Phân tích các yếu tố quyết định kích cỡ tập chọn trong tiêu dùng cá tại thành phố Nha Trang

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2014  
KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC  
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH KÍCH CỠ TẬP CHỌN  
TRONG TIÊU DÙNG CÁ TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG  
THE ANALYSIS ON THE DETERMINANTS OF CONSIDERATION SET SIZE  
IN FISH CONSUMPTION IN NHA TRANG  
Nguyễn Thị Thanh Vâng1, Huỳnh Thị Ngọc Diệp2  
Ngày nhận bài: 07/3/2014; Ngày phản biện thông qua: 18/5/2014; Ngày duyệt đăng: 01/12/2014  
TÓM TẮT  
Kích cỡ tập chọn là một biến quan trọng quyết định hành vi lựa chọn của người tiêu dùng. Nghiên cứu này xem xét  
các nhân tố tác động lên quá trình lựa chọn tiêu dùng cá thông qua kích cỡ tập chọn. Có 6 nhân tố tác động lên kích cỡ tập  
chọn được đề xuất trong mô hình nghiên gồm chất lượng cảm nhận, giá cảm nhận, kiến thức, khuynh hướng ưa thích sự  
thuận tiện, sự thuận tiện cảm nhận và khuynh hướng tìm kiếm sự khác biệt. Sử dụng phương pháp phân tích mô hình cấu  
trúc dựa trên một mẫu gồm 400 người tiêu dùng tại thành phố Nha Trang, kết quả phân tích cho thấy độ tin cậy và giá trị  
của các đo lường và chỉ ra mô hình phù hợp với dữ liệu. Có năm biến ngoại trừ biến sự thuận tiện cảm nhận tác động lên  
kích thước tập chọn. Trong đó, biến giá cảm nhận là biến có tác động mạnh nhất. Kết quả nghiên cứu vạch ra nhiều đề xuất  
có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam trong việc chinh phục thị trường nội địa.  
Từ khóa: tập chọn, khuynh hướng ưa thích sự thuận tiện, khuynh hướng tìm kiếm sự khác biệt, kiến thức người tiêu  
dùng, chất lượng cảm nhận, giá cảm nhận  
ABSTRACT  
Consideration set size is an important factor deciding consumers’s choice. This study explores the determinants  
of consumers’choice through consideration set size. Six factors are expected to affect consideration set size including  
perceived quality, perceived price, knowledge, convenience orientation, perceived convenience and variety seeking.  
Structural equation modeling is applied to analyze data sample of 400 consumers in Nha Trang. The statistical testing  
confirms the reliability and validity of all constructs and measurement model can be representative for data. Five variables  
except perceived convenience are found to be significantly affect consideration set size. Perceived price is the most  
important factor. The results imply important policies for Vietnamese seafood companies to compete in domestic market.  
Keywords: Consideration set size, convenience orientation, variety seeking, knowledge, perceived quality,  
perceived price  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Việt Nam là nước xuất khẩu thủy sản và ngành  
doanh nghiệp quan tâm đến việc củng cố “sân sau”  
thị trường nội địa như Agrifish An Giang, Đại Thuận  
Nha Trang, Nha Trang Seafood, Longshin, Long  
Sinh… trong hàng ngàn doanh nghiệp ngành này  
trong cả nước. Sự cạnh tranh trên thị trường thế  
giới đang ngày càng khốc liệt và ẩn chứa vô vàn  
rủi ro đối với các doanh nghiệp thủy sản, vụ kiện  
cá ba sa và tôm là hai minh chứng rõ ràng nhất gây  
thiệt hại rất lớn, vì vậy đã đến lúc các doanh nghiệp  
thủy sản cần quan tâm hơn nữa đến một thị trường  
Thủy sản là một trong số các ngành mũi nhọn của  
nền kinh tế mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất  
nước. Hầu hết các vấn đề mà ngành Thủy sản và  
các doanh nghiệp chế biến thủy sản quan tâm hiện  
nay là làm sao để nâng cao chất lượng sản phẩm,  
mở rộng thị trường xuất khẩu, phấn đấu đạt các  
chỉ tiêu về kim ngạch,… trong khi đáp ứng nhu cầu  
trong nước vẫn đang bị xem nhẹ khi chỉ có một số  
1 Nguyễn Thị Thanh Vâng: Cao học Quản trị kinh doanh 2012- Trường Đại học Nha Trang  
2 ThS. Huỳnh Thị Ngọc Diệp: Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 191  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2014  
86 triệu dân với sức tăng trưởng cao, ổn định và nhu  
cầu ăn uống các sản phẩm chất lượng cao đang  
gia tăng mạnh mẽ. Vì vậy hiểu và giải thích hành vi  
lựa chọn của người tiêu dùng đối với các sản phẩm  
cá nói riêng và thủy sản nói chung trở thành một  
vấn đề cấp thiết cho cả giới nghiên cứu và doanh  
nghiệp thủy sản.  
