Tính liên văn bản trong thơ Emily Dickinson
Tạp chí Phát t riển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998
Bài nghiên cứu
Open Access Full Text Article
Tính liên văn bản trong thơ Emily Dickinson
Phạm Thị Hồng Ân*
TÓM TẮT
Một văn bản hoàn toàn không phải là một sáng tạo duy nhất có một không hai của nhà văn/nhà
thơ, mà về cơ bản nó là sự tiếp nhận và biến đổi từ một văn bản khác. Khái niệm liên văn bản, được
xây dựng bởi Julia Kristeva (1941-), đề cập đến tính giao tiếp giữa một văn bản với một hay nhiều
văn bản trước nó, bằng các hình thức như biểu tượng, hình ảnh, chủ đề… được sử dụng một cách
vô thức, như quan niệm của Sigmund Freud, hay một cách ý thức. Sự kết nối như thế giữa các văn
bản không làm nghèo đi tính sáng tạo trong sáng tác mà trái lại, làm mới hơn và phong phú hơn
diện mạo của văn bản. Emily Dickinson (1830 – 1886), một nữ văn sĩ người Mỹ, với tâm hồn nhạy
cảm và sự yêu thích lối sống ẩn dật, đã dùng những hình ảnh và câu chuyện trong Kinh Thánh,
một văn bản gắn liền với đời sống văn hóa xã hội của Dickinson, để nói lên những suy tư của bà
về tôn giáo và việc thực hành đạo. Những trải nghiệm về tôn giáo mà bà đưa vào thơ như một
thử nghiệm cá nhân, đã một cách kín đáo bộc lộ cho người đọc thấy rõ những tư tưởng phóng
khoáng cùng những mong manh nhạy cảm trong tâm hồn bà. Với tinh thần như thế, Dickinson
có thể được xem như là một đại diện cho tinh thần Mỹ, với tính cá nhân độc đáo, sáng tạo. Bài viết
này sẽ phân tích và làm rõ những ý trên bằng phương pháp nghiên cứu chính là phê bình liên văn
bản.
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
Từ khoá: liên văn bản, Julia Kristeva, Dickinson, Kinh Thánh
Liên văn bản và sự kết nối
MỞ ĐẦU
Julia Kristeva (24/6/1941-) được xem là người đầu
tiên giới thiệu khái niệm “liên văn bản” – intertextu-
ality – như một thuật ngữ nghiên cứu văn học, nhưng
bà lại không phải là người đầu tiên nhận ra tính chất
độc đáo này của văn bản. Trước bà, nhiều học giả đã
đề cập đến điều này, ở nhiều mức độ và với những
cách thức khác nhau, bằng những tên gọi khác nhau.
Các hình ảnh và chủ đề Kinh ánh được nhận
thấy trong khá nhiều tác phẩm của các tác gia Mỹ
thời đại lãng mạn, như e Scarlet Letter (1850) của
Nathaniel Hawthorne, Moby Dick (1851) của Herman
Melville… Emily Dickinson (1830 – 1886), một nhà
thơ Mỹ trong cùng thời đại, sinh trưởng trong một gia
đình Tin lành Calnivist mà gốc gác của họ là anh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt Nam
Liên hệ
giáo, cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Kinh ánh. Kristeva là người có công trong việc đặt tên cho một
Phạm Thị Hồng Ân, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt
Nam
Đã có vài nghiên cứu xem xét mức độ liên văn bản
của Kinh ánh trong toàn bộ thơ ca của bà, nhưng
chủ yếu ở khía cạnh tìm hiểu sự trưởng thành về niềm
tin trong đời sống tâm linh của Dickinson, hoặc chỉ
đơn giản đưa ra những điểm liên văn bản trong thơ
Dickinson với Kinh ánh mà không có sự giải thích
hay phê bình nào. Có lẽ các tác giả ấy đã mặc nhiên
cho rằng những hình ảnh và chủ đề Kinh ánh đã
quá gần gũi và quen thuộc chăng? Tuy nhiên, cho dù
Kinh ánh có là bộ sách bán chạy và phổ biến nhất
trên toàn thế giới như thế nào, thì vẫn cần một sự lý
giải và phân tích thấu đáo tính liên văn bản ấy, để có
cơ sở khám phá thêm những nét độc đáo trong tư duy
của một tác giả, đặc biệt đối với nhà thơ nữ ẩn danh
như Emily Dickinson.
khái niệm mà trước giờ nó chỉ được định hình một
cách mơ hồ và hầu như chưa được định danh; đồng
thời bà đã phát triển khái niệm đó thành một phần
trong hệ thống lý luận văn học.
