Phân tích diễn biến lòng dẫn sông Hồng đoạn từ Sơn Tây đến trạm thủy văn Hà Nội

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN LÒNG DẪN SÔNG HỒNG  
ĐOẠN TỪ SƠN TÂY ĐẾN TRẠM THỦY VĂN HÀ NỘI  
Nguyễn Hữu Huế  
Khoa Công trình - Trường Đại học Thủy lợi  
Tóm tắt: Những diễn biến bất thường gần đây về xói, bồi, dao động chủ lưu trong lòng dẫn sông  
Hồng chủ yếu là do sự thay đổi của chế độ dòng chảy từ thượng lưu, trong đó yếu tố quan trọng  
là sự điều tiết của hồ chứa nhà máy thủy điện Hoà Bình trên sông Đà, nhà máy thủy điện Thác  
Bà trên sông Chảy và gần đây là nhà máy thủy điện Tuyên Quang trên sông Lô. Sự điều tiết đó  
đã gây ra xói lan truyền lòng dẫn, từ đó tạo nên một quan hệ hình thái lòng dẫn mới. Xu thế biến  
đổi lòng dẫn sông Hồng hiện nay đang diễn ra theo hướng bất lợi cho ngành nông nghiệp, giao  
thông và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng sông Hồng nói chung và thủ đô  
Hà Nội nói riêng. Bài báo giới thiệu một số kết quả nghiên cứu quá trình biến đổi lòng dẫn sông  
Hồng đoạn từ Sơn Tây đến trạm Thủy văn Hà Nội thông qua số liệu đo đạc thực tế hàng năm.  
Từ khóa: sông Hồng, xói sâu, hạ thấp lòng dẫn, xói lở bờ sông.  
Summary: The recent unusual changes in erosion, sedimentation and the direction of main flow  
of the Red River are mainly due to the change of flow regime from upstream, in which the  
important factor is the regulation of the reservoirs, including Hoa Binh hydropower plant on Da  
river, Thac Ba hydropower plant on Chay river and recently Tuyen Quang hydropower plant on  
Lo river. That regulation has caused widespread erosion, thereby creating a new morphological  
relationship. The current trend of changing the Red River is taking place in the direction of  
disadvantage for the agricultural sector, transportation and socio-economic development  
activities of the Red River Delta in general and Hanoi capital in particular. The article  
introduces some research results of the process of transforming the bed of Red River from Son  
Tay to the Hanoi Hydrological station through actual annual measurement data.  
Key words: Red river, deep erosion, lowering river bed, river bank erosion.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ *  
và phát triển, có cả những tác động mang tính  
tự nhiên và do con người gây ra. Hiện nay,  
Theo quy luật của tự nhiên, lòng sông Hồng  
sông Hồng đang bị uốn khúc theo xu thế phát  
liên tục biến đổi và phát triển qua nhiều giai  
triển của lòng dẫn, sông ngày càng trở nên  
đoạn khác nhau. Đặc biệt là sau khi đập thủy  
cong hơn. Hiện đã xuất hiện thêm đỉnh cong  
điện Hòa Bình đi vào hoạt động từ những năm  
mới tại khu vực bãi Tráng Việt, huyện Mê  
90 của thế kỷ 20, dòng sông Hồng đoạn chảy  
Linh. Đỉnh cong tại bãi Tầm Xá vẫn chưa  
qua Thành phố Hà Nội có những biến động  
được khống chế, có xu thế phát triển mạnh gây  
khá phức tạp. Đó là hiện tượng xói lở bờ sông,  
xói lở tại khu vực đường bờ chưa được gia cố.  
bồi tụ đáy sông làm thay đổi dòng chảy có  
Thế sông mới hiện nay không thuận lợi cho  
nguy cơ đe dọa đến sự ổn định của hệ thống đê  
hoạt động giao thông thủy, lấy nước trong  
điều của thành phố. Trong quá trình biến đổi  
nông nghiệp, ổn định đường bờ và phát triển  
đô thị.  
