Lư Khê và bài báo đầu tiên ở Nam Kỳ giới thiệu văn học Nhật Bản

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
LƯ KHÊ VÀ BÀI BÁO ĐẦU TIÊN Ở NAM KỲ  
GIỚI THIỆU VĂN HỌC NHẬT BẢN  
Võ Văn Nhơn, Ngô Trà Mi  
Trường Đại học KHXH và NV, ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh  
Nhận bài ngày: 6/6/2019; Ngày duyệt đăng: 27/08/2019  
Tóm tắt  
Văn học Nhật Bản được giới thiệu một cách tổng quan theo tiến trình lịch sử ở Việt Nam từ khi  
nào. Đó là câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ mà chưa nhà nghiên cứu Nhật Bản nào ngày nay dám trả lời quả  
quyết. Việc tìm lại các tư liệu báo chí xuất bản trước năm 1945 cho phép ta lần tìm lại được những  
bước đi đầu tiên trong việc tiếp cận với nền văn chương của một nước đồng văn vừa gần lại vừa xa.  
Chúng tôi may mắn tìm được bài báo “Văn chương nước Nhựt” của tác giả Lư Khê đăng nhiều kỳ  
trên báo Tự do ở Saigon năm 1936. Tuy chỉ tìm được văn bản hai kỳ của bài báo này, chưa phải là  
văn bản trọn vẹn nhưng đã giúp chúng tôi có hình dung được những bước đầu của việc nghiên cứu  
giới thiệu văn học Nhật ở Việt Nam. Chúng tôi đã tiến hành đọc bài báo, đồng thời so sánh với tri  
thức về văn học Nhật để thấy những sai biệt bước đầu của người đi trước, từ đó có thể hiểu hơn về  
quá trình tiếp nhận văn học Nhật khó khăn buổi đầu ở nước ta.  
Từ khóa: Lư Khê, văn học Nhật Bản, nghiên cứu văn học Nhật Bản.  
Lu Khe and the first article introducing Japanese Literature in Cochinchina  
Abstract  
When Japanese literature was introduced in an overview acording to the historical process in  
Vietnam is still open-ended question which is hard for any Japanese researchers to answer  
decisively. Finding the press materials published before 1945 allows us to realize the first steps in  
approaching the literature of the country having the same culture and scripts of Vietnam. It is  
fortune for us to find the serial article “Van chuong nuoc Nhut” by the author Lu Khe pubished in  
the Tu do newspaper in Saigon in 1936. Although only the two-term text of this article not full text  
was found, it helped us to envision the very first steps of introducing Japanese literature in Vietnam.  
We have read the article, and compared it with the knowledge of Japanese literature to realize the  
uncorrect knowledge of the author so that we can better understand the difficulties in the early time  
of the process of recepting Japanese literature in our country.  
Keywords: Lu Khe, Japanese literature, the study of Japanese literature.  
Do gia đình sống tại xóm Rạch Vược, còn  
gọi là Lư Khê nên ông lấy bút hiệu là Lư Khê.  
Ông còn có bút hiệu là Trương Tuấn Cảnh. Có  
tài liệu cho rằng, Lư Khê còn một bút hiệu khác  
là Từ Quang. Với bút danh Từ Quang, Lư Khê  
đã được tặng thưởng khuyến khích ở giải Đồ  
Chiểu năm 1943 khi gửi tác phẩm dự thi với đề  
tài Khảo cứu và luận về Đồ Chiểu với Lục Vân  
Tiên. Lư Khê cùng với Đông Hồ, Mộng Tuyết,  
Trúc Hà là bốn danh sĩ nổi tiếng nhất của Hà  
1. Về tác giả bài báo  
Lư Khê tên thật là Trương Văn Em, trong gia  
đình gọi là Đệ, sinh ngày 20/1/1916 tại xã Thuận  
Yên, Hà Tiên trong một gia đình nông dân  
nghèo, con ông Trương Văn Huynh và bà Trần  
Thị Chính. Cha làm nghề đánh cá vược, mẹ là  
nông dân, nhưng Lư Khê được nuôi ăn học chu  
đáo. Nhờ thế, ông trở thành người Hà Tiên đầu  
tiên tốt nghiệp Thành Chung, tức trung học,  
trường Collège de Cần Thơ.  
53  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
Tiên ở đầu thế kỷ XX nên được gọi là “Hà Tiên  
tứ tuyệt”.  
