Nhu cầu và khả năng chi trả của người dân với các dịch vụ chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi tại một khu đô thị ở Hà Nội năm 2021 và mội số yếu tố liên quan

vietnam medical journal n02 - april - 2021  
cũng cho thấy vai trò của mạng lưới cộng tác được xác định để triển khai chương trình một  
viên/y tế thôn bản trong việc hỗ trợ triển khai cách bền vững và hiệu quả. Ở tuyến tỉnh, ủy ban  
hoạt động.  
nhân dân các tỉnh/thành phố - vai trò quyết định  
Do hạn chế về nguồn lực trong nghiên cứu chủ trương triển khai chương trình sàng lọc,  
này, chúng tôi chỉ tiếp cận phỏng vấn sâu và trung tâm kiểm soát bệnh tật/trung tâm y tế dự  
thảo luận nhóm với đại diện các bên liên quan từ phòng tuyến tỉnh, bệnh viện tuyến tỉnhvà tuyến  
tuyến xã/phường (trạm y tế); tuyến quận/huyện trung ương trong việc thực hiện kỹ thuật xét  
(trung tâm y tế); tuyến tỉnh/thành phố (các bệnh nghiệm và nội soi đại trực tràng để đảm bảo tính  
viện, trung tâm kiểm soát bệnh tật, sở y tế); chính xác của kỹ thuật sàng lọc cũng như đảm  
tuyến trung ương (đại diện chương trình PCUT), bảo hạn chế các biến chứng của nội soi đại trực  
thay vì tiếp cận toàn bộ các bên liên quan đã xác tràng. Ở tuyến xã/phường, vai trò của các trạm  
định được thông qua quá trình thảo luận nhóm.  
y tế xã/phường được nhấn mạnh trong việc triển  
khai hoạt động cùng với mạng lưới cộng tác  
viên/y tế thôn bản.  
V. KẾT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu cho thấy các bên liên  
quan đến chương trình sàng lọc từ trung ương  
đến địa phương, bao gồm Bộ y tế - vai trò chủ  
trì; bệnh viện K trung ương – vai trò điều phối  
chính của hoạt động, bộ tài chính và bộ kế  
hoạch đầu tư– vai trò huy động nguồn lực triển  
khai chương trìnhcơ sở y tế tuyến trung ương;  
bảo hiểm xã hội Việt Nam- vai trò quan trọng vì  
một trong những nguồn lực tài chính cơ bản  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bray F., Ferlay J., Soerjomataram I. và cộng  
sự. (2018). Global Cancer Statistics 2018:  
GLOBOCAN Estimates of Incidence and Mortality  
Worldwide for 36 Cancers in 185 Countries. CA  
Cancer J Clin.  
2. Trần Văn Thuấn (2014), Báo cáo chuyên đề  
“Tình hình thực hiện dự án phòng chống ung thư”,  
Hà Nội.  
NHU CẦU VÀ KHẢ NĂNG CHI TRẢ CỦA NGƯỜI DÂN VỚI CÁC DỊCH VỤ  
CHĂM SÓC BAN NGÀY CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI MỘT KHU ĐÔ THỊ  
Ở HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘI SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN  
Bùi Thị Ngọc Minh1, Nguyễn Thị Lan Anh2, Nguyễn Thị Thu Trang3,  
Huỳnh Phước Thọ4, Nguyễn Lân Hiếu5, Lưu Ngọc Hoạt2.  
trung tâm chăm sóc sức khỏe (CSSK) ban ngày có  
TÓM TẮT45  
phục hồi chức năng (PHCN) gần nơi ở của các cư dân,  
Dịch vụ chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi  
trong khi số người hưởng ứng và sẵn sàng chi trả là  
(NCT) tại các khu đô thị ở các thành phố lớn đang là  
68,2%, số còn phân vân là 26,3%. Về mô hình xây  
những vấn đề rất được quan tâm của nhiều gia đình,  
dựng các trung tâm vui chơi, giải trí, giao lưu có kèm  
nhất là những người có bố mẹ ở quê muốn đưa ra  
CSSK ban ngày cho người cao tuổi thì chỉ có 11%  
thành phố sống cùng con, cháu và các gia đình có  
người được hỏi không hưởng ứng, số hưởng ứng và  
NCT thường phải ở nhà một mình. Để xác định được  
sẵn sàng chi trả là 52,2%, số còn phân vân là 36,8%.  
