Kiều Thanh Quế với chuyên khảo phê bình văn học

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
KIỀU THANH QUẾ VỚI CHUYÊN KHẢO PHÊ BÌNH VĂN HỌC  
Lê Quốc Hiếu  
Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Lê Quốc Hiếu - Email: hieulequoc@gmail.com  
Ngày nhận bài: 15-01-2021; ngày nhận bài sửa: 26-3-2021; ngày duyệt đăng: 14-6-2021  
Tóm tắt: Di sản của Kiều Thanh Quế tựa như một “mảnh đất màu mỡ”, một “kết cấu vẫy gọi”, nơi mở ra/ đòi hỏi rất nhiều khả thể  
diễn giải và nhận định. Việc làm rõ những đóng góp quan trọng của Kiều Thanh Quế ở việc hình thành những cơ sở lí luận về phê  
bình văn học nhằm đánh giá lại vai trò và vị trí của ông trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, nhất là ở “sinh thể” phê bình  
văn học, phạm vi hoạt động năng nổ và tích cực nhất của Kiều Thanh Quế. Bài viết này 1, giới thiệu chuyên khảo Phê bình văn  
học của Kiều Thanh Quế; 2, chỉ ra một số đặc điểm về tư duy lí luận, phê bình của Kiều Thanh Quế; 3. từ đó, làm rõ những đóng  
góp của Kiều Thanh Quế đối với phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1932-1945. Đặt chuyên khảo Phê bình văn học trong bối  
cảnh của lí luận, phê bình văn học hiện đại còn khá non trẻ thời bấy giờ mới thấy rõ được những đóng góp của ông ở khả năng  
nhận diện và trình hiện một số vấn đề có tính lý luận và thời sự về phê bình văn học.  
Từ khóa: Phê bình văn học; Kiều Thanh Quế; phê bình; 1932-1945; văn hóa Á Đông.  
nền văn học Việt Nam hiện đại nhất là ở “sinh thể” phê  
1. Mở đầu  
Những nỗ lực của giới nghiên cứu phê bình trong  
khoảng hai thập niên gần đây1 đang lấp dần những  
khoảng trống tiếp nhận về nhà phê bình, dịch giả, nhà  
văn, nhà chiến sĩ cách mạng Kiều Thanh Quế (1914-  
1947). Di sản của Kiều Thanh Quế tựa như một “mảnh  
đất màu mỡ”, một “kết cấu vẫy gọi”, nơi mở ra/ đòi hỏi  
rất nhiều khả thể diễn giải và nhận định. Phải chăng đó  
là lí do vì sao mà Bằng Giang, trong công trình Mảnh  
vụn văn học sử đã từng xác quyết về sự thiếu vắng  
những nghiên cứu, nhận định, đánh giá xứng đáng về sự  
nghiệp văn chương cũng như hồ sơ cách mạng của Kiều  
Thanh Quế: “Trong lịch sử văn học Việt Nam, chắc  
không thiếu những trường hợp một bút hiệu nào đó rất  
quen thuộc từ trước “những ngày binh lửa cháy quê  
hương” lại biến mất như Kiều Thanh Quế” (Bang, 1974,  
178). Với những đóng góp quan trọng, nhất là từ  
phương diện lí luận, phê bình, Kiều Thanh Quế được  
đánh giá như là người có công đầu trong việc xây dựng  
1Một số bài viết bàn luận trực diện về di sản văn học của  
Kiều Thanh Quế như: “Kiều Thanh Quế - nhà phê bình sớm  
quan tâm đến mảng văn học dịch”, Văn, Tp. Hồ Chí Minh, số  
5, tháng 5+6, 2002: 127-129; “Kiều Thanh Quế - một nỗi oan  
khuất”, Văn nghệ trẻ, số 8, ra ngày 20-3-2003: 5,11,15 của  
Nguyễn Mẫn; “Kiều Thanh Quế - trăng buồn lại sáng”, Văn  
nghệ trẻ, số 9, ra ngày 27-3-2003: 5,13,15, mục từ “Kiều  
Thanh Quế” (Nguyễn Huệ Chi biên soạn), Từ điển văn học  
(bộ mới), Nxb. Thế giới, H.,2004: 747-749; “Kiều Thanh Quế  
- nhà phê bình văn học hiếm có của Nam Bộ” của Hoài Anh,  
in trong Chân dung văn học, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2001:  
923-939; “Kiều Thanh Quế - nhà nghiên cứu, phê bình văn  
học”, Nghiên cứu văn học, số 3-2007: 62-67 của Phan Mạnh  
Hùng; “Kiều Thanh Quế với các trường phái phê bình văn học  
phương Tây”, Khoa học, Đại học Sư phạm Hồ Chí Minh tập  
15, số 11 (2018): 89-98 và “Phong cách nghiên cứu, phê bình  
văn học của Kiều Thanh Quế”, Khoa học, Đại học Sư phạm  
Hồ Chí Minh, tập 17, số 4 (2020): 743-754 của Trần Thị Mỹ  
Hiền… Điển hình nhất phải kể đến công trình sưu tập, giới  
thiệu phần lớn di sản văn chương của Kiều Thanh Quế: Cuộc  
tiến hóa văn học Việt Nam - Tuyển tập khảo cứu phê bình,  
Nxb. Thanh niên, 2009, Nguyễn Hữu Sơn và Phan Mạnh  
Hùng biên soạn. (Các thống kê trên đều được chúng tôi tái  
trích dẫn từ công trình này).  