Ngày nhận bài: 28/3/2019  
Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của  
Ngày thông qua phản biện: 22/4/2019  
Ngày duyệt đăng: 26/4/2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
sự biến động lòng dẫn sông Hồng là hiện 2017, trên địa bàn Thành Phố đã xảy ra 60  
tượng xói lở bờ sông tại nhiều vị trí thuộc sự cố đê điều - thủy lợi, gây thiệt hại  
bờ hữu sông Hồng. Theo thống kê của Sở khoảng 95 tỷ đồng.  
Nông nghiệp và PTNT Hà Nội, trong năm  
Hình 1: Sạt lở nghiêm trọng tại khu vực kè Xuân  
Phú, huyện Phúc Thọ (Báo đô thị, 02/2018)  
Hình 2: Sợt lở nghiêm trọng tại khu vực kè  
Thọ An, huyện Đan Phượng (ảnh chụp 2017)  
Bài báo này trình bày các kết quả bước đầu về liệu sau khi được biên tập, chỉnh lý sẽ được sử  
phân tích biến động lòng dẫn sông Hồng qua dụng để phân tích nhằm đưa ra các luận điểm  
các giai đoạn từ các số liệu đo đạc mặt cắt mang tính định lượng và có sức thuyết phục cao.  
ngang lòng dẫn sông Hồng. Kết quả phân tích  
sẽ là bức tranh tổng thể về sự biến động lòng  
dẫn sông Hồng Hà Nội và là cơ sở để tìm ra  
các giải pháp ổn định lòng dẫn sông.  
Phương pháp ảnh vệ tinh: Sử dụng ảnh vệ  
tinh để nghiên cứu và đánh giá biến động lòng  
dẫn, hình thái sông Hồng trên mặt bằng ở thời  
điểm hiện tại và qua các thời điểm lịch sử.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU VÀ KHU  
VỰC NGHIÊN CỨU  
Phân tích hiện trạng và đánh giá biến động  
lòng dẫn sông Hồng Hà Nội từ các số liệu đo  
thực tế là một công việc phức tạp bởi đòi hỏi  
khối lượng tài liệu chi tiết, liên tục và độ tin  
cậy cao. Ngoài ra, công tác biên tập, chỉnh lý  
số liệu cũng đòi hỏi yêu cầu về mặt kỹ thuật và  
thời gian. Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả  
đã sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:  
3.1. Tài liệu nghiên cứu  
Toàn bộ các tài liệu địa hình đo vẽ mặt cắt ngang  
sông Hồng được thu thập từ Vụ quản lý đê điều -  
Tổng Cục phòng chống thiên tai. Số liệu được  
cập nhật liên tục từ năm 2001 đến 11/2018.  
Toàn bộ tài liệu mặt cắt ngang được biên tập  
và chồng ghép theo đúng tọa độ và các mốc  
khảo sát. Quá trình chập mặt cắt ngang cho  
thấy: các mốc đê ở hai phía bờ tả và bờ hữu là  
hoàn toàn khớp nhau về cao độ và hình dạng.  
Phương pháp tổng hợp, thống kê, kế thừa: Tổng  
hợp, thống kê tất cả các tài liệu về địa hình, địa  
chất, thủy văn khu vực nghiên cứu. Đối với tất  
cả các mặt cắt ngang sông Hồng được thu thập  
sẽ được chồng ghép với nhau nhằm đưa ra xu  
hướng chung trong vấn đề biến động lòng dẫn  
sông Hồng khu vực Hà Nội.  
3.2. Khu vực nghiên cứu  
Sông Hồng đoạn từ Sơn Tây đến trạm thủy văn  
Hà Nội có tổng chiều dài trên 50 km có nhiều  
bãi bồi, bị phân lạch và uốn khúc với nhiều đỉnh  
mới đang trong xu thế phát triển. Một số bãi giữa  
Phương pháp phân tích tài liệu: Tất cả các tài  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
nằm trên đoạn sông như bãi Võng La, bãi  
Thượng Cát, bãi giữa Phú Gia… Đoạn sông  
nghiên cứu được đánh giá là chưa ổn định và  
liên tục biến đổi trong những năm gần đây.  
