Hiệu quả của nội soi mật tụy ngược dòng với gây mê nội khí quản trong điều trị sỏi ống mật chủ ở người cao tuổi

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
HIỆU QUẢ CỦA NỘI SOI MẬT TỤY NGƯỢC DÒNG  
VỚI GÂY MÊ NỘI KHÍ QUẢN TRONG ĐIỀU TRỊ SỎI ỐNG MẬT CHỦ  
Ở NGƯỜI CAO TUỔI  
Quách Trọng Đức*, Trần Văn Huy*, Lê Quang Nhân*, Phạm Công Khánh*, Nguyễn Thúy Oanh*,  
Trịnh Đình Hỷ*  
TÓM TẮT  
Mở đầu: Nội soi mật tụy ngược dòng (NSMTND) được phương pháp điều trị được ưu tiên hàng đầu  
trong các trường hợp sỏi ống mật chủ (OMC), đặc biệt là khi không kèm với sỏi trong gan và sỏi túi mật. Ít các  
nghiên cứu trong nước đề cập đến hiệu quả và độ an toàn của NSMTND lấy sỏi OMC ở bệnh nhân cao tuổi.  
Mục tiêu: Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của NSMTND dưới gây  
mê nội khí quản trong điều trị sỏi OMC ở bệnh nhân cao tuổi.  
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên các bệnh nhân ≥ 60 tuổi bị sỏi OMC được  
thực hiện nội soi mật tụy ngược dòng (NSMTND) điều trị tại Bệnh viện ĐHYD TP. HCM trong thời gian  
06/2010 – 06/2012.  
Kết quả: Có 139 bệnh nhân trong nghiên cứu với tuổi trung bình là 75,1 ± 9,8 (nhỏ nhất: 60, lớn nhất:  
100); tỉ lệ nam: nữ là 1:2. Có 33,8% (47/139) trường hợp có tiền sử điều trị sỏi đường mật trước đó. 92,1%  
(128/139) được lấy sỏi OMC thành công, trong đó tỉ lệ lấy hết sỏi OMC ở lần thực hiện NSMTND đầu tiên là  
82% (114/139). Tán sỏi qua nội soi được tiến hành trong 31/128 trường hợp. Chỉ có 1/11 trường hợp không lấy  
được sỏi là do kích thước sỏi lớn. Tỉ lệ viêm tụy cấp và chảy máu sau thủ thuật là 4,3% và 0,8%. Không có  
trường hợp nào bị biến chứng nhiễm trùng hoặc thủng. Không có biến chứng nặng liên quan vô cảm.  
Kết luận: NSMTND với gây mê nội khí quản là một phương pháp an toàn và hữu hiệu trong điều trị sỏi  
OMC ở bệnh nhân cao tuổi.  
Từ khóa: nội soi mật tụy ngược dòng, sỏi mật, cao tuổi  
ABSTRACT  
THE EFFICACY OF ERCP UNDER INTUBATED GENERAL ANESTHESIA  
FOR THE MANAGEMENT OF COMMON BILE DUCT STONES IN ELDERLY PATIENTS  
Quach Trong Duc, Tran Van Huy, Le Quang Nhan, Pham Cong Khanh, Nguyen Thuy Oanh,  
Trinh Đinh Hy * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 418 ‐ 423  
Background: Endoscopic retrograde cholangio‐pancreaticography (ERCP) is preferred in the management  
of common bile duct (CBD) stones, especially when not accompanying with gallstones and intrahepatic stones.  
Few Vietnamese studies have reported on the efficacy and the safety profile of this technique in elderly patients.  
Aim: To assess the efficacy and the safety profile of therapeutic ERCP under general anesthesia with  
intubation in elderly patients with CBD stones.  
Patients and Methods: A retrospective cohort study in elderly patients (i.e. ≥ 60 year‐of‐age) who suffered  
from CBD stones and underwent therapeutic ERCP at the HCMC University Medical Center from June 2010 to  
June 2012.  