Kích cỡ tập chọn càng lớn thì xác suất lựa chọn của  
người tiêu dùng cho một chủng loại hàng hóa càng  
cao. để có thể giải thích rõ quyết định lựa chọn căn  
cứ trên tập chọn, cần phải xem xét và chỉ rõ các  
nhân tố cụ thể nào ảnh hưởng đến kích cỡ tập chọn  
này. Nói đến khái niệm này, yếu tố liên quan đầu tiên  
cần xem xét đó là xu hướng tìm kiếm sự đa dạng. Vì  
kích cỡ tập chọn càng rộng chứng tỏ các phương án  
xem xét càng đa dạng. Thứ hai, để hình thành tập  
chọn có bề rộng đủ để đưa ra quyết định lựa chọn  
hiệu quả, đòi hỏi người tiêu dùng phải có kiến thức  
hay kinh nghiệm trước đó về sản phẩm họ dự định  
sử dụng. Do đó, yếu tố thứ hai được xem xét là kiến  
thức khách hàng. Như đã lập luận ở trên, để giảm  
áp lực về mặt trí lực và phòng ngừa rủi ro trong quá  
trình ra quyết định, người tiêu dùng có xu hướng  
yêu thích sự thuận tiện trong việc ra quyết định. Do  
đó, khuynh hướng yêu thích sự thuận tiện nói chung  
và sự thuận tiện cảm nhận đối với việc tiêu dùng cá  
là các nhân tố tiếp theo được đề xuất có tác động  
lên kích cỡ tập chọn. Bên cạnh đó, mối quan tâm với  
sức khỏe. Ngoài ra, hai biến giá và chất lượng cảm  
nhận – các biến quan trọng trong lý thuyết giải thích  
hành vi của người tiêu dùng [7, 12] cũng được xem  
xét để đo lường kích cỡ tập chọn.  
Khi xem xét quá trình lựa chọn của người tiêu  
dùng, tập chọn là một thành tố quan trọng. Khái  
niệm tập chọn được đưa ra lần đầu tiên bởi Wright  
và Barbour (1977) [14] và nội hàm của nó là “những  
thương hiệu mà người tiêu dùng sẽ xem xét để cân  
nhắc lựa chọn”. Những chủng loại sản phẩm hay  
thương hiệu được người tiêu dùng nhớ đến trong  
tiến trình lựa chọn sẽ có xác suất được lựa chọn  
cao [1]. Bởi vì việc xây dựng tập chọn sẽ ảnh hưởng  
đến chất lượng của quá trình đánh giá lựa chọn nên  
việc bỏ quên giai đoạn này trong tiến trình lựa chọn  
là một lỗ hỏng lớn trong lý thuyết cũng như thực tế  
nghiên cứu về quá trình lựa chọn của người tiêu  
dùng. Do đó, nghiên cứu tập chọn với mục tiêu giải  
thích hành vi lựa chọn của người tiêu dùng là vấn đề  
đáng được quan tâm.  
Trong thực tiễn đời sống, người tiêu dùng  
thường phải cân nhắc lựa chọn những chủng sản  
phẩm khác nhau nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất  
định. Chẳng hạn, người tiêu dùng cân nhắc nên lựa  
chọn thịt (thịt gà, thịt bò, thịt heo…) hay cá (cá thu,  
cá ngân, cá hồi…). Đặc biệt, trạng thái này được  
thể hiện rõ nét nhất trong quá trình lựa chọn và tiêu  
dùng thực phẩm hàng ngày của người tiêu dùng.  
