác định sự phân cấp kí hiệu đối với một đối  
được xem là sự dịch chuyển từ một mô hình ý nghĩa và  
được tập hợp dưới hai dạng: thuật ngữ có tính liên hệ  
bản đích. Trong khuôn khổ này, dựa trên lý thuyết của  
(representamen), kí hiệu được giải thích (interpretant)  
dịch thuật có thể được phân tích dưới các cặp nhị phân:  
nghĩa sở thị và và nghĩa liên tưởng (dựa trên lý thuyết  
cách triển khai của Greimas. Dinda L. Gorlée tập trung  
của Saussure, Barthes) (Roland, 2020, 26). Cho đến  
phân tích vấn đề thuật ngữ để đưa ra phạm vi lý thuyết.  
Antonino Velez chỉ ra vấn đề dịch thuật đa phương tiện  
một cách trực tiếp về kí hiệu học dịch thuật. Các công  
bằng việc phân tích tác phẩm điện ảnh Respiro của  
nay, ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đặt vấn đề  
Emanuele Crialese. Hai hướng đi này đều có những  
đóng góp trong việc định hình vấn đề ký hiệu học dịch  
Cite this article as: Nguyen, Q. T. (2021). Semiotics of  
thuật về lý thuyết và phân tích các thể loại văn bản, hình  
ảnh trong một bối cảnh mới. Tuy nhiên, theo chúng tôi,  
với tính chất liên ngành của vấn đề và với tình hình  
nghiên cứu về lĩnh vực này như ở Việt Nam hiện nay,  
translation: sign and paradigm in context of digitalization.  
UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education,  
28 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 11, Số 1 (2021), 28-35  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 28-35  
việc xem xét các khả năng lý thuyết trở nên cần thiết  
hơn ứng dụng vấn đề trong các trường hợp cụ thể. Từ  
việc phân tích hệ hình dịch thuật, xác định các yếu tố kí  
hiệu trong khuôn khổ của thao tác dịch, bài viết bàn về  
tri thức nền tảng của kí hiệu học dịch thuật và các vấn  
đề của hệ hình trong bối cảnh số hóa.  
lập trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của  
Saussure (Saussure, 2005, 28-35, 12-19). Lý thuyết về  
hoạt động ngôn ngữ của Saussure được ứng dụng trong  
dịch thuật học về tính tương phản giữa hai phạm trù: cái  
biểu đạt và cái được biểu đạt (signifier / signified), ngôn  
ngữ và lời nói (language / speech), nghĩa sở thị và nghĩa  
liên tưởng (denotation / connotation), chất liệu và hình  
thức (substance / form), âm thanh và ý nghĩa (sound and  
meaning), đồng đại và lịch đại (synchrony / diachrony).  
Trong lịch sử nghiên cứu dịch thuật, lý thuyết hoạt động  
ngôn ngữ về quá trình nhân đôi của dịch thuật gắn liền  
với hệ thống thuật ngữ nhị phân của Saussure, đặc biệt là  
trong các chương trình giảng dạy, thực hành biên, phiên  
dịch. Mô thức tư duy tự động trong các thao tác thực  
hành về ký hiệu và đối tượng của dịch thuật đã trở thành  
công cụ hữu hiệu trong việc kích hoạt các kỹ năng của  
người dịch. Viễn cảnh này của dịch thuật đã được nhiều  
công trình nghiên cứu ứng dụng phân tích. Tiêu biểu như  
Vocabulaire européen des philosophes: Dictionnaire des  
intraduisibles cho rằng: Với quan hệ ngữ đoạn tương  
thuộc (« interdépendance syntagmatique ») Saussure đã  
quy chiếu đến một thực tế rằng trong mọi sự xếp đặt của  
ký hiệu, sự kết hợp các yếu tố vận hành như một « sản  
phẩm » của toán học trong chiều kích sự kết hợp này tạo  
dựng ý nghĩa độc lập so với nghĩa gốc ở các yếu tố tạo  
thành. Saussure bàn về « sự kết hợp của các yếu tố độc  
lập, mà giá trị đến duy nhất từ sự đóng góp cùng nhau  
với tư cách là một đơn vị lớn hơn » [Dẫn theo Dinda L.  
Gorlee, 2016].  