Ngoài việc dạy học và hoạt động báo chí, Lư  
Khê còn rất quan tâm đến văn học. Hoạt động  
văn học của ông khá phong phú. Ông đã hưởng  
ứng cuộc trưng cầu ý kiến về vấn đề cải tạo văn  
học Việt Nam do báo Gió mùa (Hà Nội) khởi  
xướng năm 1942. Ông cho rằng “cải tạo nền văn  
học được một địa vị cao quý trong lúc này là một  
điều nên làm gấp”, cho đó là một vấn đề thuộc  
xã hội mà các hội văn học phải có trách nhiệm  
đảm nhận để phát huy dân tộc tính.  
Lư Khê sáng tác khá nhiều thơ, đăng trên  
nhiều báo. Thơ của ông nằm trong khí quyển  
của phong trào Thơ mới, đậm chất trữ tình, giàu  
cảm xúc.  
Văn xuôi của Lư Khê khá đa dạng. Ông viết  
tản văn, phóng sự, truyện ngắn, tiểu thuyết.  
Phóng sự Điều tra về nghề làm nước mắm ở Phú  
Quốc đăng hai kỳ trên báo Sống năm 1935 (số  
26 và 27) khi ông mới 19 tuổi là một phóng sự  
khá công phu về nghề làm nước mắm truyền  
thống lừng danh của Phú Quốc.  
Tập tản văn Phút thoát trần của ông gồm  
mười chín bài viết về nhiều chủ đề với một  
giọng văn giàu cảm xúc. Ông chiêm nghiệm về  
nhiều vấn đề của xã hội, nhân sinh, những vấn  
đề gắn liền với những nghịch lý mà ông đã trải  
qua trong đời. Tập tản văn của ông là những câu  
chuyện ta vẫn bắt gặp hàng ngày, được ông viết  
bằng giọng văn như thầm thì, tâm sự. Những tản  
văn này cuốn hút chúng ta bằng sự chân thực  
của một trái tim nhạy cảm của một nghệ sĩ luôn  
trân trọng những giá trị nhân văn.  
Ngoài sáng tác, Lư Khê còn viết khảo cứu.  
Bản thảo chưa in của ông cho thấy ngoài việc  
nghiên cứu văn học Việt Nam như L’amour  
dans la poésie annamite (Ái tình trong thơ Việt),  
ông còn nghiên cứu về văn học Trung Hoa, văn  
học Nhật Bản. Ông cũng có bài bàn về thể Văn  
du ký đăng hai kỳ trên báo Phụ nữ tân văn (số  
4/7/1935 và 11/7/1935). Phê bình sân khấu thì  
có bài “Phê bình tuồng Nặng gánh cang  
thường” (Phụ nữ tân văn, 18/2/1935).  
Ngoài sáng tác bằng tiếng Việt, ông còn làm  
thơ tiếng Pháp đăng trên báo Pháp và từng đoạt  
giải cuộc thi “Tournoi des Jeux Floreaux de  
Nice” của Pháp năm 1938. Tác phẩm viết bằng  
tiếng Pháp của ông đã xuất bản có La Douleur  
secrète (Nỗi đau thầm kín, tập truyện ngắn,  
1939). Ngoài ra còn có một số bản thảo như Elle  
l’a tué (Nàng đã giết chàng, truyện ngắn), Jours  
perdus (Những ngày đã mất, tiểu thuyết), Au fil  
de l’heure (Dòng thời gian, thơ), La littérature  
chinoise et ses ressources artistiques (Văn  
chương Trung Hoa và những ngọn nguồn nghệ  
thuật, tiểu luận), L’amour dans la poésie  
annamite (Ái tình trong thơ Việt, nghiên cứu).  
Từ 1935, Lư Khê lên Sài Gòn dạy học và viết  
báo. Ông dạy Việt văn ở các trường trung học  
Huỳnh Khương Ninh, Đồng Nai. Năm 1935 ông  
tham gia làm báo Sống, tờ tạp chí văn học đầu  
tiên do những nhân tài đất Hà Tiên sáng lập và  
hợp lực viết bài, được anh em gọi là Hội bạn Trí  
Đức. Nhóm này gồm Đông Hồ, Trúc Hà, Trúc  
Phong, Lư Khê, Trọng Toàn, Quang Đẩu, Bạch  
Như, Mộng Tuyết. Ông còn viết cho Nữ lưu  
tuần báo (1936 - 1938), Thế giới tân văn (1936  
- 1937), Văn Nghệ (1937), Nay (1938), Tự do  
(1938- 1939), Đông Tây (1941), Gió mùa (1941  
- 1942), Tân Việt. Ông cũng là chủ bút các báo  
Sự thật (1946 - 1947), Ánh sáng (1947 - 1950).  