Email: [email protected].vn
Lịch sử
Sigmund Freud (1856-1939) là một nhà phân tâm học
có lòng đam mê văn học nghệ thuật, và đã có những
phát hiện độc đáo liên quan đến tính liên văn bản
trong văn học, dù lúc đó ông chưa gọi tên của nó. Việc
nghiên cứu văn học của ông thật ra là để phục vụ cho
công việc chính của ông: một bác sĩ phân tâm học; thế
nhưng những đóng góp của ông cho văn học lại không
hề nhỏ. Khi nghiên cứu về hoạt động của vô thức,
ông đã dùng phương pháp xếp chồng các văn bản lên
nhau, và phát hiện ra các chủ đề đã có từ xưa được các
nhà văn sử dụng lặp đi lặp lại một cách vô thức. eo
rằng hai chủ đề “ba cái tráp” và “ba người con gái” là
chủ đề của nhiều tác phẩm xưa như chuyện phân xử
• Ngày nhận: 10/12/2020
• Ngày chấp nhận: 05/5/2021
• Ngày đăng: 12/5/2021
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.608
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
LIÊN VĂN BẢN – SỰ KẾT NỐI VÀ
SÁNG TẠO
Trích dẫn bài báo này: Ân P T H. Tính liên văn bản trong thơ Emily Dickinson. Sci. Tech. Dev. J. - Soc.
Sci. Hum.; 5(2):991-998.
991
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998
của Pâris trong ần thoại Hy Lạp, truyện ngụ ngôn bản có tính giao tiếp với những văn bản khác, và việc
Pyché của Apulee (thế kỷ 2), truyện Cô bé Lọ Lem
của Charles Perrault (1628-1703) hay các truyện cổ
tích của anh em nhà Grimm… [tr.97] trong cuốn Tiểu
luận về môn Phân tâm học ứng dụng và Chất liệu của
truyện hoang đường trong những giấc mơ của chính
Freud. Như vậy, phương pháp “xếp chồng” của Freud
thoạt nhìn có vẻ hơi thô sơ, nhưng ông đã kết nối được
các tác phẩm từ cổ xưa đến hiện đại, và đã nhận ra đặc
tính giao tiếp với nhau giữa các văn bản này.
hiểu những văn bản khác luôn đem lại những hiểu
biết mới mẻ và sâu rộng hơn cho những văn bản hiện
thời. ực vậy, Umberto Eco (1932-2016) trong Tên
của đóa hồng (e Name of the Rose), cuốn tiểu thuyết
được ông viết theo lý thuyết Ký hiệu học, đã khẳng
định những cuốn sách có khả năng giao tiếp với nhau.
Nhưng nếu chỉ là lặp lại những gì đã có trong văn bản
trước nó, phải chăng nhà văn chỉ là người sao chép?
Lẽ nào ai cũng có thể trở thành nhà văn/nhà thơ? Lý
thuyết liên văn bản, trái lại, đã cho người đọc hiểu rõ
hơn giá trị của văn bản, của việc sáng tác, chứ không
xem nhẹ vai trò của sáng tác.
Trong giai đoạn của các lý thuyết gia Hậu cấu trúc
(Poststructuralists), Giải kiến tạo (Deconstructionists)
và Hậu hiện đại (Postmodernists) vào khoảng nửa cuối
thế kỷ XX, với những tư tưởng có ảnh hưởng mạnh
mẽ và đảo lộn truyền thống của lý luận văn học, họ
đã đi đến một kết luận chung là các văn bản không
còn một ý nghĩa xác định nào nữa. Cái được biểu đạt
(the signified) không còn liên kết chặt chẽ và sở chỉ
đến cái biểu đạt (the signifier) đã được quy ước như
trong lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại của Ferdinand
de Saussure (1857-1913) nữa. Cái được biểu đạt giờ
đây trôi nổi (floating signifieds) và tạo nên những mối
liên kết bất kỳ mà nó tự thấy có lý. Roland Barthes
(1915-1980), người thầy của Kristeva, cho rằng văn
bản mang tính đa nghĩa. Tính đa nghĩa này không
phải do tính chất mơ hồ của nội dung quyết định, mà
tính đa nghĩa của văn bản là do những cái biểu đạt
1238]. Nói cách khác, Barthes giải thích rằng một văn
bản mang tính đa nghĩa vì những cái biểu đạt mà nó
sở chỉ không cố định; chúng có thể có nguồn gốc ở
những văn bản khác chứ không chỉ là những gì mà
nhà văn dự định nói đến. Chính vì vậy mà Michel
Focault (1926-1984) cho rằng “việc viết ngày nay đã
tự giải thoát khỏi nhu cầu ‘diễn đạt’; nó chỉ còn quy
Liên văn bản và sự sáng tạo không ngừng
Harold Bloom (1930-2019) cho rằng khi đọc một văn
bản, chính việc diễn giải sai văn bản đó (misinterpreta-
tion) đã dẫn đến sự sáng tạo ra những văn bản mới, và
qua đó, các tác gia đạt được tính cá nhân đặc sắc trong
sáng tác của mình, dựa trên nền những tác phẩm mà
họ đã đóng vai trò là người đọc. Trong cuốn Những
Ưu tư về Sự Ảnh Hưởng (e Anxiety of Influence), ông
viết:
“Nếu tưởng tượng là việc diễn giải lầm lạc, làm cho
mọi bài thơ là phản đề của những sáng tác trước đó,
thì việc tưởng tượng theo sau một nhà thơ đồng nghĩa
với việc học hỏi những gì mà nhà thơ ấy đã ngụ ý từ
Nói cách khác, Bloom cho rằng mỗi bài thơ đều là sự
lặp lại của bài thơ trước nó, và mỗi nhà thơ phải trải
qua cuộc vật lộn với chính người đi trước của mình để
hình thành một sự đọc sai đầy sáng tạo mà qua đó, bản
sắc của họ được thể hiện. Ông quả quyết rằng những
truyền thống đã được khắc sâu trong tâm khảm chúng
ta, và chúng ta không thể trốn tránh thực tế đó, vì
như vậy là tự lừa dối mình, rằng chúng ta chỉ có thể là
“những kẻ đến sau” mà thôi. Nhưng chính vì vậy mà
chúng ta có “đất” để tạo ra một “chúng ta” vừa giống
lại vừa khác.
