Tính liên văn bản trong thơ Emily Dickinson

Tạp chí Phát t riển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998  
Bài nghiên cứu  
Open Access Full Text Article  
Tính liên văn bản trong thơ Emily Dickinson  
Phạm Thị Hồng Ân*  
TÓM TẮT  
Một văn bản hoàn toàn không phải là một sáng tạo duy nhất có một không hai của nhà văn/nhà  
thơ, mà về cơ bản nó là sự tiếp nhận và biến đổi từ một văn bản khác. Khái niệm liên văn bản, được  
xây dựng bởi Julia Kristeva (1941-), đề cập đến tính giao tiếp giữa một văn bản với một hay nhiều  
văn bản trước nó, bằng các hình thức như biểu tượng, hình ảnh, chủ đề… được sử dụng một cách  
vô thức, như quan niệm của Sigmund Freud, hay một cách ý thức. Sự kết nối như thế giữa các văn  
bản không làm nghèo đi tính sáng tạo trong sáng tác mà trái lại, làm mới hơn và phong phú hơn  
diện mạo của văn bản. Emily Dickinson (1830 – 1886), một nữ văn sĩ người Mỹ, với tâm hồn nhạy  
cảm và sự yêu thích lối sống ẩn dật, đã dùng những hình ảnh và câu chuyện trong Kinh Thánh,  
một văn bản gắn liền với đời sống văn hóa xã hội của Dickinson, để nói lên những suy tư của bà  
về tôn giáo và việc thực hành đạo. Những trải nghiệm về tôn giáo mà bà đưa vào thơ như một  
thử nghiệm cá nhân, đã một cách kín đáo bộc lộ cho người đọc thấy rõ những tư tưởng phóng  
khoáng cùng những mong manh nhạy cảm trong tâm hồn bà. Với tinh thần như thế, Dickinson  
có thể được xem như là một đại diện cho tinh thần Mỹ, với tính cá nhân độc đáo, sáng tạo. Bài viết  
này sẽ phân tích và làm rõ những ý trên bằng phương pháp nghiên cứu chính là phê bình liên văn  
bản.  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
Từ khoá: liên văn bản, Julia Kristeva, Dickinson, Kinh Thánh  
Liên văn bản và sự kết nối  
MỞ ĐẦU  
Julia Kristeva (24/6/1941-) được xem là người đầu  
tiên giới thiệu khái niệm “liên văn bản” – intertextu-  
ality – như một thuật ngữ nghiên cứu văn học, nhưng  
bà lại không phải là người đầu tiên nhận ra tính chất  
độc đáo này của văn bản. Trước bà, nhiều học giả đã  
đề cập đến điều này, ở nhiều mức độ và với những  
cách thức khác nhau, bằng những tên gọi khác nhau.  
Các hình ảnh và chủ đề Kinh ánh được nhận  
thấy trong khá nhiều tác phẩm của các tác gia Mỹ  
thời đại lãng mạn, như e Scarlet Letter (1850) của  
Nathaniel Hawthorne, Moby Dick (1851) của Herman  
Melville… Emily Dickinson (1830 – 1886), một nhà  
thơ Mỹ trong cùng thời đại, sinh trưởng trong một gia  
đình Tin lành Calnivist mà gốc gác của họ là anh  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt Nam  
Liên hệ  
giáo, cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Kinh ánh. Kristeva là người có công trong việc đặt tên cho một  
Phạm Thị Hồng Ân, Trường Đại học Khoa  
học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt  
Nam  
Đã có vài nghiên cứu xem xét mức độ liên văn bản  
của Kinh ánh trong toàn bộ thơ ca của bà, nhưng  
chủ yếu ở khía cạnh tìm hiểu sự trưởng thành về niềm  
tin trong đời sống tâm linh của Dickinson, hoặc chỉ  
đơn giản đưa ra những điểm liên văn bản trong thơ  
Dickinson với Kinh ánh mà không có sự giải thích  
hay phê bình nào. Có lẽ các tác giả ấy đã mặc nhiên  
cho rằng những hình ảnh và chủ đề Kinh ánh đã  
quá gần gũi và quen thuộc chăng? Tuy nhiên, cho dù  
Kinh ánh có là bộ sách bán chạy và phổ biến nhất  
trên toàn thế giới như thế nào, thì vẫn cần một sự lý  
giải và phân tích thấu đáo tính liên văn bản ấy, để có  
cơ sở khám phá thêm những nét độc đáo trong tư duy  
của một tác giả, đặc biệt đối với nhà thơ nữ ẩn danh  
như Emily Dickinson.  
khái niệm mà trước giờ nó chỉ được định hình một  
cách mơ hồ và hầu như chưa được định danh; đồng  
thời bà đã phát triển khái niệm đó thành một phần  
trong hệ thống lý luận văn học.  