Có thể nói việc tiêu dùng thực phẩm là đối tượng  
nghiên cứu đã góp phần xây dựng kiến thức mới  
về hành vi người tiêu dùng. Bên cạnh đó, nghiên  
cứu hành vi tiêu dùng ở ngành hàng này, một ngành  
hàng có nhu cầu tiêu dùng lớn và đa dạng, có ý  
nghĩa ứng dụng vô cùng lớn đối với nhà sản xuất.  
Để có thể đi sâu nghiên cứu các nhân tố quyết định  
kích cỡ tập chọn, sản phẩm cá, thực phẩm gắn liền  
với bữa ăn gia đình Việt Nam được lựa chọn. Đây  
là loại thực phẩm phong phú về chủng loại (cá thu,  
cá ngừ, cá chim, cá nục…), đa dạng về cách chế  
biến (kho keo, kho nước, canh chua, canh ngọt…)  
và thuận tiện trong việc lựa chọn dạng nguyên liệu  
phục vụ chế biến bữa ăn gia đình từ nguyên liệu  
tươi sống, đông lạnh, khô, muối, đồ hộp…  
Để làm rõ mục tiêu trên, nghiên cứu được thực  
hiện tại địa bàn Nha Trang. Nha Trang là một thành  
phố biển với nguồn cung ứng cá từ biển khá dồi  
dào. Biển ở Nha Trang có bờ khá dốc và nhiều đảo  
lớn nhỏ tạo nên một quần thể sinh học đa dạng và  
phong phú. Cá ở Nha Trang có trên 300 loài lớn  
nhỏ, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như  
cá thu, cá ngừ, cá mú, cá sơn thóc, cá vượt, ... cùng  
rất nhiều loài thủy đặc sản khác như tôm, cua, ghẹ,  
mực, nhuyễn thể,…Đặc điểm sông nước, ao hồ và  
sự đa dạng của các loại hình nuôi trồng thủy sản  
cũng làm cho chủng loại cá cung ứng rất đa dạng.  
Người dân Nha Trang với thói quen tiêu dùng hải  
sản lâu đời có đủ kiến thức để trả lời chính xác bảng  
câu hỏi nghiên cứu.  
II. MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
1. Mô hình nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này, có 5 nhân tố được đề  
xuất tác động lên kích cỡ tập chọn gồm: giá cảm  
nhận, chất lượng cảm nhận, khuynh hướng ưa thích  
sự thuận tiện, sự thuận tiện cảm nhận và khuynh  
hướng ưa thích sự khác biệt. Cả 5 nhân tố đều kỳ  
vọng có tác động tích cực lên kích cỡ tập chọn.  
Kích cỡ các phương án mà người tiêu dùng cân  
nhắc để đưa ra lựa chọn sẽ quyết định xác suất một  
phươngánnàođótrongtậpchọnđượclựachọn[10].  
192 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2014  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
2. Thang đo  
Kích cỡ tập chọn được đo lường bởi 3 mục hỏi  
thu thập và độ phức tạp của các mô hình phân tích.  
Với khoảng 40 mục hỏi, một cỡ mẫu 400 cũng đáp  
ứng các tiêu chí phân tích khác, chẳng hạn tối thiểu  
5 quan sát trên 1 tham số tự do trong mô hình SEM.  
Cỡ mẫu 400 cũng được xác định dựa trên giới hạn  
về ngân sách cho nghiên cứu. Mặc dù 400 mẫu  
không thể đại diện cho tổng thể người tiêu dùng  
Nha Trang, nhưng cũng đủ lớn để tạo ra độ tin cậy  
và tính vững của kết quả (Kline, 2005) [6].  