nhu cầu và khả năng chi trả cho dịch vụ này, chúng  
Với các dịch vụ tại trung tâm chăm sóc ban ngày thì  
tôi đã triển khai một điều tra 201 chủ hộ gia đình  
được ưa chuộng nhất là truyền thông nâng cao hiểu  
sống tại một số toà nhà được chọn ngẫu nhiên trong  
biết về sức khoẻ, bệnh tật, biết tự chăm sóc mình  
khu chung cư An Lạc, C1, C2 và C3 thuộc phường Cầu  
(75,6%), tiếp đó là thể dục, dưỡng sinh (73,6%), xoa  
Diễn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Kết quả phỏng vấn  
bóp, bấm huyệt, mát xa, xông hơi (69,7%), cung cấp  
cho thấy chỉ 5,5% chủ hộ không hưởng ứng mô hình  
chế độ ăn uống khoa học (64,2%), phục hồi chức  
năng (60,2%), vui chơi, giải trí, giao lưu (58,2%). Với  
mức giá đề xuất là 200.000 VNĐ/ngày cho các dịch vụ  
vui chơi, giải trí tại trung tâm (không bao gồm ăn  
uống, đi lại và chi phí cho các dịch vụ CSSK) thì có tới  
45,8% đồng ý trả với mức giá này, 41,8% muốn trả ở  
mức thấp hơn, tuy nhiên lại có 12,4% có thể trả cao  
hơn. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức  
chi trả lớn hơn hoặc bằng mức giá 200.000 VNĐ/ngày  
với các yếu tố trình độ học vấn và nghề nghiệp của  
đối tượng nghiên cứu. Từ khóa: nhu cầu, khả năng  
chi trả, chăm sóc ban ngày, người cao tuổi.  
1Viện Đào tạo YHDP & YTCC, Đại học Y Hà Nội  
2Đại học Y Hà Nội  
3Trung tâm Y tế Quận Nam Từ Liêm  
4Công ty Cổ phần eDoctor  
5Bệnh viện Đại học Y Hà Nội  
Chịu trách nhiệm chính: Bùi Thị Ngọc Minh  
Ngày nhận bài: 22.2.2021  
Ngày phản biện khoa học: 31.3.2021  
Ngày duyệt bài: 9.4.2021  
176  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 501 - THÁ NG 4 - SỐ 2 - 2021  
sức khỏe và tinh thần. Ngoài ra, nhiều cư dân  
SUMMARY  
trẻ đang sống tại các khu đô thị mới ở các thành  
phố lớn như Hà Nội rất muốn đưa bố, mẹ từ quê  
ra chơi hoặc sống cùng, nhưng do khi con cháu  
vắng nhà thường phải khoá cửa để bố mẹ ở  
trong nhà nên bố mẹ thường khó có thể ở lại lâu  
với con, cháu. Vì vậy, việc xác định nhu cầu và  
tổ chức các dịch vụ CSSK ban ngày, vui chơi, giải  
trí cho NCT, đặc biệt là ở các khu đô thị mới là  
một nghiên cứu cần được triển khai. Do đó  
chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu này với mục  
tiêu mô tả nhu cầu và khả năng chi trả của  
người dân cho dịch vụ chăm sóc ban ngày dành  
cho người cao tuổi tại một khu đô thị ở Hà Nội  
năm 2021 và xác định một số yếu tố liên quan.  
NEEDS AND ABILITY TO PAY FOR THE  
ELDERLY'S DAYCARE AMONG PEOPLE IN  
HANOI'S URBAN BUILDING IN 2021  
Daycare services for the elderly in urban areas in  
big cities are very concerning issues for many families.  
Those whose parents in the countryside want to bring  
parents to the city living with children, grandchildren,  
and families with older persons and family have  
elderly often have to stay their home alone. To  
determine the need and affordability for this service,  
we surveyed 201 household heads living in several  
randomly selected buildings in the An Lac, C1, C2, and  
C3 apartment is located in Cau Dien ward, Nam Tu  
Liem district Hanoi. Interview results show that only  
5.5% of household heads disagree with the model of  
daytime health care centers with rehabilitation near  
the residence. In comparison, the number willingness  
to pay is 68.2%, the remaining puzzled is 26.3%.  