Email: [email protected].vn  
Lịch sử  
Sigmund Freud (1856-1939) là một nhà phân tâm học  
có lòng đam mê văn học nghệ thuật, và đã có những  
phát hiện độc đáo liên quan đến tính liên văn bản  
trong văn học, dù lúc đó ông chưa gọi tên của nó. Việc  
nghiên cứu văn học của ông thật ra là để phục vụ cho  
công việc chính của ông: một bác sĩ phân tâm học; thế  
nhưng những đóng góp của ông cho văn học lại không  
hề nhỏ. Khi nghiên cứu về hoạt động của vô thức,  
ông đã dùng phương pháp xếp chồng các văn bản lên  
nhau, và phát hiện ra các chủ đề đã có từ xưa được các  
nhà văn sử dụng lặp đi lặp lại một cách vô thức. eo  
nhà nghiên cứu Liễu Trương1, Freud đã phát hiện ra  
rằng hai chủ đề “ba cái tráp” và “ba người con gái” là  
chủ đề của nhiều tác phẩm xưa như chuyện phân xử  
• Ngày nhận: 10/12/2020  
• Ngày chấp nhận: 05/5/2021  
• Ngày đăng: 12/5/2021  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.608  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
LIÊN VĂN BẢN – SỰ KẾT NỐI VÀ  
SÁNG TẠO  
Trích dẫn bài báo này: Ân P T H. Tính liên văn bản trong thơ Emily Dickinson. Sci. Tech. Dev. J. - Soc.  
Sci. Hum.; 5(2):991-998.  
991  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998  
của Pâris trong ần thoại Hy Lạp, truyện ngụ ngôn bản có tính giao tiếp với những văn bản khác, và việc  
Pyché của Apulee (thế kỷ 2), truyện Cô bé Lọ Lem  
của Charles Perrault (1628-1703) hay các truyện cổ  
tích của anh em nhà Grimm… [tr.97] trong cuốn Tiểu  
luận về môn Phân tâm học ứng dụng và Chất liệu của  
truyện hoang đường trong những giấc mơ của chính  
Freud. Như vậy, phương pháp “xếp chồng” của Freud  
thoạt nhìn có vẻ hơi thô sơ, nhưng ông đã kết nối được  
các tác phẩm từ cổ xưa đến hiện đại, và đã nhận ra đặc  
tính giao tiếp với nhau giữa các văn bản này.  
hiểu những văn bản khác luôn đem lại những hiểu  
biết mới mẻ và sâu rộng hơn cho những văn bản hiện  
thời. ực vậy, Umberto Eco (1932-2016) trong Tên  
của đóa hồng (e Name of the Rose), cuốn tiểu thuyết  
được ông viết theo lý thuyết Ký hiệu học, đã khẳng  
định những cuốn sách có khả năng giao tiếp với nhau.  
Nhưng nếu chỉ là lặp lại những gì đã có trong văn bản  
trước nó, phải chăng nhà văn chỉ là người sao chép?  
Lẽ nào ai cũng có thể trở thành nhà văn/nhà thơ? Lý  
thuyết liên văn bản, trái lại, đã cho người đọc hiểu rõ  
hơn giá trị của văn bản, của việc sáng tác, chứ không  
xem nhẹ vai trò của sáng tác.  
Trong giai đoạn của các lý thuyết gia Hậu cấu trúc  
(Poststructuralists), Giải kiến tạo (Deconstructionists)  
và Hậu hiện đại (Postmodernists) vào khoảng nửa cuối  
thế kỷ XX, với những tư tưởng có ảnh hưởng mạnh  
mẽ và đảo lộn truyền thống của lý luận văn học, họ  
đã đi đến một kết luận chung là các văn bản không  
còn một ý nghĩa xác định nào nữa. Cái được biểu đạt  
(the signified) không còn liên kết chặt chẽ và sở chỉ  
đến cái biểu đạt (the signifier) đã được quy ước như  
trong lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại của Ferdinand  
de Saussure (1857-1913) nữa. Cái được biểu đạt giờ  
đây trôi nổi (floating signifieds) và tạo nên những mối  
liên kết bất kỳ mà nó tự thấy có lý. Roland Barthes  
(1915-1980), người thầy của Kristeva, cho rằng văn  
bản mang tính đa nghĩa. Tính đa nghĩa này không  
phải do tính chất mơ hồ của nội dung quyết định, mà  
tính đa nghĩa của văn bản là do những cái biểu đạt  
được thêu dệt lại với nhau tạo nên sự đa nghĩa [2, tr.  
1238]. Nói cách khác, Barthes giải thích rằng một văn  
bản mang tính đa nghĩa vì những cái biểu đạt mà nó  
sở chỉ không cố định; chúng có thể có nguồn gốc ở  
những văn bản khác chứ không chỉ là những gì mà  
nhà văn dự định nói đến. Chính vì vậy mà Michel  
Focault (1926-1984) cho rằng “việc viết ngày nay đã  
tự giải thoát khỏi nhu cầu ‘diễn đạt’; nó chỉ còn quy  
chiếu đến chính nó” [3, tr.26].  
Liên văn bản và sự sáng tạo không ngừng  
Harold Bloom (1930-2019) cho rằng khi đọc một văn  
bản, chính việc diễn giải sai văn bản đó (misinterpreta-  
tion) đã dẫn đến sự sáng tạo ra những văn bản mới, và  
qua đó, các tác gia đạt được tính cá nhân đặc sắc trong  
sáng tác của mình, dựa trên nền những tác phẩm mà  
họ đã đóng vai trò là người đọc. Trong cuốn Những  
Ưu tư về Sự Ảnh Hưởng (e Anxiety of Influence), ông  
viết:  
“Nếu tưởng tượng là việc diễn giải lầm lạc, làm cho  
mọi bài thơ là phản đề của những sáng tác trước đó,  
thì việc tưởng tượng theo sau một nhà thơ đồng nghĩa  
với việc học hỏi những gì mà nhà thơ ấy đã ngụ ý từ  
hành động đọc của chính họ”a [4, tr. 93].  