Mẫu được thu thập thông qua phỏng vấn trực  
tiếp người tiêu dùng tại gia đình họ. Nghiên cứu này  
hướng đến đạt được một mẫu quota phân theo giới  
tính nam/nữ với tỷ lệ 3/7 như một số nghiên cứu  
trước đây đã thực hiện (Tuu và ctv, 2008) [12]. Đồng  
thời căn cứ vào cơ cấu dân số trên địa bàn Nha  
Trang, các tỷ lệ mẫu thu thập cũng được xác định  
theo cơ cấu tuổi.  
trên thang đo tính đếm mà thể hiện các sản phẩm  
khác nhau, các dạng dự trữ khác nhau và các món  
ăn khác nhau mà người tiêu dùng có thể chế biến  
với món cá [10,11]. Người tiêu dùng được yêu cầu  
đánh dấu chọn các loại cá, các dạng dự trữ và liệt  
kê các món ăn mà họ có thể nấu. Sau đó, các liệt  
kê này được cộng dồn tạo ra thang đo kích cỡ tập  
chọn.  
Các biến độc lập được đo lường bằng thang  
đo 7 điểm, với 1 là hoàn toàn không đồng ý và 7 là  
hoàn toàn đồng ý. Các thang đo được xây dựng căn  
cứ trên lý thuyết trước đó và có sự điều chỉnh cho  
phù hợp với nội dung nghiên cứu. Trong đó, thang  
đo chất lượng cảm nhận có 5 mục hỏi được kế thừa  
từ nghiên cứu của Olsen (2002) [7]. Thang đo giá  
cảm nhận được xây dựng dựa trên nghiên cứu của  
Zeithhaml (1984) [15] gồm 3 mục hỏi. Thang đo  
sự thuận tiện cảm nhận gồm 4 mục hỏi được đo  
trên thang đo đối cực 7 điểm (Olsen và ctv., 2007)  
[10]. Thang khuynh hướng ưa thích sự thuận tiện  
gồm 3 mục hỏi dựa trên thang đo CONVOR của  
Candel (2000) [5]. Thang đo kiến thức người tiêu  
dùng gồm 3 mục hỏi được kế thừa từ nghiên cứu của  
(Pieniak và ctv, 2007) [9]. Cuối cùng thang đo,  
khuynh hướng tìm kiếm sự đa dạng gồm 3 mục  
hỏi được rút ra từ 15 mục hỏi của Van Trijp và  
Steenkamp (1992) [12] và được kiểm định bởi Van  
Trijp, Hoyer và Inman (1996) [13].  
4. Thủ tục phân tích dữ liệu  
Trước tiên, các thang đo được kiểm tra về độ tin  
cậy và độ giá trị hội tụ và độ giá trị phân biệt thông  
qua phân tích mô hình đo lường với kĩ thuật phân tích  
nhân tố khẳng định (CFA). Bước tiếp theo, kiểm định  
quan hệ cấu trúc giữa các khái niệm trong mô hình  
lý thuyết. Các chỉ tiêu đánh giá độ phù hợp của mô  
hình hoặc là giá trị xác suất của thống kê chi – bình  
phương lớn hơn 0.05, hoặc là hai chỉ số GFI và CFI  
có giá trị lớn hơn 0.9 và chỉ số RMSEA dưới 0.08 [6].  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
1. Kết quả nghiên cứu  
3. Mẫu và phương pháp thu mẫu  
Nghiên cứu này xác định cỡ mẫu dựa trên  
quy tắc kinh nghiệm căn cứ vào số biến quan sát  
1.1 Độ tin cậy và độ giá trị của đo lường  
Kết quả từ bảng 1 cho thấy các hệ số GFI,  
CFI lần lượt là 0.91 và 0.95 đều lớn hơn 0.9,  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 193  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2014  
RMSEA = 0.05 <0.08 chứng tỏ mô hình phù hợp  
với dữ liệu thị trường. Hệ số độ tin cậy tổng hợp  
của từng khái niệm đều đạt 0.7 trở lên và phương  
sai trích trên 0.5 (ngoài trừ thang đo khuynh hướng  
tìm kiếm sự đa dạng đạt xấp xỉ 0.5), chứng tỏ các  
thang đo đạt độ tin cậy [2]. Các hệ số tải ở các  
khái niệm đều cao hơn 0.5, trải dài từ 0.51 đến  
0.92 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Như vậy,  
các thang đo đạt giá trị hội tụ. Kết hợp với số liệu  
từ bảng 2 về hệ số tương quan, trung bình và  
sai số chuẩn của khái niệm, bình phương hệ số  
tương quan giữa hai cặp khái niệm (cao nhất là  
0.632 = 0.39) nhỏ hơn phương sai trích của từng  
khái niệm (nhỏ nhất là 0.49), hay các thang đo đạt  
giá trị phân biệt [3]. Kết luận, các thang đo có thể  
sử dụng trong mô hình lý thuyết.  