Phát triển tư tưởng của những người đi trước và đặc
biệt người thầy của mình là Roland Barthes, Julia
Kristeva đã đưa ra lý thuyết “liên văn bản” – intertex-
tuality, trong đó bà khẳng định:
Cũng vậy, Leon Howard đã khẳng định sự kế thừa
di sản văn học của những nền văn học lớn hơn luôn
mang tính dân tộc hóa hoặc địa phương hóa. Một
trường hợp điển hình mà ông nghiên cứu là thế hệ
những nhà văn ở Mỹ với di sản văn học châu Âu, đặc
“Mọi văn bản đều được cấu tạo như là một bức khảm
từ những đoạn trích dẫn; mọi văn bản đều là sự hấp
thụ và biến đổi của một văn bản khác… Ngôn ngữ
thơ phải được đọc ít nhất dưới dạng ngôn ngữ kép”
Như vậy, theo Kristeva và những người đi trước bà, biệt là văn học Anh. Tất cả những gì mà người Mỹ kế
một văn bản hoàn toàn không phải là một sáng tạo
duy nhất có một không hai của nhà văn/nhà thơ. Khi
“quy chiếu vào chính nó” như Focault đã nói, thì văn
bản đó được soi rọi dưới ánh sáng của những tầng
văn bản đã có trước nó. Những hình ảnh, biểu tượng,
chủ đề… đều là sự lặp lại có thể vô thức, như những
thừa ở văn học châu Âu đều được kết hợp với những
chất liệu trong tính cách và truyền thống Mỹ để sáng
tạo nên gương mặt văn học Mỹ vừa gần gũi lại vừa
khác biệt với châu Âu. Trong tiểu luận Sự Mỹ hóa di
a“If to imagine is to misinterpret, which makes all poems anti-
thetical to their precursors, then to imagine aꢀer a poet is to learn his
nghiên cứu của Freud, hoặc ý thức. Như vậy, một văn own metaphors for his acts of reading.”
992
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998
sản châu Âu (Americanization of European Heritage), mà họ đem theo cùng với lý tưởng của họ, không đâu
ông viết:
khác chính là cuốn Kinh ánh. Và trong thời khẩn
“Quá trình du nhập di sản châu Âu hoặc cấy ghép hoang ấy, cuốn Kinh ánh hầu như là thứ sách vở
chúng vào truyền thống Mỹ là việc làm cho cái chất duy nhất của họ, vừa là kim chỉ nam hướng dẫn đời
liệu văn học như thế thích ứng với cách tư duy thực sống và tư tưởng, vừa là một phương tiện giải trí. Vì
dụng này và từ đó lôi cuốn người đọc Mỹ bằng cách vậy, những ấn tượng mà cuốn Kinh ánh để lại trong
trao cho nó cái mà người châu Âu gọi là dấu ấn hoặc ý thức của họ, và trở thành vô thức cho những thế hệ
sau, là điều có thể xảy ra.
Howard tin rằng từ Ralph Waldo Emerson và David
oreau cho đến Walt Whitman, tất cả những tác gia
danh giá ấy của nước Mỹ đã thừa hưởng và vận dụng
một cách linh hoạt, khéo léo những truyền thống của
châu Âu, kết hợp với sự trải nghiệm của bản thân để
cho ra đời những triết lý, những tác phẩm tràn đầy
sinh lực và sức sống Mỹ.
“Nỗ lực sử dụng chất liệu văn học châu Âu và kiểm
nghiệm nó bởi chiều dài cuộc đời của bản thân – để
biến nó thành cái có ý nghĩa trong sự tự trải nghiệm
– là tính chất Mỹ đặc thù, tôi tin như thế, có thể
tìm thấy ở những nhà văn như Emerson và oreau,
Hawthorne, Herman Melville, Edgar Allan Poe, và
Và quả thực, Kristeva cũng đã nhìn nhận rằng sự đối
thoại với những văn bản khác là một quá trình đối
thoại đầy sáng tạo chứ không chỉ đơn giản là được lặp
lại và tạo ra. Tính liên văn bản, do đó, không làm mất
đi những chiều kích sáng tạo trong sáng tác, mà trái
lại, chính sự thừa hưởng và tiếp nối đã tạo ra nhiều
gương mặt đa dạng, phong phú, ghi đậm dấu ấn của
một nhà văn, hoặc lớn hơn, của cả một dân tộc.