Nói cách khác, Bloom cho rằng mỗi bài thơ đều là sự  
lặp lại của bài thơ trước nó, và mỗi nhà thơ phải trải  
qua cuộc vật lộn với chính người đi trước của mình để  
hình thành một sự đọc sai đầy sáng tạo mà qua đó, bản  
sắc của họ được thể hiện. Ông quả quyết rằng những  
truyền thống đã được khắc sâu trong tâm khảm chúng  
ta, và chúng ta không thể trốn tránh thực tế đó, vì  
như vậy là tự lừa dối mình, rằng chúng ta chỉ có thể là  
“những kẻ đến sau” mà thôi. Nhưng chính vì vậy mà  
chúng ta có “đất” để tạo ra một “chúng ta” vừa giống  
lại vừa khác.  
Phát triển tư tưởng của những người đi trước và đặc  
biệt người thầy của mình là Roland Barthes, Julia  
Kristeva đã đưa ra lý thuyết “liên văn bản” – intertex-  
tuality, trong đó bà khẳng định:  
Cũng vậy, Leon Howard đã khẳng định sự kế thừa  
di sản văn học của những nền văn học lớn hơn luôn  
mang tính dân tộc hóa hoặc địa phương hóa. Một  
trường hợp điển hình mà ông nghiên cứu là thế hệ  
những nhà văn ở Mỹ với di sản văn học châu Âu, đặc  
“Mọi văn bản đều được cấu tạo như là một bức khảm  
từ những đoạn trích dẫn; mọi văn bản đều là sự hấp  
thụ và biến đổi của một văn bản khác… Ngôn ngữ  
thơ phải được đọc ít nhất dưới dạng ngôn ngữ kép”  
[3, tr.26].  
Như vậy, theo Kristeva và những người đi trước bà, biệt là văn học Anh. Tất cả những gì mà người Mỹ kế  
một văn bản hoàn toàn không phải là một sáng tạo  
duy nhất có một không hai của nhà văn/nhà thơ. Khi  
“quy chiếu vào chính nó” như Focault đã nói, thì văn  
bản đó được soi rọi dưới ánh sáng của những tầng  
văn bản đã có trước nó. Những hình ảnh, biểu tượng,  
chủ đề… đều là sự lặp lại có thể vô thức, như những  
thừa ở văn học châu Âu đều được kết hợp với những  
chất liệu trong tính cách và truyền thống Mỹ để sáng  
tạo nên gương mặt văn học Mỹ vừa gần gũi lại vừa  
khác biệt với châu Âu. Trong tiểu luận Sự Mỹ hóa di  
a“If to imagine is to misinterpret, which makes all poems anti-  
thetical to their precursors, then to imagine aꢀer a poet is to learn his  
nghiên cứu của Freud, hoặc ý thức. Như vậy, một văn own metaphors for his acts of reading.”  
992  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998  
sản châu Âu (Americanization of European Heritage), mà họ đem theo cùng với lý tưởng của họ, không đâu  
ông viết:  
khác chính là cuốn Kinh ánh. Và trong thời khẩn  
“Quá trình du nhập di sản châu Âu hoặc cấy ghép hoang ấy, cuốn Kinh ánh hầu như là thứ sách vở  
chúng vào truyền thống Mỹ là việc làm cho cái chất duy nhất của họ, vừa là kim chỉ nam hướng dẫn đời  
liệu văn học như thế thích ứng với cách tư duy thực sống và tư tưởng, vừa là một phương tiện giải trí. Vì  
dụng này và từ đó lôi cuốn người đọc Mỹ bằng cách vậy, những ấn tượng mà cuốn Kinh ánh để lại trong  
trao cho nó cái mà người châu Âu gọi là dấu ấn hoặc ý thức của họ, và trở thành vô thức cho những thế hệ  
tính cách Mỹ” [5, tr.192].  
sau, là điều có thể xảy ra.  
Howard tin rằng từ Ralph Waldo Emerson và David  
oreau cho đến Walt Whitman, tất cả những tác gia  
danh giá ấy của nước Mỹ đã thừa hưởng và vận dụng  
một cách linh hoạt, khéo léo những truyền thống của  
châu Âu, kết hợp với sự trải nghiệm của bản thân để  
cho ra đời những triết lý, những tác phẩm tràn đầy  
sinh lực và sức sống Mỹ.  
“Nỗ lực sử dụng chất liệu văn học châu Âu và kiểm  
nghiệm nó bởi chiều dài cuộc đời của bản thân – để  
biến nó thành cái có ý nghĩa trong sự tự trải nghiệm  
– là tính chất Mỹ đặc thù, tôi tin như thế, có thể  
tìm thấy ở những nhà văn như Emerson và oreau,  
Hawthorne, Herman Melville, Edgar Allan Poe, và  
Walt Whitman” [5, tr.192-193].  
Và quả thực, Kristeva cũng đã nhìn nhận rằng sự đối  
thoại với những văn bản khác là một quá trình đối  
thoại đầy sáng tạo chứ không chỉ đơn giản là được lặp  
lại và tạo ra. Tính liên văn bản, do đó, không làm mất  
đi những chiều kích sáng tạo trong sáng tác, mà trái  
lại, chính sự thừa hưởng và tiếp nối đã tạo ra nhiều  
gương mặt đa dạng, phong phú, ghi đậm dấu ấn của  
một nhà văn, hoặc lớn hơn, của cả một dân tộc.  
