Nhận diện từ láy đôi tiếng Việt theo định hướng nghề nghiệp đối với sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học trường Đại học Tây Bắc

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
Khoa học Xã hội, Số 21 (12/2020) tr. 102 - 107  
NHẬN DIỆN TỪ LÁY ĐÔI TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ  
NGHIỆP ĐỐI VỚI SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC  
Vũ Tiến Dũng, Nguyễn Huyền Anh  
Trường Đại học Tây Bắc  
Tóm tắt: Khi phân loại bất kì sự vật, hiện tượng nào trong hiện thực, chúng ta cũng thấy xuất hiện hiện tượng  
trung gian và hiện tượng trung gian xuất hiện khi phân loại cấu tạo từ tiếng Việt không phải là ngoại lệ. Bài viết trình  
bày thực tiễn khi nhận diện từ láy đôi tiếng Việt sẽ có một số hiện tượng mà đường ranh giới không rõ ràng với từ  
đơn và từ ghép, gây ra những khó khăn nhất định cho người dạy, người học. Không phủ định các tiêu chí khoa học  
để nhận diện từ láy đôi trong tiếng Việt đã được giới Việt ngữ học thừa nhận nhưng bài viết hướng tới thêm tiêu chí  
định hướng nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học có một cách nhìn thực tiễn và thuận lợi hơn khi nhận  
diện từ láy đôi tiếng Việt trong học tập, nghiên cứu hiện nay cũng như sau này ra trường tác nghiệp.  
Từ khóa: Từ láy, từ láy đôi, hiện tượng trung gian, ngành Giáo dục Tiểu học  
1. Mở đầu  
láy tiếng Việt và trong tiếng Việt chỉ thừa nhận  
có dạng láy của từ. Quan niệm như vậy không  
được giới Việt ngữ học chấp nhận.  
Trong ngữ pháp cổ điển mà cụ thể là từ pháp  
có nghiên cứu về cấu tạo từ và từ loại. Nói cụ  
thể hơn, ngữ pháp của các ngôn ngữ Ấn – Âu  
cũng như ngữ pháp tiếng Việt đều nghiên cứu  
về cấu tạo từ và phân loại từ về phương diện cấu  
tạo thành từ đơn và từ phức; và từ phức được  
phân chia thành từ ghép và từ láy. Trong khi đó,  
nhiều công trình nghiên cứu về từ vựng tiếng  
Việt cũng nghiên cứu cấu tạo từ nhìn từ góc độ  
ngữ nghĩa và cũng phân chia cấu tạo từ thành từ  
đơn, từ phức; và từ phức cũng được phân chia  
thành từ ghép và từ láy. Như vậy, từ vựng học  
tiếng Việt cũng nghiên cứu cấu tạo từ tiếng Việt.  
Nghiên cứu về cấu tạo từ tiếng Việt theo cách  
nhìn thiên về hình thức cấu tạo hay ngữ nghĩa  
đều phân chia cấu tạo từ tiếng Việt được làm  
hai loại: từ đơn, từ phức và từ phức khi căn cứ  
vào phương thức tạo từ được phân chia thành:  
từ ghép và từ láy. Xuất phát từ mục đích, căn cứ  
phân loại khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể  
xây dựng khái niệm từ đơn, từ ghép và từ láy  
với nội hàm khác nhau.  
Bài viết này hướng tới một cách nhìn truyền  
thống, được giới nghiên cứu thừa nhận rộng rãi  
là tiếng Việt có từ láy và hướng tới đích giúp  
cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học (GDTH)  
có một hướng tiếp cận về việc nhận diện từ láy  
đôi tiếng Việt gắn với định hướng nghề nghiệp,  
phục vụ dạy học cấu tạo từ nói chung và từ láy  
nói riêng mà hẹp hơn là từ láy đôi.  