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Lòng dẫn sông Hồng liên tục bị xói sâu  
với tốc độ đáng báo động  
Nhìn một cách tổng thể, xu thế biến đổi lòng  
dẫn sông Hồng hiện nay đang diễn ra theo xu  
thế như sau:  
Phạm vi nghiên cứu từ Sơn Tây đến trạm thủy  
văn Hà Nội nằm trong phạm vi mặt cắt ngang  
đo vẽ từ mặt cắt số 44 (SHG 44) đến mặt cắt  
số 84 (SHG 84).  
- Xói sâu vẫn là xu thế phát triển chung của  
lòng dẫn sông Hồng Hà Nội hiện nay và trong  
tương lai nếu không có các giải pháp kịp thời.  
Mức độ xói sâu hiện tại và trong tương lai vẫn  
sẽ từ 0,5 ÷ 1,0 m/năm, tùy thuộc vào điều kiện  
thủy lực, hình thái, địa chất và yếu tố công  
trình chỉnh trị tại khu vực đó.  
Tổng thể về khu vực nghiên cứu và vị trí các  
mặt cắt ngang sông Hồng đo đạc hàng năm  
được trình bày chi tiết như hình bên dưới:  
- Khu vực lòng dẫn sông Hồng đoạn từ trạm  
thủy văn Sơn Tây đến qua cống Cẩm Đình, do  
dòng chảy tương đối thẳng, nằm ở giữa bờ tả  
và hữu nên lòng dẫn ít bị biến động hơn. Tốc  
độ hạ thấp ở mức độ nhẹ hơn, chỉ ở mức  
khoảng từ 0,25 ÷ 0,5 m/năm.  
Hình 3: Vị trí các mặt cắt ngang sông Hồng  
đo đạc hàng năm  
2009  
2018  
6,0 m  
Hình 4: Xu thế hạ thấp lòng dẫn sông Hồng tại mặt cắt SHG44  
Tại mặt cắt SHG44 lòng dẫn sông Hồng có tại mặt cắt này lòng dẫn còn có xu hướng  
xu hướng hạ thấp đáng kể. Nhìn chung, lòng chuyển dịch dòng chính sang phía bờ hữu.  
dẫn bị hạ thấp khoảng 6,0 (m) trong giai Bãi sông nhỏ, xu hướng biến đổi không  
đoạn từ năm 2009 đến 2018. Bên cạnh đó, đáng kể.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
2011  
2018  
6,5m  
Hình 5: Xu thế biến đổi lòng dẫn trên sông Hồng tại mặt cắt SHG45  
Tại mặt cắt số 45 (SHG 45), lòng sông Hồng tiếp tục có xu hướng hạ thấp khoảng 6,50 m trong  
khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2018.  
2011  
2018  
7,5m  
Hình 6: Xu thế biến đổi lòng dẫn trên sông Hồng tại mặt cắt SHG60 (hạ lưu TB. Thanh Điềm)  
Xu thế biến đổi lòng dẫn tại mặt cắt SHG60 kể khoảng 7,5 m trong khoảng thời gian từ  
cho thấy lòng sông có xu hướng hạ thấp đáng năm 2011 đến năm 2018. Cao trình bãi bên bờ  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
tả có xu hướng bị xói sâu do tác động của  
dòng chủ lưu.  
3.2. Hình thái sông (thế sông) biến đổi theo  
chiều hướng bất lợi  
Qua một số ví dụ điển hình tại một số mặt cắt Thế sông trước năm 1990 là thế sông thuận lợi  
ngang sông Hồng Hà Nội cho thấy: tốc độ hạ cho mọi ngành kinh tế, thoát lũ, bảo vệ đê  
thấp lòng dẫn sông hiện nay đang ở mức báo điều, giao thông và phát triển đô thị. Về cảnh  
động cao. Cần thiết phải có các giải pháp phù quan thế sông trước năm 1990 cũng là thế  
hợp nhằm hạn chế diễn biến bất lợi này.  
sông đẹp và cân đối đi giữa thủ đô Hà Nội.  