Riêng tờ Ánh sáng còn có phụ trang Ánh sáng  
văn chương. Huỳnh Văn Nghệ lúc ở chiến khu  
đã gửi đăng bài thơ Lá thư rừng (Ánh sáng văn  
chương ngày 9/10/1948) để đáp từ bài Chiếc lá  
thị thành của nữ sĩ Mộng Tuyết cũng đăng trên  
phụ trang này trước đó.  
Năm 1937, Lư Khê thành hôn với nữ sĩ Manh  
Manh, tức nhà thơ, nhà báo Nguyễn Thị Kiêm,  
người được phong tặng danh hiệu “nữ tiên  
phong Thơ mới ở Nam Kỳ”.  
Với những hoạt động sôi nổi trong lĩnh vực  
văn học và báo chí, Lư Khê đã có nhiều đóng  
góp rất đáng ghi nhận đối với văn học Nam Bộ.  
Ông mất ngày 3 tháng 7 năm 1950 tại nhà riêng  
ở đường Paulin Vial, Sài Gòn do bị ám sát, khi  
đang làm chủ bút báo Ánh sáng.  
2. Bài báo Văn chương nước Nhựt  
Đăng nhiều kỳ trên báo Tự do năm 1936, bài  
báo Văn chương nước Nhựt có thể là một trong  
những công trình nghiên cứu văn học Nhật Bản  
54  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
đầu tiên ở Nam Bộ lúc đó.  
Thời đại Edo, Văn chương vào thời đại Meiji.  
Phần sau của bài báo mà chúng tôi chưa tìm thấy  
được tư liệu, chắc hẳn sẽ là văn chương thời  
Taisho và một vài năm đầu của thời Shōwa.  
Trong phần “Thời kỳ cổ điển”, Lư Khê có đề  
cập đến thi ca thời Nara (710 - 784) là “sự sung  
hợp của thi ca nước Tàu và thi ca nước Nhật”.  
Rồi ông khẳng định chỉ có đến thời “Đại Bình  
(Heian)” thì văn chương Nhật mới đổi mới và  
có “truyện ngắn, tiểu thuyết, có truyện ngắn  
bình dân, có lịch sử tiểu thuyết, có cả báo chí  
văn chương và phê bình.” Lư Khê cũng nhấn  
mạnh thời đại Heian là thời có nhiều “đàn bà  
cầm bút”, trong đó ông nhắc đến Murasaki  
Shikibu và Sei Shônagon. Khi nhắc đến  
Murasaki Shikibu, ông nhận định bà “có ngọn  
bút rắn rỏi, văn pháp gọn gàng khi thì êm dịu  
như thiếu nữ uốn mình, khi thì cao thâm như  
khoảng trời đất.” Truyện Genji của Murasaki  
Shikibu cũng được đề cập đến, với nhận định  
rằng tác giả của truyện đã “khéo léo vẽ nên sự  
lộn xộn của triều đình Heian hồi thế kỷ 11”, và  
nhận định Genji là “một vị đại anh hùng, là một  
“Don Juan” của đời “Đại Bình” (Heian)”, “chỉ  
biết “tình” chớ không biết gì khác”, “vì tình mà  
Genji đã nhiều phen dám làm nhiều sự mạo  
hiểm coi nhẹ cái danh giá hoàng tộc của mình.  
Cái đời sống như thế, ngày này qua ngày khác,  
không ích lợi gì cho đời mình, cho xã hội...” Lư  
Khê liên tưởng Truyện Genji giống như tác  
phẩm của “Stendal do Musset san định lại”. Rồi  
ông lược thuật về phần hai của Truyện Genji với  
nhân vật chính là Kaoru, có sai lệch so với  
nguyên bản, chúng tôi sẽ trao đổi ở phần sau.  
Phần cuối trong những nhận định về Truyện  
Genji, Lư Khê trích lại lời của nhà phê bình  
Pháp Aston, theo đó “Genji là văn chương kiệt  
tác của nước Nhật mà cái đặc tài của người viết  
nó là ở chỗ tả về ái tình và những cái vụn vặt  
của ái tình một cách khéo léo không có một câu  
nào có thể làm một cô gái khi đọc đến phải đỏ  
mặt...”, và trong mắt Lư Khê, “bộ tiểu thuyết ấy  
là cái phản ảnh của xã hội lúc bấy giờ.”  
