Nhu cầu và khả năng chi trả của người dân với các dịch vụ chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi tại một khu đô thị ở Hà Nội năm 2021 và mội số yếu tố liên quan
vietnam medical journal n02 - april - 2021
cũng cho thấy vai trò của mạng lưới cộng tác được xác định để triển khai chương trình một
viên/y tế thôn bản trong việc hỗ trợ triển khai cách bền vững và hiệu quả. Ở tuyến tỉnh, ủy ban
hoạt động.
nhân dân các tỉnh/thành phố - vai trò quyết định
Do hạn chế về nguồn lực trong nghiên cứu chủ trương triển khai chương trình sàng lọc,
này, chúng tôi chỉ tiếp cận phỏng vấn sâu và trung tâm kiểm soát bệnh tật/trung tâm y tế dự
thảo luận nhóm với đại diện các bên liên quan từ phòng tuyến tỉnh, bệnh viện tuyến tỉnhvà tuyến
tuyến xã/phường (trạm y tế); tuyến quận/huyện trung ương trong việc thực hiện kỹ thuật xét
(trung tâm y tế); tuyến tỉnh/thành phố (các bệnh nghiệm và nội soi đại trực tràng để đảm bảo tính
viện, trung tâm kiểm soát bệnh tật, sở y tế); chính xác của kỹ thuật sàng lọc cũng như đảm
tuyến trung ương (đại diện chương trình PCUT), bảo hạn chế các biến chứng của nội soi đại trực
thay vì tiếp cận toàn bộ các bên liên quan đã xác tràng. Ở tuyến xã/phường, vai trò của các trạm
định được thông qua quá trình thảo luận nhóm.
y tế xã/phường được nhấn mạnh trong việc triển
khai hoạt động cùng với mạng lưới cộng tác
viên/y tế thôn bản.
V. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy các bên liên
quan đến chương trình sàng lọc từ trung ương
đến địa phương, bao gồm Bộ y tế - vai trò chủ
trì; bệnh viện K trung ương – vai trò điều phối
chính của hoạt động, bộ tài chính và bộ kế
hoạch đầu tư– vai trò huy động nguồn lực triển
khai chương trìnhcơ sở y tế tuyến trung ương;
bảo hiểm xã hội Việt Nam- vai trò quan trọng vì
một trong những nguồn lực tài chính cơ bản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bray F., Ferlay J., Soerjomataram I. và cộng
sự. (2018). Global Cancer Statistics 2018:
GLOBOCAN Estimates of Incidence and Mortality
Worldwide for 36 Cancers in 185 Countries. CA
Cancer J Clin.
2. Trần Văn Thuấn (2014), Báo cáo chuyên đề
“Tình hình thực hiện dự án phòng chống ung thư”,
Hà Nội.
NHU CẦU VÀ KHẢ NĂNG CHI TRẢ CỦA NGƯỜI DÂN VỚI CÁC DỊCH VỤ
CHĂM SÓC BAN NGÀY CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI MỘT KHU ĐÔ THỊ
Ở HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘI SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bùi Thị Ngọc Minh1, Nguyễn Thị Lan Anh2, Nguyễn Thị Thu Trang3,
Huỳnh Phước Thọ4, Nguyễn Lân Hiếu5, Lưu Ngọc Hoạt2.
trung tâm chăm sóc sức khỏe (CSSK) ban ngày có
TÓM TẮT45
phục hồi chức năng (PHCN) gần nơi ở của các cư dân,
Dịch vụ chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi
trong khi số người hưởng ứng và sẵn sàng chi trả là
(NCT) tại các khu đô thị ở các thành phố lớn đang là
68,2%, số còn phân vân là 26,3%. Về mô hình xây
những vấn đề rất được quan tâm của nhiều gia đình,
dựng các trung tâm vui chơi, giải trí, giao lưu có kèm
nhất là những người có bố mẹ ở quê muốn đưa ra
CSSK ban ngày cho người cao tuổi thì chỉ có 11%
thành phố sống cùng con, cháu và các gia đình có
người được hỏi không hưởng ứng, số hưởng ứng và
NCT thường phải ở nhà một mình. Để xác định được
sẵn sàng chi trả là 52,2%, số còn phân vân là 36,8%.