Cite this article as: Le, Q. H. (2021). Kieu Thanh Que and  
his monograph “Literary Criticism”. UED Journal of Social  
Sciences, Humanities and Education, 11(1). 22-27.  
22 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 11, Số 1 (2021), 22-27  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 22-27  
bình văn học bởi đây có lẽ là phạm vi hoạt động năng  
nổ, tích cực nhất và cũng để lại nhiều đóng góp nhất của  
Kiều Thanh Quế. Bên cạnh các bài tiểu luận phê bình  
đăng trên nhiều tờ báo, tạp chí khắp trong Nam ngoài  
Bắc như: Mai, Tin điện Sài Gòn, Văn Lang tuần báo,  
Nam Kỳ tuần báo, Đông Dương tuần báo, Tiểu thuyết  
thứ bảy, Tri Tân, Độc lập…, Kiều Thanh Quế còn đóng  
góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại những công  
trình phê bình văn học giá trị: Ba mươi năm văn học  
(1942), Phê bình văn học (1942), Cuộc tiến hóa văn học  
Việt Nam (1943), Đàn bà và nhà văn (1943), Thi hào  
Tagore (1943), Học thuyết Freud (1943), Vũ Trọng  
Phụng và chủ nghĩa tả thiệt xã hội (1945)…  
và phê bình”, “Phê bình với văn hóa”, “Phê bình với  
văn học”, “Phê bình văn học”, “Các nhà phê bình văn  
học ở nước ta”; Thiên thứ hai gồm một phụ đề được viết  
dưới dạng tiểu luận văn học: “Chủ nghĩa tả thiệt xã hội  
và một xã hội tiểu thuyết của Zola Việt Nam”.  
Chuyên khảo này tập hợp những bài luận của Kiều  
Thanh Quế và một số tác giả khác (Phan Văn Hùm -  
P.V.H - Huỳnh U Mai; Hoài Nam Nguyễn Hiền…)  
vốn được đăng rải rác trên các mặt báo ở Bắc Kỳ,  
Trung Kỳ và nhất là ở Sài Gòn. Điều này cho thấy một  
đặc điểm chung của đội ngũ các nhà phê bình giai  
đoạn này. Họ hiện diện vừa như một nhà báo vừa như  
một nhà phê bình/nhà văn/dịch giả, hoạt động văn học  
của họ gắn liền với đời sống báo chí đương thời, bởi  
đây là kênh thông tin nhanh nhất, linh hoạt nhất cho  
phép các nhà phê bình cập nhật, hồi đáp tình hình văn  
học. Một số gương mặt phê bình của nền lí luận phê  
bình văn học miền Nam gắn liền với các diễn đàn báo  
chí như: Thiếu Sơn viết trên Phụ nữ tân văn, Thái Phỉ  
viết trên Ngọ báo và Tân văn, Hoài Thanh viết trên  
Tràng An, Lê Tràng Kiều viết trên Hà Nội báo và Tiểu  
thuyết thứ Năm,... còn Kiều Thanh Quế thì viết trên  
Mai và Tri tân. Có thể thấy, sự hình thành của nền lí  
luận phê bình văn học Việt Nam hiện đại luôn song  
hành cùng thực tiễn báo chí đương thời: “Báo chí  
chính là cơ sở đầu tiên nuôi dưỡng và tác động đến sự  
hình thành những công trình dài hơi hơn về lí luận phê  
bình đầu thế kỉ” (Trinh, 2016, 61).  
2. Nội dung  
2.1. Giới thiệu chuyên khảo Phê bình văn học  
Phê bình văn học (Kieu, 1942) cùng với những  
đóng góp khác của Kiều Thanh Quế trong hai thập niên  
1930, 1940 đã góp phần củng cố và xác lập sự trưởng  
thành của nền lí luận, phê bình giai đoạn thứ hai 1932-  
1945 trong tiến trình lí luận, phê bình văn học Việt Nam  
hiện đại (1900-1945).  