Tư liệu mà chúng tôi tìm được là bài báo Văn  
chương nước Nhựt đăng liên tiếp trên hai số 5  
và 6 của tờ Tự do phát hành năm 1936. Bài báo  
vẫn “còn nữa”, song hiện tại chúng tôi chưa tiếp  
cận được nguồn tư liệu. Qua bài báo, dù vẫn còn  
dang dở, có thể thấy tác giả Lư Khê đã phát họa  
khái quát diện mạo văn học Nhật Bản từ khởi  
thủy đến cận kim với nhiều nhận định thú vị. Bài  
báo gây bất ngờ vì tầm nhìn rộng của tác giả khi  
muốn giới thiệu văn chương Nhật Bản đến độc  
giả Việt Nam, khi đương thời, Nhật Bản đang là  
một quốc gia tìm đường khẳng định mình trên  
trường quốc tế, và chỉ một năm sau, năm 1937,  
Nhật chính thức trở thành thành viên của khối  
trục Phát xít, bắt đầu gieo rắc chiến tranh khắp  
cõi Á Châu.  
Lư Khê viết gì về văn học Nhật Bản?  
Mở đầu bài báo, Lư Khê đưa ra một phản đề  
nước Nhật là một nước có “tinh thần thượng võ”  
và như thế thì văn chương hẳn nhiên không  
được lo “sung bồi”. Nhưng ngay sau đó, ông lại  
giới thiệu rằng trên thực tế “Nền văn chương  
nước Nhựt là một nền đầy đủ vừa dồi dào và  
được dân sự họ quan tâm, chú trọng hơn cả trên  
thế giới.” Lư Khê chứng minh nước Nhật là  
nước yêu văn chương, từ thời lập quốc, người  
dân trong nước từ vua chúa, hoàng hậu, cho tới  
thường dân đều làm thơ; các cuộc thi thơ được  
mở ra hằng năm với thể thơ “Outa 31 chữ”; thi  
thần trong nước Nhật không phân đẳng cấp, ai  
cũng có chút tài về văn chương. Ba ngàn năm  
văn học Nhật vì thế đã rất phát triển.  
Lư Khê nhận ra rằng, dù văn học Nhật phong  
phú và giá trị như thế nhưng lại rất khó phổ biến  
sang các nước khác, đặc biệt là các nước Âu châu  
vì ngôn ngữ Nhật quá phức tạp, từ cách dùng cùng  
một từ ở các ngữ cảnh khác nhau theo những cách  
khác nhau đến lối viết “phiền phức khó học”, và  
cả nguồn chữ Hán vốn có gốc từ Trung Quốc cũng  
không có nghĩa giống tiếng Trung.  
Lư Khê cũng nhận thấy rằng việc dịch văn  
học các nước châu Âu ra tiếng Nhật rất thịnh  
hành, chứng tỏ dân Nhật rất ham mê văn chương.  
Sau phần này, Lư Khê bắt đầu chia lịch sử  
văn học Nhật thành các phần: Thời kỳ cổ điển,  
Sau khi giới thiệu Murasaki Shikibu, Lư Khê  
giới thiệu tiếp về nữ sĩ số hai của thời đại này  
Sei Shônagon và nhận định “nữ sĩ có một lối văn  
55  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
như ngạo đời, như thị thế, thỉnh thoảng nữ sĩ  
cũng không quên điểm chút duyên vị cho văn  
chương mình bằng cách vẽ khéo léo bướm hoa,  
cây cỏ.” Liền sau đó, Lư Khê dịch đoạn đầu của  
tuỳ bút Makura no soshi (Chẩm thảo tử) từ bản  
dịch tiếng Trung của Hồ Thích. Có thể nói, đây  
là lần đầu tiên tùy bút tối cổ của Nhật Bản được  
chuyển dịch sang tiếng Việt.  
vào thời đại Meiji”. Theo đó, thời đại Meiji là  
thời đại “giao tiếp với văn minh Âu Tây” từ  
cuộc cách mạng năm 1867. Vào thời đại này,  
văn chương Nhật đã hoàn toàn đổi mới theo  
hướng Âu hóa. Ông nhìn ra được những khởi  
sắc trong đời sống văn chương là từ sự xuất bản  
báo chí vào năm 1880, sự ra đời của hàng loạt  
nhà in. Trong giai đoạn này, ông nhắc đến Kōyō  
với phái Kenyūsha, nhóm văn bút đầu tiên trong  
lịch sử văn học hiện đại Nhật Bản. Ông nhìn ra  
phái Kenyūsha chịu ảnh hưởng lớn của Saikaku  
đồng thời đang tìm lối đi mới trong thời đại mới.  