2. Nội dung  
2.1. Dịch thuật và kí hiệu: nền tảng lý thuyết  
Nói một cách ngắn gọn, mục đích lý tưởng của dịch  
thuậtlà sự thay thế hoàn hảo văn bản trong ngôn ngữ  
nguồn bằng một văn bản tương đương của một ngôn  
ngữ khác. Đây không đơn thuần là quá trình chuyển  
dịch ngôn ngữ mà là sự sáng tạo lại trong một ngôn ngữ  
khác được thực hiện bởi nhân tố chủ thể (dịch giả) để  
cải biên (tưởng tượng lại, tái mô hình, tái dựng lại) chủ  
đề, không gian của văn bản nguồn trong một văn bản  
đích. Nguồn gốc của quá trình dịch thuật là sự khả dịch,  
tưởng tượng bởi cái tôi của dịch giả, được gợi cảm hứng  
từ bản gốc. Sau đó, dịch giả phải chú ý đến bối cảnh văn  
hóa của thông điệp, văn bản, bao hàm sự tương đương  
ngôn ngữ - văn hóa trong hai ngôn ngữ. Những khái  
niệm về ngôn ngữ và văn hóa buộc phải tương tự trong  
phiên bản dịch hoàn chỉnh. Các nhân tố bên ngoài  
(người đọc, phê bình) giúp dịch giả phân biệt và tối ưu  
hóa các giải pháp. Xem xét dịch thuật từ điểm nhìn kí  
hiệu học là cách tiếp cận có tính hai mặt của kí hiệu và  
đối tượng1. Điểm nhìn này có xu hướng bị chi phối bởi  
truyền thống của chủ nghĩa cấu trúc, đặc biệt là phương  
pháp phân tích nhị nguyên luận2 như tính tương phản  
giữa kí hiệu và đối tượng kí hiệu, việc sử dụng một cách  
hệ thống các mô thức trong thao tác dịch. Comparative  
Stylistics of French and English: A Method for  
Translation (1995) của Vinay và Darbelnet (Vinay &  
Darbelnet, 1995) là công trình tiêu biểu cho xu hướng  
phân tích phương pháp dịch thuật phổ biến này. Đặt  
công trình này trong hệ thống thuật ngữ ngôn ngữ học  
cấu trúc, ta thấy, phương pháp dịch thuật của Vinay et  
Darbelnet dựa trên tính hai mặt của các thuật ngữ đối  
Như vậy, từ lý thuyết của Saussure, dịch thuật  
mang lại một số lượng lớn các khái niệm bằng việc tạo  
dựng các hình ảnh có tính võ đoán tuyệt đối trong quan  
hệ nội tại của các kiểu từ phức3. Tuy nhiên, quan điểm  
của Saussure dựa trên ngữ pháp « toán học » lấy cứ  
liệu tiếng Pháp làm minh chứng chứ không phải cấu  
trúc của tiếng Đức (các yếu tố tương đồng bởi tiểu từ  
và tiền tố động từ) chẳng hạn. Tuy ông đã lưu ý tính  
phức tạp và đa dạng về mặt địa lý trong Giáo trình  
ngôn ngữ học đại cương:  
“Tuy nhiên ở đây, chúng tôi sẽ gạt sang một bên tất  
cả những gì làm rối mắt trước quang cảnh đa dạng địa lý  
tự nhiên, để xét đến hiện tượng căn bản, vượt ra ngoài  
1 Theo thuật ngữ của Saussure là cái biểu đạt (signfier) và  
cái được biểu đạt (signfied).  
2 Xem (Roland, 1964).  
3 Ví dụ mà Saussure đưa ra được Cassin dẫn lại là sự hình  
thành désireux từ désir trong tiếng Pháp.  
29  
Nguyễn Quốc Thắng  
mọi sự du nhập của ngoại ngữ và mọi sự hình thành của  
ngôn ngữ văn học. Lối đơn giản hóa có tính chất lược  
đồ này có vẻ như phương hại đến tính hiện thực, nhưng  
một sự kiện tự nhiên trước hết phải được nghiên cứu  
trong bản thân nó đã” (Saussure, 2005, 370).  
dịch thuật đến với mô hình của Peirce: điểm nhìn (bình  
diện thứ nhất), kí ức (bình diện thứ hai) và kinh nghiệm  
(bình diện thứ ba) của dịch giả là các thành tố để tái  
dựng lại sự tương đương tổng thể của cho thông điệp  
đích. Thiết hiệu (semiose) và tương tác giữa kí hiệu  
(sign), đối tượng (object) và cái nhận hiểu (interpretant)  
của Peirce mang lại sự tinh tế cho hệ thống văn hóa  
trong tự sự của văn bản nguồn và văn bản đích.  