Regarding entertainment, exchanges with health care  
at an adult daycare, only 11% disagree. The number  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
2.1 Đối tượng: Do phần lớn các khu đô thị  
mới tại Hà Nội thường được xây dựng với các  
of willingness to pay was 52.2%. The remaining khu nhà cao tầng và khu thấp tầng, trong đó cư  
puzzled is 36.8%. The most popular services at  
daycare centers are communication to improve health,  
disease, self-care (75.6%), followed by physical  
training and nursing(73.6%), massage, acupressure,  
sauna (69.7%), scientific diet (64.2%), rehabilitation  
(60.2%), entertainment socializing (58.2%). With the  
dân tại các khu cao tầng thường có nhiều người  
trẻ, có mức thu nhập trung bình và nhiều người  
trong số họ có bố, mẹ ở quê muốn đưa ra Hà  
Nội sinh sống nên chúng tôi đã chọn chủ đích  
một toà chung cư tại khu đô thị An Lạc, chung  
cư C1, C2 và C3 phường Cầu Diễn, Nam Từ  
Liêm, Hà Nội để nghiên cứu.  
Tiêu chuẩn lựa chọn: Người dân sống lâu  
dài tại khu đô thị >12 tháng.  
Tiêu chuẩn loại trừ: Người sống ≤12  
tháng, người thuê nhà, sống nhờ.  
suggested price of 200,000 VND  
/
day for  
entertainment services at the center (excluding meals,  
transportation, and health care services), up to 45.8%  
agree to pay. At this price, 41.8% want to pay lower,  
but 12.4% can pay higher. There is a statistically  
significant correlation between the pay rate greater  
than or equal to the price of 200,000 VND / day and  
the factors of educational level and occupation of the  
study subjects.  
2.2 Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu:  
nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
Keywords: needs, willingness to pay, daycare, elderly.  
- Thời gian nghiên cứu: 04/04/2021  
15/04/2021  
–
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
- Chọn mẫu và cỡ mẫu: Chọn mẫu toàn bộ  
các hộ gia đình tại các toà nhà nói trên. Tổng số  
có 350 hộ gia đình, chúng tôi đã tiếp cận được  
250 hộ, trong đó 201 hộ đồng ý tham gia và đã  
trả lời đầy đủ các câu hỏi nghiên cứu.  
- Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi chia  
làm 3 phần: thông tin chung, nhu cầu, khả năng  
chi trả cho dịch vụ chăm sóc ban ngày.  
- Phương pháp thu thập số liệu: số liệu được  
thu thập theo phương pháp tự điền vào phiếu  
câu hỏi dưới sự hướng dẫn và giám sát của điều  
tra viên. Người trả lời câu hỏi là chủ hộ. Nếu  
trong gia đình có NCT sống cùng thì chủ hộ và  
NCT cùng trao đổi, thống nhất và điền vào bộ  
câu hỏi.  
2.3. Xử lý số liệu: Số liệu được nhập, làm  
sạch bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý số liệu  
bằng phần mềm SPSS 26 để xác định nhu cầu và  
khả năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc ban ngày  
Theo dự báo dân số của Tổng cục thống kê  
2016 tỉ số phụ thuộc (tính bằng số người từ 60  
tuổi trở lên so với số người trong độ tuổi lao  
động 15-59) được dự báo tăng gấp hơn ba lần,  
từ 14% năm 2014 lên 43% năm 2049. Tỷ lệ NCT  
chính thức vượt tỷ lệ trẻ em (từ 0-14 tuổi) vào  
năm 2040 [1]. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe người  
cao tuổi là vấn đề cần được quan tâm của gia  
đình và xã hội. Ở Việt Nam đã có một số dịch vụ  
chăm sóc sức khỏe cho NCT, tuy nhiên phần lớn  
các dịch vụ này mới được triển khai tại nhà hoặc  
tại các cơ sở dưỡng lão mà NCT thường phải ở  
đó cả ngày lẫn đêm, còn các dịch vụ CSSK ban  
ngày cho NCT hiện chưa được triển khai nhiều  
trong khi nhu cầu của các dịch vụ này dường  
