Xu hướng vận động của điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
37  
XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT  
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975  
Nguyễn Thị Tuyết Minh1  
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2  
Tóm tắt: Trần thuật là phương diện hình thức cơ bản của tác phẩm tự sự, có vai trò rất  
quan trọng trong việc chuyển tải ý đồ nghệ thuật cũng như thái độ thẩm mĩ của nhà văn.  
Bài viết này nhằm tổng kết, khái quát hóa bình diện điểm nhìn trần thuật - một bình diện  
nổi bật, thể hiện rõ sự đổi mới của thực tiễn văn xuôi nước ta sau 1975 và góp phần khắc  
họa trung thực bức tranh văn học sử mà người đọc, người học, người dạy Ngữ văn hiện  
nay đang quan tâm.  
Từ khóa: Điểm nhìn trần thuật, văn xuôi sau 1975, Việt Nam  
1. MỞ ĐẦU  
Trần thuật là phương diện hình thức cơ bản của tác phẩm tự sự, có vai trò quan trọng  
trong việc chuyển tải ý đồ nghệ thuật cũng như thái độ thẩm mĩ của nhà văn. Nhân loại thế  
kỉ XXI đạt được thành tựu to lớn trong lĩnh vực tự sự/ trần thuật (học) - một lĩnh vực khoa  
học liên ngành với rất nhiều lí thuyết được khái quát từ thực tiễn phong phú của sáng tạo  
và tiếp nhận văn chương. Bài viết này không đi sâu vào các vấn đề lí thuyết trần thuật học  
mà vận dụng một số khái niệm công cụ đã được giới nghiên cứu xác lập để nhận diện,  
miêu tả và đánh giá về một chặng đường văn xuôi có nhiều đổi mới quan trọng ở nước ta -  
chặng đường từ sau 1975. Mục đích của chúng tôi nhằm tổng kết, khái quát hóa thực tiễn  
sáng tạo văn xuôi, góp phần vào việc khắc họa trung thực bức tranh văn học sử mà người  
đọc, người học, người dạy Ngữ văn hiện nay đang rất quan tâm. Trong khuôn khổ giới hạn,  
chúng tôi không thể bao quát mọi vấn đề của nghệ thuật trần thuật mà chỉ tập trung vào  
một khía cạnh nổi bật, thể hiện rõ sự đổi mới của văn xuôi nước ta 40 năm qua, đó là vấn  
đề điểm nhìn trần thuật.  
2. NỘI DUNG  
1 Nhận bài ngày 25.03.2016; gửi phản biện và duyệt đăng ngày 28.04.2016.  
Liên hệ tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Minh; Email: [email protected]  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
38  
Điểm nhìn là vấn đề then chốt của kết cấu tác phẩm nghệ thuật. Nó hiện diện khắp nơi, chi  
phối hầu hết các yếu tố trên các cấp độ của văn bản; là “vị trí từ đó người kể nhìn ra và miêu tả sự  
vật trong tác phẩm. Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn”. Trên thực tế, “giá trị của  
sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới  
đối với cuộc sống. Sự thay đổi của nghệ thuật bắt đầu từ thay đổi điểm nhìn”(1). Mặt khác, thông  
qua điểm nhìn trần thuật, người đọc có dịp đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm và nhận ra đặc  
điểm phong cách của nhà văn. Khảo sát điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi Việt Nam sau  
1975, chúng tôi nhận thấy những xu hướng vận động như sau:  
2.1. Xu hướng nhạt dần điểm nhìn đại diện cộng đồng, gia tăng điểm nhìn cá thể hoá  
Mỗi kiểu tư duy văn học là sản phẩm của một tâm thức văn hoá, một tâm thế sáng tạo cụ thể.  
Trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, nhà văn được đặt ở vị trí trung tâm của đời sống và đại  
diện cho lợi ích cộng đồng. Người kể chuyện trong văn xuôi Việt Nam từ 1945 - 1975 thường  
đồng nhất cái nhìn của mình với chân lí. Đó là cái nhìn “toàn tri”, được bảo đảm bằng kinh nghiệm  
của cộng đồng. Sau 1975, đất nước phát triển trong hoà bình, nhu cầu đổi mới toàn diện đời sống  
xã hội được ý thức và văn học cũng không thể viết như cũ. Từ đầu thập kỉ 80, văn xuôi bắt đầu  
chuyển mạnh sang cảm hứng thế sự - đời tư với điểm nhìn cá thể hoá. Mặc dù vẫn còn những tác  
phẩm duy trì điểm nhìn đại diện cộng đồng như Ông cố vấn, Quãng đời xưa in bóng, Đường về Sài  
Gòn… nhưng chúng hầu như bị lấn át so với những tác phẩm tiếp cận hiện thực bằng cái nhìn cá  
thể hóa, tức là bằng kinh nghiệm cá nhân.  