Có thể nói, cấu trúc ngữ pháp hai mặt được phát  
triển từ tư tưởng của Saussure không hoàn toàn thích  
hợp ứng dụng lý thuyết cho việc chuyển ngữ từ ngôn  
ngữ này sang ngôn ngữ khác vì hành động chuyển ngữ  
làm nảy sinh nhiều thay đổi về mô thức, biến thể. Tuy  
nhiên, theo Morris, quan niệm dịch thuật “giữa hai ngôn  
ngữ” đi từ tư tưởng của Saussure lại gợi mở và cho phép  
làm sáng tỏ các yếu tố về cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ  
dụng từ tư tưởng ký hiệu học của Peirce (Morris, 1964,  
217-220). Tính tương đương hai mặt trong cấu trúc cố  
định của văn bản nguồn và văn bản đích có vai trò đối  
với dịch thuật ở chỗ cho phép sáp nhập cách phân loại  
tương phản để nắm bắt bằng phương pháp phân biệt ký  
hiệu và đối tượng trong hai ngôn ngữ. Vì theo Saussure,  
“[…] trong ngôn ngữ chỉ có những sự phân biệt mà  
thôi. Hơn nữa, một sự phân biệt nói chung thường là  
phân biệt giữa những yếu tố tích cực: nhưng trong ngôn  
ngữ thì chỉ có những sự phân biệt thuần túy, không có  
một cái gì làm thành vế tích cực. Dù xét tới cái được  
biểu đạt hay cái biểu đạt4, trong ngôn ngữ vẫn không có  
sẵn những khái niệm hay những âm thanh, trước khi có  
hệ thống ngôn ngữ, mà chỉ có những sự phân biệt về  
khái niệm và những sự phân biệt về âm thanh nảy sinh  
ra từ hệ thống đó. Những gì thuộc về khái niệm hay chất  
liệu âm thanh trong kí hiệu không quan trọng bằng  
những cái gì tồn tại ở xung quanh nó, trong các kí hiệu  
khác. Chứng cứ là giá trị của một yếu tố, mặc dầu người  
ta không động chạm gì đến ý nghĩa hay âm thanh của  
nó, vẫn có thể thay đổi, mà như vậy chỉ vì một yếu tố  
khác ở bên ngoài đã thay đổi” (Saussure, 2005, 231).  
Theo quan điểm của chúng tôi và từ các nghiên cứu  
trước đây về ký hiệu học dịch thuật, có ba chiều kích  
của vấn đề cần được làm rõ:  
Thứ nhất, không nên quy chiếu lý thuyết kí hiệu  
học cấu trúc của Saussure để hiểu logic trong tư duy của  
dịch giả là sự đại diện cho các thao tác kỹ thuật đối  
xứng hay hợp nhất một đơn vị văn bản gốc và văn bản  
nguồn trong một kí hiệu để phân ra hai thành phần cái  
biểu đạt và cái được biểu đạt. Trong quan niệm của  
Saussure, kí hiệu có tính đại diện và là mẫu hình tiêu  
biểu cho sự tương tác giữa các ký hiệu nội tại và sự phụ  
thuộc đồng thời giữa khía cạnh vật chất của ký hiệu (cái  
biểu đạt) và đối tượng (cái được biểu đạt). Vậy nên,  
dịch thuật không đơn thuần thuộc phạm vi của cái biểu  
đạt, cái được biểu đạt cố định hay là sự hợp nhất giữa  
chúng mà bao hàm sự đọc có tính chât nước đôi của văn  
bản nguồn và văn bản đích, là cầu nối giữa dấu ấn của  
tác giả và dịch giả. Trong dịch thuật, dịch giả được xem  
như là tác giả thứ hai, siêu tác giả hoặc là đồng tác giả.  
Độc giả của văn bản dịch có thể tạo dựng một đồng -  
hình ảnh (pseudo-image) của văn bản gốc (Roland,  
1964).  
Sự dịch chuyển của ký hiệu ngoại tại (external sign)  
chứng minh một cách rõ nét các yếu tố ngôn ngữ học  
của thông điệp nguồn (từ, câu, phân đoạn) của Peirce –  
và sự lựa chọn cho thông điệp đích. Khi ta quyết định  
một sự lựa chọn trong quá trình dịch từ văn bản nguồn  
tới văn bản đích, hệ thống thuật ngữ của các thao tác  
chính là cái nhận hiểu (diễn giải - interpretant) của quá  
trình biểu đạt của ký hiệu, tuân theo một siêu - khái  
niệm diễn giải, tái tạo để chống lại các ký hiệu chuyển  
đổi và cân bằng mức độ chuyển đổi giữa văn bản nguồn  
và văn bản đích. Tiến trình này vừa mang tính chất ngôn  
ngữ học và bên ngoài ngôn ngữ học. Kinh nghiệm dịch  
thuật, vì thế, không chỉ là các thao tác kỹ thuật, thực  
hiện sự dịch chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ  
khác, mà còn là một quá trình mang tính nghệ thuật và  
mỹ học đặt ngôn ngữ này trong một hệ thống ký hiệu  
Theo đó, tính hai mặt còn có thể được xem xét ở  
vai trò của dịch thuật trong việc sáng tạo hành vi xã hội  
giữa hoạt động ngôn ngữ và văn hóa, kết nối giữa hai  
ngôn ngữ và hai nền văn hóa. Tư tưởng về khả năng  
tương đương giữa hai phạm vi còn hướng nghiên cứu  
4 Nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo dịch là năng biểu và sở  
biểu, chúng tôi dùng cách gọi tên phổ biến hiện nay: cái được  
biểu đạt và cái biểu đạt.  