* Đại học Y Dược TPHCM  
Tác giả liên lạc: TS. Quách Trọng Đức ĐT: 0918080225  
418  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
Results: There were 139 patients with the mean age of 75.1 ± 9.8 (60 – 100) and the male‐to‐female ratio of  
1:2. 33.8% (47/139) patients have had prior history treatment for biliary stones. The rates of successful CBD  
stone removal and completely CBD stone removal at the first time ERCP were 92.1% (128/139) and 82%  
(114/139), respectively. Mechanical lithotripsy were performed in 24.2% (31/128). Of 11 patients who was failed  
to remove CBD stones, only one patients was due the large size of stone. The rates of post‐ERCP pancreatitis and  
gastrointestinal bleeding were 4.3% and 0.8%, respectively. No patients suffered from perforation or severe  
anesthetic‐related complications.  
Conclusion: Therapeutic ERCP under general anesthesia is an effective and safe procedure for the  
management of CBD stones in elderly patients.  
Key words: ERCP, billiary stone, elderly  
nội khí quản.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Sỏi mật là một bệnh lý thường gặp ở Việt  
Không được thực hiện siêu âm bụng &  
Amylase máu kiểm tra sau thực hiện thủ thuật.  
Nam và có thể gây nhiều biến chứng cấp tính có  
thể đe dọa tử vong như nhiễm trùng đường mật  
và viêm tụy cấp. Với xu hướng can thiệp ngày  
càng ít xâm lấn, các kỹ thuật lấy sỏi qua nội soi  
ngày càng được áp dụng rộng rãi và rất thành  
công tại Việt Nam. Phương pháp nội soi mật tụy  
ngược dòng (NSMTND) được ưu tiên hàng đầu  
trong các trường hợp sỏi OMC, đặc biệt là khi  
không kèm với sỏi trong gan và sỏi túi mật do có  
vị trí tiếp cận đơn giản, hiệu quả điều trị cao  
trong khi tránh được cho bệnh nhân nguy cơ  
phẫu thuật. Nghiên cứu này được tiến hành  
nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của kỹ  
thuật NSMTND dưới gây mê nội khí quản trong  
điều trị sỏi OMC ở bệnh nhân cao tuổi.  
Các bước tiến hành nghiên cứu  
Ghi nhận bệnh cảnh lâm sàng, tiền sử bệnh  
lý nội khoa phối hợp và các phương pháp điều  
trị sỏi đường mật trước đó. Khi thực hiện  
NSMTND, ghi nhận giải phẫu tá tràng và đặc  
điểm của sỏi OMC, các phương pháp can thiệp  
lấy sỏi, kết quả lấy sỏi.  
Sau thủ thuật bệnh nhân được nhịn ăn uống  
12 giờ, theo dõi sinh hiệu, tình trạng đau bụng,  
xuất huyết tiêu hóa, xét nghiệm Amylase máu  
và siêu âm bụng kiểm tra.  
Các định nghĩa biến sử dụng trong nghiên  
cứu  
Kích thước sỏi OMC được ghi nhận đo theo  
đường kính ngắn hơn của sỏi (do đường kính  
dài của sỏi nằm dọc trục OMC, ít ảnh hưởng đến  
chiến lược lấy sỏi qua NSMTND).  
ĐỐITƯỢNG‐PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng  
Các bệnh nhân cao tuổi được chẩn đoán sỏi  
OMCđược chỉ định thực hiện nội soi mật tụy  
ngược dòng (NSMTND) lấy sỏi tại Bệnh viện  
ĐHYD TP. HCM trong thời gian 06/2010 –  
06/2012.  
NSMTND lấy hết sỏi OMC: nếu chụp đường  
mật kiểm tra trước khi ngưng thủ thuật  
NSMTND VÀ siêu âm bụng kiểm tra sau thủ  
thuật đểu không ghi nhận sót sỏi OMC.  
Phương pháp  
Đoàn hệ hồi cứu.  
Các biến chứng do NSMTND được định nghĩa  
như sau  
Viêm tụy cấp sau NSMTND: nếu bệnh nhân  
đau bụng và men Amylase máu ≥ 3 lần giá trị  
bình thường (ở thời điểm 24 giờ) sau khi thực  
hiện thủ thuật.  