Riêng đối với gia đình Dickinson, cha của bà, Ed-
ward Dickinson, đọc một chương trong Kinh ánh
một dấu rất riêng biệt và độc đáo trong sáng tác của
Dickinson. Đôi khi, bà dùng các hình ảnh trong Kinh
ánh để minh họa cho cảm xúc về tôn giáo của mình,
hoặc có khi nữ sĩ ấy lại dùng chúng như những phúng
dụ cho những trải nghiệm trong cuộc sống mà bà đưa
vào thử nghiệm với thơ.
Nhữngámchỉ(allusion)vềKinhThánhnhưlà
sự minh họa cho cảm xúc về tôn giáo
Về mặt tôn giáo mà nói, Dickinson không phải là
người “ngoan đạo” như định nghĩa chính xác của
từ này, hay như những thành viên khác trong gia
đình của bà, vốn xuất thân từ anh giáo. Trong
tâm hồn Dickinson luôn có những tư tưởng nổi loạn
đối với ượng Đế, Kinh thánh, và việc thực hành
đạo, tuy không phải chống đối một cách kiên quyết,
.
Những ám chỉ về Kinh ánh, vì thế, đa phần là để ghi
lại cảm xúc và tư tưởng của bà về ượng Đế và việc
hành đạo.
THƠ DICKINSON VỚI NHỮNG CHIỀU
KÍCH CỦA KINH THÁNH
Trong khi nhiều người ở cùng thời đại và tôn giáo
của bà tin rằng việc đi đến nhà thờ thường xuyên vào
ngày Sa-bát sẽ đưa họ đến thiên đàng hạnh phúc sau
này, Dickinson, với tư tưởng tự do và tâm hồn khoáng
đạt, đôi chút nổi loạn, tin rằng bà không cần phải làm
điều đó vào mỗi ngày Sa-bát. Bà đi ngược lại những
gì được dạy: “Ngươi hãy nhớ ngày sa-bát, mà coi đó
vẫn có thể tận hưởng thiên đàng mỗi ngày. Bằng cách
nào? Bà giải thích rằng bà có tất cả những thứ cần
Gắn liền với cuộc đại di cư của những người anh
giáo, tổ tiên của gia đình Dickinson, những người
Anh di cư đến vùng đất thuộc địa Mỹ trên dải đất New
England, thuộc tầng lớp khá giả của Anh quốc. Vì vậy,
họ đến Mỹ không vì mục đích mưu sinh mà “để nghe
theo tiếng gọi của một nhu cầu thuần trí tuệ.” Alexis
de Tocqueville, một nhà nghiên cứu người Pháp, tác
gia được cho rằng “hiểu nước Mỹ hơn cả người Mỹ”,
đã nhận định như sau về những người lập nghiệp ở thiết cho một thánh lễ ở nhà: chim bobolink (một loài
New England:
“Tất cả, không ngoại trừ một trường hợp nào, đều
được hưởng một nền giáo dục khá cao, và vô số người
chim sẻ) thay cho ca đoàn, một khu vườn xinh xắn
thay cho không gian nhà thờ, giọng hát của chú bé
gióng chuông thay cho tiếng chuông nhà thờ, lời dạy
trong bọn họ đã có tài năng và trình độ hiểu biết được của Chúa Trời trong Kinh ánh thay cho bài giảng
châu Âu biết tới. Những khẩn địa khác đều được của mục sư. Chẳng phải tất cả những thứ bà đang tận
thành lập bởi những kẻ phiêu lưu vô gia đình. Những hưởng ở nhà cũng được tạo ra bởi Chúa Trời sao? Và
người di cư tới New England mang theo họ những yếu như vậy, sự tiếp xúc với ượng Đế mà bà có ở nhà
gần gũi hơn nhiều so với những người đến nhà thờ
Là những con người trí thức và đam mê sách vở, đến vào ngày Sa-bát. Vậy thiên đàng rõ ràng ở ngay bên
vùng đất mới với “nhu cầu thuần trí tuệ”, hành trang bà chứ không phải ở cuối đoạn đường của cuộc sống.
993
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998
So instead of getting to Heaven, at last –
I’m going, all along.
Và các thánh chạy ra ô cửa sổ
Để nhìn gã say sưa
Đang tựa vào mặt trời)
(Nên thay vì cuối đời mới chạm cửa iên đàng
Em đang ở đó, mỗi ngày.)b
(#324)c
(#214)
Tôn giáo của Dickinson là tôn giáo của chính lương
Nhưng nhận thức của Dickinson về iên đàng tâm bà, là những gì bà tin là đúng, là phải, chứ không
không dừng lại ở đó. iên đàng còn mang dáng phải là một niềm tin đại trà mà mọi người bước theo.