như là khá cao, nhất là tại các khu đô thị lớn khi  
ban ngày người thân trong gia đình đi làm, đi  
học chỉ còn NCT già yếu ở nhà, các cụ sẽ dần  
cảm thấy cô đơn, mệt mỏi ảnh hưởng đến cả  
177  
vietnam medical journal n02 - april - 2021  
dành cho người cao tuổi của người dân tại một học Y học, Đại học Y Hà Nội và Uỷ ban nhân dân  
số khi đô thị Hà Nội năm 2021  
Phường Cầu Diễn phối hợp triển khai với sự  
2.4. Đạo đức nghiên cứu: Nhóm nghiên đồng ý tham gia của các chủ hộ gia đình. Toàn  
cứu được Bệnh viện Đại học Y Hà Nội giới thiệu bộ thông tin đối tượng cung cấp chỉ sử dụng cho  
và được Trung tâm Y tế Quận Nam Từ Liêm, mục đích nghiên cứu và lập kế hoạch CSSK cho  
Công ty Cổ phần eDoctor, Bộ môn Thống kê, Tin các hộ gia đình.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Bảng 1: Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu (n=201)  
Đặc điểm  
Tần số (n)  
Tỷ lệ (%)  
4,0  
18-29  
30-59  
≥60  
8
140  
53  
Nhóm tuổi  
69,7  
26,3  
Tuổi trung bình X ± SD (min-max): 47,8 ± 14,6 (22-84)  
Nam  
Nữ  
Chủ hộ  
67  
134  
117  
84  
15  
21  
33,3  
66,7  
58,2  
41,8  
7,5  
10,4  
60,7  
21,4  
Giới tính  
Quan hệ với chủ hộ  
Khác (Vợ/ con/bố mẹ chủ hộ)  
Từ THPT trở xuống  
Trung cấp  
Trình độ học vấn cao  
nhất  
Cao đẳng/Đại học  
Sau đại học  
122  
43  
Thu nhập trung bình  
Trung vị (Tứ phân vị) = 10.000.000 VNĐ (5.000.000 -10.000.000)  
1 người  
2 người  
3 người  
4 người  
Có  
31  
40  
6
39,2  
50,6  
7,6  
Tổng số người > 60  
tuổi trong gia đình  
2
2,5  
68  
133  
120  
81  
33,8  
66,2  
59,7  
40,3  
Gia đình có người  
mắc bệnh mãn tính  
Bố/ mẹ đang sống ở  
quê  
Không  
Có  
Không  
Do đa số người trả lời bộ câu hỏi là chủ hộ chọn chủ đích các khu nhà chung cư cao tầng  
(58,2%) nên nhóm tuổi của đối tượng nghiên thuộc các khu đô thị mới nên mặt bằng dân trí  
cứu chủ yếu từ 30-59 tuổi (69,7%), tiếp đó là của đối tượng nghiên cứu khá cao, có tới 43%  
nhóm tuổi trên 60 tuổi 26,4%. Về số hộ có NCT có trình độ sau đại học, 60,7% có trình độ cao  
thì mặc dù chỉ có 79 hộ nhưng do nhiều hộ có 2, đẳng/ đại học và chỉ có 15% có trình độ từ THPT  
thậm chí 4 NCT nên tổng số NCT của 201 hộ này trở xuống. Ngoài ra do các cộng đồng dân cư  
lên tới 137 người, trong khi đó còn có 120 hộ có này mới được hình thành nên có nhiều chủ hộ có  
bố, mẹ đang sống ở quê nên lực lượng khách bố mẹ ở quê (59,7%). Về thu nhập bình quân  
hàng tiềm năng cho các dịch vụ cho NCT là rất đầu người/tháng trung bình là 10.000.000 VNĐ.  
lớn. Về giới tính, nữ chiếm tỷ lệ cao hơn là Số gia đình có người mắc bệnh mãn tính cũng  
66,7% sau đó là nam với 33,3%. Do nghiên cứu chiếm tới 33,8%.  
Bảng 2: Thông tin người có bố mẹ ở quê (n=120)  
Đặc điểm  
Tần số (n)  
Tỷ lệ (%)  
46,7  
Có  
56  
52  
12  
Muốn mời bố mẹ  
ra Hà Nội ở cùng  
Không  
43,3  
10  
Nếu có dịch vụ chăm sóc các cụ chu đáo  
Phải để bố/mẹ ở nhà một mình khi đi làm  
nên cảm giác không yên tâm  
Bố mẹ không muốn ở lâu do buồn và thiếu  
bạn bè cùng tuổi để giao lưu  
17  
14,2  
Gặp khó khăn gì  
khi bố mẹ ra chơi  
ở cùng  
96  
7
80  
Cả hai  
5,8  
Với những gia đình có bố mẹ ở quê thì tỷ lệ muốn mời bố mẹ ra Hà Nội là 46,7%, nếu có dịch vụ  
chăm sóc các cụ chu đáo là 10%. Về thực trạng khó khăn khi bố mẹ ra chơi cùng thì 80% do nguyên  
178  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 501 - THÁ NG 4 - SỐ 2 - 2021  
nhân bố mẹ không muốn ở lâu do buồn, thiếu bạn bè cùng tuổi để giao lưu và 14,2% phải để bố/mẹ  
ở nhà một mình khi đi làm nên cảm giác không yên tâm.  