nhu cầu và khả năng chi trả cho dịch vụ này, chúng
Với các dịch vụ tại trung tâm chăm sóc ban ngày thì
tôi đã triển khai một điều tra 201 chủ hộ gia đình
được ưa chuộng nhất là truyền thông nâng cao hiểu
sống tại một số toà nhà được chọn ngẫu nhiên trong
biết về sức khoẻ, bệnh tật, biết tự chăm sóc mình
khu chung cư An Lạc, C1, C2 và C3 thuộc phường Cầu
(75,6%), tiếp đó là thể dục, dưỡng sinh (73,6%), xoa
Diễn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Kết quả phỏng vấn
bóp, bấm huyệt, mát xa, xông hơi (69,7%), cung cấp
cho thấy chỉ 5,5% chủ hộ không hưởng ứng mô hình
chế độ ăn uống khoa học (64,2%), phục hồi chức
năng (60,2%), vui chơi, giải trí, giao lưu (58,2%). Với
mức giá đề xuất là 200.000 VNĐ/ngày cho các dịch vụ
vui chơi, giải trí tại trung tâm (không bao gồm ăn
uống, đi lại và chi phí cho các dịch vụ CSSK) thì có tới
45,8% đồng ý trả với mức giá này, 41,8% muốn trả ở
mức thấp hơn, tuy nhiên lại có 12,4% có thể trả cao
hơn. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức
chi trả lớn hơn hoặc bằng mức giá 200.000 VNĐ/ngày
với các yếu tố trình độ học vấn và nghề nghiệp của
đối tượng nghiên cứu. Từ khóa: nhu cầu, khả năng
chi trả, chăm sóc ban ngày, người cao tuổi.
1Viện Đào tạo YHDP & YTCC, Đại học Y Hà Nội
2Đại học Y Hà Nội
3Trung tâm Y tế Quận Nam Từ Liêm
4Công ty Cổ phần eDoctor
5Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Chịu trách nhiệm chính: Bùi Thị Ngọc Minh
Email: [email protected]m
Ngày nhận bài: 22.2.2021
Ngày phản biện khoa học: 31.3.2021
Ngày duyệt bài: 9.4.2021
176
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 501 - THÁ NG 4 - SỐ 2 - 2021
sức khỏe và tinh thần. Ngoài ra, nhiều cư dân
SUMMARY
trẻ đang sống tại các khu đô thị mới ở các thành
phố lớn như Hà Nội rất muốn đưa bố, mẹ từ quê
ra chơi hoặc sống cùng, nhưng do khi con cháu
vắng nhà thường phải khoá cửa để bố mẹ ở
trong nhà nên bố mẹ thường khó có thể ở lại lâu
với con, cháu. Vì vậy, việc xác định nhu cầu và
tổ chức các dịch vụ CSSK ban ngày, vui chơi, giải
trí cho NCT, đặc biệt là ở các khu đô thị mới là
một nghiên cứu cần được triển khai. Do đó
chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu này với mục
tiêu mô tả nhu cầu và khả năng chi trả của
người dân cho dịch vụ chăm sóc ban ngày dành
cho người cao tuổi tại một khu đô thị ở Hà Nội
năm 2021 và xác định một số yếu tố liên quan.
NEEDS AND ABILITY TO PAY FOR THE
ELDERLY'S DAYCARE AMONG PEOPLE IN
HANOI'S URBAN BUILDING IN 2021
Daycare services for the elderly in urban areas in
big cities are very concerning issues for many families.
Those whose parents in the countryside want to bring
parents to the city living with children, grandchildren,
and families with older persons and family have
elderly often have to stay their home alone. To
determine the need and affordability for this service,
we surveyed 201 household heads living in several
randomly selected buildings in the An Lac, C1, C2, and
C3 apartment is located in Cau Dien ward, Nam Tu
Liem district Hanoi. Interview results show that only
5.5% of household heads disagree with the model of
daytime health care centers with rehabilitation near
the residence. In comparison, the number willingness
to pay is 68.2%, the remaining puzzled is 26.3%.