Có một khuynh hướng nghiên cứu người ta  
phân biệt nghiên cứu về hình thức và ngữ nghĩa  
của cấu tạo từ. Trong ngôn ngữ Ấn – Âu, vấn  
đề cấu tạo từ có liên quan đến hình thái học  
(Morphology) nên cấu tạo từ đưa về ngữ pháp  
(Syntax) và thiên về nghiên cứu hình thức của  
cấu tạo từ, tức là phân loại cấu tạo từ dựa vào  
số lượng hình vị (morpheme) cấu tạo nên từ. Ở  
Việt Nam từ những năm 1960 trở lại đây, bên  
cạnh khuynh hướng nghiên cứu về hình thức  
cấu tạo từ, một số nhà nghiên cứu Việt ngữ học  
đã quan tâm nghiên cứu về ngữ nghĩa trong cấu  
tạo từ tiếng Việt. Như vậy, nghiên cứu cấu tạo từ  
thiên về ngữ nghĩa thuộc về từ vựng học tiếng  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Khái niệm, đặc điểm của từ láy  
2.1.1. Khái niệm từ láy  
Từ điển tiếng Việt giải thích từ láy “là từ đa  
tiết trong đó một hoặc hai âm tiết có hình thức  
là láy âm của âm tiết kia” [4,1388]. Giải thích từ  
Việt. Bên cạnh đó, trong giới Việt ngữ học lại láy tiếng Việt như vậy có tính phổ thông, nhấn  
có nhà nghiên cứu phủ nhận sự tồn tại của từ mạnh yếu tố “láy âm”, dễ nhận diện nhưng chưa  
102  
xây dựng được nhiều tiêu chí bản chất để nhận  
diện từ láy tiếng Việt. Hiện nay, giới Việt ngữ  
học như Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp,  
Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Văn  
Tu, Đái Xuân Ninh, Đinh Văn Đức, Hồ Lê, Mai  
Ngọc Chừ, Lê Văn Lý, Hữu Quỳnh… [5,373-  
381] đưa ra khá nhiều cách hiểu về từ láy với  
nội hàm không hoàn toàn giống nhau. Các cách  
hiểu về từ láy tuy có những điểm khác nhau  
nhưng đều hàm chứa một (hoặc một số) nội  
dung: từ láy phải có từ hai tiếng (âm tiết) trở  
lên, tối đa là bốn tiếng, có sự hòa phối về ngữ  
âm giữa các âm tiết bằng cách lặp lại một bộ  
phận hay toàn bộ âm tiết và nó có ý nghĩa biểu  
cảm, gợi tả…  
chỉ dành sự quan tâm đến từ láy đôi, dạng từ láy  
có số lượng lớn và có tính điển hình của từ láy  
trong tiếng Việt.  
2.1.2.2. Đặc điểm về ý nghĩa  
Từ láy có ý nghĩa đột biến hoặc ý nghĩa sắc  
thái hóa. Ý nghĩa đột biến của từ láy là loại ý  
nghĩa khác biệt hẳn với ý nghĩa của hình vị cơ  
sở tạo nên từ láy. Ví dụ, từ láy lọ mọ thì hình  
vị cơ sở mọ có ý nghĩa là: cụ già (thổ ngữ vùng  
Sơn Tây) nhưng từ láy lọ mọ có ý nghĩa chính  
là làm việc gì đó chậm chạp, không đàng hoàng  
hoặc chỉ cách đi của người già. Còn ý nghĩa sắc  
thái hóa của từ láy là loại ý nghĩa bổ sung, khác  
với ý nghĩa cơ bản của hình vị cơ sở. Hay nói  
cách khác, đó là sự lặp lại có biến đổi ít nhiều.  
