Motif nhân quả báo ứng trong văn xuôi sinh thái Việt Nam đương đại từ góc nhìn Phật giáo

33  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC  
MOTIF NHÂN QUẢ BÁO ỨNG TRONG VĂN XUÔI  
SINH THÁI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI  
TỪ GÓC NHÌN PHẬT GIÁO  
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT*  
TRẦN LÊ HỒNG PHÚC**  
Trong bối cảnh khủng hoảng môi trường hiện nay, việc quay trở lại quan niệm  
“kính úy sinh mệnh” của Phật giáo là một cách thay đổi hành vi cứu nguy môi  
trường. Phật giáo với giáo lý nhân quả - báo ứng là một phương pháp giáo dục  
luân lý đạo đức thiết thực, thực tiễn. Sự tương hợp nội tại giữa giáo lý Phật giáo  
với văn xuôi sinh thái đương đại đã tìm về những giải pháp cụ thể về mặt tâm  
hồn, tình cảm cho việc sống dung hòa sinh thái và bảo vệ vạn vật. Trong bài viết  
này, từ những gợi dẫn của giáo lý nhân quả báo ứng trong giáo lý Phật giáo,  
chúng tôi phân tích motif cốt truyện trừng phạt và motif cốt truyện quả báo trong  
văn xuôi sinh thái Việt Nam đương đại.  
Từ khóa: chủ nghĩa nhân văn sinh thái, văn xuôi sinh thái đương đại, khủng hoảng  
sinh thái, Phật giáo  
Nhận bài ngày: 5/3/2020; đưa vào biên tập: 25/12/2020; phản biện: 4/1/2021; duyệt  
đăng: 7/3/2021  
1. DẪN NHẬP  
Glotfelty (1996), vấn đề môi trường  
được các sử gia, các nhà tâm lý học,  
các triết gia và các nhà hoạt động tôn  
giáo đặt ra từ những năm 1970. Các  
tôn giáo phương Đông được coi     hệ  
thống tôn giáo chứa đầy các t n điều  
sáng suốt về t  nhi n v  thế giới tinh  
thần   Glotfelty, 1996); và việc tìm về  
với các tư tưởng, tôn giáo, triết học  
phương Đông có thể tìm ra phương  
Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ con người  
phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh  
thái nhất. Vấn đề khủng hoảng môi  
trường không phải vấn đề của mỗi  
quốc gia dân tộc nữa mà là vấn đề  
của toàn nhân loại. Theo Cheryll  
*
,
** Trường Đại học Duy Tân.  
34  
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT - TRẦN LÊ HỒNG PHÚC – MOTIF NHÂN QUẢ BÁO ỨNG…  
pháp giải quyết nguy cơ sinh thái trường ảnh hưởng đến toàn bộ s  
sống trên trái đất. Văn học sinh thái  
(Ecoliterature) (hay còn gọi Văn học  
sinh thái học (Ecological Literature),  
Văn học môi trường (Environmental  
Literature), Văn học xanh (Green  
Literature), Lối viết t  nhiên (Nature  
Writing)) chú trọng đến trách nhiệm  
của con người đối với môi sinh, kêu  
gọi bảo vệ vạn vật và duy trì cân bằng  
sinh thái. Trong văn xuôi sinh thái Việt  
Nam đương đại, có nhiều cây bút  
sáng tác mang đặc trưng của triết lý  
sinh thái theo tư tưởng nhân quả báo  
ứng của Phật giáo: Nguyễn Huy Thiệp,  
Nguyễn Trí, Hoa Ngõ Hạnh, Triệu  
Hoàng Giang, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn  
Bình Phương, Đ o Thắng, Sương  
Nguyệt Minh… Qua đó, chúng tôi  
nhận thấy rằng: s  gặp gỡ của các  
nh  văn sinh thái với tư tưởng nhân  
quả báo ứng của Phật giáo cho thấy  
từ xưa đến nay vẫn có một nguồn  
mạch thông suốt trong chiều sâu  
mạch cảm về những cảnh tỉnh để cất  
lên tiếng nói mạnh mẽ cứu nguy môi  
trường, qua đó cảnh tỉnh nghiêm khắc  
về s  oan oan tương báo t n khốc khi  
con người sát hại các  o i động vật.  
(Trần Hải Yến, 2014). Nguyễn Thị  
Tịnh Thy  2017) cũng cho rằng thần  
học sinh thái là một tư tưởng quan  
trọng của lý thuyết sinh thái. Trong đó,  
Phật giáo với tư tưởng  vạn vật bình  
đẳng , coi con người hay giới vô tình  
đều có Phật t nh đã tạo nên một nền  
tảng tư tưởng vững chắc cho việc tái  
thiết sinh thái.  