Regarding entertainment, exchanges with health care
at an adult daycare, only 11% disagree. The number
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
2.1 Đối tượng: Do phần lớn các khu đô thị
mới tại Hà Nội thường được xây dựng với các
of willingness to pay was 52.2%. The remaining khu nhà cao tầng và khu thấp tầng, trong đó cư
puzzled is 36.8%. The most popular services at
daycare centers are communication to improve health,
disease, self-care (75.6%), followed by physical
training and nursing(73.6%), massage, acupressure,
sauna (69.7%), scientific diet (64.2%), rehabilitation
(60.2%), entertainment socializing (58.2%). With the
dân tại các khu cao tầng thường có nhiều người
trẻ, có mức thu nhập trung bình và nhiều người
trong số họ có bố, mẹ ở quê muốn đưa ra Hà
Nội sinh sống nên chúng tôi đã chọn chủ đích
một toà chung cư tại khu đô thị An Lạc, chung
cư C1, C2 và C3 phường Cầu Diễn, Nam Từ
Liêm, Hà Nội để nghiên cứu.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Người dân sống lâu
dài tại khu đô thị >12 tháng.
Tiêu chuẩn loại trừ: Người sống ≤12
tháng, người thuê nhà, sống nhờ.
suggested price of 200,000 VND
/
day for
entertainment services at the center (excluding meals,
transportation, and health care services), up to 45.8%
agree to pay. At this price, 41.8% want to pay lower,
but 12.4% can pay higher. There is a statistically
significant correlation between the pay rate greater
than or equal to the price of 200,000 VND / day and
the factors of educational level and occupation of the
study subjects.
2.2 Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu:
nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Keywords: needs, willingness to pay, daycare, elderly.
- Thời gian nghiên cứu: 04/04/2021
15/04/2021
–
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
- Chọn mẫu và cỡ mẫu: Chọn mẫu toàn bộ
các hộ gia đình tại các toà nhà nói trên. Tổng số
có 350 hộ gia đình, chúng tôi đã tiếp cận được
250 hộ, trong đó 201 hộ đồng ý tham gia và đã
trả lời đầy đủ các câu hỏi nghiên cứu.
- Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi chia
làm 3 phần: thông tin chung, nhu cầu, khả năng
chi trả cho dịch vụ chăm sóc ban ngày.
- Phương pháp thu thập số liệu: số liệu được
thu thập theo phương pháp tự điền vào phiếu
câu hỏi dưới sự hướng dẫn và giám sát của điều
tra viên. Người trả lời câu hỏi là chủ hộ. Nếu
trong gia đình có NCT sống cùng thì chủ hộ và
NCT cùng trao đổi, thống nhất và điền vào bộ
câu hỏi.
2.3. Xử lý số liệu: Số liệu được nhập, làm
sạch bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý số liệu
bằng phần mềm SPSS 26 để xác định nhu cầu và
khả năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc ban ngày
Theo dự báo dân số của Tổng cục thống kê
2016 tỉ số phụ thuộc (tính bằng số người từ 60
tuổi trở lên so với số người trong độ tuổi lao
động 15-59) được dự báo tăng gấp hơn ba lần,
từ 14% năm 2014 lên 43% năm 2049. Tỷ lệ NCT
chính thức vượt tỷ lệ trẻ em (từ 0-14 tuổi) vào
năm 2040 [1]. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi là vấn đề cần được quan tâm của gia
đình và xã hội. Ở Việt Nam đã có một số dịch vụ
chăm sóc sức khỏe cho NCT, tuy nhiên phần lớn
các dịch vụ này mới được triển khai tại nhà hoặc
tại các cơ sở dưỡng lão mà NCT thường phải ở
đó cả ngày lẫn đêm, còn các dịch vụ CSSK ban