Ngoài ra, ông còn nhắc đến Rohan, một văn sĩ  
thường được nhắc đến cùng với Kōyō, nhưng lại  
có đường lối khác Kōyō. Trong phần này, Lư  
Khê cũng chỉ ra rằng văn chương Âu Tây trở  
nên ảnh hưởng sâu rộng trong văn học Nhật từ  
sau chiến tranh Trung- Nhật. Ông đề cập đến  
những tác giả của văn học phương Tây và Nga  
được dịch và say mê ở Nhật như Tolstoi, Ibsen,  
Sudermann, Hauptenann, Bjornson, Zola,  
Maupassant và Hugo. Lư Khê cũng bước đầu  
phác họa những mâu thuẫn trong quá trình tiếp  
thu văn chương Tây phương, cụ thể phái  
Kenyūsha, vốn chủ trương đổi mới văn học  
trong sự dung hòa mới cũ thì các nhà văn khác  
lại chủ trương văn học theo lối tả chân giống  
như của Zola. Lư Khê nhận ra cái mốc lịch sử  
quan trọng thứ 2 sau chiến tranh Trung - Nhật  
(1894 - 1895) là chiến tranh Nga và Nhật (1904  
- 1905) đã ảnh hưởng lớn đến tiến trình “Âu  
hoá” của văn học Nhật. Rồi sau đó, ông lại kể  
them Hogetsu, giáo sư đại học Waseda du học  
từ Âu châu về, phủ nhận cả hai trường phái lãng  
mạn và tả chân để cổ suý một nền văn học mới  
chịu ảnh hưởng của Pháp. Ông kể tên ra các nhà  
văn ảnh hưởng nền văn học Pháp như Tōson,  
Katai, Kafū và nhấn mạnh những nhà văn này  
chưa được nước ngoài chú ý vì chỉ mô phỏng  
theo lối viết của các nhà văn tả chân Pháp.  
Thời đại tiếp theo được Lư Khê đề cập đến  
trong bài báo của mình là “Thời đại Edo”. Lư  
Khê nhận định rằng, thời đại này “thơ ca và tiểu  
thuyết không được tiến bộ lắm. Vì lúc bấy giờ  
trong nước đương thịnh hành về triết học và  
Phật giáo nên nảy lên một lối văn chương mới  
về lịch sử và về hát tuồng như Kabouki và Nô”  
(Lư Khê, 1936: 8). Dẫn theo “một vài nhà văn  
khiêm tốn và dè dặt nước Nhật”, Lư Khê cho  
rằng thời Edo là thời của văn chương bình dân  
nước Nhật. Trong thời này, ông nhắc đến hai  
văn sĩ là Saikaku và Chikamatsu. Saikaku được  
nhận định là lãnh tụ của phái tả chân, “có thể vẽ  
ra một cách thần tình những dục vọng, những  
tâm hồn nhỏ những sự hèn yếu của nhân loại...”  
Lư Khê cũng giới thiệu tiểu thuyết nổi tiếng của  
Saikaku Háo sắc nhất đại nữ mà ông gọi là  
“Một quảng đời thiếu phụ”, trong đó ông lược  
thuật lại nội dung của tác phẩm và nhận xét về  
văn phong của Saikaku “khi thì thật thà chất  
phác như lời nói của cô gái ngây thơ, khi thì  
trong trẻo hữu duyên như nét cười của mỹ nhân  
chào khách...”  
Đề cập đến Chikamatsu, một kịch tác gia tiêu  
biểu thời Edo, Lư Khê dẫn nhận định của người  
khác bảo rằng Chikamatsu là “một Shakespeare  
của nước Nhựt, nhưng một ông Shakespeare chỉ  
khảo xét về ái tình, về phẩm giá, về sự trung  
thành, về lòng trong sạch ” (Lư Khê, 1936: 8).  
Lư Khê cũng đặt vấn đề nhiều người cho rằng  
Chikamatsu là thi sĩ vì kịch của ông thường theo  
lối văn vần, rồi ngay sau đó Lư Khê phản bác lại  
ý kiến trên vì cho rằng cổ văn của Nhật dù có  
vần hay không đều được chú trọng về mặt điều  
hoà âm thanh. Bằng chứng của ông là văn của  
Saikaku và Sei Shônagon.  