Chuyên khảo Phê bình văn học được cấu trúc thành  
ba phần: Văn tâm, Triết lí và Bổ di, phụ lục. Phần thứ  
nhất gồm 5 tiểu mục: “Chủ nghĩa nghệ thuật”, “Cái lối  
văn chương rườm rà mà trống rỗng đang nhiễu hại xứ  
này”, “Bàn về lối đoản thiên tiểu thuyết”, “Nhân tuần và  
văn chương”, “Nhờ sách”. Phần thứ hai gồm 4 tiểu mục:  
“Cần phải định nghĩa”, “Phát vấn đề phải cho trúng  
cách”, “Điều kiện thêm, vấn đề đổi”, “Muốn hiểu rành  
mọi sự”. Cuối cùng là “Phần Phụ: Bổ di, phụ lục”, gồm  
một loạt bài phê bình của các tác giả như Phan Văn  
Hùm (P.V.H, Huynh U Mai), Hoài Nam Nguyễn Hiền,  
Đông Hồ, Nguyễn Minh Khai… về kiệt tác của văn học  
dân tộc: Truyện Kiều, về vũ trụ luận của Khổng Tử, về  
thế giới quan trong triết học Tống Nho... Ngoài ra, để  
“đọc vị” rõ hơn tư tưởng, ý hướng về phê bình của Kiều  
Thanh Quế, chúng tôi còn liên hệ, bàn luận mở rộng đến  
một công trình có liên quan khác của ông: Phê bình văn  
học trong tủ sách phê bình Tân Việt2. Chuyên khảo này  
gồm hai thiên: Thiên thứ nhất gồm 5 mục: “Nghệ thuật  
Những bài tiểu luận của Kiều Thanh Quế trong  
chuyên khảo Phê bình văn học được đều được viết  
trong giai đoạn từ 1933-1936. Như vậy, chúng được  
viết khi Kiều Thanh Quế còn đương ở độ tuổi rất trẻ,  
những năm đầu của độ tuổi hai mươi. Ở tuổi tam thập  
(1944), Kiều Thanh Quế đã có một di sản văn học  
đáng ngưỡng mộ với rất nhiều chuyên khảo lí luận phê  
bình (đều được xuất bản trong giai đoạn 1942-1943),  
các công trình dịch (Nam Mô A Di Đà Phật - 1941,  
Một ngày của Tolstoi - 1942), truyện ngắn và tiểu  
thuyết… Đáng chú ý nhất trong di sản văn học của  
Kiều Thanh Quế là lĩnh vực lí luận phê bình văn học.  
Ở lĩnh vực này, nhà phê bình trẻ Kiều Thanh Quế cho  
thấy một bút lực dồi dào, cũng như khả năng bao quát  
thời sự văn học, khả năng nhận diện và mổ xẻ vấn đề.  
Từ đây, chuyên khảo này là hiện thân sinh động cho  
những đóng góp của Kiều Thanh Quế cho lí luận phê  
2Có thể đọc công trình này trong cuốn Cuộc tiến hóa văn  
học Việt Nam - Tuyển tập khảo cứu phê bình, Nxb. Thanh  
niên, 2009, Nguyễn Hữu Sơn và Phan Mạnh Hùng biên soạn.  
23  
Lê Quốc Hiếu  
bình văn học nghệ thuật giai đoạn 1932-1945, như  
được trình bày dưới đây.  
dụ Voltaire, Sainte Beuve ở Pháp; ở Việt Nam có  
Trương Tửu đối với Tự lực Văn đoàn); Phê bình “giễu  
cợt trò hề”; phê bình “bình giả dung hòa”, không khen  
hẳn, cũng không chê hẳn. Cụ thể, chẳng hạn, Kiều  
Thanh Quế cho rằng, khi thiếu vắng sáng tạo, phê bình  
trở thành thứ quảng cáo rẻ tiền. Ông chỉ trích không  
khoan nhượng lối phê bình quảng cáo hay vì hiềm  
khích/ cảm mến riêng đang làm “nhiễu hại” nền văn  
chương xứ này: “Lối phê bình quảng cáo của nhiều nhà  
báo ở nước ta (và ở cả nước Pháp nữa!) chỉ giá trị bằng  
những lời rao của bọn trẻ bán báo… không hơn không  
kém! Hoặc nhận tiền của nhà xuất bản, hoặc bởi cảm  
tình riêng của tác giả, những nhà phê bình quảng cáo  
đem đánh đĩ ngòi bút, viết lên mặt báo những lời ca  
ngợi quá đáng, xem hớ hênh đến buồn cười” (Kieu et al.,  
2009, 266). Táo bạo và thẳng thắn hơn nữa, Kiều Thanh  
Quế không ngần ngại đưa ra những dẫn chứng thực tế về  
lối phê bình vì hiềm riêng không chỉ là “chuyện của bọn  
bình giả vô danh” mà ngay cả “đến những các nhà phê  
bình có tiếng như Voltaire, Sainte Beuve ở Pháp và  
Trương Tửu ở nước ta chẳng hạn, đôi khi cũng nhúng bút  
làm chuyện ấy” (Kieu et al., 2009, 267). Ở mỗi kiểu phê  
bình, Kiều Thanh Quế đều đưa ra những đặc điểm nhận  
diện từng lối phê bình với những dẫn chứng, nhận định  
có phần táo bạo, thẳng thắn. Lối nghị luận của Kiều  
Thanh Quế cho ta thấy tác giả có một nguồn kiến văn sâu  
rộng, bao quát không chỉ văn học truyền thống và đương  
thời của dân tộc mà còn cả Hoa văn, Pháp văn.  
