Phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng

VĂN HÓA DU LỊCH  
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG  
TẠI HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG  
ĐỖ TRẦN PHƯƠNG*  
Tóm tắt  
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch không chỉ hướng tới mục tiêu thoa mãn tối đa nhu cầu của  
du khách về khám phá, thẩm nhận những giá trị văn hóa vật thể cũng như cảnh quan thiên nhiên,  
mà còn quan tâm đến tác động của du lịch đến cộng đồng và tài nguyên môi trường. Huyện đảo Cát  
Hải, thành phố Hải Phòng có nhiều tiềm năng để phát triển loại hình du lịch này. Bài viết này tập  
trung phân tích tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch tại Cát Hải từ đó đưa ra một số giải pháp  
nhằm phát triển du lịch cộng đồng tại nơi đây.  
Từ khóa: Du lịch cộng đồng, phát triển du lịch, huyện Cát Hải  
Abstract  
Community-based tourism is a type of tourism that not only aims to satisfy the needs of travelers  
in terms of discovering and recognizing tangible cultural values as well as natural landscapes, but  
also takes care of impact of tourism to the community and environmental resources. Moreover,  
comunity-based tourism is used as a tool for local communities to manage tourism resources,  
participate in tourism development planning, preserving cultural values and developing themselves.  
Cat Hai island district, Hai Phong city has a lot of potential to develop this type of tourism. This article  
focuses on analyzing the potential and the real situation of tourism activities in Cat Hai, thereby  
offering some solutions to develop community-based tourism there.  
Keywords: Community-based tourism, tourism development, Cat Hai island district  
1. Du lịch cộng đồng  
lợi ích kinh tế từ hoạt động du lịch sẽ ở lại với  
cộng đồng.  
1.1. Khái niệm  
Báo cáo của APEC về đặc điểm của DLCĐ  
đưa ra cách hiểu: DLCĐ là mội loại hình du lịch  
bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo  
trong môi trường cộng đồng. Các sáng kiến  
DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia  
của người dân địa phương vào việc vận hành và  
quản lý các dự án du lịch nho như một phương  
tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế  
cho cộng đồng. Các sáng kiến DLCĐ còn khuyến  
khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa  
phương cũng như các di sản thiên nhiên [1, tr.9].  
Quan điểm về DLCĐ của APEC nhấn mạnh góc  
độ phát triển du lịch phải theo hướng du lịch  
bền vững. Phát triển du lịch không chỉ hướng  
tới đạt được những mục đích kinh tế mà còn  
phải đạt được những mục tiêu về văn hóa và  
môi trường.  
Hiện nay, có nhiều khái niệm về du lịch  
cộng đồng (DLCĐ). Các khái niệm này được  
sử dụng khá linh hoạt tùy thuộc mục đích,  
địa điểm nghiên cứu của từng tác giả. Theo  
nhà nghiên cứu Nicole Hauseler và Wolfgang  
Strasdas: “DLCĐ là một loại hình du lịch trong đó  
chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát  
triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch  
sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương…” [2, tr.149].  
Cộng đồng bản địa có vai trò quan trọng trong  
hoạt động kinh doanh du lịch. Họ không phải  
là người đi làm thuê mà tự đứng ra tổ chức  
quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của  
mình sao cho có hiệu quả nhất. Bên cạnh đó,  
* ThS, Khoa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội  
NGHIÊN CỨU  
Số 32 (Tháng 6 - 2020)  
95  
V
ĂN H Ó  
A
NGHIÊN CỨU  
V
ĂN H Ó  
A
Tại Việt Nam, các tổ chức và các học giả  
cũng đưa ra nhiều khái niệm về DLCĐ khác  
nhau. Trong Tài liệu hướng dẫn phát triển du  
lịch cộng đồng của Viện Nghiên cứu và phát  
triển ngành nghề nông thôn Việt Nam, DLCĐ  
được hiểu là một loại hình du lịch do chính cộng  
đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm  
chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi  
trường chung thông qua việc giới thiệu với du  
khách các nét đặc trưng của địa phương (phong  
cảnh, văn hóa)… [5, tr.3]. Khái niệm này đề cao  
sự hiểu biết về văn hóa một cách sinh động  
của cộng đồng địa phương trong việc truyền  
tải giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đến với  
du khách. Không gì tốt hơn là chính người dân  
địa phương giới thiệu, trao truyền những giá  
trị văn hóa của chính cộng đồng họ đến với  
du khách. Điều này sẽ giúp du khách được trải  
nghiệm những giá trị văn hóa một cách sinh  
động nhất.  
Hiện nay, DLCĐ có nhiều tên gọi khác nhau  
như: Community - Based Tourism (Du lịch dựa  
vào cộng đồng); Community - Development  
in Tourism (Phát triển cộng đồng dựa vào du  
lịch); Community - Based Ecotourism (Phát  
triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng);  
Community - Participation in Tourism (Phát  
triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng);  
Community - Based Mountain Tourism (Phát  
triển du lịch núi dựa vào cộng đồng)… Tuy có  
nhiều khái niệm cũng như nhiều tên gọi khác  
nhau, nhưng nhìn chung, DLCĐ có các đặc  
trưng cơ bản như sau:  
- DLCĐ dựa trên sự tò mò, mong muốn của  
khách du lịch để tìm hiểu thêm về cuộc sống  
hàng ngày của người dân từ các nền văn hóa  
khác nhau.  
- DLCĐ thường liên kết với người dân  
thành thị đến các vùng nông thôn để thưởng  
thức, trải nghiệm cuộc sống tại đó trong một  
khoảng thời gian nhất định.  
- Cộng đồng địa phương tham gia hoặc  
chịu trách nhiệm ra quyết định thực thi và điều  
hành hoạt động du lịch.  
- Cộng đồng dân cư, các đối tác liên quan,  
du khách có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên  
văn hóa và thiên nhiên địa phương.  
- Các sản phẩm, dịch vụ - du lịch được phát  
triển phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa  
địa phương.  
Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không  
chỉ tiếp cận DLCĐ dưới góc độ là một loại hình,  
mô hình mà còn ở khía cạnh rộng hơn, đó là  
mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt  
động du lịch tại địa phương (cụ thể là ở thị trấn  
Cát Bà và làng chài Việt Hải) để tìm hiểu cộng  
đồng dân cư nơi đây tham gia vào hoạt động  
du lịch như thế nào và thu được lợi ích gì từ  
hoạt động du lịch.  