ngày cho NCT hiện chưa được triển khai nhiều
trong khi nhu cầu của các dịch vụ này dường
như là khá cao, nhất là tại các khu đô thị lớn khi
ban ngày người thân trong gia đình đi làm, đi
học chỉ còn NCT già yếu ở nhà, các cụ sẽ dần
cảm thấy cô đơn, mệt mỏi ảnh hưởng đến cả
177
vietnam medical journal n02 - april - 2021
dành cho người cao tuổi của người dân tại một học Y học, Đại học Y Hà Nội và Uỷ ban nhân dân
số khi đô thị Hà Nội năm 2021
Phường Cầu Diễn phối hợp triển khai với sự
2.4. Đạo đức nghiên cứu: Nhóm nghiên đồng ý tham gia của các chủ hộ gia đình. Toàn
cứu được Bệnh viện Đại học Y Hà Nội giới thiệu bộ thông tin đối tượng cung cấp chỉ sử dụng cho
và được Trung tâm Y tế Quận Nam Từ Liêm, mục đích nghiên cứu và lập kế hoạch CSSK cho
Công ty Cổ phần eDoctor, Bộ môn Thống kê, Tin các hộ gia đình.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu (n=201)
Đặc điểm
Tần số (n)
Tỷ lệ (%)
4,0
18-29
30-59
≥60
8
140
53
Nhóm tuổi
69,7
26,3
Tuổi trung bình X ± SD (min-max): 47,8 ± 14,6 (22-84)
Nam
Nữ
Chủ hộ
67
134
117
84
15
21
33,3
66,7
58,2
41,8
7,5
10,4
60,7
21,4
Giới tính
Quan hệ với chủ hộ
Khác (Vợ/ con/bố mẹ chủ hộ)
Từ THPT trở xuống
Trung cấp
Trình độ học vấn cao
nhất
Cao đẳng/Đại học
Sau đại học
122
43
Thu nhập trung bình
Trung vị (Tứ phân vị) = 10.000.000 VNĐ (5.000.000 -10.000.000)
1 người
2 người
3 người
4 người
Có
31
40
6
39,2
50,6
7,6
Tổng số người > 60
tuổi trong gia đình
2
2,5
68
133
120
81
33,8
66,2
59,7
40,3
Gia đình có người
mắc bệnh mãn tính
Bố/ mẹ đang sống ở
quê
Không
Có
Không
Do đa số người trả lời bộ câu hỏi là chủ hộ chọn chủ đích các khu nhà chung cư cao tầng
(58,2%) nên nhóm tuổi của đối tượng nghiên thuộc các khu đô thị mới nên mặt bằng dân trí
cứu chủ yếu từ 30-59 tuổi (69,7%), tiếp đó là của đối tượng nghiên cứu khá cao, có tới 43%
nhóm tuổi trên 60 tuổi 26,4%. Về số hộ có NCT có trình độ sau đại học, 60,7% có trình độ cao
thì mặc dù chỉ có 79 hộ nhưng do nhiều hộ có 2, đẳng/ đại học và chỉ có 15% có trình độ từ THPT
thậm chí 4 NCT nên tổng số NCT của 201 hộ này trở xuống. Ngoài ra do các cộng đồng dân cư
lên tới 137 người, trong khi đó còn có 120 hộ có này mới được hình thành nên có nhiều chủ hộ có
bố, mẹ đang sống ở quê nên lực lượng khách bố mẹ ở quê (59,7%). Về thu nhập bình quân
hàng tiềm năng cho các dịch vụ cho NCT là rất đầu người/tháng trung bình là 10.000.000 VNĐ.
lớn. Về giới tính, nữ chiếm tỷ lệ cao hơn là Số gia đình có người mắc bệnh mãn tính cũng
66,7% sau đó là nam với 33,3%. Do nghiên cứu chiếm tới 33,8%.
Bảng 2: Thông tin người có bố mẹ ở quê (n=120)
Đặc điểm
Tần số (n)
Tỷ lệ (%)
46,7
Có
56
52
12
Muốn mời bố mẹ
ra Hà Nội ở cùng
Không
43,3
10
Nếu có dịch vụ chăm sóc các cụ chu đáo
Phải để bố/mẹ ở nhà một mình khi đi làm
nên cảm giác không yên tâm
Bố mẹ không muốn ở lâu do buồn và thiếu
bạn bè cùng tuổi để giao lưu
17
14,2
Gặp khó khăn gì
khi bố mẹ ra chơi
ở cùng
96
7
80
Cả hai
5,8
Với những gia đình có bố mẹ ở quê thì tỷ lệ muốn mời bố mẹ ra Hà Nội là 46,7%, nếu có dịch vụ
chăm sóc các cụ chu đáo là 10%. Về thực trạng khó khăn khi bố mẹ ra chơi cùng thì 80% do nguyên
178
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 501 - THÁ NG 4 - SỐ 2 - 2021
nhân bố mẹ không muốn ở lâu do buồn, thiếu bạn bè cùng tuổi để giao lưu và 14,2% phải để bố/mẹ
ở nhà một mình khi đi làm nên cảm giác không yên tâm.