Các tu sĩ Phật giáo cho rằng nguồn  
gốc của khủng hoảng sinh thái là do  
 con người rất tham  am, u m , độc  
ác   Th ch Tr  Si u, 2008: 3); con  
người cho rằng mình có trí tuệ nên có  
thể điều khiển trái đất theo ý muốn,  
nhưng th c tế, con người chỉ là một  
phần bé nhỏ trong hệ sinh thái, nếu  
không tỉnh thức để điều khiển hành vi,  
nền văn minh của  o i người sẽ là  
 nền văn minh không thể chế ng  .  
Trong thời đại khủng hoảng môi  
trường, cùng với các tư tưởng sinh  
thái phương Tây hiện đại giáo lý Phật  
giáo được tập hợp trong Đạo Phật và  
môi trường (Nhiều tác giả, 2010) cho  
thấy tư tưởng Phật giáo đương đại  
cảnh tỉnh về tình trạng trái đất đang  
 âm nguy… Cuộc đối thoại giữa  
Daisaku Ikeda và Aurelio Peccei rung  
lên hồi chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ  
XXI (Ikeda v  Peccei, 1993),  cảnh  
tỉnh để lo tu tập và cứu nguy môi  
trường   Th ch Tr  Si u, 2008), để cầu  
về mối tương duy n tương sinh của  
muôn  o i tr n trái đất của Thích Nhất  
Hạnh (Thích Nhất Hạnh, 2014). Văn  
học sinh thái nổi lên khi vấn đề biến  
Tư tưởng nhân quả báo ứng của Phật  
giáo vốn thể hiện qua h nh vi cư xử,  
qua l a chọn cách sống thiện lành ở  
người Việt xưa. Người xưa ý thức  
được rằng gieo trồng nhân lành thì sẽ  
nhận được quả lành, nếu gây tạo  
những nghiệp nhân ác thì sẽ chịu  
những nghiệp quả khổ đau v  bất  
hạnh. Trong Phật giáo, nhân quả  
đổi khí hậu, s  xuống cấp về môi thường được phân loại theo thời gian  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
35  
với ba loại: hiện báo (nghiệp nhân Nguyên Ân, 2017: 210). Nghiên cứu  
motif nhân quả báo ứng trong cốt  
truyện đi săn  Nơi hoang dã đồng  
vọng của Sương Nguyệt Minh), từ cái  
nhìn Phật giáo là tìm hiểu s  trở về  
với nhận thức truyền thống để tái  
thiết sinh thái trong văn chương. S  
gặp gỡ của các nh  văn sinh thái với  
tư tưởng Phật giáo đã góp phần tác  
động vào tình cảm người đọc, khiến  
người đọc có trách nhiệm hơn với  
môi trường. Đồng thời, cảnh tỉnh về  
s  oan oan tương báo m  con người  
gây ra không chỉ tr c tiếp với động  
vật, mà gián tiếp thành ra hại chính  
mình.  
trong đời n y đưa đến quả báo ngay  
trong đời này), sanh báo (tạo nhân ở  
đời n y nhưng đến đời sau mới nhận  
quả), hậu báo (tạo nhân trong đời này  
nhưng đến nhiều đời sau mới thọ quả  
báo) (dẫn lại theo Trí Quang: 57).  
D a vào diễn trình thời gian và s  thọ  
báo của nhân quả trong quá trình  
hành tác, chúng tôi chia nhân quả báo  
ứng trong văn xuôi Việt Nam đương  
đại thành motif trừng phạt và motif  
báo ứng. Nếu ở motif trừng phạt chỉ  
một mình đối tượng làm ác lãnh hậu  
quả, thì ở motif báo ứng có thể không  
tác động tr c tiếp   n người có hành  
động ác (không tr c tiếp nhận quả  
báo), mà có thể tác động tới người  
thân trong gia đình, b  con họ hàng,  
để rồi họ nhận ra chân lý nhân sinh từ  
việc làm tội lỗi của mình và sống suốt  
đời trong nỗi dằn vặt, đau đớn khôn  
nguôi (sanh báo, hậu báo).  
2. MOTIF CỐT TRUYỆN TRỪNG PHẠT  
Trừng phạt là s  nhận hậu quả/quả  
báo từ những việc làm bất nhân trước  
đó. Khi con người mong muốn về s  
công bằng, một chỗ d a tinh thần  
trong lúc khốn khổ/tuyệt vọng nhưng  
không có khả năng, không có quyền  
hạn để xử  ý, người ta tìm đến v  đặt  
niềm tin vào các thế l c siêu nhiên,  
các hiện tượng không giải thích  
được… Khi xây d ng các nhân vật đi  
săn, văn xuôi sinh thái đương đại đề  
cập đến nhiều tình huống nhân vật  
phải chịu trừng phạt.  