Bảng 1. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA)  
Độ tin cậy  
tổng hợp  
Khái niệm  
Trọng số nhân tố  
Thống kê t*  
Phương sai trích  
Chất lượng cảm nhận  
0.78 – 0.84  
0.81 – 0.91  
0.85 – 0.92  
0.67 – 0.77  
0.75 – 0.82  
0.65 – 0.76  
0.51 – 0.88  
17.4 – 22.3  
20.9 – 25.2  
23.0 – 26.4  
15.5 – 18.7  
15.8 – 6.45  
13.6 – 14.0  
11.6 – 22.2  
0.92  
0.89  
0.92  
0.77  
0.77  
0.73  
0.80  
0.91  
0.74  
0.81  
0.53  
0.52  
0.49  
0.59  
Giá cảm nhận  
Kiến thức  
Khuynh hướng ưa thích sự thuận tiện  
Sự thuận tiện cảm nhận  
Khuynh hướng tìm kiếm sự đa dạng  
Kích cỡ tập chọn  
χ2(295) = 590.47, p – value = 0.000, cmin/df = 2.5, CFI = 0.95, GFI = 0.91, RMSEA = 0.05  
Bảng 2. Hệ số tương quan, trung bình và sai số chuẩn của các khái niệm  
M
6.06  
4.27  
4.97  
SD  
0.91  
1.67  
1.68  
1.09  
1.34  
0.37  
0.67  
1
2
3
4
5
6
1. Chất lượng cảm nhận  
2. Giá cảm nhận  
3. Kiến thức  
-
0.28  
0.59  
0.37  
0.63  
0.27  
0.48  
-
0.32  
0.24  
0.37  
-
4. K.hướng ưa thích sự thuận tiện 5.78  
5. Sự thuận tiện cảm nhận 5.88  
6. Kh.hướng tìm kiếm sự đa dạng 4.90  
7. Kích cỡ tập chọn 4.23  
0.34  
0.50  
-
0.43  
0.33  
0.41  
-
-0.05* 0.18  
0.39 0.44  
0.25  
0.44  
-
0.31  
(Lưu ý: Tất cả các hệ số tương quan nhân tố đều có ý nghĩa thống kế ở mức 0.001 ngoại trừ *)  
1.2. Đánh giá các quan hệ cấu trúc và kiểm định các  
giả thuyết  
là biến quan trọng nhất tác động lên kích cỡ tập  
chọn với hệ số chuẩn hóa lần lượt bằng 0.25. Tiếp  
đến là biến chất lượng cảm nhận và khuynh hướng  
tìm kiếm sự khác biệt với hệ số chuẩn hóa là 0.19.  
Hai biến còn lại là kiến thức và khuynh hướng ưa  
thích sự thuận tiện xếp vị trí cuối cùng với hệ số  
chuẩn hóa lần lượt bằng 0.14 và 0.15. Sự chênh  
lệch về tầm quan trọng giữa hai biến này được  
xem là xấp xỉ nhau. Như vậy, kết quả nghiên cứu  
ủng hộ các giả thuyết nghiên cứu được đưa tra  
trong mô hình lý thuyết ngoại trừ biến sự thuận tiện  
cảm nhận.  
Kết quả từ bảng 4 cho thấy: mô hình lý thuyết  
phù hợp tốt với dữ liệu thị trường (hệ số GFI = 0.91,  
CFI = 0.95 và RMSEA = 0.05). Biến sự thuận tiện  
cảm nhận không tác động lên kích cỡ tập chọn.  