1.2. Những thành phần cơ bản tham gia  
du lịch cộng đồng  
* Cộng đồng dân cư địa phương: Cộng đồng  
dân cư có nhiệm vụ tổ chức mô hình DLCĐ tại  
địa phương. Họ là trọng tâm của phát triển  
DLCĐ. Không có yếu tố này thì không thể phân  
biệt được DLCĐ với các loại hình du lịch khác.  
Cộng đồng dân cư làm chủ nguồn tài nguyên  
du lịch và trực tiếp phục vụ du khách. Lối  
sống của mỗi cộng đồng chính là những trải  
nghiệm mà du khách sẽ có được. Mặc dù các  
cộng đồng đều thân thiện và cởi mở với khách  
du lịch nhưng không có kỹ năng và thiếu kiến  
thức chính là điểm yếu kém và bất lợi lâu dài  
của những cộng đồng này.  
* Công ty lữ hành: Nhiệm vụ chính là đưa  
khách đến với các điểm DLCĐ. Các công ty này  
có khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn nhiều  
so với cộng đồng dân cư địa phương. Họ am  
hiểu về khách hàng và có các kênh tiếp thị hiệu  
quả. Họ có thể không chỉ tham gia vào quá  
trình hoạt động mà còn có thể có mặt ở khâu  
sớm hơn như quá trình chuẩn bị và quy hoạch  
nhằm thiết kế và phát triển sản phẩm du lịch  
có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Bỏ  
qua sự tham gia của thành phần này có thể  
cản trở tính khả thi về mặt kinh tế của mô hình  
DLCĐ. Để mối quan hệ giữa công ty lữ hành  
và cộng đồng địa phương kinh doanh du lịch  
có thể phát triển bền vững, hai bên cũng cần  
hoạt động trên cơ sở minh bạch, theo những  
điều khoản, hợp đồng kinh tế, tránh làm ăn  
theo lối thoả thuận miệng.  
* Khách du lịch: Là người có mong muốn  
được tìm hiểu mô hình DLCĐ tại địa phương.  
Theo nghiên cứu, khách du lịch tham gia tour  
DLCĐ thường mang các đặc điểm sau: quan tâm  
và tôn trọng các giá trị tự nhiên, lịch sử và văn  
hóa của các điểm tham quan; quan tâm đến tác  
- Các thành viên của cộng đồng được chia sẻ  
lợi ích kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch. DLCĐ  
góp phần nâng cao nhận thức, kiến thức về thế  
giới bên ngoài cho cộng đồng địa phương.  
96 Số 32 (Tháng 6 - 2020)  
VĂN HÓA DU LỊCH  
động của du lịch đối với môi trường và các giá trị  
văn hóa truyền thống; ưa thích tìm kiếm những  
giá trị chân thực trong cuộc sống của người dân  
địa phương như ẩm thực, trang phục, nếp sinh  
hoạt, các loại hình biểu diễn truyền thống; có  
học vấn và thu nhập tương đối cao.  
* Các công ty vận tải: Là đơn vị vận chuyển  
khách đến địa phương - thường các công ty  
vận tải này có quan hệ mật thiết với các công  
ty lữ hành hoặc người điều hành du lịch. Các  
công ty vận tải, ngoài phương tiện hiện đại  
còn phối kết hợp với người dân địa phương  
để có thể đưa những phương tiện vận chuyển  
truyền thống của địa phương vào kinh doanh  
du lịch tạo ra những sản phẩm đặc thù trong  
vận chuyển khách du lịch mang lại ấn tượng  
tích cực cho du khách.  
DLCĐ và phân chia lợi nhuận. Quy mô phát  
triển DLCĐ thường không lớn nên rất phù hợp  
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh  
nghiệp khởi nghiệp với những số vốn vừa phải.  
* Các tổ chức hỗ trợ phát triển: Các tổ chức  
hỗ trợ phát triển có thể là các tổ chức phi  
chính phủ trong hoặc ngoài nước. Các tổ chức  
phi chính phủ quốc tế thường xuyên hỗ trợ về  
mặt chuyên môn và một phần nhỏ về mặt tài  
chính. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc  
nâng cao năng lực của cộng đồng địa phương  
về phát triển du lịch bền vững. Các cơ quan tài  
trợ tham gia hỗ trợ nguồn vốn xây dựng các  
mô hình tại địa phương…  
2. Tiềm năng du lịch cộng đồng tại huyện  
Cát Hải  
Được thành lập từ năm 1977, huyện Cát  
Hải, thành phố Hải Phòng gồm đảo Cát Hải  
và Cát Bà với diện tích tự nhiên toàn huyện là  
345km2, trong đó đảo Cát Hải có diện tích gần  
40 km2 và đảo Cát Bà hơn 300 km2. Biển Cát Hải  
có gần 200 loài cá, gần 600 loài động vật biển,  
75 loài thực vật phù du, hàng trăm loài động  
vật phù du, 27 loại rừng ngập mặn... Nơi đây có  
nhiều vụng, vịnh với dải cát vàng, những quần  
thể san hô muôn màu sắc là những tài nguyên  
du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong  
nước và quốc tế.  
Các xã được lựa chọn để phát triển DLCĐ  
trên đảo như Xuân Đám, Trân Châu, Hiền Hào,  
Gia Luận, Việt Hải là những điểm du lịch cách  
trung tâm thị trấn từ 10 - 15km có đầy đủ các  
yếu tố tiềm năng của du lịch sinh thái cộng  
đồng với các nghề chủ yếu là trồng lúa nước,  
trồng rau xanh để cung cấp cho đảo, các loại  
cây nhiệt đới như na, hồng, cam, chuối,... và các  
nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi ong lấy  
mật, khai thác đánh bắt thủy hải sản. Tập hợp  
dân cư ở các xã này tương đối nhỏ, thường có  
từ 70 - 90 hộ được bố trí xen kẽ các khu vực  
đồi, rừng, thung lũng tạo nên cảnh quan đẹp.  