(1)  
Tiêu chuẩn chọn bệnh  
Tuổi ≥ 60.  
Được xác lập chẩn đoán sỏi OMCvà chì định  
thực hiện NSMTND lấy sỏi.  
Thực hiện thủ thuật NSMTND dưới gây mê  
Chảy máu sau NSMTND: nếu bệnh nhân có  
419  
Ngoại Tổng Quát  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
biểu hiện xuất huyết tiêu hóa trên lâm sàng và  
giảm Hb huyết.  
Bảng 4: Tiền sử đã điều trị sỏi đường mật  
n
%
Phẫu thuật đường mật chính  
NSMTND  
20  
14,4  
10,1  
9,4  
Nhiễm trùng đường mật: sốt mới khởi phát  
14  
o
> 38 C trong vòng 24 – 48 giờ sau thủ thuật.  
Cắt túi mật nội soi  
Không  
13  
92  
66,2  
100  
KẾT QUẢ  
Tổng cộng  
139  
Có 139 bệnh nhân trong nghiên cứu với tuổi  
trung bình là 75,1 ± 9,8; bao gồm 45 (32,4%) nam  
và 94 (67,6%) nữ. Bệnh nhân cao tuổi nhất trong  
nghiên cứu là 100 tuổi. Phân bố tuổi và biểu hiện  
lâm sàng và bệnh lý phối hợp của bệnh nhân  
trong nghiên cứu được trình bày ở bảng 1,2 và 3.  
Bảng 5: Đặc điểm của sỏi OMC ở các trường hợp  
được can thiệp lấy sỏi  
Đặc điểm sỏi OMC(n =128)  
n
%
1 sỏi  
68  
28  
20  
12  
42  
52  
22  
11  
1
53,1  
21,9  
15,6  
9,4  
2 sỏi  
Số lượng sỏi  
3 sỏi  
≥ 3  
Bảng 1: Phân bố theo tuổi của bệnh nhân trong  
nghiên cứu  
≤ 10  
32,8  
40,6  
17,2  
8,6  
Kích thước sỏi  
11 – 15  
16 – 20  
21 – 30  
> 30  
Nhóm tuổi  
60 – 69  
70 – 79  
80 – 89  
90 – 100  
Total  
n
45  
46  
37  
11  
139  
%
% tích lũy  
(mm)  
32,4  
33,1  
26,6  
7,9  
32,4  
65,5  
0,8  
92,1  
Bảng 6: Tỉ lệ thành công của các phương pháp lấy  
sỏi OMC  
100  
100  
n
%
% tích lũy  
Bảng 2: Biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân trong  
nghiên cứu  
Kéo sỏi (bằng rọ thường /  
bong bóng kéo sỏi)  
97  
75,8  
75,8  
Bệnh cảnh lâm sàng  
Sốc nhiễm trùng đường mật  
Nhiễm trùng đường mật  
Viêm tụy cấp  
n
6
%
Tán sỏi cơ học & kéo sỏi  
Tán sỏi cấp cứu (do kẹt rọ)  
30  
1
23,4  
0,8  
99,2  
100  
4,3  
41  
57  
4
Trong các trường hợp tán sỏi cơ học chủ  
động có 5 trường hợp sỏi đường kính 10 –  
15mm và 5 trường hợp sỏi 16 – 20 mm. Có 1  
trường hợp sỏi d=15mm cần phải tán cấp cứu do  
kẹt rọ.  