Bảng 3: Nhu cầu tham gia dịch vụ tại trung tâm CSSK ban ngày (n=201)
Không đồng ý Phân vân
Đồng ý
n (%)
Dịch vụ
n (%)
n (%)
Đồng ý tham gia và chi trả cho dịch vụ CSSK, PHCN
tại các trung tâm gần nơi ở của các cư dân (bằng giá
tiền dịch vụ theo yêu cầu tại các bệnh viện)
Đồng ý tham gia và chi trả cho các hoạt động vui
chơi, giải trí, giao lưu tại các trung tâm chăm sóc ban
ngày cho NCT (giá thoả thuận tuỳ theo loại dịch vụ và
thời gian sử dụng dịch vụ)
11(5,5)
53 (26,3)
137(68,2)
105(52,2)
22 (11,0)
74 (36,8)
Kết quả cho thấy, chỉ 5,5% số người được hỏi nơi có cảnh quan đẹp, khí hậu tốt, 46,8% muốn
không đồng ý tham gia, chi trả cho dịch vụ có các khu vui chơi, giải trí cho người cao tuổi và
CSSK, PHCN, trong khi tỷ lệ đồng ý tới 68,2% và cũng có tới 39,3% muốn có các khu chăm sóc
tỷ lệ còn phân vân là 26,4%. Nhu cầu tham gia cuối đời cho những người bệnh mà bệnh viện đã
và chi trả cho các hoạt động vui chơi, giải trí, trả về.
giao lưu tại các trung tâm chăm sóc ban ngày
cho NCT có tỷ lệ không đồng ý là 11%, đồng ý ban ngày thì dịch vụ được ưa chuộng nhất là
là 52,2% và phân vân là 36,8%. Truyền thông nâng cao hiểu biết về sức khoẻ,
Tại các trung tâm vui chơi, giải trí và CSSK
Khi được hỏi về các dịch vụ nào địa phương bệnh tật, biết tự chăm sóc mình (75,6%), tiếp
nên tổ chức để tăng cường chăm sóc cho NCT đó là Thể dục, dưỡng sinh (73,6%), Xoa bóp,
thì có tới 84,1% đề xuất cần tổ chức khám sức bấm huyệt, mát xa, xông hơi (69,7%), Cung cấp
khoẻ định kỳ cho NCT, 69,7% mong muốn có chế độ ăn uống khoa học (64,2%), PHCN
các trung tâm CSSK ban ngày, PHCN gần nơi (60,2%), Vui chơi, giải trí, giao lưu (58,2%), còn
NCT sống, 58,7% muốn có các khu dưỡng lão ở nhu cầu Thăm quan, du lịch chỉ chiếm 30,3%.
Bảng 4: Khả năng chi trả của các hộ gia đình cho các dịch vụ tại trung tâm chăm sóc
ban ngày
Tần số Tỷ lệ
Khả năng chi trả
(n)
76
16
(%)
37,8
8,0
Có
Không
Sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ y tế tại Trung
tâm (như với giá dịch vụ theo yêu cầu tại các
bệnh viện)
Mức giá chi trả cho các dịch vụ vui chơi, giải trí
tại Trung tâm (không bao gồm ăn uống, đi lại
và phí cho các dịch vụ y tế có người phục vụ)
Tùy loại dịch vụ và giá dịch vụ
<200.000 VNĐ
109
84
92
54,2
41,8
45,8
12,4
200.000 VNĐ
>= 200.000 VNĐ
25
Chỉ có 8% số người được hỏi không sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ y tế tại Trung tâm, trong khi
tỷ lệ đồng ý và tuỳ theo loại hình dịch vụ, giá dịch vụ lần lượt là 37,8% và 54,2%. Với mức giá đề
xuất là 200.000 VNĐ/ngày (không kể dịch vụ đưa đón, ăn trưa và các dịch vụ y tế có người phục vụ),
có tới 45,8% đồng ý trả với mức này, số người trả dưới mức 200.000 VNĐ/ngày là 41,8%, trong khi
có tới 12,4% sẵn sàng trả cao hơn.