Bảng 3: Nhu cầu tham gia dịch vụ tại trung tâm CSSK ban ngày (n=201)  
Không đồng ý Phân vân  
Đồng ý  
n (%)  
Dịch vụ  
n (%)  
n (%)  
Đồng ý tham gia và chi trả cho dịch vụ CSSK, PHCN  
tại các trung tâm gần nơi ở của các cư dân (bằng giá  
tiền dịch vụ theo yêu cầu tại các bệnh viện)  
Đồng ý tham gia và chi trả cho các hoạt động vui  
chơi, giải trí, giao lưu tại các trung tâm chăm sóc ban  
ngày cho NCT (giá thoả thuận tuỳ theo loại dịch vụ và  
thời gian sử dụng dịch vụ)  
11(5,5)  
53 (26,3)  
137(68,2)  
105(52,2)  
22 (11,0)  
74 (36,8)  
Kết quả cho thấy, chỉ 5,5% số người được hỏi nơi có cảnh quan đẹp, khí hậu tốt, 46,8% muốn  
không đồng ý tham gia, chi trả cho dịch vụ có các khu vui chơi, giải trí cho người cao tuổi và  
CSSK, PHCN, trong khi tỷ lệ đồng ý tới 68,2% và cũng có tới 39,3% muốn có các khu chăm sóc  
tỷ lệ còn phân vân là 26,4%. Nhu cầu tham gia cuối đời cho những người bệnh mà bệnh viện đã  
và chi trả cho các hoạt động vui chơi, giải trí, trả về.  
giao lưu tại các trung tâm chăm sóc ban ngày  
cho NCT có tỷ lệ không đồng ý là 11%, đồng ý ban ngày thì dịch vụ được ưa chuộng nhất là  
là 52,2% và phân vân là 36,8%. Truyền thông nâng cao hiểu biết về sức khoẻ,  
Tại các trung tâm vui chơi, giải trí và CSSK  
Khi được hỏi về các dịch vụ nào địa phương bệnh tật, biết tự chăm sóc mình (75,6%), tiếp  
nên tổ chức để tăng cường chăm sóc cho NCT đó là Thể dục, dưỡng sinh (73,6%), Xoa bóp,  
thì có tới 84,1% đề xuất cần tổ chức khám sức bấm huyệt, mát xa, xông hơi (69,7%), Cung cấp  
khoẻ định kỳ cho NCT, 69,7% mong muốn có chế độ ăn uống khoa học (64,2%), PHCN  
các trung tâm CSSK ban ngày, PHCN gần nơi (60,2%), Vui chơi, giải trí, giao lưu (58,2%), còn  
NCT sống, 58,7% muốn có các khu dưỡng lão ở nhu cầu Thăm quan, du lịch chỉ chiếm 30,3%.  
Bảng 4: Khả năng chi trả của các hộ gia đình cho các dịch vụ tại trung tâm chăm sóc  
ban ngày  
Tần số Tỷ lệ  
Khả năng chi trả  
(n)  
76  
16  
(%)  
37,8  
8,0  
Có  
Không  
Sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ y tế tại Trung  
tâm (như với giá dịch vụ theo yêu cầu tại các  
bệnh viện)  
Mức giá chi trả cho các dịch vụ vui chơi, giải trí  
tại Trung tâm (không bao gồm ăn uống, đi lại  
và phí cho các dịch vụ y tế có người phục vụ)  
Tùy loại dịch vụ và giá dịch vụ  
<200.000 VNĐ  
109  
84  
92  
54,2  
41,8  
45,8  
12,4  
200.000 VNĐ  
>= 200.000 VNĐ  
25  
Chỉ có 8% số người được hỏi không sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ y tế tại Trung tâm, trong khi  
tỷ lệ đồng ý và tuỳ theo loại hình dịch vụ, giá dịch vụ lần lượt là 37,8% và 54,2%. Với mức giá đề  
xuất là 200.000 VNĐ/ngày (không kể dịch vụ đưa đón, ăn trưa và các dịch vụ y tế có người phục vụ),  
có tới 45,8% đồng ý trả với mức này, số người trả dưới mức 200.000 VNĐ/ngày là 41,8%, trong khi  
có tới 12,4% sẵn sàng trả cao hơn.  