Nếu hiểu  Môt p    các đơn vị cố định  
thể hiện một nội dung n o đó được sử  
dụng nhiều lần là một hiện tượng phổ  
biến không chỉ trong văn học dân gian  
mà cả trong văn học viết   Trần Đình  
Sử, 1981: 134) thì có thể phân motif  
thành bốn loại tiêu biểu: motif hình  
ảnh, motif chủ đề, motif nhân vật,  
motif cốt truyện. Ở đây, chúng tôi chỉ  
đi sâu tìm hiểu motif cốt truyện.  Motif  
cốt truyện là kiểu motif tiêu biểu cho  
các tác phẩm t  s  và kịch vốn chứa  
đ ng nhiều h nh động. Nhiều motif  
cốt truyện có tính phổ quát v  thường  
thấy có s  lặp lại: nhận thức và bừng  
Trong truyện ngắn Nơi hoang dã đồng  
vọng  Sương Nguyệt Minh, 2005)  
hầu hết tất cả các nhân vật đều bị  
quả báo. Bố Lài làm nghề bắt rắn,  
trong một lần chăm con, vì sơ ý ông  
để sổng mất giỏ rắn vừa bắt được.  
Đau thay,  tối nhập nhoạng, vợ ông  
vào góc bếp lấy muối. Đạp phải cái gì  
ngộ, thử thách và trừng phạt   Lại đó tròn,  ạnh, bà giật nảy chân ra.  
36  
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT - TRẦN LÊ HỒNG PHÚC – MOTIF NHÂN QUẢ BÁO ỨNG…  
Mới kịp k u:  o... oái , con rắn đã chăm chỉ của loài ong. Do vậy, những  
quăng mình đớp vào tay. Vợ ông thót  
tim, ngã dúi dụi. Con mèo cái tam thể  
nhà nuôi lại ngoạm tiếp vào cổ chân  
(Sương Nguyệt Minh, 2005: 67). Một  
tuần sau vợ ông chết trong khi cái  
thai trong bụng đã to đùng. Anh học  
trò được truyền nghề bắt rắn, cũng bị  
rắn cắn đến nỗi phải chặt luôn ngón  
tay  nó m  đớp vào ngón chân ngón  
tay nào của mình là phải chặt luôn  
ngón ấy. Đây cô xem. Ngón tay cái  
này bị rắn lục cắn hôm đi bắt ở núi  
Bạch Bát. Viên thuốc mang theo rơi  
đâu mất. Ở quanh cũng không thấy lá  
thuốc. Tôi đ nh phải kê ngón tay lên  
đá... chặt  (Sương Nguyệt Minh, 2005:  
63). Bà chủ nhà hàng bị rắn cắn, phải  
cưa chân mới giữ được mạng sống.  
 B  chủ không chết, nhưng chân bị  
rắn cắn cứ teo dần. Bà nằm bẹp,  
đ nh phải để nhà hàng Tiểu Hổ cho  
chồng và chị quản bếp lo liệu… Cái  
mỏm bị cắt cụt đang t m dần, thịt chết,  
bẹo vào không thấy đau  (Sương  
Nguyệt Minh, 2005: 57).  
người có trách nhiệm với sinh vật của  
rừng đều phản đối việc tiêu diệt loài  
côn trùng có  ch n y. Đó cũng     ý do  
mà những truyện về loài vật này  
chiếm số  ượng nhiều. Theo triết lý  
Phật giáo sát sinh    h nh động mang  
đến hậu quả không chỉ về thể xác và  
tinh thần mà còn ảnh hưởng đến môi  
trường sống xung quanh, con người  
cần phải bảo vệ từng sinh mạng dù  
nhỏ như con ong, cái kiến vì  một sinh  
mạng dù thấp kém thế n o đi chăng  
nữa trên thế giới n y đều nên có một  
chỗ đứng của ri ng mình   Vi n  
Đường Hân, Tạ Ch  Cường, 2014:  
177).  
Lương tâm, đạo đức nghề nghiệp khi  
hành nghề là quy phạm trong thế giới  
của những tay thợ săn ong – loài vật  
có ích cho hệ sinh thái rừng. Họ cho  
rằng tuân thủ nguyên tắc này sẽ  
không bị trời tru đất diệt, ngược lại, tái  
phạm nguyên tắc này thì hậu quả  
không thể  ường được. Tấn trong Linh  
hồn ong chúa (Hoa Ngõ Hạnh, 2011)  
nhận lấy s  trừng phạt tàn khốc khi cố  
tình săn tổ ong,  rơi từ độ cao tám  
mét  xuống đất, không những vậy còn  
bị gấu mật phục thủ dưới đất  Con  
gấu ng a nặng cỡ vài tạ. Nó đứng  
thẳng lên bằng hai chân sau chằm  
chằm giận dữ. Nhanh hơn chớp, tay  
phải nó giáng một cú tát trời đánh. Nó  
hộc lên một tiếng kinh người. Thân  
hình vài tạ đen trũi xoay ngược chồm  
lên phủ trọn sinh vật mắt nằm ngang  
hay giành khẩu phần ong của nó. Bấy  
giờ đã    cuối chiều. Rừng núi quạnh  
Trong cốt truyện đi săn, chúng ta nhận  
thấy, không chỉ các nhân vật săn bắn  
những loại động vật ăn thịt (heo rừng,  
gấu, chim…), những động vật lấy vật  
phẩm (ngà voi, sừng tê giác, gạc  
hươu nai…) m  còn có cả những loài  
vật bé nhỏ, có  ch như ong. Theo các  
nhà khoa học, côn trùng chiếm  
khoảng 80% hệ động vật tr n trái đất.  