Năm biến chất lượng cảm nhận, giá cảm nhận,  
kiến thức, khuynh hướng tìm kiếm sự đa dạng và  
khuynh hướng tìm kiếm sự khác biệt đều có tác  
động dương lên kích cỡ tập chọn (có ý nghĩa thống  
kê ở mức 5%) giải thích được 39% biến thiên của  
biến kích cỡ tập chọn. Trong đó, biến giá cảm nhận  
194 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2014  
Bảng 3. Các quan hệ giả thuyết  
Hệ số đường dẫn  
Chưa chuẩn hóa Chuẩn hóa  
Thống kê t  
Các quan hệ  
Chất lượng cảm nhận -> Kích cỡ tập chọn  
0.42  
0.32  
0.19  
0.28  
0.08  
0.35  
0.19  
0.25  
0.14  
0.15  
0.04  
0.19  
2.86  
4.96  
2.49  
2.83  
0.64*  
3.55  
Giá cảm nhận  
Kiến thức  
→
Kích cỡ tập chọn  
→
Kích cỡ tập chọn  
K.H ưa thích sự thuận tiện  
Sự thuận tiện cảm nhận  
K.H tìm kiếm sự khác biệt  
→
Kích cỡ tập chọn  
Kích cỡ tập chọn  
→
χ2(231) = 590.51, p = 0.000, cmin/df = 2.5; CFI = 0.95; GFI = 0.91; RMSEA = 0.05; R2 = 0.39  
(Tất cả các kiểm định đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% ngoại trừ *)  
2. Thảo luận  
Trong năm nhân tố tác động có ý nghĩa thống  
Kiến thức có tác động dương có ý nghĩa thống  
kê lên kích thước tập chọn hoàn toàn đồng nhất với  
các nghiên cứu trước đây [1;10]. Nghiên cứu của  
Aurier et al (2000) [1] nêu rõ hơn vai trò của kiến  
thức trong việc tạo lập kích cỡ tập chọn, đặc tính  
quan trọng trong bốn đặc tính của tập chọn. Trong  
nghiên cứu công bố năm 2007, Rorveit và Olsen đã  
khẳng định lại các kết luận từ các nghiên cứu nói  
trên khi nghiên cứu về hành vi tiêu dùng sản phẩm  
cá. Như vậy, một khi người tiêu dùng am hiểu về  
sản phẩm cá, kích thước tập chọn liên quan đến sản  
phẩm này sẽ được mở rộng.  
Khác với kết quả nghiên cứu của Rortveit và  
Olsen (2007) đã chỉ ra mối quan hệ âm giữa khuynh  
hướng ưa thích sự thuận tiện và kích thước cỡ  
cân nhắc, mối quan hệ dương được tìm thấy giữa  
hai biến trong nghiên cứu này. Theo lập luận của  
Rortveit và Olsen (2007), người tiêu dùng càng ưa  
thích sự thuận tiện thì mối quan tâm đối với việc  
tiêu dùng thực thẩm sẽ ít hơn nên kích thước tập  
chọn sẽ ngắn hơn. Tuy nhiên, theo tác giả không  
nhất thiết sự thuận tiện làm hạn chế tập chọn. Sự  
thuận tiện liên quan đến khuynh hướng tâm lý đơn  
giản hóa quy trình ra quyết định tiêu dùng. Khuynh  
hướng này là hợp lý trong bối cảnh người tiêu dùng  
phải ra rất nhiều quyết định trong cùng một thời  
gian. Chính khuynh hướng tâm lý này khiến người  
tiêu dùng hình thành tập chọn với kích thước lớn để  
giảm thời gian trong khâu tìm kiếm thông tin trong  
quy trình ra quyết định  
kê lên kích cỡ tập chọn, biến giá cảm nhận có tác  
động mạnh nhất với hệ số chuẩn hóa bằng 0.25.  
Kết quả trên phù hợp với kỳ vọng đặt ra trong giả  
thuyết của mô hình nghiên cứu. Sự khẳng định mối  
quan hệ nhân quả dương lên kích cỡ tập chọn phù  
hợp với tâm lý của người tiêu dùng khi cân nhắc  
yếu tố giá đã được đúc kết trong các lý thuyết về  
hành vi tiêu dùng. Chẳng hạn, người tiêu dùng càng  
hài lòng về giá sẽ gia tăng sự ý định mua cá đối với  
sản phẩm [4]. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng một  
khi người tiêu dùng cảm thấy hài lòng về sản phẩm  
cá, họ sẽ xem xét tiêu dùng nhiều loại cá khác nhau,  
cân nhắc nhiều cách chế biến khác nhau. Hay nói  
cách khác tập chọn sẽ được mở rộng khi họ hài lòng  
về giá của sản phẩm.  