Bảng 5: Hồi quy đa biến khả năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc ban ngày và một số yếu  
tố liên quan (n=201)  
Đồng ý trả  
≥200.000  
VNĐ/ngày  
OR  
12  
OR  
Khoảng tin  
cậy 95%  
Khoảng tin  
cậy 95%  
hiệu  
thô  
chỉnh  
n
%
Tuổi  
117  
117  
117  
58,2  
58,2  
58,2  
1,010  
0,999  
0,688  
(0,99; 1,03)  
(0,79; 1,27)  
(0,27; 1,26)  
1,018  
1,157  
1
(0,98;1,04)  
(0,87;1,5)  
1
Số thành viên gia đình  
Thu nhập  
Giới tính  
Nam (nhóm chứng)  
Nữ  
43  
74  
21,4  
36,8  
1
1,453  
(0,79; 2,66)  
0,838  
(0,39; 1,77)  
179  
vietnam medical journal n02 - april - 2021  
Chủ hộ  
Có (nhóm chứng)  
71  
46  
35,3  
22,9  
1
Không  
0,784  
(0,45; 1,38)  
0,917  
(0,45;1,85)  
Nghề nghiệp  
Cán bộ công nhân viên  
chức nhà nước  
Kinh doanh, buôn bán  
Nhân viên các tổ chức  
ngoài nhà nước  
27  
27  
25  
38  
13,4  
13,4  
12,4  
19  
1
4,167  
0,827  
(1,47; 11,7) 6,489  
(2,1;19,7)  
(0,4;2,17)  
(0,8;6,58)  
(0,38; 1,77)  
0,942  
Hưu trí, nội trợ  
1,407  
(0,67; 2,95)  
2,296  
Trình độ học vấn  
Từ THPT trở xuống  
Trung cấp  
Cao đẳng/Đại học  
Sau đại học  
8
4
1
13  
65  
31  
6,6  
1,422  
0,998  
2,260  
(0,37; 5,44)  
(0,34; 2,92)  
1,883  
1,684  
(0,43;8,13)  
(0,48;5,8)  
32,2  
15,4  
(0,67; 7,60) 5,326 (1,25;22,65)  
Có người mắc bệnh mạn tính  
Có (nhóm chứng)  
Không  
34  
83  
16,9  
41,3  
1
1
1,666  
(0,91; 2,99)  
2,309  
(1,14;4,6)  
Pseudo R2= 0,179  
Kết quả bảng cho thấy 2 yếu tố nghề nghiệp xa hay tham quan du lịch nhiều so với những  
và trình độ học vấn tác động có ý nghĩa thống kê nhu cầu khác. Dịch vụ truyền thông nâng cao  
với việc sẵn sàng chi trả cho dịch vụ chăm sóc hiểu biết về sức khỏe bệnh tật, biết tự chăm sóc  
ban ngày, Trình độ sau đại học có mức chi trả cao mình chiếm tỷ lệ cao nhất cho thấy người dân có  
gấp 5,326 lần so với trình độ THPT trở xuống với nhu cầu tìm hiểu về kiến thức CSSK cũng như  
CI (1,25;22,65) với p= 0,024, Về nghề nghiệp kiểm soát bệnh tật tốt hơn. Đặc điểm này cũng  
những người có làm kinh doanh buôn bán có mức giống với nghiên cứu tình trạng sức khỏe và nhu  
chi trả cao gấp 6,489 lần so với cán bộ công nhân cầu chăm sóc sức khỏe của NCT ở huyện Quốc  
viên chức CI (2,1;19,7) với p= 0,001.  
Oai [4] kết luận hơn một nửa số người được hỏi  
yêu cầu thêm thông tin về chăm sóc sức khỏe  
đặc biệt là quản lý bệnh tật.  