Dù chúng tôi chưa tiếp cận được trọn vẹn bài  
báo về Văn chương nước Nhựt của Lư Khê, song  
qua những gì được đọc, có thể thấy Lư Khê có  
ý muốn dựng lại toàn bộ lịch sử văn học Nhật từ  
khởi thủy đến hiện đại. Vì không xem được  
phần tư liệu tham khảo của tác giả bài báo, nên  
Giai đoạn thứ 3 trong lịch sử văn học Nhật  
Bản được Lư Khê đề cập đến là “Văn chương  
56  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
chúng tôi khó đoán định được tác giả đã khái  
quát lịch sử văn học Nhật từ những nguồn nào.  
Trong văn bản mà chúng tôi tiếp cận được, có  
thể thấy, Lư Khê chịu ảnh hưởng nhiều của học  
giả người Trung Quốc - Hồ Thích và nhà phê  
bình người Pháp - Aston, cụ thể ông có nhắc đến  
hai vị này khi phẩm bình về Truyện Genji. Điều  
đó cũng giúp chúng ta đoán định được Lư Khê  
chủ yếu tiếp cận với văn học Nhật bằng con  
đường Pháp văn và Trung văn. Điều này cũng  
hoàn toàn hợp lý với bối cảnh tri thức Việt Nam  
những năm 1930.  
Muromachi (1336 - 1573), vốn là những thời đại  
có nhiều thành tựu, đặc biệt là thời đại Thiền đã  
trở thành một phần văn hóa Nhật Bản.  
Riêng phần “Thời kỳ cổ điển”, Lư Khê đưa ra  
một số nhận định có phần ngược với tri thức về  
văn học Nhật Bản ngày nay. Chẳng hạn, ông cho  
rằng văn chương thời Heian có đủ các thể loại từ  
truyện ngắn, tiểu thuyết đến cả “báo chí văn  
chương và phê bình”. Thời kỳ này, người Nhật  
có monogatari物語 (vật ngữ), có thể xem là  
truyện ngắn và tiểu thuyết, có cả những quyển  
karon 歌論 (ca luận) bàn về nghệ thuật thơ ca,  
nhưng thật khó có thể nói thời này đã có báo chí.  
Không rõ tác giả bài báo đã tham khảo từ nguồn  
nào để kể ra thể loại này trong văn chương Heian.  
Khi viết về Genji monogatari, phần được  
dành nhiều “đất” nhất trong phần “Thời kỳ cổ  
điển”, Lư Khê nhìn nhận đây là một tác phẩm  
phản ảnh “sự lộn xộn của triều đình Heian vào  
cuối thế kỷ 11”, và Genji là một “Don Juan của  
đời Đại Bình (Heian)”, có đời sống “không lợi  
ích gì cho đời mình, cho xã hội”, cả cuộc đời 51  
năm “làm bao nhiêu chuyện đáng trách”. Cách  
nhìn nhận về nhân vật Genji và về tiểu thuyết  
đầu tiên của nhân loại Truyện Genji như thế  
hoàn toàn đi ngược lại tinh thần của thời đại  
Heian. Đây cũng là cách tiếp cận của hầu hết các  
nhà phê bình phương Tây trong thời kỳ đầu với  
Truyện Genji, luôn cho rằng Genji là một kiểu  
Don Juan của Nhật Bản, sống buông thả, trụy  
lạc với ái tình. Thực ra, đạo đức của Genji không  
nằm trong quy chuẩn của Nho giáo theo kiểu  
Đông phương hoặc trong quy chuẩn đạo đức của  
Tây phương, mà là một quy chuẩn theo kiểu  
Nhật Bản, dựa trên mono no aware. Mono no  
aware là một thuật ngữ mỹ học Nhật Bản chỉ  
cho sự rung động thực sự từ tâm hồn khi tiếp  
chạm với cái đẹp, sự rung động đó có thể là hân  
hoan, có thể là say đắm, có thể là sầu não...,  
nhưng tựu trung phải là rung động chân thành.  
Người có những rung động này là người biết  
mono no aware, và người như vậy mới là người  
tốt. Người không biết rung động trước cái đẹp,  
trước sự vật thì dù có nói đạo đức cũng chỉ là  
giả dối. Đó là thẩm mỹ và đạo đức của thời  
Heian, khi mà cả đạo đức của Nho giáo lẫn Phật  
Một vài nhận định về bài báo Văn chương  
nước Nhựt của Lư Khê  
Phải nói rằng, những thông tin mà Lư Khê  
mang đến cho độc giả Việt Nam về văn chương  
Nhật Bản chắc chắn là mới lạ và bổ ích đối với  
kiến văn của người Việt trong việc tìm hiểu thế  
giới vào năm 1936. Bài báo rõ ràng, khúc chiết,  
phác họa cho người đọc thấy những mốc lớn  
trong các thời đại văn học Nhật. Những tác giả  
được chọn giới thiệu trong bài báo đều là những  
tác giả lớn, có ảnh hưởng sâu rộng trong văn  
chương Nhật Bản.  