2,9  
1,4  
9,4  
Viêm túi mật cấp  
2
Vàng da tắc mật  
13  
Đau hạ sườn phải  
Đau thượng vị  
20 14,4  
21 15,1  
Sốt  
7
1
8
5
Tỉ lệ bệnh nhân có túi thừa tá tràng ở vị trí  
nhú Vater là 40,3% (56/139). Tỉ lệ thông đường  
mật thành công là 130 / 139, trong đó thông  
bằng kỹ thuật kinh điển với dao cắt cơ và dây  
dẫn là 124 (89,2%) và cần sử dụng phương  
pháp chọc phễu / cắt trước là 6 (4,3%) trường  
hợp. Có 128 (92,1%) được thực hiện lấy sỏi  
OMC thành công, trong đó tỉ lệ lấy hết sỏi  
OMC ở lần thực hiện NSMTND đầu tiên là  
82% (114/139). Nguyên nhân không lấy được  
sỏi ở 11 (7,9%) trường hợp còn lại trong nghiên  
cứu được trình bảy ở bảng 8.  
Phát hiện khi phẫu thuật cắt túi mật nội soi  
Không triệu chứng  
Tổng cộng  
0,7  
5,8  
139 100  
Bảng 3: Bệnh lý nội khoa phối hợp  
Bệnh nội khoa phối hợp  
n
%
Tăng huyết áp  
61  
19  
17  
9
43,9  
13,7  
12,2  
6,5  
Bệnh động mạch vành  
Đái tháo đường týp II  
Bệnh van tim  
Bệnh phổi mạn tính (hen, COPD, lao phổi)  
Tai biến mạch máu não cũ  
Suy tim  
9
6,5  
8
5,8  
5
3,6  
Xơ gan  
4
2,9  
Bảng 8: Các trường hợp không thể thực hiện lấy  
sỏi qua NSMTND  
Rung nhĩ / ngoại tâm thu thất  
Suy thận mạn  
4
2,9  
3
2,2  
n
Sẹo loét tá tràng gây hẹp  
2
420  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
n
định phẫu thuật nhưng chụp đường mật trong  
mổ ghi nhận có sỏi OMC và do kích thước OMC  
khá nhỏ không thuận lợi cho việc mở OMC lấy  
sỏi nên chỉ định NSMTND được đặt ra và thực  
hiện thành công.  
Biến dạng tá tràng sau phẫu thuật, không tiếp cận  
được  
1
Không tìm được nhú Vater  
Phễu mật nằm trong túi thừa to  
Thông thất bại  
1
3
2
1
Sỏi to  
Về tiền sử điều trị sỏi OMC bằng phẫu thuật,  
trong nghiên cứu của chúng tôi có 14,4% thấp  
hơn so với La Văn Phương (2010 ‐ 2011) là 38%  
Choáng nhiễm trùng đường mật / đang điều trị ức chế  
kết tập tiểu cầu kép + nhú Vater nằm cạnh túi thừa *  
1
(*) Đặt stent tạm do không thể ngưng thuốc ức chế kết tập  
tiểu cầu kép  
(2, 7)  
và Đào Xuân Cường (2008 – 2010) là 28% .Đặc  
biệt Đào Xuân Cường ghi nhận có 9,8% trường  
hợp được làm NSMTND sau khi bị sỏi OMC tái  
phát đã phẫu thuật từ 2 lần trở lên. Điều này cho  
thấy quan điểm hiện tại vẫn chưa có một sự  
đồng thuận cao giữa các nhà lâm sàng tiêu hóa  
rằng NSMTND nên là phương pháp được ưu  
tiên hàng đầu trong các trường hợp có sỏi OMC.  
Một nguyên nhân khác góp phần lý giải cho sự  
khác biệt giữa nghiên cứu của chúng tôi so với  
các tác giả khác có lẽ là do các nghiên cứu đề cập  
ở trên khảo sát trên cả những bệnh nhân không  
phải là người cao tuổi nên điều trị phẫu thuật  
được mạnh dạn đưa ra hơn và có tỉ lệ cao hơn  
nghiên cứu của chúng tôi. Tuy nhiên trong chiến  
lược xử trí sỏi mật hiện nay, NSMTND nên là  
chọn lựa đầu tay đối với sỏi OMC ngay cả ở  
những đối tượng trẻ tuổi. Ngay cả trong những  
trường hợp sỏi OMC kết hợp với sỏi túi mật,  
nghiên cứu của Đỗ Trọng Hải và cộng sự cũng  
cho thấy chiến lược phối hợp NSMTND và phẫu  
thuật cắt túi mật nội soi (có thể tiến hành một thì  
hoặc hai thì) đều có thới gian nằm viện ngắn  
hơn so với chiến lược cắt túi mật nội soi và mở  
Có 6 (4,3%) trường hợp viêm tụy cấp trong  
đó 5 trường hợp nhẹ (cần kéo dài thời gian nằm  
viện thêm 2 – 3 ngày) và 1 trường hợp mức độ  
trung bình (kéo dài thời gian nằm viện thêm 6  
ngày). Cả 6 đều hồi phục sau khi hồi sức nội  
khoa và không cần can thiệp gì thêm (bảng 9).  