Ý nhĩa sắc thái hóa của từ láy có thể tạo nên sự  
gia tăng ý nghĩa so với hình vị cơ sở khi hình vị  
láy ở trước có thanh trắc thì cường độ của tính  
chất tăng lên như: sạch sẽ có mức độ khái quát,  
cao hơn sạch; sạch sành sanh có nghĩa “[mất,  
hết] sạch hoàn toàn, không còn sót lại tí gì [cái  
mà trước đó vốn rất nhiều] “Đồ tế nhuyễn, của  
riêng tây. Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”  
(Truyện Kiều)” [2,1092] cao hơn ý nghĩa của  
hình vị sạch; hoặc từ láy có ý nghĩa giảm nhẹ  
mức độ so với hình vị cơ sở khi hình vị láy ở  
trước có thanh bằng như: đèm đẹp “Cô ấy trông  
cũng đèm đẹp” có ý nghĩa là hơi đẹp, nhè nhẹ  
“Gió thổi nhè nhẹ” có ý nghĩa là hơi nhẹ. Rõ  
ràng, đèm đẹp, nhè nhẹ có ý sắc thái hóa giảm  
nhẹ so với hình vị cơ sở đẹp và nhẹ. Các từ láy  
toàn bộ có hình vị cơ sở gốc động từ thì thường  
kèm theo tính chất giảm nhẹ cường độ của động  
tác như: rung rung, cười cười, lắc lắc v.v…  
Không có tham vọng xây dựng được một  
cách hiểu hoàn hảo về từ láy, và trên cơ sở tiếp  
nhận tư tưởng của nhiều nhà nghiên cứu, chúng  
tôi cho rằng từ láy là những từ được cấu tạo theo  
phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn  
bộ hay bộ phận ngữ âm; thanh điệu giữ nguyên  
hay biến đổi theo hai nhóm: nhóm thanh cao  
(hỏi, sắc, không) và nhóm thanh thấp (huyền,  
ngã, nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa,  
tạo nên sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị  
biểu cảm, gợi tả. Chẳng hạn, đó là các từ láy  
như: xanh xanh, xinh xinh, đo đỏ, tim tím, trăng  
trắng, lành lạnh, đen đủi, đèm đẹp, sạch sẽ, bối  
rối, xấu xa, sạch sành sanh, sát sàn sạt, xốp  
xồm xộp, khít khìn khịt, khấp kha khấp khểnh,  
loanh qua loanh quanh…  
2.1.2. Đặc điểm của từ láy  
2.1.2.1. Đặc điểm về cấu tạo  
Từ láy được cấu tạo theo phương thức láy.  
Biểu đồ của phương thức láy là:  
2.2. Vấn đề nhận diện từ láy đôi trong  
tiếng Việt  
Láy  
từ AA’  
Hình vị A  
2.2.1. Cách xử lí các hiện tượng trung gian  
Trong cuốn Phép biện chứng tự nhiên, F.  
Ăngghen viết: “Phép biện chứng không biết đến  
những đường phân ranh giới dứt khoát, không  
còn biết đến hard and fast lines những đường  
ranh giới tuyệt đối nghiêm ngặt, đến những cái  
(A’ có thể lặp lại hoàn toàn về ngữ âm hoặc  
một bộ phận ngữ âm của A và ta có AA’là từ láy)  
Từ láy tiếng Việt khi căn cứ vào số lượng  
âm tiết, các nhà nghiên cứu thường phân chia  
thành từ láy đôi: vui vui, cỏn con, nhỏ nhắn, “hoặc là…hoặc là” vô điều kiện và dùng được  
xinh xắn, lom khom, lừng khừng, lờ phờ…; từ ở mọi nơi, phép biện chứng làm cho những sự  
láy ba: dửng dừng dưng, cỏn còn con…; từ láy khác biệt siêu hình cố định chuyển hóa lẫn nhau,  
tư: đỏng đà đỏng đảnh, ẽo à ẽo ợt, thậm thà (thì) phép biện chứng đó thừa nhận trong những  
thậm thụt… Trong khuôn khổ bài viết, tác giả trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là…  
103  
hoặc là” có cả cái “cả cái này lẫn cái kia” nữa.”  
(Dẫn theo [3,115]).  
biệt riêng rẽ có thể có, tiêu biểu của từ. Những  
cấu tạo có tất cả những nét khu biệt chính là  
các điển tố (từ điển hình) của từ. Những cấu tạo  
khác của từ mặc dù có thể thiếu nhiều đặc trưng  
của điển tố nhưng chúng vẫn là biến thể của từ  
(từ không điển hình).  