Bảng 5: Hồi quy đa biến khả năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc ban ngày và một số yếu
tố liên quan (n=201)
Đồng ý trả
≥200.000
VNĐ/ngày
OR
12
OR
Khoảng tin
cậy 95%
Khoảng tin
cậy 95%
hiệu
thô
chỉnh
n
%
Tuổi
117
117
117
58,2
58,2
58,2
1,010
0,999
0,688
(0,99; 1,03)
(0,79; 1,27)
(0,27; 1,26)
1,018
1,157
1
(0,98;1,04)
(0,87;1,5)
1
Số thành viên gia đình
Thu nhập
Giới tính
Nam (nhóm chứng)
Nữ
43
74
21,4
36,8
1
1,453
(0,79; 2,66)
0,838
(0,39; 1,77)
179
vietnam medical journal n02 - april - 2021
Chủ hộ
Có (nhóm chứng)
71
46
35,3
22,9
1
Không
0,784
(0,45; 1,38)
0,917
(0,45;1,85)
Nghề nghiệp
Cán bộ công nhân viên
chức nhà nước
Kinh doanh, buôn bán
Nhân viên các tổ chức
ngoài nhà nước
27
27
25
38
13,4
13,4
12,4
19
1
4,167
0,827
(1,47; 11,7) 6,489
(2,1;19,7)
(0,4;2,17)
(0,8;6,58)
(0,38; 1,77)
0,942
Hưu trí, nội trợ
1,407
(0,67; 2,95)
2,296
Trình độ học vấn
Từ THPT trở xuống
Trung cấp
Cao đẳng/Đại học
Sau đại học
8
4
1
13
65
31
6,6
1,422
0,998
2,260
(0,37; 5,44)
(0,34; 2,92)
1,883
1,684
(0,43;8,13)
(0,48;5,8)
32,2
15,4
(0,67; 7,60) 5,326 (1,25;22,65)
Có người mắc bệnh mạn tính
Có (nhóm chứng)
Không
34
83
16,9
41,3
1
1
1,666
(0,91; 2,99)
2,309
(1,14;4,6)
Pseudo R2= 0,179
Kết quả bảng cho thấy 2 yếu tố nghề nghiệp xa hay tham quan du lịch nhiều so với những
và trình độ học vấn tác động có ý nghĩa thống kê nhu cầu khác. Dịch vụ truyền thông nâng cao
với việc sẵn sàng chi trả cho dịch vụ chăm sóc hiểu biết về sức khỏe bệnh tật, biết tự chăm sóc
ban ngày, Trình độ sau đại học có mức chi trả cao mình chiếm tỷ lệ cao nhất cho thấy người dân có
gấp 5,326 lần so với trình độ THPT trở xuống với nhu cầu tìm hiểu về kiến thức CSSK cũng như
CI (1,25;22,65) với p= 0,024, Về nghề nghiệp kiểm soát bệnh tật tốt hơn. Đặc điểm này cũng
những người có làm kinh doanh buôn bán có mức giống với nghiên cứu tình trạng sức khỏe và nhu
chi trả cao gấp 6,489 lần so với cán bộ công nhân cầu chăm sóc sức khỏe của NCT ở huyện Quốc
viên chức CI (2,1;19,7) với p= 0,001.
Oai [4] kết luận hơn một nửa số người được hỏi
yêu cầu thêm thông tin về chăm sóc sức khỏe
đặc biệt là quản lý bệnh tật.