Lo i côn trùng cũng     oại động vật  
góp phần cân bằng hệ sinh thái. Ong  
hút mật và thụ phấn cho hoa, s  phát  
triển của hệ th c vật phụ thuộc vào s  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
37  
hiu…  (Hoa Ngõ Hạnh, 2011). Cái nhưng khó  ọt . Bảy Bền chết vô cùng  
chết của Tấn là s  cảnh tỉnh về  ương  
tâm làm nghề, nguyên tắc, đạo lý của  
nghề ăn ong    tuyệt đối không được  
giết ong chúa. Nếu phạm vào việc giết  
ấu chúa thì bị quy kết là trọng tội. Nếu  
người lấy mật bỏ qua  ương tâm nghề  
nghiệp, đạo đức hành nghề, ra tay tàn  
sát một cách bạo ngược, bất  ương thì  
chắc chắn án tử sẽ treo   n đầu, như  
Tấn.  
thảm khốc, trong một lần săn mật bòn  
chót cú cuối trước khi mùa mưa về.  
Trong  úc  eo   n cây ươi cao cổ thụ,  
vẫn những món nghề, và thứ nhang  
thần thánh với bí quyết nhà nghề  
riêng đuổi ong của Bảy Bền đã giúp  
gã  eo   n đến tận tổ ong lớn.  Đóng  
đến cây đinh thứ ba mươi, nghĩa    độ  
cao áng chừng mười  ăm mét thì s  
cố đến. Trượt chân chăng? Không.  
Quan điểm ấy thể hiện rõ trong Sinh Dây thắt  ưng bị đứt? Không. Dây cáp  
nghề tử nghiệp (Nguyễn Trí, 2016). dù bẹ ba xịn đứt sao được. Vậy thì cái  
gì? Trời hại . Thật là trời hại, vì trời  
phách, từ gùi măng, chặt lồ ô, hái trái bỗng dưng đổ mưa, mưa   m tắt  
những cây nhanh thần thánh của Bảy  
 eo… cho đến việc lấy mật ong  phá Bền.  Về sau mấy thằng chuy n ăn  
ong kể rằng, thông thường khi mưa  
em từng mang ơn cứu mạng của Bảy đến ong sẽ lùi về để bảo vệ tổ và ong  
Nhân vật Bảy Bền cũng    một tay c  
ươi từ những cây cổ thụ không ai dám  
nh  cướp của nh  người . Người anh  
chúa. Nếu vậy thì Bảy Bền đủ thời  
gian để tuột xuống và chạy. Nhưng  
Bền đã từng khuy n:  M y chỉ biết cái  
lợi trước mắt mà không biết cái nguy  
hại về sau. Con ong cái kiến hay bất không hiểu sao bầy ong ào vào Bảy  
và tấn công . Bảy Bền chết trên cây,  
quyền tồn tại như tao v  m y. Một cái không một ai dám leo lên, hoặc xâm  
nhập hiện trường để xem tình hình,  
Bảy Bền đã gạt phăng đi  tao   m gì chỉ có Minh T n đã can đảm leo lên và  
đem xác  ạnh cóng của Bảy Bền  
đi thì thôi đừng có dạy khôn tao . xuống.  Thật khủng khiếp. Một người  
chết đang  ơ  ửng tr n không . Âu đó  
hợm hĩnh từ việc đốt tổ ong lấy mật, cũng    cái quả mà gã phải gánh chịu  
vì những h nh động tàn ác của mình.  
ong non, trứng, ong chúa, ong thợ… Bằng trải nghiệm cá nhân, các nhà  
văn đã khắc họa những cái chết thảm  
ong vò vẽ, ong lỗ, gã cũng có cách để khốc,  ăn của rừng, rưng rưng nước  
cứ một sinh linh nào có s  sống là có  
cây cũng có linh hồn của nó . Nhưng  
kệ mẹ tao, rủ m y đi kiếm tiền không  
Hằng ngày, gã vẫn tiếp tục với mối lợi  
giết không biết bao nhiêu sinh vật, từ  
đến những  o i ai cũng khiếp sợ như  
mắt .  
lấy được mật. Rõ ràng Bảy Bền không  
sợ, trong tâm khảm của gã không có  
bất kỳ suy nghĩ gì về việc giết hại là tội  
lỗi. Và rồi, điều gì đến sẽ đến, thế mới  
biết   ưới trời lồng lộng, tuy thưa  
Tác giả Hoa Ngõ Hạnh lại gắn ngòi  
bút của mình với thế giới t  nhiên  
hoang dã miền Trung. Các tác phẩm  
Mưa đỉnh núi xa, Con gấu già trong  
38  
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT - TRẦN LÊ HỒNG PHÚC – MOTIF NHÂN QUẢ BÁO ỨNG…  
thung lũng trại Xai, Linh hồn ong Các câu chuyện tuy khác nhau về bối  
chúa… thể hiện motif trừng phạt rõ  
ràng. Hai anh em Xuân và Thu trong  
Mưa đỉnh núi xa (2007) vô tình bị cuốn  
theo chuyến đi săn voi của lão Sáu  
Chước và rồi hứng chịu quả báo,  
bằng chính mạng sống của chính  
mình. Vi n đạn nhắm v o đ n voi  ại  
nhầm v o Thu.  Tr n nền đất nhớp  
nháp Thu đang co mình ôm đùi vật vã.  