Về các nhà phê bình: Sinh thể “phê bình” còn được  
luận bàn ở khía cạnh “chủ thể sáng tạo” của nó - các nhà  
phê bình. Kiều Thanh Quế còn đánh giá cao vai trò của  
phê bình và các nhà phê bình trong nền văn học quốc  
gia. Ông đòi hỏi ở mỗi nhà phê bình phải có “cặp mắt  
của Boileau” (Nicolas Boileau Despreaux là một nhà  
thơ và nhà phê bình người Pháp) (Kieu et al., 2009, 263)  
để có được một tinh thần khoa học “nghiêm khắc với  
các cây bút hữu danh” (Kieu et al., 2009, 263). Trong  
phần “Phê bình với văn học”, Kiều Thanh Quế còn luận  
bàn chi tiết về vai trò của nhà phê bình chân chính. Ông  
viết: “Nhà phê bình chân chính là một người có lực  
lượng, quyền hạn, điều kiện để không phải làm việc  
quảng cáo như bọn con buôn, trả thù như đàn bà hay  
tiểu nhân; mà để chính đáng giới thiệu những nhân tài  
không may bị đắm chìm trong bóng tối, cộng tác với các  
nhà văn hữu danh cốt làm sao cho nền văn học nước nhà  
những áng văn chương toàn bích, và đàn hặc, sửa trị,  
2.2. Luận bàn về phê bình  
Chiếm một phần lớn trong chuyên khảo Phê bình  
văn học là các bài bàn luận trực tiếp về phê bình văn học,  
có giá trị đóng góp to lớn trong việc củng cố nền tảng lí  
luận về phê bình ở Việt Nam giai đoạn 1932-1945.  
Về nghệ thuật nói chung: Kiều Thanh Quế phân tách,  
làm rõ nội hàm khái niệm “nghệ thuật” (art). Nghệ thuật  
là lĩnh vực “sáng chế cái đẹp” song “tùy nơi, tùy thời, tùy  
xã hội, tùy hạng người, tùy bao nhiêu sự vật, mà cái đẹp  
có khác nhau” (Kieu, 1942, 11). Như vậy, với Kiều  
Thanh Quế, cái đẹp và nghệ thuật là những thuật ngữ có  
nội hàm ngữ nghĩa rộng mở và liên tục biến đổi nghĩa  
theo những bối cảnh tri nhận khác nhau. Kiều Thanh Quế  
còn chỉ ra hai mục đích khác nhau của nghệ thuật: “Vị  
nhu yếu” và “Để thưởng thức”. Từ việc làm rõ nội hàm  
khái niệm “nghệ thuật”, Kiều Thanh Quế hướng đến việc  
nhấn mạnh phê bình cũng là một “lối nghệ thuật dùng  
nghệ thuật làm tài liệu” (Kieu et al., 2009, 262).  
Về khái niệm “phê bình”: Kiều Thanh Quế bàn luận  
nhiều vấn đề xung quanh thực thể “phê bình” nhất là phê  
bình văn học. Có lẽ đây là một trong những công trình  
sớm nhất bàn luận, bóc tách nội hàm khái niệm phê bình  
đồng thời đưa ra những nhận định mới về các kiểu phê  
bình. Đặt “phê bình” như là một hành vi/ thực hành có  
tính văn hóa, Kiều Thanh Quế quan niệm, phê bình “tức  
là truyền bá văn hóa” (Kieu et al., 2009, 262). Vậy nên,  
phê bình văn học là một cách thế truyền bá văn hóa thông  
qua việc phân tích, mổ xẻ và luận bàn văn học. Với quan  
điểm phê bình cũng là sáng tạo, ông cho rằng, phê bình là  
“một phát minh và một sáng tạo vĩnh viễn” (Kieu et al.,  
2009, 263). Để chứng minh cho luận điểm này, Kiều  
Thanh Quế đã đưa ra những dẫn chứng xác đáng về phê  
bình văn học (truyện ngắn Kép Tư Bền của Nguyễn Công  
Hoan, thi phẩm Thời gian của Xuân Diệu) nhằm lí giải  
tính “phát minh” và “sáng tạo” trong phê bình văn học.  
Với “con mắt phê bình” nhạy bén, tư duy logic và lối  
nghị luận khúc chiết, ở luận điểm này Kiều Thanh Quế đã  
chứng tỏ được sức thuyết phục của một cây bút lí luận  
phê bình tuy trẻ tuổi nhưng đầy bản lĩnh.  
Về các kiểu phê bình: Chưa dừng lại ở đó, Kiều  
Thanh Quế còn mạnh dạn xếp hạng, phân loại năm kiểu  
phê bình “không sáng tạo”: Phê bình quảng cáo (“chỉ  
giá trị bằng những lời rao của bọn trẻ bán báo”; Phê  
bình “mỗi mỗi đều chỉ trích”; Phê bình vì hiềm riêng (ví  
24  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 22-27  
đánh bẹp, giết chết bọn vô tài, dọn trống đường tiếp đón  
những bực siêu quần” (Kieu et al., 2009, 269). Với mỗi  
vai trò cụ thể của nhà phê bình chân chính (giới thiệu,  
cộng tác và đàn hặc) Kiều Thanh Quế đều đưa ra những  
luận điểm, luận chứng sinh động, thú vị và thích đáng.  