Môi trường thiên nhiên ở đây khá hoang sơ,  
trong lành, không bị ảnh hưởng bởi tác hại  
của các ngành sản xuất độc hại cũng như khí  
thải của các khu công nghiệp. Đến các xã này,  
du khách dễ dàng tiếp cận với các điểm tham  
quan thuộc Vườn quốc gia như hang Quân  
Y, động Trung Trang, hang Giếng Tiên… Các  
điểm này cũng là những nơi rất gần để tổ chức  
cho du khách xuống thuyền thăm vịnh Lan Hạ,  
trải nghiệm chèo thuyền kayak hoặc tắm trên  
* Chính quyền địa phương: Chính quyền địa  
phương là cơ quan trực tiếp quản lý và điều  
hành ở mỗi điểm nhất định. Chính quyền  
thuộc các cấp khác nhau đảm bảo cho mô  
hình DLCĐ tại địa phương hoạt động hiệu quả  
nhất, chẳng hạn như đề ra các chính sách, hỗ  
trợ hạ tầng, cấp giấy phép cho khách nước  
ngoài… Chính quyền địa phương đóng vai trò  
quyết định nhất trong sự phát triển DLCĐ, bởi  
không có những đường lối, chính sách đúng  
đắn và sự chỉ đạo sát sao của chính quyền địa  
phương thì không thể phát triển DLCĐ theo  
đúng những nguyên tắc tốt đẹp mà loại hình  
du lịch này đề ra.  
* Cơ sở đào tạo: Các cơ sở đào tạo có nhiệm  
vụ cung cấp các dịch vụ đào tạo đến những  
đối tượng khác nhau trong mô hình DLCĐ. Các  
lĩnh vực đào tạo có thể là đào tạo kỹ năng vận  
hành du lịch, đào tạo kỹ năng bán hàng, kỹ  
năng quản lý, đào tạo ngoại ngữ… Cơ sở đào  
tạo đóng vai trò quan trọng trong quá trình  
phát triển DLCĐ, vì xét cho cùng, bản chất của  
du lịch là kinh doanh dịch vụ, mà đại đa số dịch  
vụ du lịch đều liên quan đến sự phục vụ của  
những con người tác nghiệp cụ thể. Bởi vậy,  
chỉ khi nâng cao được chất lượng nguồn nhân  
lực thì chúng ta mới có thể nâng cao được chất  
lượng dịch vụ trong DLCĐ.  
* Doanh nghiệp: Là các đơn vị tham gia vào  
phát triển các dịch vụ tại địa phương như sản  
xuất hàng thủ công, hướng dẫn khách du lịch.  
Đây cũng có thể là các doanh nghiệp không  
nằm ở địa phương nhưng liên kết với ban  
quản lý DLCĐ địa phương để cùng phát triển  
NGHIÊN CỨU  
Số 32 (Tháng 6 - 2020)  
97  
V
ĂN H Ó  
A
NGHIÊN CỨU  
V
ĂN H Ó  
A
các bãi nhỏ của đảo. An ninh xã hội tại các xã  
tương đối tốt do tập hợp dân cư nhỏ lại sống  
trong các vùng đồi, thung lũng trong rừng nên  
vấn đề an ninh được thiết lập bằng sự cố kết  
trong cộng đồng, không có các tệ nạn như  
ma túy, trộm cắp, cướp giật… Các đặc sản chủ  
yếu là sản vật được khai thác hoặc nuôi trồng  
tại chỗ dựa trên điều kiện tự nhiên của rừng  
và biển như các loại hải sản (tôm, ngao, sò, tu  
hài…), cam Gia Luận, mật ong hoa rừng, rau  
xanh các loại và đặc biệt là giống gà Liên Minh,  
một loại gia cầm quý đã được đưa vào danh  
sách bảo tồn và phát triển.  
vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của  
du khách. Chính vì vậy, vào mùa cao điểm, du  
khách thường lựa chọn tham quan một ngày  
và nghỉ qua đêm tại trung tâm Cát Bà.  
Thực tế, du lịch Cát Bà chỉ phát triển trong  
vụ hè, còn những tháng khác, du lịch nơi đây  
chỉ hoạt động mang tính cầm chừng. Vấn đề  
đặt ra là phải làm sao để phát triển mạnh DLCĐ  
có tính trải nghiệm cao để du khách ưa khám  
phá, trải nghiệm văn hóa có thể đến nơi đây  
vào những tháng khác với những mức giá hợp  
lý để khai thác hết tiềm năng về du lịch sinh  
thái và du lịch vịnh biển ở huyện Cát Hải.  
Với những điều kiện kể trên cùng với yếu tố  
địa lý nằm trong khu dự trữ sinh quyển Cát Bà,  
các điểm này có đầy đủ điều kiện để tổ chức  
các hoạt động DLCĐ góp phần làm phong phú  
các loại hình sản phẩm du lịch trên đảo, giảm  
thiểu tính thời vụ và cân bằng lượng khách  
giữa khu vực trung tâm với các xã vùng xa.  
3.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ  
thuật phục vụ du lịch  
Khảo sát cho thấy, hiện nay cơ sở hạ tầng  
và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch của  
huyện Cát Hải đang ở giai đoạn phát triển. Về  
cơ bản, đường giao thông trên đảo đã hoàn  
thành và hoạt động khá tốt. Do đặc thù là đảo  
xa nên du khách muốn tiếp cận với đảo phải  
sử dụng nhiều loại phương tiện khác nhau,  
tốn thời gian. Với xã vùng xa như Việt Hải, du  
khách lại phải tiếp tục chuyển tàu gây ra nhiều  
bất tiện. Chính vì vậy, để tạo điều kiện thuận  
lợi cho du khách, con đường xuyên đảo Hải  
Phòng - Đình Vũ - Cát Hải - Cát Bà dài 31km  
đã được khánh thành và đưa vào hoạt động.  
Đây là con đường huyết mạch, đóng vai trò  
chính trong mọi sự phát triển của Cát Bà, Cát  
Hải gồm kinh tế biển, quốc phòng và cả hoạt  
động du lịch.  
Tại huyện Cát Hải, ngày càng có nhiều khách  
sạn hiện đại, đạt tiêu chuẩn gắn sao theo cách  
phân hạng của Tổng cục Du lịch. Hệ thống cơ  
sở lưu trú và dịch vụ ăn uống phục vụ du lịch  
phát triển không đồng bộ và có sự chênh lệch  
giữa khu vực trung tâm thị trấn với các xã vùng  
xa. Sự không đồng bộ trong cách xây dựng và  
các tiêu chuẩn chất lượng xuất phát từ việc đại  
đa số các cơ sở do người dân tự đầu tư, xây  
dựng mà thiếu sự quy hoạch đồng bộ, nhất  
quán. Các resort, các khách sạn lớn như Sea  
Pearl, Hùng Long, Thảo Minh,… đều được đầu  
tư xây dựng ở khu vực trung tâm thị trấn. Các  
xã thuộc địa bàn Vườn quốc gia chủ yếu gồm  
các hộ gia đình kinh doanh homestay hoặc các  
nhà nghỉ nhỏ. Ngoài ra, ở xã Việt Hải còn có mô  
hình bungalow nằm ở phía cuối làng.  
3. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng  
tại huyện Cát Hải  
3.1. Lượng khách du lịch và doanh thu  
Những năm vừa qua, huyện đảo Cát Hải đã  
xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn để  
nâng dần tỷ trọng trong cơ cấu phát triển kinh  
tế chung của huyện. Trong đó, định hướng  
phát triển du lịch sinh thái cộng đồng là một  
trong những mục tiêu chính của các hướng  
sản phẩm được khai thác tại đây.  
Số lượng khách du lịch đến Cát Hải tăng  
tương đối đều qua các năm, trong đó số lượng  
khách nội địa chiếm tỷ trọng chủ yếu. Khảo  
sát cho thấy, lượng khách du lịch đến Cát Hải  
thường tập trung nhiều vào mùa hè từ tháng  
5 đến tháng 9 trong năm, là mùa cao điểm của  
du lịch nghỉ dưỡng biển. Vào mùa này, thời tiết  
và khí hậu tại Cát Hải phù hợp cho những kỳ  
nghỉ hè của du khách. Tuy nhiên, mùa hè lại  
là mùa nhiều bão nên cũng ảnh hưởng không  
nhỏ đến yếu tố vận chuyển đường thủy nói  
riêng, hoạt động du lịch nói chung. Từ trung  
tâm thị trấn Cát Bà phải di chuyển bằng phà,  
tàu hoặc đi xuyên Vườn quốc gia du khách mới  
tiếp cận được với các xã đảo, nên thời gian lưu  
trú của khách du lịch tại các xã ít nhất là hai  
tiếng buổi trưa, dài nhất là hai ngày. Du khách  
có thể tự do tham quan tìm hiểu đời sống của  
người dân địa phương cũng như tài nguyên  
thiên nhiên vô cùng phong phú. Tuy nhiên, cơ  
sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tại các xã  
Với hệ thống nhà hàng, khách sạn nêu  
trên, huyện Cát Hải đã đáp ứng được phần  
98 Số 32 (Tháng 6 - 2020)  
VĂN HÓA DU LỊCH  
lớn nhu cầu của du khách. Hệ thống cơ sở vật  
chất phục vụ được cho các đối tượng khách  
đa dạng, có nhu cầu và khả năng chi trả khác  
nhau. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho du  
khách đến tham quan nghỉ ngơi, vui chơi giải  
trí. Tuy nhiên, với công suất sử dụng phòng  
chưa lên đến 60%, cho thấy Cát Hải vẫn chưa  
khai thác được hết tiềm năng dẫn đến lãng  
phí nguồn lực này. Địa bàn này chú trọng tăng  
về số lượng hơn đẩy mạnh chất lượng, nâng  
hạng các cơ sở lưu trú vốn có. Các cơ sở lưu trú  
của khối kinh doanh tư nhân phát triển nhanh  
chóng đã có những đóng góp tích cực vào việc  
cải thiện hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du  
lịch của Cát Hải, tuy nhiên, cũng đã tạo thêm  
“gánh nặng” cho du lịch Cát Hải về đội ngũ lao  
động vốn đã hạn chế về chất lượng. Phần lớn  
các chủ doanh nghiệp du lịch và các nhân viên  
phục vụ tại những cơ sở này chưa qua đào tạo  
cơ bản về quản lý và nghiệp vụ.  
phát hành một cách chuyên nghiệp, thường  
xuyên và kịp thời. Chỉ vào những đợt tham gia  
chiến dịch hành động nào đó, ví dụ như năm  
du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng 2013  
việc in tập gấp, tờ rơi mới được chú ý. Trên thực  
tế, du khách biết đến hoạt động DLCĐ tại Cát  
Hải trên các phương tiện đại chúng còn ít, một  
số biết tới qua bạn bè, người thân, thậm chí có  
khách du lịch chỉ tình cờ biết tới DLCĐ ở Cát  
Hải do đi du lịch Cát Bà. Nhiều khách du lịch tại  
khu vực trung tâm Cát Bà, khi được hỏi tại sao  
không lựa chọn các xã vùng xa hay loại hình  
du lịch sinh thái, DLCĐ, đã trả lời là do không  
biết. Họ chỉ biết ở đây có Vườn quốc gia với  
một số điểm du lịch, nếu đi tham quan thì phải  
đi bộ nhiều và xa nên có tâm lý e ngại.  
Ngoài ra, công tác quảng bá, xúc tiến DLCĐ ở  
huyện Cát Hải cũng còn gặp rất nhiều khó khăn.  
Kinh phí phục vụ cho hoạt động xúc tiến, quảng  
bá còn rất hạn chế, tại các xã chưa có nguồn  
kinh phí riêng phục vụ cho việc quảng bá nên  
ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động. Trước  
thực trạng đó, UBND cùng các cấp chính quyền  
huyện Cát Hải cần đưa ra các giải pháp cụ thể  
nhằm xúc tiến quảng bá hình ảnh DLCĐ Cát Hải  
đến với khách du lịch trong và ngoài nước.  
3.3. Công tác quảng bá du lịch  
Trong những năm gần đây, bên cạnh việc  
quảng bá hình ảnh chung cho các hoạt động  
du lịch biển của đảo ngọc Cát Bà, UBND huyện  
Cát Hải đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền  
quảng bá về du lịch sinh thái cộng đồng tại  
một số xã. Công tác quảng bá về du lịch được  
mở rộng trên nhiều kênh thông tin. Cùng với  
việc quảng bá thông qua panô, tờ rơi, huyện  
Cát Hải đã cho ra mắt cuốn cẩm nang “Du lịch  
sinh thái cộng đồng” đầu tiên về xã Gia Luận.  
Phối hợp mở nhiều chương trình quảng bá  
hình ảnh huyện đảo Cát Hải cũng như các xã  
làm du lịch sinh thái cộng đồng. Chương trình  
quảng bá được thực hiện trên Đài Truyền hình  
Việt Nam, Phim tài liệu Đảo Cát Bà hương vị của  
biển trên kênh VTC4, phim tài liệu quảng bá  
ẩm thực Cát Bà trên HTV9. Các sản phẩm đặc  
trưng của huyện đảo như nước mắm Cát Hải,  
mật ong Gia Luận, Cam Gia Luận cũng được  
tham gia triển lãm tại Hà Nội nhân Ngày Di sản  
văn hóa Việt Nam 23/11/2013.  