Xuất phát từ nền tảng lí luận đó, nhiều nhà  
ngôn ngữ học hiện nay tiếp cận ngôn ngữ như  
là một đối tượng có tâm và có biên (hay có nhà  
nghiên cứu gọi là “trung tâm” và “ngoại vi”). Ở  
mỗi bình diện, mỗi bậc của ngôn ngữ cần phải  
phân biệt những yếu tố cơ bản, điển hình với  
những yếu tố không cơ bản, điển hình. Những  
yếu tố cơ bản, điển hình chính là tâm, là hạt  
nhân (hay còn gọi là điển thể), còn những yếu  
tố không cơ bản, không điển hình (hay còn gọi  
là biến thể) chính là biên của mỗi bình diện hay  
bậc của ngôn ngữ đó. Mối tương quan giữa tâm  
và biên thể hiện ở các mặt kết cấu, ngữ nghĩa  
và chức năng của đơn vị ngôn ngữ. Ở mặt kết  
cấu, tâm là những mô hình chủ đạo trong việc  
kết hợp các yếu tố, biên là những hiện tượng đi  
chệch khỏi mô hình đó; ở mặt ngữ nghĩa phạm  
trù, tâm là những hình thức và ý nghĩa mẫu, biên  
là hình thức và ý nghĩa có tính chất trung gian; ở  
mặt chức năng, tâm là những hình thức thường  
dùng, còn biên là những hình thức ít dùng hơn.  
Những yếu tố hạt nhân (điển thể) có những đặc  
Xét trong trạng thái ngôn ngữ khi nhận diện  
từ tiếng Việt, chúng ta cần phải phân biệt những  
hiện tượng đồng đại và những hiện tượng lịch  
đại nhưng không nên đối lập hai hiện tượng đó.  
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng “Tính chất thống  
nhất của đồng đại với lịch đại thể hiện ở cấu trúc  
có tâm và biên của nó: những khác biệt về mặt  
lịch sử đã được phản ánh trong sự khác biệt giữa  
vùng tâm và vùng biên của hệ thống từ vựng.”  
[3,116].  
2.2.2. Nhận diện từ láy đôi  
Từ láy đôi trong tiếng Việt được hiểu là các  
từ láy có hai âm tiết (hai tiếng) và nó thuộc về từ  
phức. Nhận diện từ láy đôi trong tiếng Việt, Đỗ  
Hữu Châu lưu ý các trường hợp rắc rối sau đây.  
Thứ nhất, đó là những trường hợp hình thức  
ngữ âm phù hợp với cơ chế về âm, về thanh điệu  
trưng cơ bản của một phạm trù nào đó, các yếu nhưng không xác định được hình vị cơ sở.  
tố biên (biến thể) chiếm vị trí trung gian giữa  
Thứ hai, đó là những trường hợp hình thức  
phạm trù này và phạm trù khác [3,115]. Như  
ngữ âm phù hợp với cơ chế về ngữ âm nhưng  
vậy, hiện tượng trung gian được quy định bởi:  
thanh điệu không theo quy tắc nhóm thanh.  
(i) những đặc trưng chung mà loại này và loại  
Thứ ba, đó là hình thức ngữ âm phù hợp với  
kia đều có; (ii) những đơn vị vừa có thể mang  
cơ chế về ngữ âm, đồng thời cả hai âm tiết đều  
những đặc trưng riêng của loại này vừa có thể  
mang những đặc trưng riêng của loại kia, do đó  
có nghĩa. [2,382-383]  
có thể vừa nằm trong loại này, vừa nằm trong  
loại kia. Đỗ Hữu Châu cho rằng có hai loại  
trung gian trong lòng ngôn ngữ “Những hiện  
tượng trung gian giữa các trạng thái ngôn ngữ  
kế tiếp nhau trong lịch sử, những trung gian lịch  
đại, và những hiện tượng trung gian giữa những  
hệ thống đang cùng có hiệu lực trong một giai  
đoạn lịch sử, những trung gian đồng đại, đối  
tượng của ngôn ngữ học đồng đại.” [2,110].  