Chính Kiều Thanh Quế và một loạt các cây bút khác  
như Thiếu Sơn (với Phê bình và cảo luận, 1933),  
Nguyễn Văn Hạnh (với công trình Hồ Xuân Hương, tác  
phẩm, thân thế và văn tài, 1936), Trần Thanh Mại (với  
Hàn Mặc Tử, 1941), Hoài Thanh (với Thi nhân Việt  
Nam, 1942), Trương Tửu (với Nguyễn Du và Truyện  
Kiều, 1942; Tâm lí và tư tưởng Nguyễn Công Trứ,  
1945)… đã trở thành những nhà lí luận phê bình văn  
học chuyên nghiệp của giai đoạn 1932-1945.  
Về các lối phê bình: Kiều Thanh Quế tỏ ra am hiểu  
các lối phê bình văn học của phương Tây (Lối phê bình  
thi pháp học mô phỏng của Boileau, Lối phê bình lịch sử,  
tiểu sử của Villemain và Sainte Beuve, Lối phê bình văn  
hóa - lịch sử của Taine…) thông qua việc miêu thuật lại  
và chỉ ra những ưu khuyết của từng lối phê bình. Riêng  
khuynh hướng phê bình xã hội học Marxist, Kiều Thanh  
Quế dành hẳn một thiên để giới thiệu về chủ nghĩa tả thiệt  
xã hội với điển hình là tiểu thuyết của Zola Việt Nam -  
Vũ Trọng Phụng. Thái độ tiếp nhận “khá thận trọng”  
(Tran, 2018, 97) của Kiều Thanh Quế khi giới thiệu các  
trường phái về bình văn học phương Tây đã cho thấy bản  
lĩnh của một nhà phê bình, “đặc biệt là trong thời đoạn  
mà các trường phái phê bình phương Tây đang chứng tỏ  
sức hấp dẫn đặc biệt của nó”. Từ đây, phải đặt công trình  
Phê bình văn học (1942) của Kiều Thanh Quế trong phối  
cảnh phê bình văn học 1932-1945 mới thấy rõ được đóng  
góp của ông đối với sự trưởng thành của nền phê bình  
văn học hiện đại. Cùng với sự triển nở ngày càng sinh  
động của các hướng phê bình với tiềm năng ứng dụng  
của nó, chẳng hạn, phê bình theo lối tiểu sử học (Trần  
Thanh Mại với Trông dòng sông Vị và Hàn Mặc Tử; Đào  
Duy Anh với Khảo luận về Kim Vân Kiều,...), phê bình  
theo lối ấn tượng chủ quan (các tác phẩm phê bình của  
Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Thạch Lam, Trương Chính,  
Thiếu Sơn…), phê bình theo lối khoa học (Nguyễn Bách  
Khoa với Nguyễn Du và Truyện Kiều), những đóng góp  
về lí luận phê bình của Kiều Thanh Quế đã góp phần làm  
phong phú nền lí luận phê bình văn học còn khá non trẻ  
lúc bấy giờ.  
vấn đề về phương pháp luận để phê bình văn học, chẳng  
hạn như các bài viết trong phần Triết lý: “Cần phải định  
nghĩa”; “Phát vấn đề phải cho trúng cách”; “Điều kiện  
thêm, vấn đề đổi”; “Muốn hiểu rành mọi sự”. Thiết nghĩ  
những vấn đề được bàn luận đều thuộc về những kĩ  
năng, phương pháp cơ bản nhất để phê bình văn học sao  
đúng, cho trúng. Cách đặt vấn đề nghị luận của Kiều  
Thanh Quế có phần dí dỏm và tự nhiên bởi ông thường  
dẫn dắt vấn đề thông qua những câu chuyện đời thường  
có liên quan. Bàn về tầm quan trọng của việc phải định  
nghĩa đối tượng phê bình, ông viết: “Người làm văn cần  
phải thấu đáo các nghĩa của tiếng mình dùng mới có thể  
lợi dụng được nó cho trúng tình trúng tiết. Có tiếng  
thanh nhã thâm trầm mà nói trong một tình cảnh riêng  
nào đó, thời lại vô vị hoặc sai cách. Trái trở lại, có tiếng  
tục thoại thường đàm, mà nói trong một tình cảnh thích  
hiệp nó, thời lại hóa ra “có duyên” và diễn được hết tình  
ý” (Kieu, 1942, 48). Chính việc định nghĩa, giải nghĩa  
hay nói cách khác, hiểu thấu đáo ngữ nghĩa văn cảnh  
của đối tượng phê bình (một từ, một hình ảnh…) sẽ  
mang đến những hiệu quả trong việc tri nhận giá trị  
chân thiện mĩ của tác phẩm, tư tưởng của tác giả, từ đó  
phê bình có thể lan tỏa được giá trị cũng như vai trò  
“truyền bá văn hóa” (Kieu et al., 2009, 262) của nó.  