Riêng đối với gia đình Dickinson, cha của bà, Ed-  
ward Dickinson, đọc một chương trong Kinh ánh  
mỗi ngày cùng với gia đình7. Kinh ánh, vì thế, ghi  
một dấu rất riêng biệt và độc đáo trong sáng tác của  
Dickinson. Đôi khi, bà dùng các hình ảnh trong Kinh  
ánh để minh họa cho cảm xúc về tôn giáo của mình,  
hoặc có khi nữ sĩ ấy lại dùng chúng như những phúng  
dụ cho những trải nghiệm trong cuộc sống mà bà đưa  
vào thử nghiệm với thơ.  
Nhữngámchỉ(allusion)vềKinhThánhnhưlà  
sự minh họa cho cảm xúc về tôn giáo  
Về mặt tôn giáo mà nói, Dickinson không phải là  
người “ngoan đạo” như định nghĩa chính xác của  
từ này, hay như những thành viên khác trong gia  
đình của bà, vốn xuất thân từ anh giáo. Trong  
tâm hồn Dickinson luôn có những tư tưởng nổi loạn  
đối với ượng Đế, Kinh thánh, và việc thực hành  
đạo, tuy không phải chống đối một cách kiên quyết,  
thẳng thừng, nhưng là một sự chất vấn đầy nữ tính8,9  
.
Những ám chỉ về Kinh ánh, vì thế, đa phần là để ghi  
lại cảm xúc và tư tưởng của bà về ượng Đế và việc  
hành đạo.  
THƠ DICKINSON VỚI NHỮNG CHIỀU  
KÍCH CỦA KINH THÁNH  
Trong khi nhiều người ở cùng thời đại và tôn giáo  
của bà tin rằng việc đi đến nhà thờ thường xuyên vào  
ngày Sa-bát sẽ đưa họ đến thiên đàng hạnh phúc sau  
này, Dickinson, với tư tưởng tự do và tâm hồn khoáng  
đạt, đôi chút nổi loạn, tin rằng bà không cần phải làm  
điều đó vào mỗi ngày Sa-bát. Bà đi ngược lại những  
gì được dạy: “Ngươi hãy nhớ ngày sa-bát, mà coi đó  
là ngày thánh” [10, tr.99], và quyết định ở nhà, mà  
vẫn có thể tận hưởng thiên đàng mỗi ngày. Bằng cách  
nào? Bà giải thích rằng bà có tất cả những thứ cần  
Gắn liền với cuộc đại di cư của những người anh  
giáo, tổ tiên của gia đình Dickinson, những người  
Anh di cư đến vùng đất thuộc địa Mỹ trên dải đất New  
England, thuộc tầng lớp khá giả của Anh quốc. Vì vậy,  
họ đến Mỹ không vì mục đích mưu sinh mà “để nghe  
theo tiếng gọi của một nhu cầu thuần trí tuệ.” Alexis  
de Tocqueville, một nhà nghiên cứu người Pháp, tác  
gia được cho rằng “hiểu nước Mỹ hơn cả người Mỹ”,  
đã nhận định như sau về những người lập nghiệp ở thiết cho một thánh lễ ở nhà: chim bobolink (một loài  
New England:  
“Tất cả, không ngoại trừ một trường hợp nào, đều  
được hưởng một nền giáo dục khá cao, và vô số người  
chim sẻ) thay cho ca đoàn, một khu vườn xinh xắn  
thay cho không gian nhà thờ, giọng hát của chú bé  
gióng chuông thay cho tiếng chuông nhà thờ, lời dạy  
trong bọn họ đã có tài năng và trình độ hiểu biết được của Chúa Trời trong Kinh ánh thay cho bài giảng  
châu Âu biết tới. Những khẩn địa khác đều được của mục sư. Chẳng phải tất cả những thứ bà đang tận  
thành lập bởi những kẻ phiêu lưu vô gia đình. Những hưởng ở nhà cũng được tạo ra bởi Chúa Trời sao? Và  
người di cư tới New England mang theo họ những yếu như vậy, sự tiếp xúc với ượng Đế mà bà có ở nhà  
tố trật tự và đạo lý tuyệt vời” [6, tr.81].  
gần gũi hơn nhiều so với những người đến nhà thờ  
Là những con người trí thức và đam mê sách vở, đến vào ngày Sa-bát. Vậy thiên đàng rõ ràng ở ngay bên  
vùng đất mới với “nhu cầu thuần trí tuệ”, hành trang bà chứ không phải ở cuối đoạn đường của cuộc sống.  
993  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998  
So instead of getting to Heaven, at last –  
I’m going, all along.  
Và các thánh chạy ra ô cửa sổ  
Để nhìn gã say sưa  
Đang tựa vào mặt trời)  
(Nên thay vì cuối đời mới chạm cửa iên đàng  
Em đang ở đó, mỗi ngày.)b  
(#324)c  
(#214)  
Tôn giáo của Dickinson là tôn giáo của chính lương  
Nhưng nhận thức của Dickinson về iên đàng tâm bà, là những gì bà tin là đúng, là phải, chứ không  
không dừng lại ở đó. iên đàng còn mang dáng phải là một niềm tin đại trà mà mọi người bước theo.  