Với ba trường hợp rắc rối mà Đỗ Hữu Châu  
nêu ra, chúng tôi nhận thấy tùy theo quan niệm  
và mục đích của các nhà nghiên cứu khác nhau  
sẽ có những lí giải và kết luận khác nhau. Đây  
chính là hiện tượng trung gian giữa từ láy với từ  
đơn, từ láy với từ ghép trong tiếng Việt. Không  
tham gia vào tranh luận với những vấn đề nêu  
ra như trên, chúng tôi chỉ hướng tới trình bày  
quan niệm về việc nhận diện từ láy đôi cho sinh  
viên ngành GDTH dựa trên hai căn cứ mang  
tính định hướng sau:  
Khi nhận diện các đơn vị từ vựng tiếng Việt,  
chúng ta cũng bắt gặp những hiện tượng các  
đơn vị ngôn ngữ mang tính chất trung gian giữ  
từ với cụm từ tự do, giữa từ đơn với từ phức (từ  
ghép, từ láy), giữa từ láy với từ ghép v.v…  
Các âm tiết trong từ láy phải có phù hợp với  
cơ chế hòa phối về ngữ âm, ngữ nghĩa và quy  
tắc về nhóm thanh của từ láy;  
Trong việc nhận diện từ về mặt cấu tạo,  
chúng ta phải xác định được các đặc trưng khu  
Nhận diện từ láy phải đảm bảo tính khoa  
học, lại phải đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với  
104  
định hướng nghề nghiệp cho sinh viên ngành  
GDTH ra trường tác nghiệp.  
Trường hợp các từ tượng thanh có hình thức  
láy như: khanh khách, hô hố, hi hí, rinh rích,  
rúc rích, khúc khích, lách cách, lộp độp, róc  
rách, cành cạch… có thể có nhiều cách lí giải  
khác nhau nhưng căn cứ về phương diện ngữ  
âm, chúng ta xác định đây là từ láy.  
Nhận diện từ láy đôi trong quá trình học tập,  
nghiên cứu có tính định hướng nghề nghiệp như  
vậy sẽ giúp cho sinh viên ngành GDTH sau khi  
tốt nghiệp ra trường tác nghiệp nhận diện từ láy  
đôi thuận lợi hơn.  
Một số từ mà một trong hai hình vị mất nghĩa  
(thường là hình vị đứng sau) như: chùa chiền,  
tuổi tác, đất đai, thịt thà, hỏi han, chim chóc…  
Những từ này nếu xét về lịch đại thì đây là các  
từ ghép vì các yếu tố đứng sau của các từ này  
đều có nghĩa (chiền có nghĩa chùa, han có nghĩa  
hỏi “Trước xe lơi lả han chào” (Truyện Kiều)  
v.v..) nhưng nếu xét về đồng đại, các yếu tố  
đứng sau mờ nghĩa hoặc đã mất nghĩa. Đặc biệt  
khi nhấn mạnh về phương diện ngữ âm dưới  
góc độ đồng đại và quy tắc nhóm thanh thì các  
từ này có thể xác định ở tiểu học là từ láy có ý  
2.3. Nhận diện từ láy đôi theo định hướng  
nghề nghiệp  
Việc nhận diện từ láy đôi với những từ láy nằm  
ở hiện tượng tâm (điển dạng) không có vấn đề gì  
cần bàn nhiều vì nó mang đầy đủ các đặc điểm  
điển hình của từ láy và không có sự nhận diện các  
từ láy này khác nhau của giới Việt ngữ học. Việc  
nhận diện từ láy gặp rắc rối chủ yếu hướng vào  
các từ láy nằm ở hiện tượng biên (biến thể) và  
những hiện tượng này đang có những cách nhìn  
nhận khác nhau của giới Việt ngữ học. Không nghĩa khái quát.  
tham gia bình luận về các quan niệm khác nhau  
Một số từ như: hớn hở, vành vạnh, hấp háy,  
của giới nghiên cứu về hiện tượng trung gian của  
từ láy, chúng tôi hướng tới một định hướng nghề  
nghiệp nhận diện từ láy đôi nằm ở hiện tượng  
biên cho sinh viên ngành GDTH Trường Đại học  
Tây Bắc ra trường tác nghiệp khi hướng dẫn học  
sinh lớp 4, lớp 5 nhận diện từ láy đôi.  
đủng đỉnh, hớn hở, lấn cấn, cấn cái, ngậm ngùi,  
bùi ngùi, nơm nớp, ăn năn, năn nỉ, lêu têu…  
nếu xét ở phương diện đồng đại thì khó xác  
định được hình vị cơ sở nhưng nó có sự hòa  
phối về ngữ âm và hài hòa về nhóm thanh nên  
xác định là từ láy. Với lại, những từ có cấu tạo  
dạng này nếu xét về lịch đại thì Đỗ Hữu Châu  
đã xác định được hình vị cơ sở và các từ này  
được hình thành từ phương thức láy. Ví dụ, yếu  
tố vạnh (vành vạnh) ngày xưa có nghĩa: “Mặt  
son vạnh tựa Hằng Nga” (Truyện Kiều), yếu tố  
đỉnh (đủng đỉnh) ngày xưa hoạt động độc lập,  
có nghĩa: “Cho nên áo ức kém mùi, đỉnh ngoài  
đường, đắp chơi bời ngâm thơ” (Thiên nam ngữ  
lục) [2,384]. Như vậy, những từ này ở tiểu học  
luôn được xác định là từ láy.  
Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập một cho  
rằng “Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần  
(hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau. Đó là các  
từ láy” [1,39]. Chúng tôi cho rằng định nghĩa từ  
láy nhấn mạnh về phương diện ngữ âm như vậy  
đối với học sinh lớp 4 là phù hợp. Để sinh viên  
ngành GDTH khi ra trường giảng dạy về từ láy,  
đặc biệt là hướng dẫn học sinh tiểu học nhận  
diện từ láy đôi một cách thuận lợi, chúng tôi đề  
xuất hướng giải quyết về vấn đề nhận diện từ  
láy đôi như sau.  
Một số từ mà trên chữ viết không có phụ âm  
đầu như: ồn ã, ế ẩm, ít ỏi, o ép, ấm ức, ốm o…,  
xác định được hình cơ sở và một số từ không  
xác định được hình vị cơ sở như: ấp úng, ẽo ợt,  
ỉ eo, oái oăm, ỡm ờ…thì ở tiểu học, những từ  
này nên xác định là từ láy vì nó phù hợp với quy  
tắc nhóm thanh của từ láy đôi và có thể láy phụ  
âm đầu: zêro.  
Trong tiếng Việt, một số từ có hai yếu tố cấu  
thành có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm như:  
đu đủ, ba ba, cào cào, châu chấu, chiền chiện,  
thằn lằn, thuồng luồng, chèo bẻo, chích chòe…  
Các từ láy này, tư cách hình vị của các yếu tố  
không rõ ràng, không xác định được hình vị cơ  
sở và có nhà nghiên cứu xác định đây là từ đơn  
hoặc cụ thể hơn đây là từ đơn có hình thức láy.  
Nếu nhấn mạnh về phương diện ngữ âm và ở  
cấp tiểu học thì những từ này có thể xác định  
đây là từ láy.  
Một số từ dễ bị hình thức chữ viết đánh  
lừa như: cuống quýt, cập kênh, cồng kềnh…  
thì ở tiểu học có thể xác định là từ láy phụ âm  
đầu: /k/.  
105  
Nhấn mạnh đến yếu tố hòa phối về ngữ âm, vững những hiện tượng trung gian khi phân loại  
quy tắc nhóm thanh và trạng thái ngôn ngữ để các sự vật, hiện tượng khách quan. Khi phân  
nhận diện từ láy đôi là rất cần thiết. Tuy nhiên,  
chúng ta không nên tuyệt đối hóa các tiêu chí  
đó dù ở bậc học nào đi chăng nữa. Chẳng hạn,  
một số từ như: tốt tươi, mặt mũi, thúng mủng…  
tạo cho chúng ta cảm giác các từ này láy phụ âm  
đầu hoặc phần vần, phù hợp quy tắc nhóm thanh  
nhưng đây không phải là từ láy mà là từ ghép  
hợp nghĩa vì các yếu tố cấu tạo nên các từ này  
hiện nay đều có nghĩa, có quan hệ ngang hàng,  
bình đẳng với nhau khi xét ở quan hệ kết hợp để  
cấu tạo từ.  
loại cấu tạo từ trong tiếng Việt, việc nhận diện,  
xác định được từ đơn, từ láy, từ ghép một cách  
có căn cứ khoa học, có ý nghĩa quan trọng, góp  
phần để người dạy, người học hiểu đúng ý nghĩa  
của từ tiếng Việt.  