Khảo sát trên các tác phẩm được dư luận chú ý, chúng tôi thấy sự chuyển dịch điểm nhìn khá  
rõ. Từ 1975 đến 1980, nhìn chung văn xuôi vẫn nghiêng về điểm nhìn đại diện cộng đồng. Có thể  
kể đến hàng loạt tác phẩm được bạn đọc yêu thích như: Tháng Ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải),  
Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà, Những người đi từ trong rừng ra (Nguyễn Minh Châu), Năm  
1975 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh)… Từ 1980 đến  
1986, dư luận bắt đầu dành sự quan tâm hơn cho những tác phẩm mang cảm hứng đạo đức - thế sự  
hay đời tư với điểm nhìn của kinh nghiệm cá nhân như Đứng trước biển, Cù lao Tràm (Nguyễn  
Mạnh Tuấn), Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Người đàn bà trên chuyến  
tàu tốc hành, Bến quê (Nguyễn Minh Châu), Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người (Nguyễn  
Khải), Thời xa vắng (Lê Lựu)… Từ 1986 trở đi, người đọc hầu như chỉ còn bị cuốn hút bởi những  
tác phẩm mà ở đó, số phận cá nhân trở thành đối tượng khám phá chủ yếu. Trong những cuốn tiểu  
thuyết được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam hai năm 1988 - 1989, chỉ có Ông cố vấn của  
Hữu Mai là còn thấy rõ sự chi phối của điểm nhìn cộng đồng, nhưng nó được dư luận đánh giá cao  
(1) Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2010), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo  
dục Việt Nam, tr.113.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
39  
trước hết ở khối lượng tư liệu lịch sử và nhân vật Vũ Ngọc Nhạ đã được thể hiện rất “đời thường”.  
Ba cuốn tiểu thuyết được giải của Hội Nhà văn mùa giải 1990 - 1991 cùng hàng loạt tác phẩm  
được chú ý khác, và những tiểu thuyết được giải các năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2009, 2011,  
2012 sau này, đều được viết bởi cảm hứng thế sự với điểm nhìn cá thể hoá. Đó là Nỗi buồn chiến  
tranh, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Cát bụi chân ai, Bến trần gian, Hồi ức  
binh nhì, Ánh trăng, Cuốn gia phả để lại, Bi kịch nhỏ, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Hậu thiên đường,  
Cánh đồng bất tận, Và khi tro bụi, Một mình một ngựa, Đội gạo lên chùa, Trò chơi hủy diệt cảm  
xúc…  
Sự dịch chuyển từ điểm nhìn đại diện cộng đồng sang điểm nhìn cá nhân trong truyện ngắn  
còn rõ rệt hơn nữa. Từ những truyện ngắn gây bất ngờ đầu tiên như Hai người trở lại trung đoàn  
(Thái Bá Lợi), Bức tranh, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)… đến các truyện  
ngắn được giải thưởng của Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tạp chí Thế giới mới… rồi  
đến truyện của Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu, Muối của rừng), truyện của Y Ban (Bức thư  
gửi mẹ Âu Cơ), truyện của Lại Văn Long (Kẻ sát nhân lương thiện), truyện của Nguyễn Bản (Ánh  
trăng), truyện của Phạm Hoa (Đùa của tạo hoá), truyện của Phan Thị Vàng Anh (Hoa muộn),  
truyện của Nguyễn Thị Thu Huệ (Hậu thiên đường, Thành phố đi vắng)… đều đề cập đến nội  
dung thế sự - đời tư với điểm nhìn cá thể hoá. Khảo sát trên một số tập truyện ngắn tiêu biểu giai  
đoạn sau 1975, đặc biệt là sau 1986, chúng tôi thu được kết quả như sau:  
- Ánh trăng (tập truyện ngắn được giải Báo Văn nghệ 1991) có 12 truyện, không một truyện  
nào được kể bởi điểm nhìn đại diện cộng đồng.  