dấp của những gì tươi đẹp mà Dickinson, vì một lý Tôn giáo đó là những tươi đẹp ngọt ngào của cuộc  
do nào đó, đã không thể với tới được. Đó có thể là sống mà bà tận hưởng, và cả những đắng cay chua  
những buổi chiều nhuộm hoàng hôn tím của ngày chát của nó, chứ không phải tôn giáo của những luật  
hôm qua không bao giờ tìm thấy được nữa trong hôm lệ khắt khe, của một ượng Đế vô hình và không thể  
nay hay những ngày sắp tới: “teasing purples – aꢀer- tiếp cận. Như vậy, mối liên hệ với ượng Đế của  
noons… that spurned us – yesterday.” (sắc tím trêu Dickinson không phải là một mối liên hệ mơ hồ, khó  
ghẹo – những buổi chiều… đã bỏ ta – ngày hôm qua xác định, thiếu tin tưởng như nhiều học giả vẫn tin,  
rồi). Dickinson nhận ra rằng “Quả táo” trong vườn mà là một mối quan hệ chuyển dịch qua nhiều giai  
địa đàng luôn hiện hữu, là tượng trưng cho những đoạn để kết thúc ở tình yêu và niềm tin. Nói cách  
khoảnh khắc vô vọng trong cuộc đời bà. Vì vậy, iên khác, sau khi khám phá ượng đế và tôn giáo qua  
đàng không tươi đẹp vì nó là nơi cất giữ những thứ mà những ám chỉ trong Kinh thánh mà bà trải nghiệm với  
Dickinson không thể với tới được nữa, như “quả táo” thơ, niềm tin của Dickinson chuyển động từ “thống  
luôn treo lơ lửng trong vườn địa đàng.  
Heaven is what I cannot reach  
e Apple on the Tree —  
Provided it do hopeless – hang  
at – “Heaven” is – to Me!  
trị đến phục tùng, từ sự thẳng thừng trẻ con đến sự  
tinh tế hóm hỉnh, từ nỗi cô đơn đến tình yêu”e [8, tr.  
203]. Sự giận dữ thuở ban đầu của một tâm hồn non  
nớt, thiếu tin tưởng “Of course – I prayed – And did  
God care?” (Dĩ nhiên – tôi cầu nguyện – Nhưng Chúa  
có quan tâm?) hay “My prayer away I threw…” (Ta vứt  
lời kinh nguyện…) đã không còn nữa; thay vào đó là  
một tình yêu và sự tôn trọng dành cho những gì mà  
bà nhận ra mình đã được trao tặng bởi ượng Đế.  
God gave a Loaf to every Bird –  
(“iên đàng” – là những gì tôi không thể chạm tới  
Quả táo lơ lửng trên cây –  
Khi nào nó còn lửng lơ trong tuyệt vọng  
Đó – là “iên đàng” với tôi!)  
But just a Crumb – to Me –  
I dare not eat it  
(#239)  
My poignant luxury  
Có thể nhận thấy rằng với Dickinson, tôn giáo là  
một điều thực tế, gần gũi với cuộc sống của chính  
bà chứ không phải ở đâu xa vời; vì vậy, khi bà tận  
To own it, touch it –  
hưởng những ngọt ngào của cuộc sống mà bà tin Prove the feat – that made the Pellet mine  
rằng đó chính là tôn giáo thiêng liêng, thì ngay cả Too happy – for my Sparrow’s chance  
các thiên thần, dù đó là Sê-ra-phim, Khê-ru-bimd hay For Ampler Coveting  
các thánh cũng phải ngả mũ trước những điều thiêng  
liêng ấy trong cuộc sống.  
It might be Famine – all around –  
I could not miss an Ear –  
Such plenty smiles upon my Board –  
My Garner shows so fair –  
Till Seraps swing their snowy Hats  
And Saints – to windows run  
To see the little Tippler  
Leaning against the Sun!  
(Tới khi Sê-ra-phim lắc lắc chiếc mũ tuyết trắng  
I won der how the Rich – may feel –  
An Indiaman – An Earl –  
bPhần dịch nghĩa của thơ là do người viết thực hiện.  
cVì hầu hết tất cả những bài thơ của Dickinson không có tựa đề,  
nên chúng đã được đánh số bởi các nhà nghiên cứu và được xuất bản  
thành tập thơ đầy đủ đầu tiên của bà vào năm 1955, bởi nhà xuất bản  
Đại học Harvard với nhan đề e Complete Poems of Emily Dickinson.  
Những bài thơ trong bài viết này được trích ra từ tập thơ đó, in lần 2  
bởi nhà xuất bản Little, Brown & Company, Toronto, Canada.  
dSê-ra-phim (Seraphs) và Khê-ru-bim (Cherubim) là các phẩm  
trật thiên thần theo giáo lý của Giáo hội Công giáo La Mã.  
I deem that I – with but a Crumb  
Am Sovereign of them all.  
(ượng Đế ban cho mỗi chú chim một ổ bánh mì  
e“Dickinson... wheels from dominance to submission, from  
childish directness to arch sophistication, from loneliness to love.”  