Bên cạnh đó, công tác quảng bá DLCĐ  
huyện Cát Hải còn tồn tại những mặt hạn  
chế. Hoạt động quảng bá, giới thiệu du lịch  
sinh thái cộng đồng thông qua các hoạt động  
xúc tiến du lịch trong và ngoài huyện Cát Hải  
tuy đã phát triển trong những năm gần đây  
nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả. Việc cung  
cấp những ấn phẩm, tập gấp nhằm quảng bá  
hình ảnh DLCĐ cho khách du lịch chưa được  
3.4. Sự tham gia của người dân trong hoạt  
động du lịch  
Trong hoạt động quản lý điều hành du lịch  
Hoạt động du lịch tại đây vẫn nằm trong  
sự quản lý chung của huyện Cát Hải. Tháng  
7/2006, UBND huyện Cát Hải đã thành lập  
Trung tâm hướng dẫn và phát triển du lịch.  
Tháng 5/2009, Phòng VH,TT,TT&DL tham mưu  
cho UBND huyện kiện toàn Ban chỉ đạo hoạt  
động du lịch năm 2009 và thành lập Đội kiểm  
tra liên ngành về hoạt động du lịch - dịch vụ  
huyện Cát Hải nhằm quản lý, tổ chức các hoạt  
động du lịch ngày càng được nâng cao về chất  
lượng, du lịch được phát triển cả về bề rộng và  
chiều sâu. Đội kiểm tra về hoạt động du lịch -  
dịch vụ đã tích cực hoạt động, kiểm tra, thu giữ  
và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm đổ  
nước thải, rác thải ra đường, lấn chiếm vỉa hè,  
lòng đường, nơi công cộng làm địa điểm kinh  
doanh, buôn bán để đảm bảo an ninh trật tự,  
mỹ quan du lịch trên địa bàn.  
Thực tế cho thấy sự tham gia của người  
dân trong hoạt động DLCĐ ở Cát Hải vẫn còn  
nhiều bất cập. Một trong những nguyên nhân  
NGHIÊN CỨU  
Số 32 (Tháng 6 - 2020)  
99  
V
ĂN H Ó  
A
NGHIÊN CỨU  
V
ĂN H Ó  
A
du khách do bộ đội biên phòng kết hợp với  
UBND huyện Cát Hải tổ chức.  
thiếu đi sự tham gia của cộng đồng dân cư  
vào bộ máy quản lý trực tiếp là do nhận thức  
của người dân các vùng chưa đồng đều, cũng  
không phải ai cũng ý thức được đúng và đầy  
đủ về giá trị của hoạt động du lịch đối với địa  
bàn sinh sống.  
Không chỉ thiếu vắng sự tham gia của  
người dân trong công tác điều hành quản lý,  
ban quản lý điều hành du lịch tại các xã đảo  
còn tồn tại một số hạn chế do đơn vị cấp cơ sở  
quản lý du lịch tại các xã được thành lập chưa  
lâu, chuyên môn nghiệp vụ chưa cao nên công  
tác quản lý còn mang tính chất vùng và địa  
phương, chưa có tính chuyên nghiệp.  
Bên cạnh các dịch vụ cơ bản, tại các xã còn  
có các hoạt động kinh doanh dịch vụ bổ sung.  
Điển hình là dịch vụ bán hải sản để khách  
mang về làm quà. Tuy nhiên, các loại hải sản  
được bán ở đây chủng loại không phong phú,  
quy mô cũng không lớn và chuyên nghiệp  
như ở trung tâm thị trấn. Các hộ chủ yếu treo  
bảng nhỏ hoặc tự giới thiệu tới du khách trong  
quá trình phục vụ, ngoài ra, có những hộ bày  
tủ cấp đông loại nhỏ ở trước hiên để bán. Đối  
với dịch vụ kinh doanh hàng lưu niệm, ngoài  
những mặt hàng hải sản khô, tươi để bán cho  
khách du lịch mang về làm quà, ở Việt Hải đã  
dần hình thành một số cửa hàng lưu niệm nhỏ,  
bán mũ nón, một số loại đồ lưu niệm như áo,  
đồ trang sức. Tuy nhiên, các mặt hàng được  
bày bán lại chưa có nét đặc trưng riêng mà  
giống với nhiều điểm du lịch khác.  
Nhìn chung, do lượng khách đến với Cát  
Hải còn chưa tương xứng với tiềm năng nên  
cơ hội mở rộng kinh doanh dịch vụ du lịch còn  
gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, cơ hội  
kinh doanh các dịch vụ du lịch như lưu trú, ăn  
uống và các dịch vụ bổ sung khác cũng mới  
chỉ tập trung vào một số hộ gia đình chứ chưa  
đến được sâu rộng trong cộng đồng.  
Trong hoạt động kinh doanh du lịch  
Bộ phận lưu trú tại các xã là tập hợp các gia  
đình trong xã có điều kiện, được ban quản lý  
điều hành lựa chọn, thẩm định, đánh giá để  
phục vụ nhu cầu lưu trú của du khách. Bộ phận  
này đã thực hiện các nhiệm vụ tương đối tốt và  
nhận được sự hài lòng của du khách. Cơ sở lưu  
trú được vệ sinh sạch sẽ, trang thiết bị trong  
phòng được sắp xếp phù hợp, gọn gàng. Du  
khách được nhân viên đón tiếp với thái độ vui  
vẻ, ân cần, thân thiện. Vì vậy, mặc dù trình độ  
chuyên môn nghiệp vụ chưa cao nhưng văn  
hóa ứng xử của các hộ gia đình làm du lịch đã  
mang đến cảm giác thoải mái cho du khách  
mỗi khi đến với huyện đảo Cát Hải.  
Đối với bộ phận kinh doanh ăn uống, ban  
quản lý lựa chọn những thành viên có điều kiện  
chế biến thức ăn, đồ uống để phục vụ khách,  
được trang bị các kiến thức vệ sinh an toàn thực  
phẩm và các kiến thức căn bản trong phục vụ  
ăn uống khách du lịch. Đặc biệt, biết chế biến  
thành thạo các món đặc sản của địa phương.  
Tuy nhiên, các trang thiết bị phục vụ cho hoạt  
động ăn uống của du khách chỉ đảm bảo vấn  
đề vệ sinh chứ chưa được đầu tư hiện đại. Các  
hộ kinh doanh ăn uống chỉ đơn thuần kê bàn  
ghế ở trước cửa để bày món ăn phục vụ khách,  
chưa có sự đầu tư đồng bộ, chuyên nghiệp.  