IV. BÀN LUẬN  
Nghiên cứu chúng tôi chia dịch vụ chăm sóc  
ban ngày làm 2 dịch vụ chính đó chăm sóc về  
sức khỏe (CSSK) và chăm sóc về tinh thần. Về  
nhu cầu CSSK tỷ lệ tham gia dịch vụ CSSK, phục  
hồi chức năng tại các trung tâm gần nơi ở của  
các cư dân với tỷ lệ đồng ý 68,2% khá tương  
đồng nghiên cứu của Đỗ Mạnh Hùng năm 2018  
[2]. Ngoài ra, tỷ lệ đồng ý tham gia cho các hoạt  
động vui chơi, giải trí, giao lưu tại các trung tâm  
chăm sóc ban ngày cho những người cao tuổi  
chiếm tỷ lệ đồng ý thấp hơn chiếm 52,2%. Sự  
chênh lệch tỷ lệ trên có thể giải thích dựa theo  
hình thái chăm sóc NCT của Phạm Vũ Hoàng [3]  
đó là đi từ CSSK đến chăm sóc đời sống tinh  
thần cho NCT. Tuy nhiên dịch vụ này còn khá  
mới tại Việt Nam nên có tỷ lệ người dân còn  
phân vân tương ứng các dịch vụ CSSK và dịch vụ  
chăm sóc tinh thần cho người người cao tuổi là  
26,4% và 36,8%. Nhìn chung tỷ lệ đồng ý tham  
gia dịch vụ chúng tôi dự kiến triển khai tương  
đối đồng đều về tỷ lệ phần trăm, riêng tỷ lệ  
tham quan du lịch có nhu cầu thấp nhất. Điều  
này có thể giải thích do yếu tố sức khỏe là trở  
ngại khiến cho người dân không có nhu cầu đi lại  
Về khả năng chi trả cho dịch vụ, tỷ lệ đối  
tượng nghiên cứu sẵn sàng chi trả là 37,8%  
trong khi 54,2% là chọn tùy loai dịch vụ và tùy  
giá dịch vụ. Tỷ lệ không chi trả chiếm tỷ lệ thấp  
nhất là 8%. Nghiên cứu về thực trạng chăm sóc  
người cao tuổi chỉ ra rằng yếu tố tài chính là trở  
ngại quan trọng nhất trong quá trình tiếp cận  
dịch vụ chăm sóc NCT [5]. Qua đó biểu hiện  
người dân sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ chăm  
sóc ban ngày nếu có nhu cầu với mức giá hợp lý.  
Khi yêu cầu đối tượng đưa ra mức giá phù hợp  
với dịch vụ thì mức giá đề xuất của người dân  
với tỷ lệ cao nhất là 45,8% là 200.000 VNĐ /  
ngày. Bên cạnh đó đề xuất mức giá chiếm thấp  
hơn 200.000 VNĐ /ngày cũng chiếm tỷ lệ 41,8%.  
Kết quả này phù hợp thực trạng kinh tế của địa  
phương bên cạnh đó mức giá 200.000 VNĐ/  
ngày. Ngoài ra thì các đối tượng nghiên cứu  
chưa hiểu được hết về những lợi ích cụ thể khi  
sử dụng dịch vụ này. Chúng là một giải pháp  
thay thế cho các dịch vụ chăm sóc dài hạn  
truyền thống, cung cấp hỗ trợ dịch vụ linh hoạt  
khi có nhu cầu, giảm chí phí chăm sóc, cung cấp  
đáp ứng nhu cầu từ chăm sóc sức khỏe đến  
180  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 501 - THÁ NG 4 - SỐ 2 - 2021  
chăm sóc tinh thần cho NCT [6]. Tuy nhiên với cả dịch vụ vui chơi, giải trí và các dịch vụ CSSK  
tỷ lệ không nhỏ người dân sẵn sàng chi trả với cho NCT và cũng sẵn sàng chi trả cho các dịch  
mức giá cao hơn, Qua đó chứng tỏ cần có sự vụ này như mức giá đề xuất, tương đương với  
cân nhắc giữa mức giá và những giá trị mà dịch mức thu theo yêu cầu tại các bệnh viện. Các yếu  
vụ đem đến cho người dân.  
tố ảnh hưởng đến khả năng chi trả của người  
Ngoài ra nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng dân là trình độ học vấn và nghề nghiệp.  
những người có trình độ học vấn đai học và  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
những người làm kinh doanh buôn bán có khả  
1. Tổng cục thống kê và Quỹ dân số Liên Hợp  
năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc ban ngày cao  
Quốc (2016), Dự báo dân số Việt Nam 2014-  
2049, Nhà xuất bản Thông tấn.  
hơn lần lượt so với đối tượng có trình độ học vấn  
dưới THPT và nhóm nghề nghiệp cán bộ công  
nhân viên chức. Điều này cũng được lý giải  
nghiên cứu các yếu tố kinh tế xã hội quyết định  
nhu cầu chăm sóc sức khỏe và tình cảm của  
người lớn tuổi Iran ở Isfahan [7] chỉ ra rằng nhu  
cầu chăm sóc sức khỏe của NCT mù chữ thấp  
hơn 60% so với nhóm NCT có trình độ đại học.  
Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu chọn  
mẫu toàn bộ người dân đang sống tại khu chung  
cư An Lạc, C1, C2 và C3. Tuy nhiên, việc tiếp cận  
các đối tượng và sự hưởng ứng tham gia nghiên  
cứu của họ còn hạn chế, Điều này dẫn đến tỉ lệ  
đáp ứng tham gia nghiên cứu chưa cao và chưa  
đại diện,  
2. Đỗ Mạnh Hùng (2018), Nhu cầu, sự hưởng ứng  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người dân  
đô thị phường Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội 2018  
và một số yếu tố liên quan, Trường Đại học Y Hà Nội.  
3. Phạm Vũ Hoàng (2013), Một số giải pháp nâng  
cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam  
2013, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.  
4. Bang K.-S., Tak S.H., Oh J. và cộng sự.  
(2017). Health Status and the Demand for  
Healthcare among the Elderly in the Rural Quoc-  
Oai District of Hanoi in Vietnam. Biomed Res Int,  
2017, 4830968.  
5. Huệ N.T. (2010). Thực trạng chăm sóc người  
cao tuổi ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học xã hội Việt  
Nam, 99–106.  
6. Oliver R.E. và Foster M. (2013). Adult Day  
Care: An Important Long-Term Care Alternative &  
Potential Cost Saver. Mo Med, 110(3), 227–230.  
7. Nosratabadi M., Nabavi S.H., Rashedi V. và  
cộng sự. (2018). Socioeconomic determinants of  
health-care and emotional needs among Iranian  
older adults in Isfahan. J Educ Health Promot, 7.  
V. KẾT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn các  
hộ gia đình được điều tra đều có nhu cầu sử  
dụng các dịch vụ chăm sóc ban ngày, bao gồm  
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG BẠO HÀNH KHI  
MANG THAI Ở PHỤ NỮ ĐÃ KẾT HÔN: MỘT NGHIÊN CỨU MÔ TẢ  
CẮT NGANG TẠI HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM  
Nguyễn Thị Thu Trang1, Trần Đình Trung2, Võ Văn Thắng3  
mô tả cắt ngang trên 350 phụ nữ đã kết hôn ở huyện  
TÓM TẮT46  
Phú Ninh tỉnh Quảng Nam, từ 7/2018 đến tháng  
12/2018. Kết quả: Tỷ lệ bạo hành phụ nữ mang thai  
là 24,9%. Các yếu tố liên quan đến tình trạng bạo  
hành ở phụ nữ khi mang thai: trình độ học vấn, nghề  
nghiệp, tình trạng kinh tế, phụ thuộc kinh tế vào  
chồng, chung sống cùng chồng, yếu tố về tình trạng  
sinh con trai và con gái, số lần mang thai và sự mong  
đợi giới tính thai nhi (p<0,05). Kết luận: Tỷ lệ bạo  
hành ở phụ nữ khi mang thai là khá cao trong nghiên  
cứu này. Cần xây dựng các chương trình chăm sóc  
sức khỏe sinh sản tại cơ sở y tế các tuyến cần chú  
trọng tập trung sàng lọc sớm các thai phụ bị bạo hành  
trong lần khám thai đầu tiên. Từ khóa: bạo hành,  
phụ nữ mang thai, Quảng Nam.  
Đặt vấn đề: Phụ nữ mang thai là một nhóm dễ bị  
tổn thương, với các nguyên nhân do chồng hoặc bạn  
tình trong thai kỳ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến  
sức khoẻ của phụ nữ, mà còn gây ra những ảnh  
hưởng xấu đến sức khoẻ và sự phát triển của trẻ sau  
này. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến bạo  
hành khi mang thai ở phụ nữ đã kết hôn huyện Phú  
Ninh tỉnh Quảng Nam. Phương pháp: Nghiên cứu  
1Trung tâm Y tế huyện Phú Ninh, Sở Y tế tỉnh Quảng Nam  
2Trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng  
3Trường Đại học Y Dược – Đại học Huế.  
Chịu trách nhiệm chính: Võ Văn Thắng  
Ngày nhận bài: 23.2.2021  
SUMMARY  
RISKFACTORSFOR DOMESTICVIOLENCE  
DURINGPREGNANCY IN MARRIED WOMEN:A  
Ngày phản biện khoa học: 2.4.2021  
Ngày duyệt bài: 14.4.2021  
181  
pdf 6 trang yennguyen 18340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhu cầu và khả năng chi trả của người dân với các dịch vụ chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi tại một khu đô thị ở Hà Nội năm 2021 và mội số yếu tố liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhu_cau_va_kha_nang_chi_tra_cua_nguoi_dan_voi_cac_dich_vu_ch.pdf