Tương tự yếu tố giá, yếu tố chất lượng, một  
thuộc tính khác của hàng hóa, có vai trò vô cùng  
quan trọng quyết định hành vi tiêu dùng. Kết quả  
nghiên cứu chỉ ra rằng biến chất lượng cảm nhận  
có tác động dương lên kích cỡ tập chọn với hệ số  
chuẩn hóa bằng 0.19. Khi người tiêu dùng đánh  
giá cao các thuộc tính liên quan đến chất lượng,  
kích cỡ tập chọn sẽ được mở rộng với nhiều loại  
cá, cách chế biến. Kết quả nghiên cứu phù hợp  
với các kết luận rút ra từ nghiên cứu của Rortveit  
và Olsen (2007, 2009) [10,11]. Với tầm quan trọng  
tương đương yếu tố chất lượng cảm nhận, yếu tố  
khuynh hướng tìm kiếm sự khác biệt tác động có ý  
nghĩa thống kê lên kích cỡ tập chọn. Mặc dù chưa  
có nghiên cứu nào trước đây về mối quan hệ này  
nhưng theo lập luận của Rortveit và Olsen (2007)  
[10], người tiêu dùng có thể đơn giản hóa quá trình  
tiêu dùng thực phẩm và kích cỡ tập chọn sẽ ngắn  
tương ứng. Ngược lại, kích cỡ tập chọn sẽ mở rộng  
khi người tiêu dùng xem trọng sự đa dạng trong  
tiêu dùng.  
IV. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu khảo sát các nhân tố tác động đến  
kích cỡ tập chọn, yếu tố quan trọng quyết định lựa  
chọn của người tiêu dùng. Năm trong sáu biến đề  
xuất trong mô hình nghiên cứu bao gồm chất lượng  
cảm nhận, giá cảm nhận, kiến thức, khuynh hướng  
ưa thích sự thuận tiện và khuynh hướng tìm kiếm  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 195  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2014  
sự khác biệt, đều có tác động dương lên kích cỡ tập  
chọn. Nghiên cứu đã góp phần bổ sung và giải thích  
sâu hơn kiến thức về cơ chế tác động lựa chọn của  
người tiêu dùng.  
khuynh hướng tìm kiếm sự khác biệt sẽ cân nhắc  
nhiều phương án trong tập chọn, nhà sản xuất và  
tiếp thị cần thu hút họ bằng cách nhấn mạnh những  
trải nghiệm mới thú vị nếu họ lựa chọn tiêu dùng  
sản phẩm. Đồng thời, cần khuyến cáo người tiêu  
dùng về tầm quan trọng của việc đa dạng hóa thực  
phẩm để đảm bảo cân đối về dinh dưỡng. Thứ ba,  
bởi vì người tiêu dùng đánh giá cao sự thuận tiện  
trong việc chuẩn bị bữa ăn gia đình, nhà sản xuất  
cần chú trọng đa dạng hóa các sản phẩm chế biến  
sẵn ở dạng nguyên liệu hoặc đã qua chế biến.  