Trong hoạt động bảo vệ tài nguyên tự nhiên  
và văn hóa  
Đối với môi trường tự nhiên của Vườn quốc  
gia, người dân có ý thức bảo vệ, giữ gìn sinh  
cảnh, không chặt phá cây rừng. Tuy nhiên, giai  
đoạn 2011 - 2012, tại Gia Luận có hiện tượng  
sử dụng chim chào mào làm món ăn phục vụ  
du khách. Điều này đã đi ngược lại tiêu chí hoạt  
động du lịch sinh thái của địa phương. Sau khi  
có ý kiến phản hồi và từ chối sử dụng từ du  
khách nước ngoài, UBND xã Gia Luận đã có  
lệnh cấm săn bắt các loài động vật trong rừng  
để phục vụ cho hoạt động du lịch. Nhìn chung,  
cư dân Cát Hải nhận thức rất rõ ràng những gì  
mà thiên nhiên ưu đãi cho địa phương và vai  
trò của môi trường tự nhiên đối với việc khai  
thác, phát triển DLCĐ. Bản thân họ luôn có ý  
thức giữ gìn tài nguyên tự nhiên và chủ động  
tham gia vào các chiến dịch, hoạt động nhằm  
bảo vệ môi trường của huyện.  
Bộ phận dịch vụ hướng dẫn là tập hợp các  
thành viên được đào tạo hướng dẫn du lịch cơ  
bản, nắm được những di tích lịch sử - văn hóa  
cũng như kết cấu địa lý tự nhiên, các thông tin  
văn hóa, kinh tế trong vùng để giới thiệu với  
du khách khi tham quan. Tại xã Việt Hải, những  
người hướng dẫn được chọn từ chính các hộ  
dân, được tham gia một số lớp tập huấn về  
cách thức giới thiệu, cách đón tiếp và phục vụ  
Qua quá trình thực tế ở địa phương, chúng  
tôi nhận thấy, mô hình DLCĐ đang được áp  
100 Số 32 (Tháng 6 - 2020)  
VĂN HÓA DU LỊCH  
dụng phát triển khá hiệu quả và mang lại lợi  
ích kinh tế, cải thiện đời sống cho người dân  
nơi đây. Ở xã Việt Hải, mô hình bảo tàng gia  
đình mới được hình thành nửa cuối năm 2016  
đã giúp phục dựng, triển lãm giới thiệu về  
cách sống của cư dân bản địa, những đồ đạc,  
nông ngư cụ mà cư dân Việt Hải vẫn thường  
dùng trong sinh hoạt và sản xuất. Song mặt  
khác, sự phát triển du lịch cũng kéo theo  
những hệ quả mang tính tiêu cực. Hiện nay,  
xã Việt Hải, xã Gia Luận phần nào không còn  
giữ được nét đẹp hoang sơ của ngôi làng cổ  
Việt Nam như trước nữa. Nhiều ngôi nhà được  
xây mới khang trang, hiện đại nhưng không  
có quy hoạch cụ thể về kiểu dáng, độ cao nên  
đều hướng đến xu hướng hiện đại nhất có thể,  
do đó đã phá vỡ cảnh quan vốn có. Thực tế này  
dẫn đến cuối năm 2008 UBND huyện Cát Hải  
và Sở VH,TT,TT&DL thành phố Hải Phòng đã  
đưa Việt Hải ra khỏi danh sách mô hình DLCĐ,  
bởi tại thời điểm này xã không đảm bảo đầy  
đủ yêu cầu và điều kiện đáp ứng cho một địa  
chỉ DLCĐ. Qua khảo sát, phỏng vấn một số  
hộ kinh doanh các lĩnh vực khác nhau tại Cát  
Hải, chúng tôi nhận thấy, cư dân ở đây chưa  
ý thức được rõ ràng về các giá trị văn hóa cần  
được duy trì. Vậy nên, cần phải tuyên truyền  
sâu rộng hơn nữa để chính những người dân,  
những hộ kinh doanh DLCĐ nơi đây trở thành  
những người tham gia bảo tồn văn hóa và tự  
nhiên một cách chủ động nhất, tích cực nhất.  
địa phương; nguồn thu từ bán vé tham quan sẽ  
được phân chia lại như thế nào cho người dân,  
cho bảo tồn, cho duy trì cơ sở vật chất kỹ thuật  
và nộp ngân sách nhà nước; nguồn thu từ thuế  
thông qua các hoạt động du lịch sẽ được phân  
chia ra sao; những chính sách cụ thể về bảo vệ  
di sản văn hóa và tài nguyên du lịch; người dân  
địa phương được tham gia vào quá trình quản  
lý du lịch ở mức độ nào; chính sách ưu đãi cho  
người dân phát triển mô hình kinh doanh DLCĐ,  
chính sách đào tạo nâng cao nguồn nhân lực tại  
chỗ; chính sách hỗ trợ cho hoạt động xây dựng  
sản phẩm du lịch mới; chính sách, cơ chế trong  
xúc tiến quảng bá...  
4.2. Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn  
nhân lực  
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý: Đây là lực  
lượng rất quan trọng trong nguồn nhân lực du  
lịch. Để có thêm những kiến thức về quản lý du  
lịch cũng như về DLCĐ, các cán bộ quản lý nên  
được trang bị, đào tạo thêm những mảng kiến  
thức như sau: Khối kiến thức về quản lý nhà  
nước, kiến thức về kinh tế du lịch, kiến thức về  
DLCĐ.  
Đối với đội ngũ trực tiếp kinh doanh du lịch:  
Đây là nhóm lao động rất đông đảo, chủ yếu  
bao gồm những vị trí như lễ tân, buồng, bàn,  
bar, bếp, lái xe và hướng dẫn viên du lịch. Cần  
bồi dưỡng cho họ những chuyên môn, nghiệp  
vụ cụ thể như nghiệp vụ lễ tân, giao tiếp ứng  
xử, thao tác phục vụ bàn, xử lý các tình huống  
phát sinh trong quá trình phục vụ khách.  
4. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển  
du lịch cộng đồng tại huyện đảo Cát Hải  
Đối với hướng dẫn viên địa phương: Đây  
chính là bộ mặt của cộng đồng, thay mặt cộng  
đồng giới thiệu những giá trị văn hóa vật thể  
và phi vật thể của địa phương mình đến với  
du khách. Du khách có hiểu, có yêu những  
nét văn hóa nơi đây hay không chính là quyết  
định bởi khả năng của hướng dẫn viên. Cần có  
những chuyên đề đào tạo về hướng dẫn viên  
như: quy trình tổ chức hướng dẫn, tham quan,  
giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu  
của Cát Hải, phương pháp xây dựng bài thuyết  
minh, xử lý tình huống...  