- Bến trần gian (tuyển những truyện ngắn được giải cuộc thi của Tạp chí Văn nghệ  
Quân đội hai năm 1992 - 1994) có 21 truyện, chỉ duy nhất một truyện Vịt trời lông tía bay  
về là kết hợp điểm nhìn đại diện cộng đồng với việc miêu tả phong tục, tập quán một vùng  
đầm phá miền Trung. Tập này có nhiều truyện viết về đề tài chiến tranh nhưng chủ yếu gắn  
với điểm nhìn cá thể hoá - những trải nghiệm của cá nhân nên ấn tượng về “nỗi buồn chiến  
tranh” rất rõ và rất khác với các truyện thời trước 1975.  
- Truyện ngắn hay 1993 (tập truyện do Nxb Văn học và Báo Văn nghệ ấn hành) có 15  
truyện, không một truyện nào được kể bởi điểm nhìn đại diện cộng đồng.  
- 40 truyện rất ngắn (tác phẩm chung khảo cuộc thi truyện mini của Tạp chí Thế giới  
mới- Nxb Hội Nhà văn 1994) không có truyện nào được kể bởi điểm nhìn đại diện cộng  
đồng.  
- Truyện ngắn hay Bắc – Trung - Nam (tuyển chọn những tác phẩm được giải trong  
các cuộc thi 3 miền, Nxb Hội Nhà văn, 1995) có 28 truyện, cũng chỉ một truyện Vịt trời  
lông tía bay về là không hoàn toàn chịu chi phối của cảm hứng thế sự với điểm nhìn cá thể  
hoá.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
40  
- Những truyện ngắn hay (tập truyện do Nxb Công an Nhân dân ấn hành 1995) có 12  
truyện, không một truyện nào được kể từ điểm nhìn đại diện cộng đồng.  
- Tác phẩm được giải Cây bút vàng 1996 -1998 (tập truyện do Nxb Hội Nhà văn và  
Tạp chí Văn hoá văn nghệ Công an ấn hành) gồm 19 tác phẩm, có một tác phẩm được kể  
bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng là Cảm nhận hương hồi (bút kí của Vương Trọng).  
- Truyện ngắn hay 2000 (tập truyện do Nxb Hội Nhà văn ấn hành) có 15 truyện, duy  
nhất truyện Trần Quang Diệu của Trần Thị Huyền Trang được kể bằng điểm nhìn đại diện  
cộng đồng.  
- Truyện ngắn hay 2004 (tập truyện do Nxb Hội Nhà văn ấn hành) có 28 truyện, không  
có truyện nào được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng.  
- Truyện ngắn hay 2005 (tập truyện do Nxb Thanh Hoá ấn hành) có 27 truyện, không truyện  
nào được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng.  
- Văn mới 2007-2008 (tuyển chọn văn xuôi của những tác giả mới và tác giả đang được mến  
mộ, Nxb Hội Nhà văn và Công ty Văn hoá Đông A ấn hành) có 27 tác phẩm, không tác phẩm nào  
được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng.  
- Truyện ngắn hay 2009 (tập truyện do Nxb Văn học ấn hành) có 27 truyện, không truyện nào  
được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng.  
- Văn mới 2012-2013 (tuyển chọn văn xuôi của những tác giả mới và tác giả đang được mến  
mộ, Nxb Hội Nhà văn và Công ty Văn hoá Đông A ấn hành) có 27 tác phẩm, không tác phẩm nào  
được kể bằng điểm nhìn đại diện cộng đồng.  
Như vậy, thực tế khảo sát cho thấy: xu hướng sử dụng điểm nhìn đại diện cộng đồng chiếm số  
lượng rất ít mà chủ yếu là điểm nhìn cá thể hoá. Điều này chứng tỏ nhà văn đương đại ít có nhu cầu  
kể lại những câu chuyện “mọi người đã biết” mà chủ yếu kể câu chuyện “như tôi biết”. Trải  
nghiệm riêng, kinh nghiệm riêng trở thành nhu cầu diễn đạt chính yếu. Chẳng hạn, vẫn câu chuyện  
về sự tích Sơn Tinh Thuỷ Tinh nhưng người đọc lại đầy bất ngờ thích thú trước cách cắt nghĩa, lí  
giải từ điểm nhìn cá thể hoá của nhà văn Hòa Vang. Tác giả mở đầu bằng một kinh nghiệm của cá  
nhân: “Như mọi người đều biết… Nhưng (tôi biết) còn có một (sự thật) lẽ cố nhiên khác  
nữa”(2). Và niềm tin quen thuộc của độc giả bắt đầu bị thử thách, để rồi cuối cùng; dù họ chấp  
nhận hay không cái sự thật giả định mà người viết nêu ra, thì họ cũng buộc phải biết đến một niềm  
tin khác. Người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thường đưa ra phản đề: “Tôi  
sẽ kể chuyện này cho anh… Tôi không chắc…”(3). Đọc Nỗi buồn chiến tranh, người ta nhận thấy,  
(2)  
Hòa Vang (1996), Sự tích những ngày đẹp trời, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.5.  