Tuy nhiên, so với những hiểu biết của hậu  
sinh thế kỷ 21, thời đại mà việc tiếp cận thông  
tin nhanh nhạy và dễ dàng hơn thời đại của Lư  
Khê, thời đại mà Nhật Bản kể cả văn hóa lẫn  
ngôn ngữ không còn quá xa lạ với quảng đại  
người Việt, thì những viên gạch đầu tiên của Lư  
Khê đặt nền móng cho ngôi nhà nghiên cứu  
Nhật Bản ở Việt Nam có nhiều chỗ còn phải trao  
đổi. Dưới đây, chúng tôi xin nêu ra một vài điểm  
cần trao đổi lại trong sự hiểu biết của mình về  
văn học Nhật Bản.  
Bài báo khái quát lịch sử văn chương Nhật  
Bản qua các thời kỳ, cho rằng văn chương Nhật  
có lịch sử 3000 năm thì quả là thiếu chính xác.  
Nền văn chương Nhật còn ghi lại đến ngày nay  
khởi phát từ thế kỷ VIII, thời Nara với các tập  
thần thoại Kojiki, Nihonshoki, và tập thơ  
Man'yōshū. Lư Khê chia văn chương Nhật thành  
các thời kỳ cổ điển, Edo, Meiji và có thể các thời  
hiện đại sau này trong phần bài báo chưa được  
tìm thấy. Cách chia này bỏ qua hoàn toàn văn  
chương của thời Kamakura (1185 - 1333) và  
57  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 4  
giáo chưa trở thành quy chuẩn ứng xử trong xã  
hội. Và Genji, chàng hoàng tử biết mono no  
aware đã yêu người tình của mình, rất nhiều  
người tình trong một sự rung động và chân  
thành nhất của trái tim. Người Nhật không gọi  
chàng là Don Juan, là kẻ đa tình lăng nhăng, mà  
gọi chàng là hoàng tử ánh sáng, biểu trưng của  
cái đẹp Nhật Bản.  
chương Nhật thông qua các nguồn trung gian từ  
phương Tây và Trung Quốc. Tuy vậy, ngoài  
nguồn tri thức khoa học đòi hỏi sự chính xác,  
chúng tôi còn tiếp nhận bài báo từ góc độ tâm ý  
của người viết khi chọn đề tài. Ở góc độ này,  
chúng ta, những kẻ hậu sinh của thời đại đầy đủ  
tiện nghi, phải cúi đầu kính phục sự nhìn xa  
trông rộng của bậc thức giả thế hệ trước trong  
cái nhìn về lịch sử thế giới, tấm lòng quảng đại  
muốn mở mang tri thức về thế giới cho dân Việt  
nên đã chọn một đề tài hoàn toàn mới ở Việt  
Nam thời bấy giờ. Cũng qua đó, chúng ta thấy  
được vai trò của báo chí đầu thế kỷ 20 trong việc  
mở mang dân trí, đưa người Việt xích lại gần  
hơn với các nền văn minh khác trên thế giới.  
Kết luận  
Những năm 1930, mối quan tâm về văn học  
Nhật Bản ở Việt Nam còn rất ít. Ngoài bản dịch  
“Giai nhân kỳ ngộ” của Phan Châu Trinh năm  
1926 và bài báo “Thi văn Nhật Bản với phong  
trào Âu hoá” của Hàn Mặc Tử đăng trên báo Sài  
Gòn ngày 3/2/1936, hầu như văn chương Nhật  
rất hiếm được đề cập trên báo chí. Có thể nói,  
bài báo Văn chương nước Nhựt của Lư Khê là  
một trong những bài báo đầu tiên khái quát toàn  
bộ tiến trình lịch sử của văn chương Nhật. Điều  
này có giá trị lớn lao về mặt tri thức, để người  
Việt hiểu hơn về Nhật Bản, một dân tộc “hùng  
cường và có thể nay mai khuấy đục nước Thái  
Bình Dương” (nhận định của Lư Khê) trong thời  
đại những năm 1930. Những tri thức bài báo  
cung cấp có thể đã lạc hậu theo thời đại nhưng  
tinh thần khơi mở và dấu mốc quan trọng mà bài  
báo để lại trong việc nghiên cứu văn học Nhật  
Bản tại Việt Nam sẽ vẫn còn mãi giá trị.  