994  
       
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998  
Nhưng chỉ một vụn bánh – cho tôi  
Tôi không dám ăn – dù đang chết đói  
Nỗi xa xỉ cồn cào  
Quá xa xỉ để sở hữu, chạm vào, hay chứng tỏ  
Rằng tôi thật sự xứng đáng  
Quá hạnh phúc với cơ hội nhỏ nhoi của tôi  
Cho một sự khát khao  
Nạn đói có thể quanh đây  
Tôi không thể lầm được  
Những nụ cười trên bàn ăn của tôi  
Kho lương thực dư dật  
Tôi tự hỏi những người giàu cảm thấy thế nào  
Chiếc tàu buôn – Ngài Bá tước  
Tôi đồ rằng tôi – với mẩu vụn bánh mì  
Giàu có hơn tất cả trong số họ)  
Những phúng dụ (allegory) được mở rộng từ  
Kinh Thánh  
Không chỉ dùng những ám chỉ trong Kinh thánh để  
bộc lộ cảm xúc của mình, Dickinson còn mở rộng  
những câu chuyện của Kinh ánh thành những suy  
tư mà bà có trong cuộc đời. Qua đó, người đọc dễ  
dàng nhận ra sự nhạy cảm trong tâm hồn bà trước  
những biến đổi nhanh chóng của cuộc sống.  
Một trong những câu chuyện mà Dickinson sử dụng  
là câu chuyện David và Goliath, một câu chuyện rất  
quen thuộc trong Kinh thánh Cựu ước, sách Samuel  
quyển 1, chương 17 [10, tr.322-324]. Goliath, người  
Philitine, thù địch của người Israel, là một gã to lớn  
đầy sức mạnh. Nhờ Goliath mà quân Philitine đã  
nhiều lần khiến quân Israel kinh hồn bạt vía. David,  
trái lại, là một chàng trai trẻ nhỏ nhắn, ưa nhìn với mái  
tóc màu hung, người Israel. Chàng có tài bắn cung  
(#791)  
Vụn bánh nhỏ “crumb” cũng là một hình ảnh trích thiện nghệ, tinh thần quả cảm, và đầu óc mưu lược  
xuất từ Kinh thánh Tân ước [8, tr.1308-1309]. Khi sắc sảo nên đã xin vua Israel đối đầu với tên Goliath  
một người đàn bà ngoại giáo người Hy Lạp thuộc xứ ngạo mạn và báng bổ đó. Goliath giương giương tự  
Xy-ri-a đến xin Chúa Giê-su trừ quỷ cho con gái bà, đắc khi nhìn thấy David trên chiến trường; tuy nhiên,  
Chúa đã nói: “Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì nhờ tài thiện xạ của mình và sự phó thác tin tưởng vào  
không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho ượng Đế của Israel, David đã hạ gục Goliath chỉ với  
chó con”, với ngụ ý người Do ái như những đứa một viên đạn sỏi cắm sâu ngay giữa trán của nó. Sau  
đó, chàng dùng gươm chặt đầu tên Goliath kiêu căng,  
khiến đội quân Philitine hoảng sợ và bỏ chạy. Israel  
được giải thoát, vui mừng hò reo chiến thắng.  
Trong một bài thơ ngắn của mình, Dickinson viết:  
I too k my Power in my Hand –  
And went against the World  
‘Twas not so much as David – had –  
But I – was twice as bold –  
con trong nhà, còn người ngoại được ví như chó con,  
và phép lạ chỉ được thực hiện cho dân Do ái trước.  
Ngài nói điều này vì muốn thử thách đức tin và lòng  
kiên nhẫn của người phụ nữ. Nhưng bà trả lời: “ưa  
Ngài, đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn lại  
được ăn những mảnh vụn của đám trẻ con.” Nghe  
những lời đó, Chúa Giê-su đã chữa lành cho con gái  
bà. Từ hình ảnh của Kinh ánh, người đọc có thể  
dễ dàng nhận ra tình yêu và sự khiêm tốn của Dick-  
inson trong bài thơ, khi bà cũng tự nhận mình xứng I aimed Pebble – but Myself  
đáng với vụn bánh nhỏ, và cảm thấy hạnh phúc với Was all the one that fell –  
vụn bánh được trao tặng cho bà.  
Was it Goliath – was too large –  
Or was myself – too small?  
Bằng cách liên văn bản thơ của mình với Kinh ánh,  
Dickinson đã tự tạo nên một tôn giáo của chính mình,  
vẽ nên một hình ảnh của ượng Đế và iên đàng  
(Tôi thu hết sức mình trong tay  
cho chính mình. Những ám chỉ trong Kinh thánh Để chống lại thế giới  
được Dickinson sử dụng trong thơ đã một phần phục Dù không mạnh mẽ như David  
vụ cho mục đích của bà: ghi lại những cảm xúc mà Nhưng tôi can đảm gấp hai  
bà có đối với tôn giáo, ượng Đế và việc hành đạo.  
Qua đó, một khuôn mặt mới lạ của ượng Đế được Tôi nhắm hòn sỏi – nhưng chính tôi  
làm nổi bật lên, khác với ượng Đế mà những người Lại là người gục ngã  
cùng đạo tôn thờ, một tôn giáo của tâm hồn được Có phải vì Goliath quá to lớn  
phác họa, và một cách hành đạo không giống bất kỳ Hay chỉ vì tôi quá nhỏ nhoi?)  
người nào trong cộng đồng, bởi vì bắt đầu từ năm 30  
tuổi, bà đã ngưng không đến nhà thờ. Dickinson, với (#540)  
những liên văn bản mà bà sử dụng trong thơ, đã đưa Bài thơ gợi nhắc lại câu chuyện Kinh thánh kể trên,  
người đọc vào cả hai thế giới, thế giới của niềm tin đại nhưng còn được Dickinson mở rộng ra thành những  
trà và thế giới của tôn giáo do chính bà sáng tạo ra.  
chất vấn trong cuộc sống. Goliath có thể tượng trưng  
995  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998  
cho cuộc sống quanh Dickinson, một đời sống mà đối Cho đến khi nó quá nặng nề  
với bà có thể quá mạnh mẽ, hồ hởi, mà trái tim của Nhưng – lạ nhất là – nặng hơn từ lúc nó ra đi  
Nó có quá lớn với ngài không?)  
bà lại mong manh, nhạy cảm, bé nhỏ như David. Có  
phải vì vậy mà bà nhận thấy rằng, khác với câu chuyện  
trong Kinh ánh, chính trái tim nhỏ nhoi của bà lại  
là kẻ bị gục ngã trước sức mạnh vũ bão của cuộc sống?  