30  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 28-35  
khác lớn hơn, có cả yếu tố bên ngoài ngôn ngữ. Tiến  
trình này cần được xem xét trong một tổng thể ký hiệu  
quyển (semiosphere – khái niệm của Yuri Lotman).  
thúc. Và như vậy, theo Peirce, tính đối thoại có thể được  
kí hiệu hóa và tái kí hiệu hóa bởi một đối tượng diễn giải  
mới, cho nên, sự suy biến của kí hiệu (khi ở trong văn  
bản nguồn) là một quá trình tất yếu. Qúa trình này, một  
mặt, tạo ra tính năng động của kí hiệu ngôn ngữ (trong  
thích ứng với các mô thức ngôn ngữ, văn hóa mới), mặt  
khác, lại giúp cho chủ thể dịch có thể thể hiện được  
phong cách và tư duy cá nhân trong thao tác của mình.  
Thứ hai, sự chuyển đổi môi trường của các ký hiệu  
(môi trường của văn bản nguồn và văn bản đích) trong  
dịch thuật cần được xem xét ở phạm vi của phong cách  
học, cụ thể là vấn đề phong cách của chủ thể dịch thuật.  
Ở đây, khái niệm cá ngữ (idiolect) là trung tâm của các  
thao tác. Thoạt tiên, ta thấy, khái niệm này không có lợi  
ích trong vấn đề phong cách. Vì, đúng như Jakobson đã  
đặt vấn đề nghi ngờ về lợi ích của khái niệm này bởi  
hoạt động ngôn ngữ thì luôn được xã hội hóa, ngay cả ở  
phạm vi cá nhân (Roland, 1964, 36). Nhưng nếu chúng  
ta lật ngược lại công thức của khái niệm cá ngữ thì trong  
kí hiệu học dịch thuật, đây là một khái niệm rất hữu ích.  
Mô thức của hai ngôn ngữ trong một tình huống chuyển  
ngữ quy định toàn bộ phong cách dịch của bản thân dịch  
giả. Những cố gắng của chủ thể dịch (để chuyển tải  
được văn bản gốc, để tạo ra sự khác biệt với bản dịch  
trước, …) không vượt qua được các yếu tố khách quan  
của thao tác dịch. Điều này tương tự với việc phong  
cách của một nhà văn, dù sao đi nữa, cũng xuất phát từ  
mô hình ngôn ngữ của cộng đồng. Tuy nhiên, sự chuyển  
hóa trong dịch thuật và sáng tạo của nhà văn khác nhau  
ở cấp độ của tính tự do. Phân tích dịch thuật dưới góc  
nhìn kí hiệu học bị quy định bởi một loạt các yếu tố  
khác nhau trong môi trường ký hiệu: chủ thể dịch, chủ  
thể văn bản gốc, kí hiệu văn hóa của văn bản nguồn và  
văn bản đích, sự dịch chuyển của các mô thức ngôn ngữ  
và kí hiệu, …  
Như vậy, kí hiệu học dịch thuật cho phép làm sáng  
tỏ nhiều khía cạnh khác nhau của thao tác chuyển ngữ.  
Chúng ta có thể liệt kê một số kết quả trong cách thức  
phân tích như: tính đa nghĩa, sự vận hành năng động của  
kí hiệu, phong cách cá nhân của chủ thể dịch thuật và  
các sợi dây đan chéo nhau của các khía cạnh mô thức  
ngôn ngữ và văn hóa. Phân tích dịch thuật từ góc nhìn kí  
hiệu học cho phép “bảo toàn” sự tự do và lí giải một  
cách thấu đáo những ràng buộc dành cho chủ thể trong  
quá trình dịch.  
2.2. Hệ hình mới trong bối cảnh số hóa và vấn  
đề dịch thuật đa phương tiện  
Sự phát triển nhanh chóng của quốc tế hóa và công  
nghệ hóa buộc chúng ta phải định giá lại cấu trúc cơ bản  
của các lĩnh vực, trong đó có vấn đề dịch thuật. Mô  
thức, quan hệ, các thực hành liên quan xã hội và văn  
hóa của dịch thuật sẽ biến đổi. Bối cảnh đó cho phép ta  
hình dung về quá trình dịch chuyển của các ca chuyển  
tiếp, thay đổi về công nghệ: từ nói đến viết, từ in ấn  
truyền thống đến công nghệ số. Sự xung đột của các hệ  
hình đang diễn ra: từ truyền thống (được hình thành dựa  
trên các văn bản cổ, văn bản tôn giáo và in ấn) đến văn  
hóa số ngày nay làm cho chủ thể không khỏi cân nhắc  
trong các thao tác dịch thuật khi biên, phiên dịch, phỏng  
dịch. Việc phân chia các văn bản “văn học” và “phi văn  
học” (công nghệ, thương mại, y học, luật pháp) trong  
bối cảnh số hóa chỉ là một giải pháp tình thế. Vì bản  
thân mọi loại hình văn bản đều tồn tại nghĩa sở thị và  
nghĩa liên tưởng. Và hành động biên dịch, một lần nữa,  
đã tạo dựng “cấu trúc nhân đôi” (duplex structures) cho  
văn bản. Phỏng dịch là trường hợp tiêu biểu của sự tạo  
dựng này ở các tình huống như: phỏng dịch thực chất là  
mô hình của thể gián tiếp: lời nói gián tiếp hoặc là  
những thông điệp ở bên trong một thông điệp; trường  
hợp tự nghĩa (autonymie) khi chủ thể giải thích một từ  
của ngôn ngữ nguồn trong ngôn ngữ đích (từ được dùng  
với tư cách là sự chỉ định của chính bản thân chúng).  