Ngoài ra, trong đoạn viết về Truyện Genji,  
Lư Khê cũng có chút nhầm lẫn khi tóm lược câu  
chuyện ở phần hai về nhân vật chính Kaoru. Mối  
tình của Kaoru và nàng Ukifune đầy nước mắt,  
kết thúc trong sự biệt ly, nàng Ukifune trở thành  
người của cửa không, hoàn toàn khước từ đời  
sống thế tục với Kaoru, còn Kaoru đành trở về  
lại thế giới của mình. Đó không phải là cái kết  
theo như Lư Khê thuật lại là Kaoru và vợ gặp lại  
nhau rồi “nối lại mối tình xưa sống với bóng từ  
bi của đức Phật.” Chúng tôi chưa rõ Lư Khê đã  
tham khảo bản dịch nào của Genji monogatari  
để có sự sai khác như vậy. Nếu biết được nguồn  
tham khảo của ông, chúng tôi có thể có thêm  
nhiều cái nhìn thú vị trong việc tiếp cận văn  
chương Nhật ở các nước khác trên thế giới.  
Cách phiên âm Romaji trong bài báo hoàn  
toàn khác cách phiên âm bây giờ. Ví dụ, loại thơ  
“outa”, bây giờ được viết là “uta”, hay gọi bằng  
các tên khác như waka, tanka; hay Morracaki,  
Sei Syônagon, Ghénsi, Tikamatsou... Có vẻ như  
các cách phiên âm này xuất phát từ tiếng Pháp,  
một trong những nguồn tài liệu tham khảo chính  
của Lư Khê. Điều này hoàn toàn dễ hiểu trong  
bối cảnh phiên âm Romaji của người Nhật chưa  
được quy chuẩn hoá. Đến ngay cả Suzuki T.  
Daisetsu, trong lời tựa của cuốn “Zen and  
Japanese culture” xuất bản năm 1938, cũng lưu  
ý về cách phiên âm ra chữ La Tinh theo kiểu cũ  
của mình không hợp với các cách phiên âm mới  
(Suzuki, 1988: v, vi). Ngoài ra, một số từ Nhật  
như Heian (平安) vốn là Bình An lại được phiên  
âm Hán Việt thành Đại Bình. Chúng tôi quả  
thực chưa hiểu vì sao lại có sự sai khác này.  
Những điểm còn hạn chế của bài báo là hoàn  
toàn dễ hiểu bởi bài báo là sản phẩm của một  
thời đại khi mà Nhật Bản vẫn còn là một đất  
nước xa lạ, và người Việt phải hiểu về văn  
Tài liệu tham khảo  
Lư Khê (1935a). Phê bình tuồng Nặng gánh cang  
thường. Phụ nữ tân văn, số 18/2/1935, tr. 3.  
Lư Kê (1935b). Điều tra về nghề làm nước mắm ở  
Phú Quốc (2 kỳ). Báo Sống , số 26 và 27.  
Lư Khê (1935c). Văn du ký. Phụ nữ tân văn, số  
4/7/1935, tr. 3.  
Lư Khê (1935d). Văn du ký. Phụ nữ tân văn, số  
11/7/1935, tr.3.  
Lư Khê (1936a). Văn chương nước Nhựt. Tự do, số  
5, tr. 11-12.  
58  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 4  
Hướng Dương, tr. 5-275.  
Hàn Mặc Tử (1936). Thi văn Nhật Bản với phong  
trào Âu hoá. Sài Gòn, số 3/2/1936. Dẫn theo  
Phan Cự Đệ (1993). Thơ văn Hàn Mặc Tử. Hà  
Nội, Giáo dục, tr. 115-119.  
Lư Khê (1936b). Văn chương nước Nhựt. Tự do, số  
6, tr. 8.  
Suzuki D. T. (1988). Zen and Japanese Culture.  
Tokyo, Tuttle Publishing, tr.v, vi.  
Phan Chu Trinh (1958). Giai nhân kỳ ngộ. Sài Gòn,  
59  
pdf 7 trang yennguyen 17320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lư Khê và bài báo đầu tiên ở Nam Kỳ giới thiệu văn học Nhật Bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflu_khe_va_bai_bao_dau_tien_o_nam_ky_gioi_thieu_van_hoc_nhat.pdf