Khi đang học tập, nghiên cứu ở Trường Đại  
học Tây Bắc, sinh viên ngành GDTH cũng  
phải được định hướng nghề nghiệp ở rất nhiều  
lĩnh vực khác nhau để nâng cao năng lực thực  
hành nghề nghiệp, trong đó có vấn đề cấu  
tạo từ tiếng Việt. Vấn đề nhận diện từ láy đôi  
không phải là vấn đề mới trong ngôn ngữ học  
nhưng nhận diện từ láy đôi gắn với mục tiêu  
của từng cấp học, bậc học phù hợp với định  
hướng nghề nghiệp để sinh viên khi ra trường  
tác nghiệp, theo chúng tôi luôn có tính thời sự,  
phù hợp với triết lí đào tạo của Trường Đại  
học Tây Bắc: “Vững lí thuyết, giỏi thực hành,  
nhanh vào thực tiễn”.  
Trong quá trình phân loại, hiện tượng trung  
gian là hiện tượng có thực, không tránh khỏi.  
Việc “chỉ ra những ranh giới dứt khoát, không  
thể vượt qua được” [2,108] ngày càng tỏ ra  
thiếu cơ sở khoa học vững chắc. Các hiện tượng  
trung gian trong ngôn ngữ ngày càng xuất hiện  
nhiều, ngày càng hấp dẫn, thú vị. Nhưng bản  
thân những hiện tượng trung gian là phức tạp,  
rắc rối. Cho nên, khi dạy học môn Tiếng Việt  
trong nhà trường gặp những hiện tượng trung  
gian cũng cần có những hướng lí giải khoa học,  
phù hợp với mục tiêu của từng cấp học.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
2.  
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Tiếng  
Việt 4, tập một, Nxb Giáo dục.  
3. Kết luận  
Dạy học môn Tiếng Việt trong trường tiểu  
học vừa trang bị cho học sinh những tri thức  
khoa học về Việt ngữ học; đồng thời cũng hướng  
tới mục tiêu rất quan trọng là hình thành năng  
lực: nói, nghe, đọc, viết cho học sinh. Học sinh  
học tập tốt môn Tiếng Việt là cơ sở giúp cho các  
em học tập tốt các bộ môn khoa học khác như:  
Toán, Khoa học Tự nhiên Xã hội…  
Đỗ Hữu Châu – Đỗ Việt Hùng (2005), Đỗ  
Hữu Châu tuyển tập, tập một, Từ vựng –  
ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục.  
3.  
4.  
Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học  
tiếng Việt, Nxb Giáo dục.  
Trung tâm từ điển học (2014), Từ điển  
tiếng Việt, In lần thứ sáu, có sửa chữa bổ  
sung, Nxb Đà Nẵng.  
Sinh viên ngành GDTH học tập ở Trường  
Đại học Tây Bắc ngoài việc nắm chắc các tri  
thức khoa học cơ bản, cũng cần được trang bị  
thêm các kiến thức có tính chất nâng cao, nắm  
5.  
Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1996), Từ  
điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học,  
Nxb Giáo dục.  
106  
IDENTIFYING VIETNAMESE DOUBLE REDUPLICATIVE WORDS  
ACCORDING TO OCCUPATIONAL ORIENTATIONS FOR STUDENTS  
MAJORED PRIMARY EDUCATION IN TAY BAC UNIVERSITY  
Vu Tien Dung, Nguyen Huyen Anh  
Tay Bac University  
Abstract: When classifying any objects or phenomenon in reality, we see the appearance of the  
intermediate phenomenon and so is the classification of Vietnamese word structure. The article  
presents a phenomenon of fuzzy line when identifying Vietnamese double reduplicative words  
between single words and compound ones. Without refuting the widely recognized scientific criteria,  
the article aims at adding career-oriented criteria to help the students of Primary Education have  
a more realistic and favorable view when identifying Vietnamese double reduplicative words in  
current study, research and future carreer.  
Keywords: Reduplicative words, double reduplicative words, intermediate phenomena, Primary  
Education.  
____________________________________________  
Ngày nhận bài: 9/12/2019. Ngày nhận đăng: 24/12/2019  
Liên lạc: Vũ Tiến Dũng; e-mail: [email protected]  
107  
pdf 6 trang yennguyen 18480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận diện từ láy đôi tiếng Việt theo định hướng nghề nghiệp đối với sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học trường Đại học Tây Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_dien_tu_lay_doi_tieng_viet_theo_dinh_huong_nghe_nghiep.pdf