Thứ ba là vấn đề tính tương đương giữa mô thức kí  
hiệu của văn bản gốc và mô thức kí hiệu trong văn bản  
nguồn. Ta sẽ thấy, tính tương đương của kí hiệu trong  
thao tác dịch không đơn thuần là sự chuyển dịch của  
một cái biểu đạt của cái được biểu đạt này bằng một cái  
biểu đạt khác. Xét trong lý thuyết của Saussure thì, cái  
cái biểu đạt trong văn bản đích là sự gợi nên hình ảnh  
âm (image acoustique) về cái được biểu đạt vốn cố hữu  
trong tư tưởng của người tiếp nhận (kể cả văn bản  
nguồn và văn bản đích). Vì là “hình ảnh âm” nên quá  
trình này bị chi phối bởi cả hai thành phần: kinh nghiệm  
của cá nhân tính đặc thù của mỗi nền văn hóa. Xét trong  
lý thuyết kí hiệu tam phân của Peirce thì thao tác dịch  
được đặt trong thành phần diễn giải (interpretant). Có vô  
số sự diễn giải và quá trình diễn giải diễn ra không kết  
31  
Nguyễn Quốc Thắng  
Cấu trúc nhân đôi được minh chứng một cách cụ thể  
trong dịch thuật ở thao tác giải thích ngôn ngữ nguồn,  
ngữ giải thích, từ đồng nghĩa, thực chất là việc chuyển  
dịch ngữ từ một mô thức ngôn ngữ này sang một mô  
thức ngôn ngữ khác.  
hội thoại, tiếng động), hình ảnh và các kỹ thuật điện ảnh  
(cận cảnh, tóm lược, hồi ức, điểm xuyết) đặt ra nhiều  
vấn đề khi xem xét từ lý thuyết kí hiệu học. Việc phân  
tích tính phức hợp của văn bản được tạo nên bởi các  
ngôn ngữ khác nhau hoặc các hệ thống ký hiệu học khác  
nhau cũng như các thực tế ngữ nghĩa mà chúng tạo ra là  
nhiệm vụ căn bản của kí hiệu học dịch thuật đa phương  
tiện. Tuy nhiên, dù hoạt động ngôn ngữ điện ảnh dựa  
trên mối liên-quan hệ giữa các mã khác nhau: hình ảnh,  
ngôn ngữ viết và âm thanh thì mã ngôn ngữ phân tiết  
vẫn là yếu tố cơ bản để xem xét. Vì các mã khác được  
hình thành dựa vào kinh nghiệm của chủ thể tiếp nhận  
hơn là vai trò của dịch thuật văn bản đối thoại. Trong  
phạm vi này, mối tương quan giữa các kí hiệu trong văn  
bản, âm thanh và hình ảnh trở nên quan trọng. Cả ba  
đều có tính đại diện cho một đối tượng vắng mặt, nhưng  
chúng hình thành kí hiệu dựa trên các nguyên tắc khác  
nhau quy định tính khác biệt của tiếp nhận. Cách nói  
của nhân vật, tiếng động, âm nhạc, cảnh sắc, … cùng  
lúc phát huy khả năng để làm sáng tỏ chủ đề. Dịch hội  
thoại cần chú ý đến thời điểm xuất hiện trong mối tương  
quan với âm thanh, hình ảnh và bối cảnh của chủ thể  
phát ngôn.  
Tính hai mặt của hệ hình dịch thuật mới đang hình  
thành. Một mặt, khái niệm, thuật ngữ trở nên các phạm  
trù mang tính quy ước của dịch thuật được hình thành  
trên nền tảng của hệ hình tương đương đã phát triển  
theo khái niệm định hướng cho người tiếp nhận văn bản  
đích: tức là bước ngoặt của hệ hình có tính văn hóa. Mặt  
thứ nhất của hệ hình này tồn tại song song với một hệ  
hình khác đang chuyển đổi, phản ánh các công cụ hỗ trợ  
và phương tiện truyền thông vượt quá giới hạn của dịch  
thuật. Hệ hình in ấn truyền thống đã chuyển đổi thành  
hệ hình số và web (nơi mà văn bản dịch trở thành đa mô  
thức). Bối cảnh thay đổi này giải thích sự hình thành  
của các thuật ngữ mới để xác định những gì đã được gọi  
là « biên, phiên dịch » và tính nước đôi của cách gọi  
« văn bản » trong sáng tạo và tiếp nhận.  