dấp của những gì tươi đẹp mà Dickinson, vì một lý Tôn giáo đó là những tươi đẹp ngọt ngào của cuộc
do nào đó, đã không thể với tới được. Đó có thể là sống mà bà tận hưởng, và cả những đắng cay chua
những buổi chiều nhuộm hoàng hôn tím của ngày chát của nó, chứ không phải tôn giáo của những luật
hôm qua không bao giờ tìm thấy được nữa trong hôm lệ khắt khe, của một ượng Đế vô hình và không thể
nay hay những ngày sắp tới: “teasing purples – aꢀer- tiếp cận. Như vậy, mối liên hệ với ượng Đế của
noons… that spurned us – yesterday.” (sắc tím trêu Dickinson không phải là một mối liên hệ mơ hồ, khó
ghẹo – những buổi chiều… đã bỏ ta – ngày hôm qua xác định, thiếu tin tưởng như nhiều học giả vẫn tin,
rồi). Dickinson nhận ra rằng “Quả táo” trong vườn mà là một mối quan hệ chuyển dịch qua nhiều giai
địa đàng luôn hiện hữu, là tượng trưng cho những đoạn để kết thúc ở tình yêu và niềm tin. Nói cách
khoảnh khắc vô vọng trong cuộc đời bà. Vì vậy, iên khác, sau khi khám phá ượng đế và tôn giáo qua
đàng không tươi đẹp vì nó là nơi cất giữ những thứ mà những ám chỉ trong Kinh thánh mà bà trải nghiệm với
Dickinson không thể với tới được nữa, như “quả táo” thơ, niềm tin của Dickinson chuyển động từ “thống
luôn treo lơ lửng trong vườn địa đàng.
Heaven is what I cannot reach
e Apple on the Tree —
Provided it do hopeless – hang
at – “Heaven” is – to Me!
trị đến phục tùng, từ sự thẳng thừng trẻ con đến sự
203]. Sự giận dữ thuở ban đầu của một tâm hồn non
nớt, thiếu tin tưởng “Of course – I prayed – And did
God care?” (Dĩ nhiên – tôi cầu nguyện – Nhưng Chúa
có quan tâm?) hay “My prayer away I threw…” (Ta vứt
lời kinh nguyện…) đã không còn nữa; thay vào đó là
một tình yêu và sự tôn trọng dành cho những gì mà
bà nhận ra mình đã được trao tặng bởi ượng Đế.
God gave a Loaf to every Bird –
(“iên đàng” – là những gì tôi không thể chạm tới
Quả táo lơ lửng trên cây –
Khi nào nó còn lửng lơ trong tuyệt vọng
Đó – là “iên đàng” với tôi!)
But just a Crumb – to Me –
I dare not eat it
(#239)
My poignant luxury
Có thể nhận thấy rằng với Dickinson, tôn giáo là
một điều thực tế, gần gũi với cuộc sống của chính
bà chứ không phải ở đâu xa vời; vì vậy, khi bà tận
To own it, touch it –
hưởng những ngọt ngào của cuộc sống mà bà tin Prove the feat – that made the Pellet mine
rằng đó chính là tôn giáo thiêng liêng, thì ngay cả Too happy – for my Sparrow’s chance
các thánh cũng phải ngả mũ trước những điều thiêng
liêng ấy trong cuộc sống.
It might be Famine – all around –
I could not miss an Ear –
Such plenty smiles upon my Board –
My Garner shows so fair –
Till Seraps swing their snowy Hats
And Saints – to windows run
To see the little Tippler
Leaning against the Sun!
(Tới khi Sê-ra-phim lắc lắc chiếc mũ tuyết trắng
I won der how the Rich – may feel –
An Indiaman – An Earl –
bPhần dịch nghĩa của thơ là do người viết thực hiện.
cVì hầu hết tất cả những bài thơ của Dickinson không có tựa đề,
nên chúng đã được đánh số bởi các nhà nghiên cứu và được xuất bản
thành tập thơ đầy đủ đầu tiên của bà vào năm 1955, bởi nhà xuất bản
Đại học Harvard với nhan đề e Complete Poems of Emily Dickinson.
Những bài thơ trong bài viết này được trích ra từ tập thơ đó, in lần 2
bởi nhà xuất bản Little, Brown & Company, Toronto, Canada.
dSê-ra-phim (Seraphs) và Khê-ru-bim (Cherubim) là các phẩm
trật thiên thần theo giáo lý của Giáo hội Công giáo La Mã.
I deem that I – with but a Crumb
Am Sovereign of them all.
(ượng Đế ban cho mỗi chú chim một ổ bánh mì
e“Dickinson... wheels from dominance to submission, from
childish directness to arch sophistication, from loneliness to love.”
994
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998
Nhưng chỉ một vụn bánh – cho tôi
Tôi không dám ăn – dù đang chết đói
Nỗi xa xỉ cồn cào
Quá xa xỉ để sở hữu, chạm vào, hay chứng tỏ
Rằng tôi thật sự xứng đáng
Quá hạnh phúc với cơ hội nhỏ nhoi của tôi
Cho một sự khát khao
Nạn đói có thể quanh đây
Tôi không thể lầm được
Những nụ cười trên bàn ăn của tôi
Kho lương thực dư dật
Tôi tự hỏi những người giàu cảm thấy thế nào
Chiếc tàu buôn – Ngài Bá tước
Tôi đồ rằng tôi – với mẩu vụn bánh mì
Giàu có hơn tất cả trong số họ)
Những phúng dụ (allegory) được mở rộng từ
Kinh Thánh
Không chỉ dùng những ám chỉ trong Kinh thánh để
bộc lộ cảm xúc của mình, Dickinson còn mở rộng
những câu chuyện của Kinh ánh thành những suy
tư mà bà có trong cuộc đời. Qua đó, người đọc dễ
dàng nhận ra sự nhạy cảm trong tâm hồn bà trước
những biến đổi nhanh chóng của cuộc sống.