Vi n đạn lạc phá một mảng lớn gần  
b ng quang. Máu ra như suối…  
khiêng về trại, đến gần sáng thì tắt  
thở. Khuôn mặt Thu nhăn rúm v  
thảm hại   Hoa Ngõ Hạnh, 2007). Có  
một số nhân vật thợ săn may mắn  
không chết nhưng thương tật đến suốt  
đời. Ông Bảy (Con gấu già trong  
thung lũng trại Xai, 2008), vì nóng  
lòng trả thù con gấu gi  đã giết chết  
con trâu, n n đã nh o   n định kết  
liễu con gấu (khi nó sập bẫy) thì bất  
ngờ bị nó tấn công.  Cú tát c c mạnh  
của con gấu ng a già móc vào mắt  
phải, bứt toạt lỗ tai, xé rách một mảng  
da mặt bên phải ông Bảy. Ông nằm co  
tr n đám  á n ng n ng dập nát máu  
chảy ròng ròng, nửa mặt còn lại xanh  
hơn t u  á chuối .  Dường như đó chỉ  
   h nh động cảnh cáo. Không có  
động cơ trả thù. Con gấu già hiên  
ngang phóng vụt đi . Thi n nhi n vốn  
bao dung và khoan hòa. Sức mạnh  
của loài vật nằm ở chỗ biết đủ, biết  
d a vào nhau mà sống như  o i ong  
chăm chỉ hút mật, con gấu ng a ăn  
ong và bảo vệ ong chúa, nó không  
bao giờ ăn ấu chúa. Cái tát trừng  
phạt của con gấu gi  như một lời  
nhắc nhở.  
cảnh, nhân vật, tình huống, nhưng  
đều giao nhau ở một điểm chung đó  
là motif trừng phạt. Gieo nhân nào thì  
sẽ gặt quả nấy, không sớm thì muộn  
và với các cách thức khác nhau. Mỗi  
cái kết thúc đều có điểm nhấn riêng,  
ấn tượng ri ng nhưng đều để lại bài  
học cho người đọc suy ngẫm về thế  
giới của s  công bằng, của lẽ phải,  
   m ác phải đền tội .  
3. MOTIF CỐT TRUYỆN QUẢ BÁO  
Cũng như motif trừng phạt, motif quả  
báo cũng xuất hiện rất nhiều trong văn  
xuôi sinh thái Việt Nam. Tuy cũng có  
nét tương đồng với nhau, song nếu  
nói motif trừng phạt là một dòng thác  
ào ạt đổ xuống thì quả báo lại như  
nước khe róc rách, âm ỉ chảy và rồi  
xói mòn đá  úc n o không hay. Ở  
motif trừng phạt, số phận người làm  
ác tr c tiếp bị trừng trị thì motif quả  
báo giúp nhận thức rằng dù sớm hay  
muộn, dù tr c tiếp hay gián tiếp người  
làm ác chắc chắn phải chịu tội. Nhân  
vật  hắn  trong Sâm cầm Hồ Tây  
 Sương Nguyệt Minh, 2005) là một  
minh chứng. Vì món lợi từ việc săn  
sâm cầm cho lão chủ quán tai chuột,  
hắn bỏ ra không biết bao nhiêu công  
sức, thủ đoạn, và bỏ ngoài tai lời  
khuyên:  Cha nhìn thấy cảnh đánh  
bắt Sâm cầm, cha đau  òng  ắm . Con  
của hắn -  thằng Cò thọt ,  đã bảy  
tuổi rồi mà thằng Cò vẫn không nói  
được, bước đi thập thễnh   Sương  
Nguyệt Minh, 2005: 142). Ấy vậy, mà  
hắn vẫn không nhận ra quả báo. Sâm  
cầm quý nhất ở  đôi chân m u  ục  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
39  
ánh chì . Ch nh vì thế m   sâm cầm những tiếng k u văng vẳng trong đầu  
Hồ Tây c ng thưa dần. Sâm cầm nó mỗi lúc một lớn hơn. Nó bịt tai  
càng hiếm lại c ng đắt v  dĩ nhi n săn  
bắt cũng khó hơn . V   những cuộc  
săn bắt với hắn không còn    thư giãn,  
là thú vui nữa mà là kiếm tiền…  
 Sương Nguyệt Minh, 2005: 143). Một  
hôm, mải m  theo đuổi sâm cầm, hắn  
lạc vào trận đồ bát quái của sướng  
giăng:  thuyền đầy nước, bị mất mái  
chèo, không thấy thằng Cò, cũng  
chẳng thấy khẩu súng săn đâu . Kể từ  
đó, sâm cầm, chim chóc chẳng về,  
 quán  ão tai chuột đóng cửa im ỉm.  