(3) Nguyễn Huy Thiệp (2001), Mưa Nhã Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.296.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
41  
đó dường như là cuộc chiến tranh của riêng Bảo Ninh chứ không phải là cuộc chiến tranh đã từng  
diễn ra trong lịch sử. Truyện được kể bằng cái nhìn cá biệt của nhân vật Kiên - một cựu chiến binh  
bị chấn thương tâm lí nặng. Toàn bộ hiện thực ấy là hiện thực ảo. Những kí ức đứt quãng lần lượt  
hiện về. Nhà văn như muốn nói với bạn đọc: đây không phải là câu chuyện khách quan đã xảy ra  
như mọi người đều biết mà là những gì ám ảnh nhất còn đọng lại trong kí ức riêng của một con  
người. Và chiến tranh được kể bằng kinh nghiệm cá biệt rất khác với truyền thống. Điều đó khiến  
người đọc thấm thía nỗi đau đắng tận cùng của thân phận con người trong chiến tranh, để rồi càng  
trân trọng hơn giá trị của độc lập tự do hôm nay. Rõ ràng, cá thể hoá điểm nhìn trần thuật khiến  
mỗi cá nhân là một thế giới riêng tư, độc đáo và quan niệm của mỗi cá nhân nhiều khi không hoàn  
toàn trùng hợp với quan niệm của cộng đồng. Khi điểm nhìn được cá thể hoá cao độ, cũng đồng  
nghĩa với việc nhà văn chú ý nhiều hơn đến cái ngẫu nhiên, cái không tất yếu. Nhà văn không kể  
những câu chuyện mọi người đã biết, không đưa ra những chân lí tuyệt đối mà muốn đối thoại  
nhiều hơn với bạn đọc để cùng suy ngẫm. Điều đó khiến điểm nhìn trần thuật vô cùng đa dạng,  
phong phú.  
2.2. Xu hướng đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật  
Đây là xu hướng trần thuật khá phổ biến của văn xuôi Việt Nam sau 1975. Nếu trong văn xuôi  
giai đoạn trước 1975, điểm nhìn trần thuật của một tác phẩm thường rất dễ xác định, vì nó nhất  
quán, nó đồng nhất với điểm nhìn của tác giả. Từ điểm nhìn thấu suốt ấy, tác giả sẽ cất lên tiếng nói  
“hướng đạo” cho người đọc. Nghĩa là chân lí cuộc đời luôn được chỉ ra một cách rõ ràng, mạch lạc.  