Một trong những câu chuyện mà Dickinson sử dụng
là câu chuyện David và Goliath, một câu chuyện rất
quen thuộc trong Kinh thánh Cựu ước, sách Samuel
Philitine, thù địch của người Israel, là một gã to lớn
đầy sức mạnh. Nhờ Goliath mà quân Philitine đã
nhiều lần khiến quân Israel kinh hồn bạt vía. David,
trái lại, là một chàng trai trẻ nhỏ nhắn, ưa nhìn với mái
tóc màu hung, người Israel. Chàng có tài bắn cung
(#791)
Vụn bánh nhỏ “crumb” cũng là một hình ảnh trích thiện nghệ, tinh thần quả cảm, và đầu óc mưu lược
xuất từ Kinh thánh Tân ước [8, tr.1308-1309]. Khi sắc sảo nên đã xin vua Israel đối đầu với tên Goliath
một người đàn bà ngoại giáo người Hy Lạp thuộc xứ ngạo mạn và báng bổ đó. Goliath giương giương tự
Xy-ri-a đến xin Chúa Giê-su trừ quỷ cho con gái bà, đắc khi nhìn thấy David trên chiến trường; tuy nhiên,
Chúa đã nói: “Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì nhờ tài thiện xạ của mình và sự phó thác tin tưởng vào
không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho ượng Đế của Israel, David đã hạ gục Goliath chỉ với
chó con”, với ngụ ý người Do ái như những đứa một viên đạn sỏi cắm sâu ngay giữa trán của nó. Sau
đó, chàng dùng gươm chặt đầu tên Goliath kiêu căng,
khiến đội quân Philitine hoảng sợ và bỏ chạy. Israel
được giải thoát, vui mừng hò reo chiến thắng.
Trong một bài thơ ngắn của mình, Dickinson viết:
I too k my Power in my Hand –
And went against the World
‘Twas not so much as David – had –
But I – was twice as bold –
con trong nhà, còn người ngoại được ví như chó con,
và phép lạ chỉ được thực hiện cho dân Do ái trước.
Ngài nói điều này vì muốn thử thách đức tin và lòng
kiên nhẫn của người phụ nữ. Nhưng bà trả lời: “ưa
Ngài, đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn lại
được ăn những mảnh vụn của đám trẻ con.” Nghe
những lời đó, Chúa Giê-su đã chữa lành cho con gái
bà. Từ hình ảnh của Kinh ánh, người đọc có thể
dễ dàng nhận ra tình yêu và sự khiêm tốn của Dick-
inson trong bài thơ, khi bà cũng tự nhận mình xứng I aimed Pebble – but Myself
đáng với vụn bánh nhỏ, và cảm thấy hạnh phúc với Was all the one that fell –
vụn bánh được trao tặng cho bà.
Was it Goliath – was too large –
Or was myself – too small?
Bằng cách liên văn bản thơ của mình với Kinh ánh,
Dickinson đã tự tạo nên một tôn giáo của chính mình,
vẽ nên một hình ảnh của ượng Đế và iên đàng
(Tôi thu hết sức mình trong tay
cho chính mình. Những ám chỉ trong Kinh thánh Để chống lại thế giới
được Dickinson sử dụng trong thơ đã một phần phục Dù không mạnh mẽ như David
vụ cho mục đích của bà: ghi lại những cảm xúc mà Nhưng tôi can đảm gấp hai
bà có đối với tôn giáo, ượng Đế và việc hành đạo.
Qua đó, một khuôn mặt mới lạ của ượng Đế được Tôi nhắm hòn sỏi – nhưng chính tôi
làm nổi bật lên, khác với ượng Đế mà những người Lại là người gục ngã
cùng đạo tôn thờ, một tôn giáo của tâm hồn được Có phải vì Goliath quá to lớn
phác họa, và một cách hành đạo không giống bất kỳ Hay chỉ vì tôi quá nhỏ nhoi?)
người nào trong cộng đồng, bởi vì bắt đầu từ năm 30
tuổi, bà đã ngưng không đến nhà thờ. Dickinson, với (#540)
những liên văn bản mà bà sử dụng trong thơ, đã đưa Bài thơ gợi nhắc lại câu chuyện Kinh thánh kể trên,
người đọc vào cả hai thế giới, thế giới của niềm tin đại nhưng còn được Dickinson mở rộng ra thành những
trà và thế giới của tôn giáo do chính bà sáng tạo ra.
chất vấn trong cuộc sống. Goliath có thể tượng trưng
995
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998
cho cuộc sống quanh Dickinson, một đời sống mà đối Cho đến khi nó quá nặng nề
với bà có thể quá mạnh mẽ, hồ hởi, mà trái tim của Nhưng – lạ nhất là – nặng hơn từ lúc nó ra đi
Nó có quá lớn với ngài không?)
bà lại mong manh, nhạy cảm, bé nhỏ như David. Có
phải vì vậy mà bà nhận thấy rằng, khác với câu chuyện
trong Kinh ánh, chính trái tim nhỏ nhoi của bà lại
là kẻ bị gục ngã trước sức mạnh vũ bão của cuộc sống?