Kiều Thanh Quế dẫn chứng từ “mà” trong Truyện Kiều  
để minh họa tầm quan trọng của việc dùng từ đích đáng:  
“Như tiếng “mà” là nột tiếng người làm văn hay tránh.  
Song trong câu: “Người mà đến thế thì thôi, Đời phồn  
hoa cũng là đời bỏ đi”. Thời tiếng “mà” mà người ta  
tránh ấy, lại hàm súc ý nghĩa sâu sắc dưới ngòi viết của  
Nguyễn Du. Có cần gì phải mượn đến những chữ “lớn  
lối” mà xếp vào văn chương nếu mượn mà nghĩa dùng  
sái chỗ thời cũng chẳng thành văn, mà lại thành “vằn”  
có khi” (Kieu, 1942, 48). Kiều Thanh Quế còn nghị luận  
về việc phải đặt vấn đề sao cho trúng, tức là khi phê  
bình một vấn đề nào đó, nhà phê bình phải đặt nó vào  
trong bối cảnh văn hóa xã hội thời đại mà vấn đề đó  
được khởi sinh và diễn tiến. Thiết nghĩ, các vấn đề nghị  
luận mà Kiều Thanh Quế đặt ra đều là những kĩ năng  
phê bình cơ bản nhất mà bất cứ một nhà phê bình nào  
cũng phải trau dồi, rèn luyện.  
Khả năng bao quát, cập nhật đời sống văn học của  
Kiều Thanh Quế còn được thể hiện qua công trình Ba  
mươi năm văn học (bút danh Mộc Khuê, Nxb Tân Việt,  
Hà Nội, 1942, 128). Ông thống kê, khảo cứu những văn  
phẩm, nghiên cứu đáng chú ý trên các phương diện thể  
Về phương pháp luận phê bình: Trong chuyên khảo  
Phê bình văn học, Kiều Thanh Quế còn luận bàn một số  
25  
Lê Quốc Hiếu  
loại và các lĩnh vực của khoa học văn học trong 30 năm  
đầu thế kỉ (1900-1930). Cần lưu ý rằng, cùng với cuốn  
Phê bình văn học, công trình này là một trong những  
đóng góp quan trọng nhất của Kiều Thanh Quế đối với  
khoa học văn học, nhất là văn học sử khi ông phác thảo  
lại diện mạo của cả một giai đoạn văn học (giai đoạn  
đầu trong tiến trình lí luận, phê bình hiện đại 1900-  
1945) trên các bình diện như: Báo chí, Thơ ca, Tiểu  
thuyết, Phóng sự, Kịch bản, Lịch sử, địa lí, Khảo cứu,  
nghị luận, Phê bình, Dịch thuật. Việc quan tâm đến  
“Kịch bản” - một thể loại văn học vốn bị giới học thuật  
thời đó “lạnh nhạt” và ngay cả thời nay cũng vậy - cho  
thấy ở Kiều Thanh Quế tính khách quan, nghiêm túc của  
một tinh thần khoa học cầu toàn. Hiện nay lí luận về thể  
loại kịch bản văn học chưa được giới hàn lâm quan tâm  
đúng mực, cũng như nó gần như thiếu vắng trong các  
giáo trình giảng dạy về lí luận văn học.  