Hình 7: Thế sông Hồng hiện nay  
Có thể kết luận: Thế sông hiện nay không  
thuận lợi cho thuỷ lợi, hoạt động giao thông  
thủy và phát triển đô thị.  
Đặc điểm của thế sông hiện nay:  
- Dòng chủ lưu ở các khu vực đường bờ Phú  
Châu, Tiến Thịnh, Hồng Hà, Liên Mạc và bãi  
Tầm Xá có xu hướng ép sát bờ ảnh hưởng đến  
sự ổn định của đường bờ.  
3.3. Luồng lạch chưa ổn định  
Do tác động từ các cụm công trình chỉnh trị ổn  
định luồng lạch do ngành giao thông xây  
dựng, đặc biệt là các cụm kè chỉnh trị thuộc  
Dự án: Phát triển giao thông vùng đồng bằng  
Bắc Bộ, lòng dẫn sông Hồng hiện nay vẫn  
đang tiếp tục biến đổi và chưa thể ổn định  
trong khoảng một vài năm tới.  
- Xuất hiện đỉnh cong mới (đỉnh cong 4) tại  
bãi Tráng Việt, huyện Mê Linh. Dòng chủ lưu  
ép sát đường bờ gây xói lở nghiêm trọng.  
- Đỉnh cong tại bãi Tầm Xá vẫn chưa được  
khống chế, có xu thế phát triển mạnh gây xói  
lở tại khu vực đường bờ chưa được gia cố.  
Một ví dụ điển hình là tại vị trí mặt cắt số 64  
(khu vực cụm kè Hồng Hà, huyện Đan  
Phượng), chỉ trong khoảng một năm từ năm  
2017 đến năm 2018, sau trận lũ tháng 10/2017,  
một lạch mới đã xuất hiện phía bờ Tả. Điều  
này khiến cho các hoạt động giao thông thủy  
cũng trở nên khó khăn do xu thế thay đổi  
luồng lạch quá nhanh.  
- Dòng chủ lưu có xu thế đi vào sông Đuống  
làm gia tăng lưu lượng nước đổ vào sông  
Đuống trong mùa lũ, gia tăng nguy cơ xói lở  
đường bờ khu vực cửa Đuống.  
- Thế sông hiện nay khiến tầu thuyền đi lại gặp  
nhiều khó khăn tại các đoạn sông uốn khúc, khu  
vực cửa Đuống, cầu Thăng Long, Long Biên...  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Lạch mới xuất hiện năm 2018  
2018  
2017  
Hình 8: Biến đổi luồng lạch tại mặt cắt ngang SHG 64  
vệ. Tuy nhiên, dòng chủ lưu được lại có xu thế  
húc thẳng vào đường bờ phía bờ đối diện, gây  
xói lở trầm trọng.  
3.4. Đường bờ phía đối diện các công trình  
chỉnh trị bị xói lở đe dọa  
Dưới tác động của các công trình chỉnh trị,  
dòng chủ lưu được đẩy ra xa khỏi khu vực bảo  
2018  
2011  
2018  
Hình 9: Mặt cắt ngang lòng dẫn sông Hồng mặt cắt SHG 57 (khu vực cụm kè Tiến Thịnh)  
Điển hình như cụm kè Tiến Thịnh thuộc dự án: đã đẩy dòng chảy húc thẳng sang hữu gây xói  
Phát triển giao thông vùng đồng bằng Bắc Bộ, sâu vào vùng bãi và đường bờ đối diện.  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
các trầm tích bở rời Holocen gồm: sét pha, cát,  
cát hạt mịn, bùn sét hữu cơ, trên cùng là lớp  
đất phù sa. Với đặc trưng cơ lý đất vùng bờ,  
bãi và lòng sông như vậy thì vấn đề xói lở bờ  
sông sẽ diễn ra trên nhiều khu vực.  