Văn hóa đa phương tiện và internet phát triển trên  
nền tảng công nghệ số cho phép tạo dựng các không  
gian ảo, đặc biệt là văn bản, đồ hình, âm thanh và hình  
ảnh tĩnh hoặc động bằng các công cụ hỗ trợ mới của  
siêu văn bản. Công cụ số đang thay đổi quan hệ dịch  
thuật với các phạm trù văn bản mới. Với siêu văn bản,  
các khía cạnh thuộc thị giác trong văn bản và chiều kích  
hình ảnh đã dần trở nên phổ biến. Không gian số mới  
với các nền tảng của cận văn bản (paratext) đòi hỏi một  
hình thức mới của biên, phiên dịch: cận dịch  
(paratranslation). Hiện tượng tiêu biểu của bối cảnh này  
là dịch thuật đa phương tiện5. Dịch thuật đa phương tiện  
đặt nhiệm vụ của mình trước một đối tượng hàm chứa  
các yếu tố phức tạp trong cấu thành nội tại và các tương  
quan. Ví dụ tiêu biểu là trường hợp dịch văn bản một bộ  
phim từ một hệ thống văn hóa gốc sang một hệ thống  
văn hóa khác. Ở đây, chủ thể dịch phải lưu ý đến sự  
tương tác giữa các kênh (thính giác và thị giác) và các  
mã (bao gồm các biến thể) ngôn ngữ học. Bởi vì, tính đa  
mã (multi-codes) là đặc trưng nổi bật của loại hình dịch  
thuật này: từ sự kết hợp của âm thanh (bao hàm cả các  
Mục đích của dịch thuật nói chung là tạo ra kết quả  
giống với nguyên bản, bao hàm cả việc sử dụng từ ngữ  
khác trong trường hợp cần thiết hoặc nhờ đến các yếu tố  
văn hóa cho sự nhận hiểu của công chúng trong ngôn  
ngữ đích. Trong trường hợp của dịch thuật đa phương  
tiện, ý kiến của Herbst:  
“Mô thức gốc không quan trọng, quan trọng là  
trong mỗi cảnh, mọi yếu tố liên quan trong tiến trình  
phát triển của cốt truyện phải được dịch và sự tương  
đương về đặc điểm của nhân vật phải được chuyển tải  
trên màn hình”6 (Herbst, 1996, 105). làm cho chúng ta  
cần xem xét đến mức độ tuân thủ của các mô hình kí  
hiệu. Đối với phạm vi ngôn ngữ phân tiết, tiêu chuẩn  
phương tiện, so sánh này cần được tính đến các yếu tố  
tương quan như chúng tôi đã nói đến trên đây. Do vậy,  
đánh giá có thể đặt vào việc so sánh mô hình gốc và mô  
hình dịch. Nhưng trong trường hợp dịch thuật đa việc  
6
“The wording of the original does not matter, what  
5 Dịch thuật đa phương tiện bao gồm nhiều lĩnh vực và  
sản phẩm đa phương tiện khác nhau như: dịch phụ đề phim,  
dịch phần mềm, dịch dữ liệu, dịch trang web, …  
matters is that all plot-carrying elements of a scene should be  
translated and that some kind of equivalence of the characters’  
personality on screen should be maintained”.  
32  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 28-35  
quan tâm đến ngữ dụng học trong dịch thuật đa phương  
tiện là hết sức cần thiết7. Nó cho phép dịch giả đưa ra  
các giải pháp có căn cứ để chuyển tải các ý nghĩa của  
bản gốc. Như vậy, sự chuyển đổi của bối cảnh và đa  
dạng hóa hình thức của đối tượng đặt ra cho kí hiệu học  
dịch thuật các nhiệm vụ mới trong việc mở rộng khả  
năng phân tích. Tiềm năng của lý thuyết nhị phân về kí  
hiệu của Saussure và tam phân của Peirce đã được  
chứng minh với những đối tượng phức hợp trước đây  
(Roland, 1964) . Xem xét bối cảnh số hóa, dịch thuật đa  
phương tiện từ góc nhìn kí hiệu học góp phần lượng hóa  
và thúc đẩy khả năng thành công của dịch thuật – một  
lĩnh vực phát triển tất yếu và rất cần thiết trong thời đại  
toàn cầu hóa đa dạng ngày nay.  
dịch thuật đã làm đảo lộn cách tiếp cận truyền thống của  
dịch thuật học. Nó cho phép giải đáp một cách cụ thể  
ranh giới giữa khả dịch và bất khả dịch, khả năng tương  
đương và không tương đương, trung thành và phản, vai  
trò và chức năng của các thao tác dịch. Triển vọng của  
ứng dụng này là có thể cho phép xác định các khái niệm  
dịch và dịch lại, số phận một văn bản nguồn, văn bản gốc  
và các vấn đề kí hiệu học khác về dịch thuật như hiện  
tượng mã hóa và không mã hóa trong phạm trù liên-thiết  
hiệu (intersémiose) của Peirce.  