Người đọc tiếp nhận những những giá trị đã được thẩm định. Nhưng cách nói hộ, nghĩ hộ của nhà  
văn một thời giờ đây dường như không còn thích hợp nữa. Trình độ của bạn đọc ngày càng không  
ngừng được nâng cao. Cái tôi cá nhân của người đọc đòi hỏi được xác lập như một nhân vị. Hơn  
nữa, cuộc sống đương đại hiện ra phức tạp muôn hình, muôn vẻ và người đọc có nhu cầu đánh giá,  
xem xét mọi điều bằng những trải nghiệm của riêng mình. Mặt khác, văn xuôi hôm nay không chỉ  
phản ánh hiện thực mà còn suy ngẫm về hiện thực. Hiện thực được mở ra với biên độ vô cùng rộng  
lớn: có hiện thực quen thuộc khả kiểm, khả tín, nhưng cũng có vùng hiện thực xa lạ, mơ hồ, bí ẩn,  
bất khả tín… Đối với một số tác phẩm thì hiện thực không còn là mục đích tối thượng mà chỉ là  
phương tiện để thể hiện tư tưởng của nhà văn. Đối với nhiều nhà văn thì không chỉ “kể nội dung”  
mà còn là “viết nội dung”; điều quan trọng không phải là kể chuyện gì mà chính là cách thức kể  
câu chuyện ấy như thế nào. Cùng viết về một đề tài, cùng kể về một câu chuyện nhưng nhà văn  
này kể thì hấp dẫn, lôi cuốn độc giả; còn nhà văn kia thì không. Điều này trước hết do sự đa dạng  
hoá điểm nhìn trần thuật mang lại. Việc đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật khiến cho “khối vuông  
rubic” của hiện thực, của lòng người được phơi lộ; thể hiện nhu cầu khám phá bản chất cuộc sống  
một cách sâu sắc, thận trọng; nhu cầu bình đẳng giữa nhà văn với độc giả… Đa dạng hoá điểm  
nhìn trần thuật trong văn xuôi sau 1975 được biểu hiện ở việc gia tăng số lượng người kể chuyện,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
42  
và nhà văn trao điểm nhìn trần thuật cho mọi nhân vật, không phân biệt nhân vật chính - phụ, nhân  
vật tin cậy - không tin cậy… Nổi bật là các dạng thức sau đây:  
2.2.1. Luân phiên, lồng ghép điểm nhìn trần thuật  
Đây là hiện tượng tác phẩm không mặc định ở một điểm nhìn mà luôn đan xen, dịch chuyển  
từ điểm nhìn này sang điểm nhìn khác. Nhiều nhân vật trong tác phẩm luân phiên nhau đóng vai  
trò người kể chuyện, và từng nhân vật ấy bày tỏ cách nhìn riêng của mình về hiện thực. Cũng có  
khi, cùng lúc tồn tại nhiều điểm nhìn, các điểm nhìn chồng lên nhau, đan chéo, móc nối với nhau  
để mở ra cho người đọc những khám phá mới về đối tượng. Điều này tạo nên tính phức điệu, đa  
âm cho câu chuyện và tác phẩm văn xuôi trở thành một cấu trúc đa tầng, cùng lúc vang lên nhiều  
tiếng nói khác nhau. Chẳng hạn, trước số phận cơ cực, bất hạnh của người đàn bà trong  
truyện Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu để cho nhiều điểm nhìn cùng soi rọi vào  
cái nhìn trẻ thơ, non nớt của đứa con trai kết án ông bố tàn bạo, và thề sẽ giết ông ta để bảo  
vệ mẹ. Nhưng con chị thì hiểu biết hơn, vừa khóc lóc vừa can ngăn em. Nhà nhiếp ảnh thì  
sẵn sàng “giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”. Viên thẩm phán thì khăng khăng: ly hôn  
là giải pháp đúng đắn nhất. Nhưng người đàn bà, kẻ hứng chịu những trận đòn roi tàn nhẫn  
và phi lý của chồng lại nhìn nhận khác hẳn: bà hiểu chồng, thương con, hiểu tình cảnh nan  
giải của gia đình mình; biết mình phải nhẫn nhục, cam chịu để bầy con đông đúc khỏi chết  
đói. Bi kịch của mẹ con bà không dễ dàng giải quyết được nếu chỉ trông cậy vào thiện chí  
cá nhân. Người đàn bà ấy có cái trí khôn của đời sống. Bà ta không ảo tưởng: “Lòng các  
chú tốt, nhưng các chú đâu có hiểu được người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”(4). Rõ ràng,  
nhân vật người đàn bà hiện diện trước ống kính “vạn hoa” của tác phẩm. Và bạn đọc không  
dễ dàng phán xét đơn giản đúng - sai từ một phía, mà phải thận trọng cân nhắc từ nhiều  
phía để cắt nghĩa sao cho thấu tình đạt lí. Người đàn bà ấy vừa đáng giận lại vừa đáng  
thương. Phía sau gương mặt xấu xí của bà ta là vẻ đẹp ẩn khuất trong tâm hồn, vẻ đẹp của  
mẫu tính: dám hy sinh và chịu trách nhiệm trước đàn con của mình. Trong tiểu thuyết Sông  
Côn mùa lũ (5), điểm nhìn trần thuật liên tục di chuyển từ nhân vật này đến nhân vật khác.  