Đối với cộng đồng địa phương: Cần tăng  
cường nhận thức cho cộng đồng, kể cả những  
người không trực tiếp tham gia vào hoạt động  
kinh doanh du lịch. Chúng tôi dự kiến sẽ phát  
hành những tập tài liệu ngắn gọn đến người  
dân địa phương nhằm tăng cường nhận thức  
cho cộng đồng dân cư về những vấn đề: vai  
4.1. Cơ chế chính sách  
Đây là một trong những giải pháp mang  
tính quyết định nhất, bởi nó mang tính pháp  
lý để DLCĐ dựa vào đó mà hoạt động và phát  
triển. Tuy nhiên, cũng là một trong những giải  
pháp rất khó để đưa ra. Để có được những giải  
pháp đúng đắn về cơ chế, chính sách, cần phải  
có sự họp bàn kỹ lưỡng của các bên liên quan  
trong hoạt động DLCĐ để đảm bảo giải pháp  
mang tính toàn diện và thiết thực.  
Các cơ quan quản lý, các nhà khoa học  
cũng như các bên liên quan trong hoạt động  
DLCĐ cần sớm ngồi lại với nhau, bàn thảo, tìm  
ra một cơ chế chính sách thoả đáng trong phát  
triển DLCĐ để đáp ứng được quyền lợi tối đa  
của các bên tham gia: Doanh nghiệp sẽ được  
hưởng ưu đãi như thế nào khi sử dụng nguồn  
lực chính cho doanh nghiệp mình là người dân  
NGHIÊN CỨU  
Số 32 (Tháng 6 - 2020)  
101  
V
ĂN H Ó  
A
NGHIÊN CỨU  
V
ĂN H Ó  
A
trò của du lịch; tác động của du lịch đến kinh  
tế, văn hóa, xã hội; bảo vệ môi trường trong  
du lịch; giao tiếp văn minh với khách du lịch…  
13h00: Thăm làng Việt Hải một làng cổ còn  
tương đối nguyên sơ nằm lọt thỏm giữa biển  
khơi và được bao bọc bởi núi cao và rừng già  
của vườn quốc gia Cát Bà.  
16h00: Quay trở về bến Cái Bèo/bến tàu  
khách  
Trong quá trình phát triển ban đầu, hướng  
dẫn viên của các hãng lữ hành vẫn phải là cầu  
nối quan trọng giữa du khách và nguồn nhân  
lực du lịch địa phương. Trong tương lai, tùy  
theo vào tính chất công việc cụ thể, nguồn  
nhân lực du lịch địa phương cần phải được đào  
tạo, bồi dưỡng nhiều hơn về kiến thức và kỹ  
năng, bao gồm cả ngoại ngữ, để đáp ứng nhu  
cầu phục vụ du khách trong nước và quốc tế.  
19h00: Ăn tối tại khách sạn. Tự do. Nghỉ  
đêm tại khách sạn  
Ngày 3:  
8h00: Ăn sáng buffet tại khách sạn  
8h00 - 11h00: Tự do mua sắm  
11h00: Ăn trưa tại khách sạn  
4.3. Xây dựng sản phẩm du lịch  
13h00: Check out, trở về Hà Nội. Kết thúc  
chương trình.  
Sản phẩm du lịch mà chúng tôi xây dựng  
dưới đây chủ yếu nhắm đến đối tượng khách  
vào mùa thấp điểm, từ tháng 9 đến tháng 5.  
(Bởi vào những tháng cao điểm trong mùa hè,  
huyện đảo Cát Hải luôn ở trong tình trạng quá  
tải. Các biện pháp kích cầu, quảng bá, hay xây  
dựng những sản phẩm du lịch mới gần như  
không quá quan trọng, bởi vào những tháng  
này, du khách đến với Cát Hải chủ yếu là du  
lịch biển).  
Chúng tôi xây dựng những chương trình  
du lịch hướng tới những khách lẻ, có thể tự đi  
đến Cát Hải để trải nghiệm, hoặc đây cũng là  
gợi ý để các công ty lữ hành có thể tổ chức cho  
những đoàn khách lớn đến tham quan, du lịch  
Cát Hải vào mùa thấp điểm, vừa giảm được chi  
phí và vừa có thêm những trải nghiệm mới mẻ  
về Cát Bà. Sau đây là một chương trình du lịch  
điển hình:  
4. 4. Xúc tiến quảng bá  
Thành phố Hải Phòng và huyện đảo Cát  
Hải cần xác định rõ thế mạnh cũng như những  
sản phẩm đặc trưng để từ đó đưa ra những nội  
dung quảng bá sao cho phù hợp và hiệu quả  
nhất đến với du khách. Cùng với đó là việc xác  
định đối tượng khách du lịch tiềm năng, điều  
này rất quan trọng trong việc đưa ra những  
chương trình du lịch cụ thể, hấp dẫn và phù  
hợp với đối tượng khách để chào bán ra thị  
trường. Bên cạnh đó, cũng có thể dựa vào lợi  
thế liên kết vùng với Hạ Long của Quảng Ninh  
để lên kế hoạch xúc tiến, quảng bá như một  
điểm đến chung của vùng duyên hải Đông  
Bắc thông qua một số hoạt động sau: đặt các  
liên kết website giữa hai vùng, thông tin hình  
ảnh về du lịch Cát Hải trên Vịnh Hạ Long, và  
ngược lại, đặt các hình ảnh về Hạ Long tại sân  
bay quốc tế Cát Bi của Hải Phòng, sử dụng các  
diễn đàn, các liên kết phát triển kinh tế - xã hội  
và du lịch giữa hai vùng để thúc đẩy hoạt động  
xúc tiến, quảng bá.  