Mặt hồ vắng, chỉ thấy gió hoang đuổi  
nhau trên mặt nước. Vợ hắn lặng câm  
đi ra đi v o như cái bóng. Cứ chiều  
chiều, người ta lại thấy hắn đứng lặng  
nhìn ra mặt hồ   Sương Nguyệt Minh,  
2005: 145), gương mặt hằn sâu nỗi  
đau, nỗi day dứt, ân hận. Đó    quả  
báo.  
chạy khắp các thửa ruộng, lâu lâu lại  
nấp vào bụi rồi lại chạy  (Triệu Hoàng  
Giang 2016: 10). Bản thân B n Văn  
Dần cũng nghe những thứ âm thanh  
như tiếng khóc thút thít, không phải  
tiếng người tr n đỉnh Khâu Săm. Bỏ  
ngoài tai lời khuy n  n n dừng lại thôi ,  
và một ng y không xa, gã đi săn đã  
bắn nhầm vào anh Sinh – anh trai –  
với  vết bắn giữa trán không lệch một  
phân… . Bị xét xử với tội danh vô ý  
giết người, B n Văn Dần đi tù. Một gia  
đình thợ săn tan nát, khổ đau. Hay  
như cha của Tuệ anormal trong Tre  
nở hoa (Quế Hương, 2004) vì bắt chó,  
giết chó hàng chục năm trời để kiếm  
sống, cuối cùng lại hóa chó  Sáng ấy  
không nghe ông quát tháo. Nhìn qua  
giường ông, tôi thấy ông ngồi chồm  
hổm, giơ chân gãi kịch liệt rồi thè  ưỡi  
liếm người... Ông như bị chó nhập,  
mỗi ngày thêm giống chúng từ điệu bộ  
đến dáng vẻ. Sáng nay, ông dậy, làm  
động tác rùng rùng lắc lắc như rũ  ông  
rồi đi ra vườn. Tôi đi theo ông, thấy  
ông ghếch chân   n cây cau đái rồi  
vục mặt xuống thau nước cạnh đó  
uống v  đi ra cổng... Tôi kêu toáng lên.  
Cả nh  đổ ra, chứng kiến cha tôi băng  
qua đường ở vạch trắng hẳn hoi  
nhưng bằng bốn chân,  ưỡi thè ra...  
(Quế Hương, 2004: 340). Đó    quả  
báo hiện tiền cho những ai nhẫn tâm  
đối với loài vật, kể cả những con vật  
được thuần chủng trong nhà, bởi vốn  
dĩ nó không chỉ là vật nuôi mà còn là  
người bạn của con người.  
Ở motif n y, người đọc cảm nhận  
h m ý  đời cha ăn mặn, đời con khát  
nước  của tác giả.  
Những h nh động sát hại muôn loài  
dẫn đến quả báo lên thế hệ sau xuất  
hiện d y đặc hơn trong các sáng tác.  
Trong Nghiệp rừng (Triệu Hoàng  
Giang, 2016), B n Văn Dần là nhân  
vật săn bắn thú thiện nghệ, nhiều kinh  
nghiệm với nghiệp đi săn thú nhưng  
người vợ  hay mơ gặp nhiều ác mộng,  
mơ thấy hổ, thấy những con thú về  
đuổi nó . Còn thằng Phin buổi sáng lại  
  n cơn,  nó chạy khắp các bờ ruộng  
tìm nơi ẩn nấp. Trong đầu nó đâu đâu  
cũng thấy những con lợn rừng, hươu,  
gấu... đuổi theo tìm nó, cắn xé rồi  
40  
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT - TRẦN LÊ HỒNG PHÚC – MOTIF NHÂN QUẢ BÁO ỨNG…  
Giết hại tàn ác muôn loài chính là s  của lão chính là mạng sống của người  
thân. Song, cái chết của vợ chỉ làm  
lão tức thời hốt hoảng,  ão  dùng xác  
vợ mình làm mồi nhử  để tiếp tục săn  
thú,  lão nằm trong bụi cây gần cái  
xác thối rữa của vợ lão một sải tay,  
đạn lên nòng, khắc khoải chờ đợi  
(Nguyễn Huy Thiệp, 1995: 14). Nhưng  
 Ba ng y sau, người ta lôi cái xác  
còng queo của lão ra khỏi bụi cây. Một  
vết đạn xuy n qua trán  ão. Lão đã  
bắn được con thú lớn nhất đời mình  
(Nguyễn Huy Thiệp, 1995: 15). Lão  
quyết định chọn cách t  sát. Con  
đường kết thúc một sinh mạng đầy tội  
lỗi nhưng  ại khai mở cho một tâm hồn  
trút bỏ được vết nhơ, rửa sạch được  
bàn tay nhuộm máu. Trong motif đi  
săn  khẩu súng     biểu tượng cho  
văn minh công nghiệp, là sản phẩm trí  
óc của con người, đó cũng    s  
khẳng định mức độ ưu việt hơn giữa  
con người với loài vật. Loài vật dưới  
sức ảnh hưởng của khẩu súng sẽ bị  
tàn sát thảm khốc hơn. Qua đó, ta  