Có lúc tác phẩm được kể dưới điểm nhìn của nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ (các chương 17,  
19, 30, 32…); có khi được kể dưới điểm nhìn của thầy giáo Hiến (các chương 1,7, 15); có  
lúc lại kể dưới điểm nhìn của An - người yêu Nguyễn Huệ (các chương 75, 92, 97); có lúc  
điểm nhìn lại được giao cho nhân vật Lãng - em trai An (các chương 87, 99)… Rất nhiều  
biến cố được lí giải khác nhau từ điểm nhìn của mỗi nhân vật. Và sự kết hợp linh hoạt các  
điểm nhìn trần thuật khiến mỗi sự kiện của đời sống được cắt nghĩa thấu đáo, khách quan  
(4) Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.129.  
(5) Nguyễn Mộng Giác (2003), Sông Côn mùa lũ (2 tập), Nxb Văn học & Trung tâm nghiên cứu  
Quốc học  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
43  
và đa diện hơn. Tác phẩm văn học khi ấy mang dáng dấp “một bản giao hưởng” nhiều bè, nhiều  
điệu; đạt tới hiệu quả thẩm mĩ phong phú, bất ngờ.  
Không chỉ luân phiên, nhiều tác phẩm văn xuôi Việt Nam sau 1975, đặc biệt là sau  
1986 còn lồng ghép điểm nhìn trần thuật để làm mới kĩ thuật tự sự. Trong tác phẩm có sự  
tương tác giữa điểm nhìn của người kể chuyện với một hoặc nhiều nhân vật, tạo ra sự hoà  
phối, đan xen, phức hợp của nhiều kinh nghiệm, nhiều luồng tư tưởng, có khi cùng chiều,  
có khi đối nghịch. Tiểu thuyết Hồ Quý Ly(6) của Nguyễn Xuân Khánh là một ví dụ. Ở đây,  
người trần thuật xưng “tôi” mà nhân vật cũng xưng “tôi” giành quyền tự kể (Chương II:  
Hồ Nguyên Trừng; chương V: Trần Khát Chân; chương VI: Cô gái vườn mai; chương XII:  
Đường lên Yên Tử; chương XIII: Hội thề Đốn Sơn). Ta đều biết, những nhân vật lịch sử  
như Hồ Nguyên Trừng, Trần Khát Chân… là những con người của quá khứ, cách xa ngày  
nay đã sáu thế kỉ. Họ đã “an nghỉ dưới mồ” từ lâu, vậy mà trong tác phẩm, nhà văn cho họ  
“sống lại” để kể chuyện mình và chuyện của thời đại mình. Câu chuyện lịch sử được “hiện  
tại hoá” như đang vận động, đang diễn ra, đang song hành cùng con người hôm nay.  
Nguyễn Xuân Khánh đã tạo ra sự hoà phối của hai loại điểm nhìn: điểm nhìn trần thuật  
khách quan và điểm nhìn chủ quan của từng nhân vật lịch sử. Tác phẩm, do đó, có cấu trúc  
mở, giàu tính đối thoại; nói về quá khứ nhưng chất chứa những suy ngẫm sâu sắc về hiện  
tại. Và những sự kiện của lịch sử luôn hiện diện trong tư thế đang vận động ở thì “hiện tại  
chưa hoàn thành”. Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, vai trò bình đẳng  
trong điểm nhìn của mỗi nhân vật khiến cho tác phẩm luôn là một cấu trúc đa tầng, đa  
nghĩa. Đọc văn Nguyễn Huy Thiệp đầy bất ngờ, “tiền văn” không đoán được “hậu văn”.  
Chi tiết nào cũng đa nghĩa, đầy sức gợi và có khả năng kích thích đối thoại rất mạnh. Tiểu  
(7)  
thuyết Chinatown cũng sử dụng kĩ thuật lồng ghép điểm nhìn cực kì phức tạp: “tôi” và  
“hắn” là hai mà thực ra là một; “tôi” và “chị ta” cũng vừa đồng nhập vừa phân li như thế.  
Rõ ràng, luân phiên, lồng ghép điểm nhìn khiến chủ đề tác phẩm và tư tưởng tác giả  
không lộ diện, khó nắm bắt; đòi hỏi người thưởng thức nhiều suy nghĩ, nhưng cũng gợi  
nhiều liên tưởng khác nhau. Điều này khiến tác phẩm thực sự “là một quá trình”, khơi gợi  
ở bạn đọc sự “đồng sáng tạo”; đến với mỗi bạn đọc, tác phẩm không ngừng “sinh sôi” về  
nghĩa. Và tất yếu, xung quanh một tác phẩm dễ gây ra tranh luận trái chiều.  