Ký hiệu học dịch thuật là một khái niệm năng động,  
có thể thích ứng với các bối cảnh và phạm vi khác nhau.  
Khi hệ hình và bối cảnh thay đổi, những yếu tố nội tại  
và ngoại tại của nó buộc phải mở rộng hoặc thay đổi  
chiều hướng phân tích và ứng dụng như trong trường  
hợp bối cảnh số hóa mà chúng tôi đã phân tích trên đây.  
Tuy nhiên, mọi sự thay đổi đều phải được quy về ở các  
dạng khác nhau của tính hai mặt (tư tưởng của  
Saussure) hoặc sự năng động của ký hiệu (tư tưởng của  
Peirce). Chính nguyên tắc này giúp nhà nghiên cứu  
không đi chệch ra ngoài quỹ đạo của ngành khoa học.  
3. Kết luận  
Kí hiệu học là ngành nghiên cứu về kí hiệu. Nghiên  
cứu về quá trình biểu đạt không đặt ra vấn đề những gì  
mà ký hiệu biểu đạt mà là việc chúng biểu đạt bằng cách  
nào, từ đối tượng quy chiếu đến kí hiệu. Lý thuyết của  
Saussure đặt ra vấn đề liên quan ký hiệu nội tại, trong  
lúc đó, ký hiệu – diễn giải ngoại tại của Peirce đặt ra  
vấn đề môi trường xung quanh ký hiệu và đối tượng.  
Tính nhị nguyên, sự phân biệt đối lập của hai mặt là  
công cụ cơ bản để phân tích các khía cạnh biểu đạt của  
hoạt động ngôn ngữ và văn hóa, sự khác biệt trong thời  
gian và không gian, giữa ký hiệu và những gì nó đại  
diện cho, đối tượng và tiềm năng về tư tưởng của ký  
hiệu nhận hiểu bởi chủ thể. Kí hiệu và đối tượng trong  
dịch thuật được nhận dạng và xác định rõ hơn trong ký  
hiệu diễn giải của Peirce. Hoạt động của ký hiệu học dịch  
thuật, như đã phân tích trên đây, chính là sự phân biệt các  
trật tự quan hệ của diễn giải (bản thân nó là ký hiệu) trên  
nền tảng của ký hiệu và đối tượng. Tư tưởng của Peirce  
và Saussure về ký hiệu học ứng dụng trong trường hợp  
Tài liệu tham khảo  
Barbara, C. (2014). European vocabulary of  
philosophies (Dictionary of untranslatable)  
[Vocabulaire  
européen  
des  
philosophies  
(Dictionnaire des intraduisibles)]. Le Seuil/Le  
Robert.  
Catford, J. C. (1965).  
A Linguistic Theory of  
Translation: An Essay in Applied Linguistics. 6th  
ed. Oxford University Press.  
Chesterman, A. (1997). Memes of Translation: The  
Spread of Ideas in Translation Theory. John  
Benjamins.  
Delabastita, D. (1989). Translation and mass-  
communication: Film and TV. Translation as  
evidence of cultural dynamics. Babel, 4(35), 193–  
218.  
Deledalle-Rhodes, J. (1988). Translation in semiotic systems  
(La traduction dans les systèmes sémiotiques). Literary  
Studies, 3(21), 211–221.  
7 Peirce là người đầu tiên dành sự quan tâm đến mối liên  
hệ giữa kí hiệu với người sử dụng. Ba bình diện của kí hiệu  
học trong phân tích cần được xem xét là: bình diện kết học  
(nghiên cứu mối quan hệ giữa ký hiệu với ký hiệu, tức mối  
quan hệ hình thức giữa các ký hiệu trong cấu trúc), bình diện  
nghĩa học (nghiên cứu mối quan hệ giữa ký hiệu và hiện thực)  
và bình diện dụng học (nghiên cứu mối quan hệ giữa ký hiệu  
với người sử dụng trong ngữ cảnh) (T. Q. Nguyen, 2017).  
Di Giovanni, E. (2014). Audio description and  
textuality. Paralleles, 26, 69–83.  
33  
Nguyễn Quốc Thắng  
Gambier, Y. (2016). Translation and text: towards a  
new double paradigm (Traduction et texte: Vers un  
nouveau double paradigme). Signata, 7, 175-197.  
Gorlee, D. L. (1990). Degeneracy: A Reading of  
Peirce’s Writing. Semiotica, 81(1/2), 71–92.  
Gorlee, D. L. (1994). Semiotics and the Problem of  
Translation: With Special Reference to the  
Semiotics of Charles S. Peirce. (Approaches to  
Translation Studies 12). Brill.  
and  
Education,  
7(5),  
53–59.  
Nguyen, T. G. (1997). An introduction to linguistics  
(Dẫn luận ngôn ngữ học). Education.  