điểm nghị luận của mình. Điều này cho thấy tinh thần  
“hướng về nguồn cội”, lòng tự hào về di sản văn hóa tinh  
thần của dân tộc của Kiều Thanh Quế cũng như của một  
đội ngũ các nhà phê bình khác. Cần lưu ý rằng, ngoài các  
cuộc tranh luận sôi nổi của giai đoạn này (Tranh luận về  
Truyện Kiều, Thơ mới - Thơ cũ…), phần lớn các công  
trình được xuất bản trong giai đoạn 1900-1945 đều gắn  
với khuôn khổ văn học cổ điển, chẳng hạn: Việt Hán văn  
khảo (1918) của Phan Kế Bính, Văn chương thi phú An  
Nam (1923) của Hà Ngọc Cẩn, Nam thi hợp tuyển (1927)  
của Nguyễn Văn Ngọc, Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa  
(1925) của Lê Thành Ý, Quốc văn trích diễm (1925) của  
Dương Quảng Hàm, Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn  
tướng công Nguyễn Công Trứ (1928) của Lê Thước, Văn  
đàn bảo giám (1928) của Trần Trung Viên, Quốc văn cụ  
thể (1932) của Bùi Kỉ, Hồ Xuân Hương, tác phẩm, thân  
thế và văn tài (1936) của Nguyễn Văn Hanh, Nguyễn Du  
với Truyện Kiều (1942) của Hoài Thanh, Khảo luận về  
Kim Vân Kiều (1943) của Đào Duy Anh…  
2.3. Tinh thần phê bình hướng về văn hóa Á Đông  
“Theo cách hiểu hiện nay, có thể nhận thấy Kiều  
Thanh Quế đã “bao sân” các vấn đề văn hóa - văn học  
dân tộc từ truyền thống đến hiện đại, từ quá khứ mở rộng  
về tương lai, thực hiện “ôn cũ biết mới”, lấy xưa vì nay,  
phục vụ cho hiện tại” - (Nguyen, 2020, 103). Thực vậy,  
đáng chú ý trong chuyên khảo Phê bình văn học nói riêng  
và sự nghiệp của Kiều Thanh Quế nói chung đó là tinh  
thần hướng về văn hóa dân tộc, văn hóa Á Đông. Trong  
bối cảnh thực dân và giai đoạn “chuyển mình” của văn  
học và thời đại, việc tìm về và say sưa về/với “của cải”  
dân tộc là một trong những cách thức để phục dựng bản  
sắc, lịch sử của dân tộc, đồng thời khẳng định lòng tự tôn  
dân tộc. Hòa chung xu hướng tinh thần “ôn cố tri tân”,  
“bảo tồn cổ học” của lí luận phê bình văn giai đoạn trước  
(1900-1932) và giai đoạn này (1932-1945), chuyên khảo  
Phê bình văn học của Kiều Thanh Quế cũng dành nhiều  
trang sách để tái in ấn một số bài viết của các tác giả khác  
như Phan Văn Hùm - P.V.H - Huỳnh U Mai (“Vũ Trụ  
luận của họ Khổng”; “Đáp lời ông Nguyễn Hiền về Kinh  
Dịch”; “Thảo luận về nguồn thi cảm mới”, “Một câu thơ  
trong Truyện Kiều”; “Trở lại câu Kiều”), Hoài Nam  
Nguyễn Hiền (“Vũ trụ quan trong triết học Tống Nho”),  
Xuân Giang tức Đông Hồ (“Thảo luận về thơ - Đáp lời  
ông P.V.H”), “vô danh” (“Nói chuyện với ông H.U.M về  
bài ba sao giữa trời”), Nguyễn Minh Khai (“Ba sao giữa  
trời”). Bản thân ông cũng nhiều lần phân tích, phê bình  
Truyện Kiều hoặc trích dẫn các bài phê bình về Truyện  
Kiều như là những luận chứng để minh họa cho các luận  
Kiều Thanh Quế còn chú đến việc nhận diện các tái  
trình hiện văn hóa đầy mới mẻ về giai cấp thợ thuyền, lao  
động trong dòng văn học tả thiệt xã hội mà đại diện của  
dòng văn này không ai khác chính là Phụng. Kiều Thanh  
Quế dành hẳn một Thiên có tên: “Chủ nghĩa tả thiệt xã  
hội và một số tiểu thuyết của Zola Việt Nam” trong Phê  
bình văn học trong tủ sách phê bình Tân Việt để phê bình  
nhà văn đương thời Vũ Trọng Phụng. Cách định danh Vũ  
Trọng Phụng như là một “Zola Việt Nam” cho thấy thái  
độ đề cao, trân trọng tác phẩm của họ Vũ. Kiều Thanh  
Quế phân tích và chỉ ra mối tương đồng giữa Việt Nam  
thời kì 1935-1936 và Pháp năm 1850 trên bình diện đời  
sống xã hội và đời sống nghệ thuật. Dễ nhận thấy trong  
lối phê bình của mình, Kiều Thanh Quế đã vận dụng các  
phương pháp phê bình khác nhau (tuy còn hạn chế) như:  
phê bình tiểu sử, phê bình văn hóa xã hội và phê bình  
phân tâm học đối với tiểu thuyết Giông tố của Vũ Trọng  
Phụng. Từ đây, Kiều Thanh Quế đưa ra những nhận định,  
phê bình thẳng thắn, chẳng hạn: “Giông tố của Vũ Trọng  
Phụng về lượng ngang ngửa với Trường đời của Lê Văn  
Trương nhưng về phẩm thì vượt cao hẳn lên một cách  
trông thấy” - (Kieu et al., 2009, 297). Tuy vậy, phần viết  
này cũng bộc lộ nhiều thiếu sót. Tiểu mục “Nghệ thuật và  
xã hội chủ nghĩa” rườm rà, lan man, chưa đạt được sự cô  
đọng, logic trong hành văn và biểu ý. Phần phê bình tiểu  
thuyết Giông tố lại sa đà vào trích dẫn quá nhiều khiến  
cho cả chất và lượng của phê bình giảm đi đáng kể. Phần  
26  
ISSN: 1859 - 4603, UED Journal of Social Sciences, Humanities and Education, Vol. 11, No. 1 (2021), 22-27  
viết này cũng chỉ dừng lại ở việc phê bình trường hợp  
Giông tố, chưa bao quát được đối tượng phê bình như  
trong tiêu đề.  
chuyên khảo Phê bình văn học trong bối cảnh của nền lí  
luận phê bình văn học hiện đại còn khá non trẻ thời bấy  
giờ mới thấy hết được những đóng góp của Kiều Thanh  
Quế ở khả năng nhận diện và trình hiện một số vấn đề  
chung có tính thời sự của phê bình văn học. Từ đây, các  
công trình của Kiều Thanh Quế góp phần vào sự hình  
thành của nền lí luận phê bình hiện đại.  