Dù Dickinson đã cố gắng tập trung tất cả sức lực của  
mình: “I took my Power in my Hand … and I – was  
twice as bold”, tâm hồn bà dường như vẫn quá nhạy  
cảm và yếu đuối. Phải chăng vì thế mà Dickinson đã  
chọn một cuộc sống ẩn dật bên những gì nhẹ nhàng,  
quen thuộc, để bảo vệ tâm hồn và trái tim mỏng mảnh  
của mình? Có lẽ điều này đúng, vì trong một lá thư  
bà gửi cho Elizabeth Holland khi bà phải chuyển nhà,  
Dickinson thổ lộ rằng bà cảm thấy như bị lạc giữa sự  
mới mẻ lạ lẫm, đến nỗi phải “chong đèn bước ra để  
tìm lại chính mình”f [11, tr.81], dù ngôi nhà mới chỉ  
cách gia trang cũ có vài dãy phố.  
Trong một bài thơ khác, Dickinson mở rộng từ câu  
chuyện về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su, việc Chúa  
phải tự vác cây thập giá của mình đến đồi Calvary  
để lính La Mã đóng đinh vào cây thập giá đó, như  
một hình phạt dành cho những kẻ gây rối loạn xã hội.  
Những người theo Ki-tô giáo, vì thế, thường nói ví  
von việc vác thập giá mình – những khó khăn, gian  
khổ - chính là một cách bước theo con đường của  
Đấng sáng lập. Dickinson, thay vì dùng hình ảnh  
“thập giá”, đã viện đến một hình ảnh khác tình cảm  
hơn và có thể giàu sức tưởng tượng hơn: trái tim.  
Savior! I’ve no one else to tell—  
(#217)  
Rõ ràng bài thơ làm người đọc nghĩ ngay đến câu  
chuyện khổ nạn với danh từ riêng “Savior” (người cứu  
độ) và động từ “carry” (mang, vác), nhưng hình ảnh  
“trái tim” lại khiến người đọc hơi khựng lại. ật dễ  
hiểu, dễ đoán nếu trong bài thơ xuất hiện hình ảnh  
“thập giá.” Nhưng không, với Dickinson, đó không  
phải là một thập giá mà là một trái tim, một trái tim  
đã càng ngày càng nặng nề khiến bà không đủ sức  
mang nó nữa, giống như Chúa Giê-su cũng đã vài lần  
gục ngã vì sức nặng của thập giá trên đường đến đồi  
Calvary. Không biết những tình cảm nào chất chứa  
trong trái tim khiến bà cảm thấy nặng nề như thập  
giá, nhưng ta biết rằng, một lần nữa, tâm hồn Dickin-  
son rất mong manh, dù cá tính bà có độc đáo và mạnh  
mẽ thế nào đi nữa!  
KẾT LUẬN  
Với những ám chỉ và phúng dụ từ Kinh ánh, Dick-  
inson đã bộc lộ cho người đọc thấy một phần tâm hồn  
của bà: vừa mạnh mẽ, nổi loạn, với một tôn giáo và  
ượng Đế của riêng bà, lại vừa mỏng manh, nhạy  
cảm trước cuộc sống và con người. Vì Kinh ánh  
gắn bó chặt chẽ với văn hoá và cuộc sống của Emily  
Dickinson, tính kết nối văn bản giữa thơ Dickinson  
và Kinh ánh là điều có thể hiểu được. Với tinh thần  
tự do phóng khoáng như thế, Dickinson có thể được  
xem như là một đại diện cho tinh thần Mỹ, với tính  
cá nhân độc đáo, sáng tạo. Quả thật, tuy là một nhà  
thơ nữ ẩn dật, bà lại luôn được xếp ngang hàng với  
Walt Whitman, một tượng đài thơ Mỹ. Bên cạnh đó,  
sự nhạy cảm trong tâm hồn của nữ sĩ lại giúp bà thoát  
khỏi tính cơ giới của một cuộc sống nhiều với biến  
đổi vũ bão, và giữ được sự nối kết sâu xa với thế giới  
tâm linh của chính mình. Người viết hy vọng bài viết  
ngắn này có thể mở ra một góc nhìn tham khảo về  
tâm hồn và cuộc đời thơ của Dickinson trong sự kết  
nối với truyền thống và sáng tạo cá nhân mà những  
sáng tác của bà đã thể hiện một cách chân thật và sinh  
động.  
And so I trouble thee.  
I am the one forgot thee so—  
Dost thou remember me?  
Nor, for myself, I came so far—  
at were the little load—  
I brought thee the imperial Heart  
I had not strength to hold—  
e Heart I carried in my own—  
Till mine too heavy grew—  
Yet—strangest—heavier since it went—  
Is it too large for you?  