Paolinelli Mario, D. F. E. (2005). Translate for dubbing.  
Linguistic transposition of the audiovisual: theory  
and practice of an imperfect art (Tradurre per il  
doppiaggio.  
Trasposizione  
linguistica  
dell’audiovisivo: Teoria e pratica di un’arte  
imperfetta). Hoepli, Milano.  
Gorlee, D. L. (2016). From translation to  
semiotranslation (De la traduction  
sémiotraduction). Signata, 7, 57-59.  
à
la  
Peirce, C. S. (n.d.). Collected Papers of Charles S.  
Peirce, Charles HARTSHORNE, Paul WEISS, and  
Arthur W. BURKS (eds.). 8 vols. Belknap Press of  
Harvard University Press.  
Roland, B. (1964). Elements of Semiology (Cơ sở ký  
hiệu học) (T. Q. Nguyen, Trans.). Tong hop.  
Roland, B. (2020). The death of the author (Cái chết  
của tác giả) (T. Q. Nguyen, Trans.)  
Gottlieb, H. (2015). Multidimensional translation:  
Semantics turned semiotics. In MuTra 2005 –  
Challenges of Multidimensional Translation:  
Conference Proceedings, Heidrun Gerzymisch-  
Arbogast & Sandra Nauert (eds).  
Herbst, T. (1996). Why dubbing is impossible.  
Multimedia translation for cinema, television and  
stage, Christine Heiss and Rosa Maria Bollettieri  
Bosinelli (eds.), Bologna.  
Rovena, T. (2015). On the concept of translation: A perspective  
based on Greimassian semiotics. Semiotica.  
Jakobson, R. (1959). On Linguistic Aspects of  
Translation. Brower (ed.). Oxford University  
Press.  
Saussure, F. D. (2005). Coursebook: General linguistics  
(Giáo trình ngôn ngữ học đại cương) (H. X. Cao,  
Trans.). Social Sciences.  
Lancien, T. (2000). Multimedia: changes in the text  
Toury, G. (1980). In Search of a Theory of Translation.  
The Porter Institute for Poetics and Semiotics, Tel  
Aviv University.  
(Multimédias:  
Les  
mutations  
du  
texte).  
Contemporary French Newspaper, 6, May, 2000.  
Lawendowski, B. (1978). On semiotic aspects of  
translation. Sight, Sound and Sense, Thomas A.  
Sebeok (ed.). Indiana University Press.  
Ludskanov, A. (1975). A semiotic approach to the  
theory of translation. Language Sciences, 35, 5–8.  
Mai, N. C. (2008). An introduction to linguistics (Nhập môn  
ngôn ngữ học). Education.  
Velez, A. (2012). Multimedia translation and regional  
voices: the French version of the film Respiro by  
Emanuele Crialese (Traduction multimédia et voix  
régionales: La version française du film Respiro  
d’Emanuele Crialese). Translate, 227, 101-116.  
Vinay, J.-P., & Darbelnet, J. (1995). Comparative  
Stylistics of French and English: A Method for  
Translation. John Benjamins.  
Wellek, R., & Warren, Austin. (1963). Style and  
Stylistics. Wellek & Warren, Theory of Literature:  
A Seminal Study of the Nature and Function of  
Literature in All Its Contexts, 3rd Ed. Penguin,  
174–185.  
Morris, C. (1946). Signs, Language, and Behavior.  
George Braziller.  
Nguyen, D. B. (2016). Poetic translation (through some  
poems translated from French to Vietnamese) [Thi  
pháp dịch thuật (qua một số bản dịch thơ Pháp –  
Việt)]. Journal of Literature Studies, 2, 42-54.  
Nguyen, Q. T. (2017). Semiosis in some literary theory  
categories. UED Journal of Social Sciences,  
Humanities  
34  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 28-35  
SEMIOTICS OF TRANSLATION: SIGN AND PARADIGM  
IN CONTEXT OF DIGITALIZATION  
Nguyen Quoc Thang  
Van Lang University, Vietnam  
Author corresponding: Nguyen Quoc Thang - Email: thang.nq@vlu.edu.vn  
Article History: Received on 04th January 2021; Revised on 15th May 2021; Published on 17th June 2021  
Abstract: Through the two angles of the semiotic approach, this study investigates translation from the perspective of semiotics and  
the paradigm of the semiotics of translation. Semiotics of translation and how to build up our knowledge of this area in the context of  
digitalization cannot be separated from the theoretical origin of signs. Therefore, the current study, on the one hand, raises several  
theoretical issues for discussion, and on the other hand, makes some methodological recommendations.  
Key words: paradigm; sign; semiotics; semiotics of translation; digitalization.  
35  
pdf 8 trang yennguyen 18740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kí hiệu học dịch thuật: Kí hiệu và hệ hình trong bối cảnh số hoá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfki_hieu_hoc_dich_thuat_ki_hieu_va_he_hinh_trong_boi_canh_so.pdf