Tinh thần hướng về văn hóa Á Đông còn được thể  
hiện rõ ràng và xuyên suốt trong công trình Thi hào  
Tagore của Kiều Thanh Quế. Nhìn chung, công trình  
này kiến giải tư tưởng Tagore - “Nhà đại biểu văn hóa Á  
Đông” (Kieu et al., 2009, 23) từ các điểm tham chiếu,  
lăng kính văn hóa đa dạng: văn hóa truyền thống  
phương Đông, văn minh phương Tây, và những giao  
thoa văn hóa Đông Tây. Thông qua sự kiến giải này mà  
bản sắc Á Đông được minh định trong mối tương quan  
với bản sắc phương Tây.  
Tài liệu tham khảo  
Bang, G. (1974). Pieces of historical literature (Mảnh  
vụn văn học sử). Chan Luu.  
Kieu, T. Q. (1942). Literary criticism (Phê bình văn học).  
Tan Viet.  
Kieu, T. Q., Nguyen, H. S., & Phan, M. H. (2009). The  
evolution of Vietnamese literature - The collection  
of literary critiques (Cuộc tiến hóa văn học Việt  
Nam - Tuyển tập khảo cứu phê bình)]. Thanh nien.  
Nguyen, P. T. (2020). Kieu Thanh Que and traditional  
culture and literature (Kiều Thanh Quế với văn hóa  
- Văn học truyền thống dân tộc). Journal of Social  
Sciences, 1+2 (257+258), 102-112.  
Tran, T. M. H. (2018). Kieu Thanh Que and Western  
schools of literary criticism (Kiều Thanh Quế với  
các trường phái phê bình văn học phương Tây). Ho  
Chi Minh City University of Education Journal of  
Science. 15(11), 89-98.  
3. Kết luận  
Nhìn chung, chuyên khảo Phê bình văn học của  
Kiều Thanh Quế thiên về luận bàn các vấn đề chung của  
phê bình văn học. Các bài nghị luận về văn học, về phê  
bình đã chứng tỏ Kiều Thanh Quế là một cây bút bản  
lĩnh, xông xáo. Lối nghị luận của Kiều Thanh Quế  
không khô khan cứng nhắc, ngược lại có tính thuyết  
phục và sinh động nhờ những liên hệ, đối chiếu, phân  
tích ngữ liệu Đông - Tây của ông. Đóng góp của Kiều  
Thanh Quế cho việc xây dựng và củng cố nền tảng lí  
luận phê bình hiện đại được thể hiện rõ nét qua những gì  
ông đã làm: luận bàn cụ thể về các phạm trù của phê  
bình, mối quan hệ giữa phê bình với văn hóa và văn  
học, đặc trưng của phê bình văn học, các kiểu nhà phê  
bình, vai trò của nhà phê bình, các lối phê bình… Đặt  
Trinh, B. D. (2016). History of Vietnamese literary  
criticism theories (Lịch sử lý luận phê bình văn học  
Việt Nam). Vietnam National University, Hanoi.  
KIEU THANH QUE AND HIS MONOGRAPH “LITERARY CRITICISM”  
Le Quoc Hieu  
Vietnam Institute of Literature, Vietnam Academy of Social Sciences, Vietnam  
Author corresponding: Le Quoc Hieu - Email: hieulequoc@gmail.com  
Article History: Received on 15th January 2021; Revised on 26th March 2021; Published on 14th June 2021  
Abstract: The literary legacy of the writer Kiều Thanh Quế can be considered a “fertile land” and an “opening structure” which  
suggest/require numerous interpretations and judgments. Understanding Kieu Thanh Que’s essential contributions to the formation of  
theoretical fundamentals of literary criticism helps re-evaluate his role and position in Vietnamese literature of the first half 20th  
century, especially in literary criticism - Kieu Thanh Que’s most dynamic and productive area of work. This article aims to: 1, introduce  
his monograph Literary Criticism; 2, point out several features of Kieu Thanh Que’s reasoning and critical thinking; and then 3.  
highlight his contributions to literary criticism of Vietnamese literature over the period 1932-1945. Contextualizing his book Literary  
Criticism in such early stage of literary criticism allows us to see clearly how he contributed with his ability to recognize and represent  
some theoretical and current issues in the field of literary criticism.  
Key words: Literary Criticism; Kieu Thanh Que; criticism; 1932-1945; Oriental culture.  
27  
pdf 6 trang yennguyen 12380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiều Thanh Quế với chuyên khảo phê bình văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkieu_thanh_que_voi_chuyen_khao_phe_binh_van_hoc.pdf