Thực tế hiện nay, việc quảng bá cho du lịch  
huyện đảo Cát Hải vẫn chưa được chú trọng,  
điển hình cho thấy trong cuốn sách Non nước  
Việt Nam, một trong những cuốn sách gối  
đầu giường của nhiều khách du lịch, thì Cát  
Bà vẫn không được nhắc đến như một điểm  
đến nổi tiếng và hấp dẫn của thành phố Hải  
Phòng. Đây thực sự là một thiếu sót rất lớn. Vì  
vậy, chúng ta cần chủ động ký kết hợp đồng  
quảng bá trên các báo, tạp chí. Hiện nay, trên  
thị trường có rất nhiều tạp chí hay liên quan  
đến du lịch, có thể điểm qua một số tạp chí  
viết bằng tiếng Việt như: Tạp chí Du lịch Việt  
KHÁM PHÁ BIỂN ĐẢO CÁT HẢI (3 ngày/2 đêm)  
Ngày 1:  
7h20: Đón xe chuyên tour Cát Bà tại Phố Cổ  
Hà Nội. Khởi hành đi Cát Bà  
12h00: Check in tại khách sạn. Ăn trưa tại  
khách sạn  
15h00: Tham quan pháo đài thần công  
19h00: Ăn tối tại khách sạn  
21h00: Nghỉ đêm tại khách sạn  
Ngày 2:  
6h00: Ăn sáng buffet tại khách sạn  
7h00: Thăm Vịnh Lan Hạ - một kỳ quan giữa  
đất trời với khoảng gần 400 hòn đảo lớn nhỏ  
được phủ đầy cây xanh hay những thảm thực  
vật đa dạng  
11h00: Ăn trưa trên tàu  
102 Số 32 (Tháng 6 - 2020)  
VĂN HÓA DU LỊCH  
Nam, Báo Du lịch, Sành Điệu, và rất nhiều báo  
khác như Tiền Phong, Lao Động, Thanh Niên,  
Tuổi trẻ,... đều có những bài viết liên quan đến  
lĩnh vực du lịch. Các tạp chí du lịch bằng tiếng  
nước ngoài có: The Guide, Discovery, TVGuide,  
Travel Tip, Travellive… Bước đầu, nên cộng tác  
với 2 tạp chí tiếng Việt và tiếng Anh uy tín nhất  
để đặt bài viết và tiến hành đăng quảng cáo  
dài kỳ trên Tạp chí Du lịch Việt Nam và Tạp chí  
Travellive (song ngữ).  
Việc tổ chức các sự kiện, các chương trình  
liên hoan chào mừng,… cũng là một cách thức  
quảng bá rất hiệu quả. Đây không chỉ là cơ hội  
thu hút khách du lịch mà còn là cơ hội tốt để thu  
hút các nhà đầu tư đến với huyện đảo Cát Hải.  
Thành phố Hải Phòng và huyện đảo Cát Hải  
cũng cần chủ động tận dụng thời cơ để tham  
gia vào các hội nghị, hội thảo, hội chợ du lịch  
trong và ngoài nước để có cơ hội tuyên truyền,  
quảng bá về những sản phẩm đặc trưng của  
Cát Bà. Hoặc thành phố có thể tổ chức các hội  
thảo về du lịch Cát Bà với chủ đề như sau: “Cát  
Bà - Đảo Ngọc vùng Đông Bắc” hoặc “Cát Bà -  
Du lịch xanh”...  
Quảng cáo trên truyền hình là một phương  
tiện rất hữu hiệu nhất là đối với những sản  
phẩm du lịch hiện nay. Tuy nhiên, quảng cáo  
trên tryền hình thường có chi phí rất cao. Chính  
vì vậy, không nên quảng bá du lịch Cát Bà ở  
chuyên mục quảng cáo mà nên đưa vào những  
chương trình có nội dung liên quan đến du lịch  
như: S-Việt Nam, VTVTRIP của VTV1, Việt Nam -  
Đất nước - Con người của VTV2. Đây tuy không  
phải là các chương trình quảng cáo du lịch  
nhưng lại có tính chất của một chương trình  
giới thiệu về nét đẹp thiên nhiên, ẩm thực, lịch  
sử, văn hóa đặc trưng của các vùng miền trên  
dải đất hình chữ S - một dạng quảng cáo ẩn.  
Kết luận  
Cát Hải là một địa bàn có nhiềm tiềm năng  
để phát triển du lịch, đặc biệt là những điều  
kiện để phát triển DLCĐ vào mùa thấp điểm.  
Những tiềm năng này cần được đánh thức; cần  
được chính quyền quản lý; doanh nghiệp, các  
tổ chức liên quan, đặc biệt là người dân chung  
tay góp sức để biến những tiềm năng đó thành  
những sản phẩm du lịch đặc sắc. Đặc biệt hơn  
cả, chỉ khi nào người dân được tham gia một  
cách sâu rộng vào các hoạt động du lịch thì du  
lịch mới có sự phát triển bền vững, đáp ứng tốt  
cả nhu cầu của người dân và những hiệu quả  
về kinh tế, xã hội, môi trường.  
Được phát trên khung giờ vàng của VTV  
(20h05 trên VTV1 từ thứ Ba đến Chủ nhật)  
chương trình S-Việt Nam đang được khán giả  
đón nhận rất tích cực. Chúng ta hoàn toàn  
có thể cộng tác với các chương trình này, xây  
dựng một bộ phim giới thiệu về huyện đảo  
Cát Hải (khoảng từ 10 đến 20 phút). Đây là các  
chương trình mang tính chất miễn phí, do đó,  
phải xây dựng nội dung thật đặc sắc, kịch bản  
thật hấp dẫn để đề xuất lên chương trình.  
Đ.T.P  
Tài liệu tham khảo  
1. Dự án EU (2013), Sổ tay du lịch cộng đồng -  
Phương pháp tiếp cận dựa vào thị trường.  
Quảng bá du lịch qua internet đang là giải  
pháp hiện đại và hiệu quả nhất. Hiện tại, nội  
dung về du lịch Cát Bà du khách có thể xem tại  
org.com.vn, tuy nhiên, những thông tin trên  
website này còn chưa thực sự phong phú,  
không được cập nhật liên tục, liên kết website  
còn ít… Do đó cần đầu tư hơn nữa cho giao  
diện các website, đồng thời các thông tin cần  
phải được cập nhật liên tục để đáp ứng nhu  
cầu của du khách. Ngoài ra, hiện nay các trang  
mạng xã hội như Facebook,Twitter,YouTube,…  
đang rất được ưa chuộng trong giới trẻ, đây  
cũng là một kênh quảng cáo nhanh và hiệu  
quả nên sử dụng.  
2. McKercher and Hillary (2002), Cultural Tour-  
ism: the Partnership between Tourism and Cultural  
Heritage Management, The Haworth Press, Inc.  
3. Võ Quế, Lương Hồng Quang, Võ Chí Công  
(2006), Du lịch cộng đồng lý thuyết và vận dụng,  
tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
4. Viện Nghiên cứu và Phát triển Ngành nghề  
Nông thôn (2012), Tài liệu hướng dẫn phát triển  
Du lịch cộng đồng.  
Ngày nhận bài: 27 - 5 - 2019  
Ngày phản biện, đánh giá: 8 - 6 - 2020  
Ngày chấp nhận đăng: 25 - 6 - 2020  
NGHIÊN CỨU  
Số 32 (Tháng 6 - 2020)  
103  
V
ĂN H Ó  
A
pdf 9 trang yennguyen 10120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_du_lich_cong_dong_tai_huyen_cat_hai_thanh_pho_hai.pdf