thấy rằng thời đại phát triển, ý thức hệ  
của con người thay đổi, những sản  
phẩm của văn minh đã đẩy những  
sinh vật càng gần hơn với v c thẳm  
tuyệt chủng, nhất là những động vật  
hoang dã. Đây    hồi chuông cảnh báo  
cho việc sử dụng sản phẩm tiên tiến  
không phải để bảo vệ môi trường mà  
phục vụ cho những mục đ ch cá nhân,  
không ch nh đáng. Trong những nền  
nền văn minh tiền công nghiệp, đi săn  
vốn    h nh động kiếm thức ăn duy trì  
s  sống. Ngày nay, khi nông nghiệp  
v  chăn nuôi đã đảm bảo thức ăn cho  
 o i người thì đi săn trở thành một thú  
bức tử cho gia đình mình. K nh sợ uy  
linh của rừng nếu không sẽ bị quả báo  
cũng ch nh    thông điệp trong tác  
phẩm Sói trả thù (Nguyễn Huy Thiệp,  
1995). Nếu ông Nhân đã từng dồn  ũ  
sói v o bước đường cùng, khiến gia  
đình sói bị chết, bị chia phân tứ tán,  
ông cố thuần hóa một sói con và một  
ngày thằng San tròn mười ba tuổi, vì  
bất cẩn mà bị con sói nuôi cắn chết.  
 Con chó sói như đi n dại không  
buông tha thằng bé (…). Người ta vất  
vả lắm mới kéo được con sói ra  
(Nguyễn Huy Thiệp, 1995: 29). Ông  
Nhân bừng tỉnh quyết định chặt đứt  
dây xích trả con sói về lại rừng. Ông  
nhận ra quả báo và trân quý sinh  
mệnh muôn  o i,  hãy biết sợ rừng .  
Trong Con thú lớn nhất (Nguyễn Huy  
Thiệp, 1995)  Lão thợ săn như    hiện  
thân thần Chết của rừng  (Nguyễn  
Huy Thiệp, 1995: 12).  Lão không tha  
bất cứ con vật nào trong tầm súng của  
mình . Đằng sau nhà lão, lông chim,  
xương thú chất đầy th nh đống.  
Những đống  ông chim xơ xác đen xỉn  
như m u m c tàu, còn những đống  
xương thú m u đá vôi thì  ốm đốm  
những vệt nước tủy vàng khè, hôi  
hám. Những đống ấy to như những  
cái mả  (Nguyễn Huy Thiệp, 1995: 12).  
Một ng y  Lão gi  giương súng   n:  
‘Đùng!’ Phát súng nổ. Lão nghe thấy  
tiếng rú thất thanh. Lão chạy lại con  
thú bị bắn ngã. Đấy là vợ lão. Mụ đi ra  
rừng đợi lão, tay mụ còn cầm bộ lông  
chim công   Nguyễn Huy Thiệp, 1995:  
14). S  báo ứng cho tham vọng lớn  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
41  
vui t n sát  họ kéo cá vào sát mạn tàu, Trong văn học Phật giáo, motif báo  
đập chết nó, thả xác xuống nước và ứng được khai thác triệt để nhằm đề  
lại câu con khác, lại quăng  ưỡi câu có  
móc con m c nhỏ làm mồi ra mãi xa...  
Cứ như vậy. Họ câu không phải để  
bắt cá ăn m  để hưởng một thú vui  
t n sát   Bùi Ngọc Tấn, 2010: 23).  
Trong Nơi hoang dã đồng vọng  
Sương Nguyệt Minh miêu tả chi tiết  
s  tàn ác của chủ quán và cách thức  
ăn rùng rợn của th c khách:  bốn  
th c khách cười hô hố. ộc. ộc. Rượu  
tràn ly. Bốn vị cầm bốn thìa con múc.  
Mỗi lần thìa thọc vào óc con mèo,  
chân nó lại co   n   Sương Nguyệt  
Minh, 2011: 55). Khi con người giết  
hại thi n địch của chuột, môi trường  
t  nhiên sẽ bị chúng tàn phá,  tiếp tay  
hủy hoại môi trường t  nhiên sẽ phá  
hủy môi trường sống vì  thế giới sinh  
vật là một  dây chuyền sống  c c kỳ  
tế nhị v  người ta không thể phá hủy  
một mắt xích trong dây chuyền này  
mà không bị trừng phạt   Jacques  
Vernier, 2002: 12).  
cao giáo lý nhân quả. Motif quả báo,  
trừng phạt còn thể hiện tinh thần vạn  
vật bình đẳng, bình đẳng không chỉ  
giữa con người với con người mà còn  
giữa con người với muôn  o i. Để giải  
quyết khủng hoảng sinh thái hiện nay,  
mỗi người cần có trách nhiệm với môi  
trường từ ngay trong tâm thức mình.  