Bảng 9. Biến chứng của thủ thuật NSMTND lấy  
sỏi OMC  
(n = 139)  
Viêm tụy cấp (n = 139)  
Mức độ nhẹ  
n
6
5
1
0
0
%
4,3  
Mức độ vừa  
Mức độ nặng  
Xuất huyết (n = 128)  
Xuất huyết tiêu hóa có biểu hiện lâm sàng  
Chảy máu sau cắt cơ vòng cần chích cầm máu  
Chảy máu tự cầm sau cắt cơ vòng  
0,8  
1
24/128  
Nhiễm trùng đường mật  
Thủng  
0
0
0
0
BÀN LUẬN  
Trong nghiên cứu của chúng tôi có đến 1/3  
số bệnh nhân từ 80 tuổi trở lên. Phân bố giới tính  
của bệnh nhân cũng không có sự khác biệt gì với  
các nghiên cứu trước đây với phần lớn bệnh  
(4)  
OMC lấy sỏi hoặc mổ mở . Ngoài ra, xét về khía  
cạnh thẩm mỹ và mức độ đau sau khi lấy sỏi thì  
NSMTND cũng có nhiều ưu điểm vượt trội. Do  
đặc tính sỏi đường mật thường có khuynh  
hướng tái phát, NSMTND đặc biệt có ưu điểm  
trong các trường hợp này vì kỹ thuật khi thực  
hiện lại rất an toàn do cơ vòng mật đã được cắt,  
sỏi thường mềm và thao tác chính chỉ là kéo sỏi  
đơn giản bằng rọ hoặc bong bóng kèm với bơm  
rửa đường mật, bệnh nhân gần như không bị  
các biến chứng nguy hiểm như chảy máu do cắt  
cơ vòng và viêm tụy cấp gần như không có và  
chỉ cần theo dõi trong thời gian ngắn sau thủ  
(2,7,8)  
nhân là nữ.. . Các bệnh nội khoa phối hợp  
thường gặp nhất là tăng huyết áp, bệnh mạch  
vành và đái tháo đường.  
Về bệnh cảnh lâm sàng, có 21 (15,1%) bệnh  
nhân chỉ có triệu chứng đau thượng vị và 7 (5%)  
chỉ biểu hiện sốt và được phát hiện nhiễm trùng  
đường mật khi tìm ổ nhiễm. Điều này cho thấy  
cần lưu ý khi tiếp cận chẩn đoán nguyên nhân  
gây sốt và đau thượng vị ở người cao tuổi.  
Trong nghiên cứu cũng ghi nhận 1 trường hợp  
vào viện vì viêm túi mật cấp do sỏi được chỉ  
421  
Ngoại Tổng Quát  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
thủng khi cắt cơ vòng kéo sỏi). Chúng tôi chỉ có  
Nghiên cứu Y học  
thuật.  