2.2.2. Giao điểm nhìn trần thuật cho những nhân vật “không đáng tin cậy”  
Đây là hiện tượng trong tác phẩm, nhà văn giao nhiệm vụ kể chuyện cho những nhân vật dị  
biệt, đặc biệt - kiểu nhân vật “không đáng tin cậy”. Đó có thể là một thương binh bị chấn thương  
(6) Nguyễn Xuân Khánh (2000), Hồ Quý Ly, Nxb Phụ nữ.  
(7) Thuận (2005), Chinatown, Nxb Đà Nẵng.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
44  
thần kinh như Kiên (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh); có thể là một hồn ma đã uống nước ở Bến  
Lú, Sông Mê nên nhớ nhớ, quên quên như các nhân vật Hương và Hoa (Người sông Mê - Châu  
Diên); có thể là nhân vật bào thai đang nằm trong bụng mẹ (Thiên thần sám hối - Tạ Duy Anh); có  
khi là một thanh niên bị điện giật chết hụt rồi bỗng có khả năng đi ngược về quá khứ (Trong sương  
hồng hiện ra - Hồ Anh Thái)…  
Nỗi buồn chiến tranh(8) sử dụng người trần thuật không phải là cái tôi bình thường mà là cái  
tôi tâm hồn đã bị chấn thương tâm lí. Anh ta cũng không phải kể về chiến tranh như đang diễn ra  
mà là câu chuyện được nhớ lại; nhớ lại những gì ấn tượng nhất. Trong tư cách một “nhà văn  
phường”, Kiên luôn nhắc đi nhắc lại lời thú nhận rằng: mình viết trong trạng thái “rối bời”, “bấn  
loạn”. Câu chuyện về chiến tranh được hiện lên trong dòng kí ức “chập chờn bất định” của Kiên…  
Điểm nhìn chủ quan hóa triệt để như thế, đòi hỏi ở người đọc sự ngờ vực, sự phản biện. Giao điểm  
nhìn trần thuật cho một nhân vật bị chấn thương như vậy, nhà văn Bảo Ninh muốn độc giả cùng  
trải nghiệm với một người lính “vô danh” nỗi đau đắng tận cùng của thân phận con người trong  
chiến tranh, để rồi tri nhận đầy đủ hơn giá trị của cuộc sống hòa bình. Mở đầu tiểu thuyết Người  
sông Mê, tác giả Châu Diên công khai rằng: ông không định “kể lại một câu chuyện” giống với  
hiện thực, không nhằm giảng giải, cắt nghĩa câu chuyện bằng lôgic đời sống mà đang trình bày một  
“trò chơi” của văn chương: “Trời và Đất đã cho sinh ra một ngày Đầu tiên, trong ngày đó có câu  
chuyện liên quan đến cô gái tên là Hoa… Có điều khó hiểu và cũng gây khó dễ cho người kể  
chuyện, ấy là khi thì cô này nghĩ mình là Hoa, có khi chính cô lại cho rằng mình là Hương”; “Cô  
nhớ và không nhớ. Thực tình cô cũng có nhớ, nhưng rồi nhớ nhớ quên quên, thành thử là quên và  
nhớ lẫn lộn. Cô làm cho nhiều người ra trình diện trong cuốn sách này cũng có tật giống cô, ấy là  
cứ nhớ nhớ quên quên. Và có khi cô còn làm cho cả những ai tiếp xúc với các nhân vật trong sách  
này cũng lây cái tật quên quên nhớ nhớ ấy…”(9). Nhân vật kể chuyện ở đây thật “không đáng tin  
cậy”. Cô ta chỉ là một hồn ma. Ngay từ đầu tác phẩm, tính chất hư cấu, bịa đặt cố ý lộ liễu nhằm  
gây ra sự ngờ vực với người đọc. Thậm chí tính “trò chơi” được tiết lộ ngay từ tên truyện: Người  
sông Mê. Tác phẩm không chia chương mà chia khúc, vừa theo trình tự kiếp luân hồi như quan  
niệm nhà Phật, vừa ngẫu hứng, vu vơ: Kiếp ảo, Kiếp gốc, Kiếp thực… Hiện thực giả định này buộc  
người đọc phải có cách ứng xử khác: văn chương có nhất thiết chỉ có mục đích phản ánh hiện thực  
không? Văn chương còn có thể phản ánh những suy tư, mơ mộng về những vùng hiện thực bất khả  
tri - hiện thực của tâm linh, ảo giác. Nhân vật trần thuật ở đây không được điển hình hoá mà rất dị  
biệt, cá biệt, nhưng lại tạo ra một hiệu ứng thẩm mĩ bất ngờ với người đọc. Đọc xong câu chuyện,  
người ta bỗng thấy “thương người và lại thương thân”. Tiểu thuyết Thiên thần sám hối xác nhận  
“trò chơi” bằng chính lời Tựa: “Câu chuyện khó tin này là của một đứa trẻ còn ở trong bụng mẹ.  