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu chúng tôi chia dịch vụ chăm sóc
ban ngày làm 2 dịch vụ chính đó chăm sóc về
sức khỏe (CSSK) và chăm sóc về tinh thần. Về
nhu cầu CSSK tỷ lệ tham gia dịch vụ CSSK, phục
hồi chức năng tại các trung tâm gần nơi ở của
các cư dân với tỷ lệ đồng ý 68,2% khá tương
đồng nghiên cứu của Đỗ Mạnh Hùng năm 2018
[2]. Ngoài ra, tỷ lệ đồng ý tham gia cho các hoạt
động vui chơi, giải trí, giao lưu tại các trung tâm
chăm sóc ban ngày cho những người cao tuổi
chiếm tỷ lệ đồng ý thấp hơn chiếm 52,2%. Sự
chênh lệch tỷ lệ trên có thể giải thích dựa theo
hình thái chăm sóc NCT của Phạm Vũ Hoàng [3]
đó là đi từ CSSK đến chăm sóc đời sống tinh
thần cho NCT. Tuy nhiên dịch vụ này còn khá
mới tại Việt Nam nên có tỷ lệ người dân còn
phân vân tương ứng các dịch vụ CSSK và dịch vụ
chăm sóc tinh thần cho người người cao tuổi là
26,4% và 36,8%. Nhìn chung tỷ lệ đồng ý tham
gia dịch vụ chúng tôi dự kiến triển khai tương
đối đồng đều về tỷ lệ phần trăm, riêng tỷ lệ
tham quan du lịch có nhu cầu thấp nhất. Điều
này có thể giải thích do yếu tố sức khỏe là trở
ngại khiến cho người dân không có nhu cầu đi lại
Về khả năng chi trả cho dịch vụ, tỷ lệ đối
tượng nghiên cứu sẵn sàng chi trả là 37,8%
trong khi 54,2% là chọn tùy loai dịch vụ và tùy
giá dịch vụ. Tỷ lệ không chi trả chiếm tỷ lệ thấp
nhất là 8%. Nghiên cứu về thực trạng chăm sóc
người cao tuổi chỉ ra rằng yếu tố tài chính là trở
ngại quan trọng nhất trong quá trình tiếp cận
dịch vụ chăm sóc NCT [5]. Qua đó biểu hiện
người dân sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ chăm
sóc ban ngày nếu có nhu cầu với mức giá hợp lý.
Khi yêu cầu đối tượng đưa ra mức giá phù hợp
với dịch vụ thì mức giá đề xuất của người dân
với tỷ lệ cao nhất là 45,8% là 200.000 VNĐ /
ngày. Bên cạnh đó đề xuất mức giá chiếm thấp
hơn 200.000 VNĐ /ngày cũng chiếm tỷ lệ 41,8%.
Kết quả này phù hợp thực trạng kinh tế của địa
phương bên cạnh đó mức giá 200.000 VNĐ/
ngày. Ngoài ra thì các đối tượng nghiên cứu
chưa hiểu được hết về những lợi ích cụ thể khi
sử dụng dịch vụ này. Chúng là một giải pháp
thay thế cho các dịch vụ chăm sóc dài hạn
truyền thống, cung cấp hỗ trợ dịch vụ linh hoạt
khi có nhu cầu, giảm chí phí chăm sóc, cung cấp
đáp ứng nhu cầu từ chăm sóc sức khỏe đến
180
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 501 - THÁ NG 4 - SỐ 2 - 2021
chăm sóc tinh thần cho NCT [6]. Tuy nhiên với cả dịch vụ vui chơi, giải trí và các dịch vụ CSSK
tỷ lệ không nhỏ người dân sẵn sàng chi trả với cho NCT và cũng sẵn sàng chi trả cho các dịch
mức giá cao hơn, Qua đó chứng tỏ cần có sự vụ này như mức giá đề xuất, tương đương với
cân nhắc giữa mức giá và những giá trị mà dịch mức thu theo yêu cầu tại các bệnh viện. Các yếu
vụ đem đến cho người dân.
tố ảnh hưởng đến khả năng chi trả của người
Ngoài ra nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng dân là trình độ học vấn và nghề nghiệp.
những người có trình độ học vấn đai học và
TÀI LIỆU THAM KHẢO
những người làm kinh doanh buôn bán có khả
1. Tổng cục thống kê và Quỹ dân số Liên Hợp
năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc ban ngày cao
Quốc (2016), Dự báo dân số Việt Nam 2014-
2049, Nhà xuất bản Thông tấn.
hơn lần lượt so với đối tượng có trình độ học vấn
dưới THPT và nhóm nghề nghiệp cán bộ công
nhân viên chức. Điều này cũng được lý giải
nghiên cứu các yếu tố kinh tế xã hội quyết định
nhu cầu chăm sóc sức khỏe và tình cảm của
người lớn tuổi Iran ở Isfahan [7] chỉ ra rằng nhu
cầu chăm sóc sức khỏe của NCT mù chữ thấp
hơn 60% so với nhóm NCT có trình độ đại học.
Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu chọn
mẫu toàn bộ người dân đang sống tại khu chung
cư An Lạc, C1, C2 và C3. Tuy nhiên, việc tiếp cận
các đối tượng và sự hưởng ứng tham gia nghiên
cứu của họ còn hạn chế, Điều này dẫn đến tỉ lệ
đáp ứng tham gia nghiên cứu chưa cao và chưa
đại diện,
2. Đỗ Mạnh Hùng (2018), Nhu cầu, sự hưởng ứng
dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người dân
đô thị phường Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội 2018
và một số yếu tố liên quan, Trường Đại học Y Hà Nội.
3. Phạm Vũ Hoàng (2013), Một số giải pháp nâng
cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam
2013, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
4. Bang K.-S., Tak S.H., Oh J. và cộng sự.
(2017). Health Status and the Demand for
Healthcare among the Elderly in the Rural Quoc-
Oai District of Hanoi in Vietnam. Biomed Res Int,
2017, 4830968.
5. Huệ N.T. (2010). Thực trạng chăm sóc người
cao tuổi ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học xã hội Việt
Nam, 99–106.
6. Oliver R.E. và Foster M. (2013). Adult Day
Care: An Important Long-Term Care Alternative &
Potential Cost Saver. Mo Med, 110(3), 227–230.
7. Nosratabadi M., Nabavi S.H., Rashedi V. và
cộng sự. (2018). Socioeconomic determinants of
health-care and emotional needs among Iranian
older adults in Isfahan. J Educ Health Promot, 7.
V. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn các
hộ gia đình được điều tra đều có nhu cầu sử
dụng các dịch vụ chăm sóc ban ngày, bao gồm
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG BẠO HÀNH KHI
MANG THAI Ở PHỤ NỮ ĐÃ KẾT HÔN: MỘT NGHIÊN CỨU MÔ TẢ
CẮT NGANG TẠI HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM
Nguyễn Thị Thu Trang1, Trần Đình Trung2, Võ Văn Thắng3
mô tả cắt ngang trên 350 phụ nữ đã kết hôn ở huyện
TÓM TẮT46
Phú Ninh tỉnh Quảng Nam, từ 7/2018 đến tháng
12/2018. Kết quả: Tỷ lệ bạo hành phụ nữ mang thai
là 24,9%. Các yếu tố liên quan đến tình trạng bạo
hành ở phụ nữ khi mang thai: trình độ học vấn, nghề
nghiệp, tình trạng kinh tế, phụ thuộc kinh tế vào
chồng, chung sống cùng chồng, yếu tố về tình trạng
sinh con trai và con gái, số lần mang thai và sự mong
đợi giới tính thai nhi (p<0,05). Kết luận: Tỷ lệ bạo
hành ở phụ nữ khi mang thai là khá cao trong nghiên
cứu này. Cần xây dựng các chương trình chăm sóc
sức khỏe sinh sản tại cơ sở y tế các tuyến cần chú
trọng tập trung sàng lọc sớm các thai phụ bị bạo hành
trong lần khám thai đầu tiên. Từ khóa: bạo hành,
phụ nữ mang thai, Quảng Nam.
Đặt vấn đề: Phụ nữ mang thai là một nhóm dễ bị
tổn thương, với các nguyên nhân do chồng hoặc bạn
tình trong thai kỳ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến
sức khoẻ của phụ nữ, mà còn gây ra những ảnh
hưởng xấu đến sức khoẻ và sự phát triển của trẻ sau
này. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến bạo
hành khi mang thai ở phụ nữ đã kết hôn huyện Phú
Ninh tỉnh Quảng Nam. Phương pháp: Nghiên cứu
1Trung tâm Y tế huyện Phú Ninh, Sở Y tế tỉnh Quảng Nam
2Trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng
3Trường Đại học Y Dược – Đại học Huế.
Chịu trách nhiệm chính: Võ Văn Thắng
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 23.2.2021
SUMMARY
RISKFACTORSFOR DOMESTICVIOLENCE
DURINGPREGNANCY IN MARRIED WOMEN:A
Ngày phản biện khoa học: 2.4.2021
Ngày duyệt bài: 14.4.2021
181
Bạn đang xem tài liệu "Nhu cầu và khả năng chi trả của người dân với các dịch vụ chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi tại một khu đô thị ở Hà Nội năm 2021 và mội số yếu tố liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhu_cau_va_kha_nang_chi_tra_cua_nguoi_dan_voi_cac_dich_vu_ch.pdf