3.5. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quá  
trình biến động lòng dẫn sông Hồng Hà Nội  
1) Ảnh hưởng của yếu tố thủy văn, thủy lực  
Dưới tác động của Biến đổi khí hậu, cường độ  
mưa trên lưu vực sông Hồng ngày càng gia  
tăng trong khi thời gian mưa ngắn lại khiến  
cho lưu lượng lũ đổ về các hồ chứa tăng đột  
biến. Việc vận hành hồ chứa cũng trở nên khó  
khăn hơn, các hồ chứa phải liên tục xả lũ về hạ  
du nhằm đảm bảo an toàn hồ đập. Điển hình như  
trận lũ tháng 10/2017 đã khiến hồ Hòa Bình phải  
mở tới 8 cửa xả đáy. Khi đó, dòng chảy lũ lớn  
tập trung trong thời gian ngắn với cường suất lũ  
lên nhanh, lưu tốc dòng chảy lũ lớn đã làm sạt lở  
bờ và gây diễn biến xói lòng dẫn nghiêm trọng.  
Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng  
nhất ảnh hưởng đến quá trình biến động lòng  
dẫn sông Hồng Hà Nội.  
4) Ảnh hưởng từ các hoạt động khai thác cát  
lòng sông  
Dọc tuyến sông Hồng, hoạt động khai thác cát  
trong những năm gần đây vẫn diễn ra mạnh  
mẽ. Tại khu vực thị xã Sơn Tây, lượng khai  
thác cát tập trung tại bến đò Phú Thịnh (6000  
m3 /ngày), cảng Sơn Tây (3000 m3/ngày), xã  
Phú Hà (1000 m3/ngày); tại khu vực quận Bắc  
Từ Liêm, lượng khai thác tập trung tại xã  
Thượng Cát (75000 m3/ngày), xã Liêm Mạc  
(5000 m3/ngày); tại huyện Thanh Trì, lượng  
khai thác tập trung tại cảng Khuyến Lương  
(9000 m3/ngày), trường bắn Yên Sở (6000  
m3/ngày), phà Khuyến Lương (2500 m3/ngày),  
xã Vạn Phúc (2500 m3/ngày); tại khu vực cầu  
Thăng Long, khối lượng khai thác là 6000  
m3/ngày. Hình thức khai thác chủ yếu của  
những khu vực trên là hút từ lòng sông lên  
thuyền rồi từ thuyền hút lên bãi, dùng máy xúc  
băng tải và cần cẩu để đưa lên xe vận chuyển  
đến các nơi tiêu thụ (Lê Văn Hùng và nnk,  
2014). Tình trạng khai thác cát tại những khu  
vực này làm biến đổi luồng lạch chạy tàu, gây  
xói lòng sông và bờ sông, các phương tiện  
khai thác cát nhiều trên sông ảnh hưởng đến  
việc giao thông thủy.  
2) Ảnh hưởng của yếu tố bùn cát  
Việc xây dựng các hồ chứa ở thượng nguồn đã  
giữ lại phần lớn lượng bùn cát trên thượng lưu  
hồ, làm cho lượng bùn cát của các sông thay  
đổi đáng kể. Trước hết là sự suy giảm hàm  
lượng bùn cát lơ lửng trung bình.  
+ Tại trạm Hòa Bình trên sông Đà, độ đục  
trung bình đã giảm từ 571,4g/m3 xuống còn  
71,1g/m3 giai đoạn 1989-2006 (giảm khoảng  
87,6%) và 32,2g/m3 giai đoạn 2007- 2014  
tương đương 99,6% so với giai đoạn dòng  
chảy tự nhiên.  
+ Sự suy giảm hàm lượng vật liệu phù sa của  
sông Đà đã kéo theo sự suy giảm hàm lượng  
bùn cát ở hạ du sông Hồng: tại trạm Sơn Tây,  
độ đục trung bình năm giảm từ 581,4g/m3 thời  
kỳ 1960-1970 xuống 317,68g/m3 thời kỳ 1989-  
2006 và 146,7g/m3 thời kỳ 2007-2014. Tại  
trạm Hà Nội giảm từ 485g/m3 xuống còn  
424,3g/m3 và 161,2g/m3. Tại trạm Thượng Cát  
giảm từ 619,9g/m3 xuống 471,5g/ m3 và chỉ  
còn 231,9g/ m3.  