Văn học và tôn giáo gần nhau ở điểm  
tác động tr c tiếp vào tình cảm, tư  
tưởng, khiến mỗi người bừng tỉnh.  
Việc nghiên cứu motif cốt truyện trong  
cả văn xuôi sinh thái đương đại từ tư  
tưởng Phật giáo gợi mở s  tương  
hợp nội tại của văn học và tôn giáo  
tr n con đường bảo vệ hệ sinh thái  
đang từng ngày bị tàn phá. Phật giáo  
với hệ thống tư tưởng nhân văn giáo  
dục con người từ bề sâu tâm linh có  
thể kết hợp cùng văn chương đương  
đại với các ngòi bút th c tiễn khiến  
người đọc có thêm chất liệu cần thiết,  
có th m động l c mạnh mẽ để trung  
hòa một triết lý sống thích hợp.  
4. THAY LỜI KẾT  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bùi Ngọc Tấn. 2010.  Tôi đi câu cá”, Văn mới 5 năm 2006-2010, Hà Nội: Nxb. Hội  
Nh  văn.  
2. Glotfelty, Cheryll. 1996.  Nghi n cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi  
trường , trong Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái học  
văn học (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia  
Press), Trần Thị Ánh Nguyệt dịch. Tạp chí Sông Hương, số 305.  
3. Hoa Ngõ Hạnh (Nguyễn Minh Sơn). 2006. https://www.vanchuongviet.org/index.php?  
comp=tacgia&action=detail&id=1263, truy cập ngày 1/3/2021  
4. Ikeda, D. và Peccei, A. 1993. Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI. Trương Ch nh,  
Đông H  dịch. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
5. Lại Nguyên Ân. 2017. 150 thuật ngữ văn học. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia.  
42  
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT - TRẦN LÊ HỒNG PHÚC – MOTIF NHÂN QUẢ BÁO ỨNG…  
6. Nguyễn Huy Thiệp. 1995. Truyện ngắn chọn lọc. Hà Nội: Nxb. Hội Nh  văn.  
7. Nguyễn Thị Tịnh Thy. 2017. Rừng khô, suối cạn, biển độc... và văn chương. Hà Nội:  
Nxb. Khoa học Xã hội.  
8. Nguyễn Trí. 2013. Sinh nghề tử nghiệp. https://thanhnien.vn/van-hoa/sinh-nghe-tu-  
9. Nhiều tác giả. 2010. Đạo Phật và môi trường. Thích Nhuận Đạt dịch. TPHCM: Nxb.  
Tổng hợp TPHCM.  
10. Pháp sư Tịnh Không (chọn lọc), Th ch Phước Sơn  bi n soạn). 2000. Truyện cổ sự  
tích cứu vật phóng sinh. TPHCM: Nxb. Tổng hợp TPHCM.  
11. Quế Hương. 2004. 27 truyện ngắn Quế Hương. Hà Nội: Nxb. Phụ nữ.  
12. Sương Nguyệt Minh. 2005. Đi qua đồng chiều. Hà Nội: Nxb. Thanh niên.  
13. Sương Nguyệt Minh. 2011. Đêm thánh vô cùng. Hà Nội: Nxb. Hội Nh  văn.  
14. Thích Nhất Hạnh. 2014. Tâm tình với đất mẹ. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.  
15. Thích Trí Siêu. 2008. Xin cứu độ mẹ đất. TPHCM: Nxb. Phương Đông.  
16. Trần Đình Sử. 1981. Dẫn luận thi pháp học. Hà Nội: Nxb. Đại học Sư phạm.  
17. Trần Hải Yến. 2014.  Nghi n cứu phê bình sinh thái hiện đại và di sản văn hóa: nhìn  
từ cách Sinh thái học tìm về Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) , trong Hội thảo  
khoa học Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế. Hà  
Nội.  
18. Triệu Hoàng Giang. 2016. Nghiệp rừng. Tạp chí Văn nghệ Ba Bể. số 3.  
19. Trí Quang (dịch). Kinh Thủy Sám.  
20. Vernier, J. 2002. Môi trường sinh thái. Trương Thị Chí, Trần Ch  Đạo dịch. Hà Nội:  
Nxb. Thế giới.  
21. Vi n Đường Hân, Tạ Ch  Cường. 2014. Truyện kể Phật giáo. Hà Nội: Nxb. Thời đại.  
pdf 10 trang yennguyen 15720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Motif nhân quả báo ứng trong văn xuôi sinh thái Việt Nam đương đại từ góc nhìn Phật giáo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmotif_nhan_qua_bao_ung_trong_van_xuoi_sinh_thai_viet_nam_duo.pdf