(Lạy Đấng cứu độ! Con chẳng có ai để tỏ –  
Nên con phiền đến ngài  
Con đã thường lãng quên ngài –  
Ngài còn nhớ con chăng?  
Con đến với ngài chẳng phải vì con  
Đó là một gánh rất nhẹ  
Con đem đến ngài một trái tim to lớn  
Mà con chẳng còn sức mạnh để chịu được  
Trái tim mà con phải tự mình mang vác  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Bản thảo này không có xung đột lợi ích.  
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ  
Bài viết chỉ do tác giả thực hiện. Bài viết này đóng góp  
thêm một góc nhìn tham khảo trong những hướng  
khảo sát thơ Dickinson. Tuy đã có vài nghiên cứu liên  
văn bản trong thơ Dickinson được thực hiện ở Mỹ,  
f“I am out with lanterns, looking for myself.”  
996  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998  
nhưng các nghiên cứu đó hầu như tập trung vào sự  
trưởng thành của niềm tin trong đời sống tâm linh  
của Dickinson, hoặc chỉ ra những điểm liên văn bản  
trong thơ Dickinson với Kinh ánh, chứ không nhấn  
mạnh hay phân tích những trải nghiệm về tôn giáo  
trong cuộc sống mà bà đưa vào thử nghiệm với thơ  
như trong bài nghiên cứu này. Hơn nữa, bài viết  
này giới thiệu được những bài thơ chưa phổ biến với  
người đọc Việt Nam, vì chưa được dịch ra.  
5. Howard L. Americanization of the European Heritage. Trần  
Thị Quỳnh Thuận dịch. Trong Những cuộc hội ngộ của Văn  
chương thế giới. Văn học so sánh: Nghiên cứu và dịch thuật.  
TP. HCM: NXB Văn hóa Văn nghệ. 2019;p. 191–203.  
6. Tocqueville AD. Nền dân trị Mỹ. Phạm Toàn dịch. Hà Nội: NXB  
Tri Thức. 2016;.  
7. Farstad AL. Jesus and Emily: The Biblical Roots of Emily  
Dickinson’s Poetry. Journal of the Grace Evangelical Soci-  
ety. 1991;4(2). Available from: https://faithalone.org/journal/  
8. Ladin J. Meeting Her Maker: Emily Dickinson’s God. Trong  
Harold Bloom, Emily Dickinson. New York: Infobase Publish-  
ing. 2008;.  
9. Ostriker A. Re-Playing the Bible: My Emily Dickinson. Trong M.  
N. Smith & M. Loeffelhoiz (Eds.). A Companion to Emily Dick-  
inson. Oxford: Blackwell. 2008;Available from: https://doi.org/  
10. Nhóm Phiên dịch các giờ Kinh Phụng vụ (biên tập). Kinh  
Thánh trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước. TP.HCM: NXB TP.HCM.  
2002;.  
11. Benfey CEG. A Route of Evanescence: Emily Dickinson and  
Japan. Trong The Emily Dickinson Journal. 2007;16(2):81–93.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trương L. Phân tâm học và Phê bình Văn học. Hà Nội: NXB Phụ  
Nữ. 2011;.  
2. Leich VB, et al. The Norton Anthology of Theory and Criticism.  
New York: W.W. Norton & Company, Inc. 2010;.  
3. Lập NT. Văn chương như là quá trình dụng điển. Hà Nội: NXB  
ĐHQG Hà Nội. 2017;.  
4. Harold B. The Anxiety of Influence. Oxford: Oxford University  
Press. 1997;.  
997  
                     
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 5(2):991-998  
Research article  
Open Access Full Text Article  
Intertextuality in Emily Dickinson’s poetry  
Pham Thi Hong An*  
ABSTRACT  
A text is absolutely not a writer's genuine creation, but principally it receives the material and is  
altered from another text. The concept of intertextuality is constructed by Julia Kristeva (1941-  
), stressing the interconnection between a text and other prior ones. Intertextuality can be in the  
form of topics, motifs, images, symbols, and so on, constantly employed by the writer either uncon-  
sciously, as believed by Freud, or consciously. In so doing, intertextuality, however, does not mean  
to diminish creativity in writing; on the contrary, it diversifies the process. Emily Dickinson (1830 –  
1886), a talented but reclusive American poet, has utilized quite a number of images, symbols, and  
tales in the Bible, the text of considerable influence in her culture and society, in her poems. Her  
intertextuality with the Bible sophisticatedly proves her thoughts of the religion and its practice.  
Her religious experiences, which are interwoven in her poetry, reveal the spirit of liberty and sensi-  
tiveness she possesses. Bearing such philosophy in poetry and life, Dickinson can be regarded as a  
symbol of American soul with unique and creative individualism. This paper will analyze and clarify  
the aforementioned proposition, principally using the method of intertextual criticism.  
Key words: intertextuality, Kristeva, Dickinson, Bible  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
University of Social Sciences &  
Humanities, VNU-HCM, Vietnam  
Correspondence  
Pham Thi Hong An, University of Social  
Sciences & Humanities, VNU-HCM,  
Vietnam  
Email: [email protected].vn  
History  
• Received: 10/12/2020  
• Accepted: 05/5/2021  
• Published: 12/5/2021  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.608  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : An P T H. Intertextuality in Emily Dickinson’s poetry. Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.;  
5(2):991-998.  
998  
pdf 8 trang yennguyen 16880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tính liên văn bản trong thơ Emily Dickinson", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_lien_van_ban_trong_tho_emily_dickinson.pdf