Cuối cùng, nhà sản xuất và tiếp thị cần chú trọng  
phổ biến rộng rãi kiến thức về sản phẩm như công  
dụng, cách chế biến đến người tiêu dùng thông  
qua thông tin trên bao bì, trên website, các tạp chí  
chuyên ngành…  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhiều hàm ẩn chính  
sách cho nhà sản xuất và tiếp thị. Thứ nhất, hai yếu  
tố chất lượng và giá, yếu tố cốt lõi, cần được thiết  
lập hợp lý ngay từ ban đầu. Đây là hai yếu tố cốt  
lõi tạo dựng được lợi thế cạnh tranh cho người tiêu  
dùng. Một khi kích cỡ tập chọn gia tăng sẽ cũng cố  
hành vi lựa chọn sản phẩm. Đồng thời, khi người  
tiêu dùng đánh giá cao hai yếu tố này thì mức độ  
quan tâm đến các sản phẩm cùng chủng loại sẽ  
gia tăng. Khi đó, sẽ làm gia tăng thị phần, thuận  
lợi cho chính sách đa dạng hóa sản phẩm của  
nhà sản xuất. Thứ hai, bởi vì người tiêu dùng với  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Aurier, P., Jean, S., & Zaichkowsky, J. L., 2000. Consideration set size and familiarity with usage context. Advances in  
Consumer Research, 27, 307-313.  
2. Bagozzi R.P. and Edwards, J.R., 1998. A general approach for representing constructs in organization research.  
Organizational Research Method, Vol. 1(1), 45-87.  
3. Bagozzi, R.P. and Yi, Y., 1988. On the evaluation of structural equation models, Journal of Academy of Marketing Science,  
Vol. 16 No. 1, 74-94.  
4. Brunsø, K., 2003. Consumer research of fish in Europe. Luten, J.B., Oehlenschläger, J., Ólafsdóttir, G. (Eds.) Wageningen:  
Wageningen Academic Publishers. 335-344.  
5. Candel, M. J. J. M., 2001. Consumers’ convenience orientation towards meal preparation: Conceptualization and  
measurement. Appetite, Vol.36 (1), 15-28.  
6. Rex.B. Kline, 2005. Principle and practice of strutural equation modelling – The Guilford Press, New York 2005.  
7. Olsen, S.O, 2002. Comparative Evaluation and the Relationship Between Quality, Satisfaction, and Repurchase Loyalty,  
Journal of the Academy of Marketing Science, 30 (3), 240-249.  
8. Olsen, S. O., Scholderer, J., Brunso, K., & Verbeke, W., 2007. Exploring the relationship between convenience and fish  
consumption: a cross-cultural study. Appetite, 49(1), 84-91.  
9. Pieniak, Z., Verbeke, W., Vermeir, I., Brunso, K. and Olsen, S.O., (2007. Consumer interest in fish information and  
labelling: exploratory insights. Journal of Food and Agribusiness Marketing, Vol. 19, 117-1.  
10. Rortveit, A. W. and Olsen, S. O., 2007. The role of consideration set size in explaining fish consumption. Appetite, Vol. 49(1),  
214-222.  
11. Rortveit, A.W. and Olsen, S.O., 2009. “Combining the role of convenience and consideration set size in explaining fish  
consumption in Norway”, Appetite, Vol. 52 No. 1, 313-317.  
12. Tuu, H. H., Olsen, S. O., Thao, D. T. and Kim Anh, N. T., 2008. The role of norms in explaining attitudes, intention and  
consumption of a common food (fish) in Vietnam. Appetite, Vol. 51, 546-551.  
13. Van Trijp, Han C.M., and Steenkamp, J-B.E.M., 1992. Consumers’ variety seeking tendency with respect to foods, pp.  
measurement and managerial implications, European Review of Agricultural Economics, Vol. 19, 181-195 .  
14. Van Trijp, H.C.M., Hoyer, W.D. and Inman, J., 1996. “hy switch? Product category-level explanations for true  
variety-seeking behavior, Journal of Marketing Research, Vol. 33 No. 3, 281-292.  
15. Wright, P. L., & Barbour, F., 1977. Phased decision strategies: Sequels of initial screening. In M. K. Starr & M. Zeleny (Eds.),  
North Holland TIMS studies in the management science: Multiple criteria decision making (Vol. 6, 91-109). Amsterdam:  
North Holland.  
16. Zeithaml, V.A., 1988. Consumer Perception of price, quality, and value: A Means – end model and synthesis of evidence,  
Journal of Marketing Science, 52 (3), 2-22.  
196 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
pdf 6 trang yennguyen 20240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích các yếu tố quyết định kích cỡ tập chọn trong tiêu dùng cá tại thành phố Nha Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_cac_yeu_to_quyet_dinh_kich_co_tap_chon_trong_tieu.pdf