Dù Dickinson đã cố gắng tập trung tất cả sức lực của
mình: “I took my Power in my Hand … and I – was
twice as bold”, tâm hồn bà dường như vẫn quá nhạy
cảm và yếu đuối. Phải chăng vì thế mà Dickinson đã
chọn một cuộc sống ẩn dật bên những gì nhẹ nhàng,
quen thuộc, để bảo vệ tâm hồn và trái tim mỏng mảnh
của mình? Có lẽ điều này đúng, vì trong một lá thư
bà gửi cho Elizabeth Holland khi bà phải chuyển nhà,
Dickinson thổ lộ rằng bà cảm thấy như bị lạc giữa sự
mới mẻ lạ lẫm, đến nỗi phải “chong đèn bước ra để
cách gia trang cũ có vài dãy phố.
Trong một bài thơ khác, Dickinson mở rộng từ câu
chuyện về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su, việc Chúa
phải tự vác cây thập giá của mình đến đồi Calvary
để lính La Mã đóng đinh vào cây thập giá đó, như
một hình phạt dành cho những kẻ gây rối loạn xã hội.
Những người theo Ki-tô giáo, vì thế, thường nói ví
von việc vác thập giá mình – những khó khăn, gian
khổ - chính là một cách bước theo con đường của
Đấng sáng lập. Dickinson, thay vì dùng hình ảnh
“thập giá”, đã viện đến một hình ảnh khác tình cảm
hơn và có thể giàu sức tưởng tượng hơn: trái tim.
Savior! I’ve no one else to tell—
(#217)
Rõ ràng bài thơ làm người đọc nghĩ ngay đến câu
chuyện khổ nạn với danh từ riêng “Savior” (người cứu
độ) và động từ “carry” (mang, vác), nhưng hình ảnh
“trái tim” lại khiến người đọc hơi khựng lại. ật dễ
hiểu, dễ đoán nếu trong bài thơ xuất hiện hình ảnh
“thập giá.” Nhưng không, với Dickinson, đó không
phải là một thập giá mà là một trái tim, một trái tim
đã càng ngày càng nặng nề khiến bà không đủ sức
mang nó nữa, giống như Chúa Giê-su cũng đã vài lần
gục ngã vì sức nặng của thập giá trên đường đến đồi
Calvary. Không biết những tình cảm nào chất chứa
trong trái tim khiến bà cảm thấy nặng nề như thập
giá, nhưng ta biết rằng, một lần nữa, tâm hồn Dickin-
son rất mong manh, dù cá tính bà có độc đáo và mạnh
mẽ thế nào đi nữa!
KẾT LUẬN
Với những ám chỉ và phúng dụ từ Kinh ánh, Dick-
inson đã bộc lộ cho người đọc thấy một phần tâm hồn
của bà: vừa mạnh mẽ, nổi loạn, với một tôn giáo và
ượng Đế của riêng bà, lại vừa mỏng manh, nhạy
cảm trước cuộc sống và con người. Vì Kinh ánh
gắn bó chặt chẽ với văn hoá và cuộc sống của Emily
Dickinson, tính kết nối văn bản giữa thơ Dickinson
và Kinh ánh là điều có thể hiểu được. Với tinh thần
tự do phóng khoáng như thế, Dickinson có thể được
xem như là một đại diện cho tinh thần Mỹ, với tính
cá nhân độc đáo, sáng tạo. Quả thật, tuy là một nhà
thơ nữ ẩn dật, bà lại luôn được xếp ngang hàng với
Walt Whitman, một tượng đài thơ Mỹ. Bên cạnh đó,
sự nhạy cảm trong tâm hồn của nữ sĩ lại giúp bà thoát
khỏi tính cơ giới của một cuộc sống nhiều với biến
đổi vũ bão, và giữ được sự nối kết sâu xa với thế giới
tâm linh của chính mình. Người viết hy vọng bài viết
ngắn này có thể mở ra một góc nhìn tham khảo về
tâm hồn và cuộc đời thơ của Dickinson trong sự kết
nối với truyền thống và sáng tạo cá nhân mà những
sáng tác của bà đã thể hiện một cách chân thật và sinh
động.
And so I trouble thee.
I am the one forgot thee so—
Dost thou remember me?
Nor, for myself, I came so far—
at were the little load—
I brought thee the imperial Heart
I had not strength to hold—
e Heart I carried in my own—
Till mine too heavy grew—
Yet—strangest—heavier since it went—
Is it too large for you?
(Lạy Đấng cứu độ! Con chẳng có ai để tỏ –
Nên con phiền đến ngài
Con đã thường lãng quên ngài –
Ngài còn nhớ con chăng?