5. KẾT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng  
biến động lòng dẫn sông Hồng Hà Nội trong  
những năm gần đây. Kết quả chập các mặt cắt  
đo đạc trong khoảng thời gian từ năm 2009  
đến năm 2018 trên sông Hồng Hà Nội, cho  
thấy: Xu thế biến đổi chung ở tất cả các mặt cắt  
là sự hạ thấp lòng dẫn ở mức đáng báo động.  
Trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm  
2018, lòng dẫn sông Hồng đã bị hạ thấp từ 5,0 ÷  
8,0 (m), tùy từng mặt cắt. Tại một số mặt cắt  
ngang qua các cụm công trình chỉnh trị có sự  
3) Ảnh hưởng của yếu tố địa chất  
Đất cấu tạo bờ sông Hồng Hà Nội chủ yếu là  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019  
7
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
biến đổi rõ rệt. Lạch chính có xu thế đi ra xa Hệ lụy do sự bất ổn định lòng dẫn sông Hồng  
khỏi các khu vực đường bờ đang được bảo vệ, sẽ khiến cho các hệ thống thủy lợi khó khăn  
song lại gây ra xói lở ở khu vực đường bờ đối trong việc lấy nước; tăng tỷ lệ phân lưu từ  
diện. Thế sông hiện nay không thuận lợi cho sông Hồng sang sông Đuống, gia tăng nguy cơ  
thuỷ lợi, hoạt động giao thông thủy và phát xói lở; gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông và gây  
triển đô thị của thành phố Hà Nội.  
mất an toàn giao thông đường thủy.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] PGS.TS Nguyễn Hữu Huế và nnk (2018), Đề tài “Nghiên cứu tác động của các công trình  
trên sông đến sự ổn định lòng dẫn sông Hồng - Thành phố Hà Nội”, Hà Nội.  
[2] GS.TS Lương Phương Hậu (2010), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu các giải pháp  
khoa học, công nghệ cho hệ thống công trình chỉnh trị sông trên các đoạn trọng điểm vùng  
đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ”, Hà Nội.  
[3] GS.TS Lê Kim Truyền (2007), Báo cáo tổng kết đề tài“Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực  
tiễn điều hành cấp nước mùa cạn cho đồng bằng sông Hồng”, Hà Nội.  
[4] Lê Văn Hùng (2014), Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu diễn biến lòng dẫn và đề xuất  
các giải pháp ứng phó cho công trình bảo vệ bờ hạ du sông Hồng có xét đến các hồ điều  
tiết thượng nguồn và khai thác dòng sông của con người hạ du”, Hà Nội.  
[5] Lê Văn Hùng và Phạm Tất Thắng (2011), “Phân tích diễn biến lưu lượng và mực nước  
sông Hồng mùa kiệt”, Tạp chí KHKT Thủy lợi và môi trường - ISSN 1859-3941- số đặc  
biệt 11/2011, Hà Nội.  
[6] Lê Văn Hùng (2013), Báo cáo tổng kết đề tài cấp Thành phố Hà Nội: “Nghiên cứu diễn  
biến lưu lượng, mực nước các sông về mùa kiệt và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng  
hợp lý nguồn nước trên địa bàn thành phố Hà Nội”.  
[7] Lê Văn Hùng, Phạm Tất Thắng (2015), “Diễn biến lòng dẫn sông hồng từ Sơn Tây đến cửa  
Ba Lạt và ảnh hưởng của nó đến dòng chảy mùa kiệt”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy  
Lợi Và Môi Trường – Số 48.  
310825.html  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019  
pdf 8 trang yennguyen 40620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích diễn biến lòng dẫn sông Hồng đoạn từ Sơn Tây đến trạm thủy văn Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_dien_bien_long_dan_song_hong_doan_tu_son_tay_den_t.pdf