(8) Bảo Ninh (2005), Nỗi buồn chiến tranh, Nxb Hội Nhà văn.  
(9) Châu Diên (2005), Người sông Mê, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.5.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
45  
Nếu đọc xong mà quý vị vẫn không tin thì cũng không sao”(10). Và người trần thuật xưng “tôi”  
chính là cái bào thai ấy. Chỉ còn 72 giờ nữa là thai nhi phải chào đời. Nó đang trăn trở: có nên ra  
đời hay không? Ban đầu thai nhi “khao khát chờ đến cái ngày vĩ đại ấy”, nhưng rồi nó quyết định  
cứ ở trong bụng mẹ. Bởi nó đã nghe được câu chuyện một bà mẹ sinh con rồi bỏ con tại bệnh viện;  
chuyện một cô gái liên tục bị sảy thai vì quả báo do người chồng độc ác đã từng giết người; chuyện  
một gã thanh niên coi đứa con là tội nợ… Từ đó, tác phẩm gợi ám ảnh nơi độc giả về một hiện  
thực trớ trêu rất đáng bận tâm của đời sống đương đại: những nhầm lẫn đáng buồn của con người,  
những dục vọng tăm tối đang hủy hoại cái đẹp và ăn mòn các giá trị sống…  
3. KẾT LUẬN  
Có thể thấy, xu hướng vận động của điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975  
là không ngừng gia tăng điểm nhìn cá thể, và đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật. Trước áp lực  
cạnh tranh từ các phương tiện giải trí - truyền thông, lối sống và nhịp độ sống của thời đại  
kỹ trị… buộc người viết văn phải nỗ lực kiếm tìm hình thức mới cho văn xuôi Việt Nam đương  
đại. Dường như nhà văn hôm nay đang cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Có thể viết văn như  
thế nào? Khi tái hiện hiện thực đời sống, nhiều nhà văn có xu hướng vượt khỏi mô hình trần thuật  
quen thuộc, xác lập mối quan hệ mới giữa văn chương với hiện thực, giữa nhà văn với bạn đọc để  
tạo ra những kinh nghiệm đọc mới. Đa dạng hóa điểm nhìn, phá vỡ cái nhìn toàn tri; văn xuôi  
đương đại tìm đến những điểm nhìn mang rõ dấu ấn cá nhân, cá thể. Văn học của điểm nhìn nhìn  
trần thuật như vậy đúng là không dễ đọc với mọi độc giả, đặc biệt là những độc giả yêu thích sự  
mực thước, hiền lành.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học  
Quốc gia Hà Nội.  
3. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên  
cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
4. Trần Đình Sử (Chủ biên) (2004), Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử, Nxb Đại học Sư  
phạm Hà Nội.  
5. Trần Đình Sử (Chủ biên) (2008), Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử, Phần 2, Nxb  
Đại học Sư phạm Hà Nội.  
6. Các tuyển tập truyện ngắn, tiểu thuyết, kí Việt Nam sau 1975.  
(10) Tạ Duy Anh (2004), Thiên thần sám hối, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.5.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
46  
THE MOVEMENT OF THE TREND WITH THE NARRATIVE  
OVERVIEW IN VIETNAMESE PROSE AFTER 1975  
Abstract:Narration is an aspect of the basic form of narrative works of art, plays a  
important role in conveying the artistic purpose and aesthetic attitude of the writer. This  
article is used for the purpose of summarizing, generalizing the narrative point of view-a  
prominent level. Futhermore, this article also reflects the innovation of practical prose in  
Vietnam after 1975 and contributes to portraying honestly the painting of literature and  
history which the reader, the learner, the literature lecturer are now interested in.  
Keywords: Narrative point of view, prose after 1975, Vietnam.  
pdf 10 trang yennguyen 20381 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xu hướng vận động của điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxu_huong_van_dong_cua_diem_nhin_tran_thuat_trong_van_xuoi_vi.pdf