Con đến với ngài chẳng phải vì con
Đó là một gánh rất nhẹ
Con đem đến ngài một trái tim to lớn
Mà con chẳng còn sức mạnh để chịu được
Trái tim mà con phải tự mình mang vác
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Bản thảo này không có xung đột lợi ích.
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ
Bài viết chỉ do tác giả thực hiện. Bài viết này đóng góp
thêm một góc nhìn tham khảo trong những hướng
khảo sát thơ Dickinson. Tuy đã có vài nghiên cứu liên
văn bản trong thơ Dickinson được thực hiện ở Mỹ,
f“I am out with lanterns, looking for myself.”
996
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(2):991-998
nhưng các nghiên cứu đó hầu như tập trung vào sự
trưởng thành của niềm tin trong đời sống tâm linh
của Dickinson, hoặc chỉ ra những điểm liên văn bản
trong thơ Dickinson với Kinh ánh, chứ không nhấn
mạnh hay phân tích những trải nghiệm về tôn giáo
trong cuộc sống mà bà đưa vào thử nghiệm với thơ
như trong bài nghiên cứu này. Hơn nữa, bài viết
này giới thiệu được những bài thơ chưa phổ biến với
người đọc Việt Nam, vì chưa được dịch ra.
5. Howard L. Americanization of the European Heritage. Trần
Thị Quỳnh Thuận dịch. Trong Những cuộc hội ngộ của Văn
chương thế giới. Văn học so sánh: Nghiên cứu và dịch thuật.
TP. HCM: NXB Văn hóa Văn nghệ. 2019;p. 191–203.
6. Tocqueville AD. Nền dân trị Mỹ. Phạm Toàn dịch. Hà Nội: NXB
Tri Thức. 2016;.
7. Farstad AL. Jesus and Emily: The Biblical Roots of Emily
Dickinson’s Poetry. Journal of the Grace Evangelical Soci-
8. Ladin J. Meeting Her Maker: Emily Dickinson’s God. Trong
Harold Bloom, Emily Dickinson. New York: Infobase Publish-
ing. 2008;.
9. Ostriker A. Re-Playing the Bible: My Emily Dickinson. Trong M.
N. Smith & M. Loeffelhoiz (Eds.). A Companion to Emily Dick-
inson. Oxford: Blackwell. 2008;Available from: https://doi.org/
10. Nhóm Phiên dịch các giờ Kinh Phụng vụ (biên tập). Kinh
Thánh trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước. TP.HCM: NXB TP.HCM.
2002;.
11. Benfey CEG. A Route of Evanescence: Emily Dickinson and
Japan. Trong The Emily Dickinson Journal. 2007;16(2):81–93.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trương L. Phân tâm học và Phê bình Văn học. Hà Nội: NXB Phụ
Nữ. 2011;.
2. Leich VB, et al. The Norton Anthology of Theory and Criticism.
New York: W.W. Norton & Company, Inc. 2010;.
3. Lập NT. Văn chương như là quá trình dụng điển. Hà Nội: NXB
ĐHQG Hà Nội. 2017;.
4. Harold B. The Anxiety of Influence. Oxford: Oxford University
Press. 1997;.
997
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 5(2):991-998
Research article
Open Access Full Text Article
Intertextuality in Emily Dickinson’s poetry
Pham Thi Hong An*
ABSTRACT
A text is absolutely not a writer's genuine creation, but principally it receives the material and is
altered from another text. The concept of intertextuality is constructed by Julia Kristeva (1941-
), stressing the interconnection between a text and other prior ones. Intertextuality can be in the
form of topics, motifs, images, symbols, and so on, constantly employed by the writer either uncon-
sciously, as believed by Freud, or consciously. In so doing, intertextuality, however, does not mean
to diminish creativity in writing; on the contrary, it diversifies the process. Emily Dickinson (1830 –
1886), a talented but reclusive American poet, has utilized quite a number of images, symbols, and
tales in the Bible, the text of considerable influence in her culture and society, in her poems. Her
intertextuality with the Bible sophisticatedly proves her thoughts of the religion and its practice.
Her religious experiences, which are interwoven in her poetry, reveal the spirit of liberty and sensi-
tiveness she possesses. Bearing such philosophy in poetry and life, Dickinson can be regarded as a
symbol of American soul with unique and creative individualism. This paper will analyze and clarify
the aforementioned proposition, principally using the method of intertextual criticism.
Key words: intertextuality, Kristeva, Dickinson, Bible
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
University of Social Sciences &
Humanities, VNU-HCM, Vietnam
Correspondence
Pham Thi Hong An, University of Social
Sciences & Humanities, VNU-HCM,
Vietnam
Email: [email protected].vn
History
• Received: 10/12/2020
• Accepted: 05/5/2021
• Published: 12/5/2021
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i2.608
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Cite this article : An P T H. Intertextuality in Emily Dickinson’s poetry. Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.;
5(2):991-998.
998
Bạn đang xem tài liệu "Tính liên văn bản trong thơ Emily Dickinson", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_lien_van_ban_trong_tho_emily_dickinson.pdf