1 trường hợp sỏi > 20mm và đường kính OMC  
không đủ rộng để bung rọ tán bắt sỏi. Tương tự,  
nghiên cứu của Trần Như Nguyên Phương cũng  
cho thấy chỉ có 1,2% trường hợp không lấy sỏi  
thành công liên quan đến kích thước sỏi: lấy sỏi  
đơn thuần bằng rọ đạt 85,2%, phối hợp tán sỏi  
giúp tăng tỉ lệ thành công lên thêm 13,6%. Theo  
Về đặc điểm của sỏi OMC trong nghiên cứu,  
so sánh về phân bố kích thước và số lượng sỏi  
OMC, chúng tôi ghi nhận không có sự khác biệt  
đáng kể vể đặc điểm của sỏi OMC ở nhóm bệnh  
nhân cao tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi so  
với các nghiên cứu tính chung trên dân số làm  
NSMTND lấy sỏi OMC theo y văn trong nước  
(5)  
(2,8)  
Hồ Đăng Quý Dũng , có 18,8% (128/682) trường  
trước đây . Trong nghiên cứu của chúng tôi,  
hợp không lấy sỏi được, trong đó nguyên nhân  
do kích thước sỏi > 20mm là nguyên nhân chính  
không lấy được sỏi, chiếm tỉ lệ 71,8%. Con số  
này khác biệt khá nhiều với nghiên cứu của  
chúng tôi và Trần Như Nguyên Phương và La  
kích thước sỏi được ghi nhận theo đường kính  
nhỏ hơn theo trục dọc của OMC vì liên quan  
đến chiến lược lấy sỏi: thông thường thì các sỏi  
có đường kính ≤10 mm có thể lấy bằng rọ  
Dormia hoặc bong bóng trong khi các sỏi có kích  
thước ≥ 15 mm cấn xem xét khả năng có thể phải  
thực hiện tán sỏi cơ học. Chiến lược lấy sỏi còn  
tùy thuộc rất nhiều vào đường kính của OMC  
đoạn dưới sỏi và giải phẫu của vùng nhú tá lớn  
(quyết định độ rộng của đường ra sau khi cắt  
(7,8)  
Văn Phương . Với các rọ tán tiêu chuẩn hiện  
tại thì các sỏi 20 – 35mm cũng có thể đưa vào rọ  
được và không gặp khó khăn. Điểm khác biệt  
giữa các nghiên cứu là phương pháp vô cảm sử  
dụng trong nghiên cứu của Trần Như Nguyên  
Phương và nghiên cứu của chúng tôi là mê nội  
khí quản trong khi nhóm bệnh nhân trong  
nghiên cứu của Hồ Đăng Quý Dũng chủ yếu là  
được tiền mê. Mặc dù xu hướng nói chung của  
thế giới là hướng đến phương pháp mê tĩnh  
mạch bằng propofol, các trường hợp sỏi khó cần  
sử dụng đến tán sỏi thì thời gian thủ thuật  
thường kéo dài hơn do các công đoạn thao tác  
tán sỏi, kéo mảnh sỏi, bơm rửa làm sạch đường  
mật mà nhiều khi cần lặp lại nhiều lần nếu đồng  
thời có nhiều sỏi to. Do đó, việc vô cảm tốt giúp  
bệnh nhân nằm thoải mái yên tạo tâm lý thoải  
mái để thủ thuật NSMTND được thực hiện  
thành công. Đặc biệt ở đối tượng người cao tuổi,  
chúng tôi cho rằng phương pháp vô cảm này lại  
đặc biệt ưu thế do giúp chủ động kiểm soát  
được tình trạng bệnh nhân trong các trường hợp  
khó. Trong nhóm bệnh nhân của chúng tôi  
không ghi nhận tai biến nặng liên quan đến gây  
mê nội khí quản. Biến chứng thường gặp nhất  
liên quan đến thủ thuật là viêm tụy cấp với tỉ lệ  
tương tự với phần lớn các nghiên cứu trong  
nước khác và đa số ở mức độ nhẹ (bảng 10). Mặc  
dù tỉ lệ túi thừa tá tràng D2 trong nghiên cứu là  
40,2%, tỉ lệ tai biến chảy máu trong nghiên cứu  
của chúng tôi cũng ở mức thấp và không ghi  
(8)  
rộng tối đa cơ vòng mật) . Một điểm cần thận  
trọng nữa là không ít trường hợp kết quả siêu  
âm trước thủ thuật ghi nhận có sỏi OMC với  
kich thước nhỏ nhưng khi chụp đường mật qua  
NSMTND có thể ghi nhận sỏi cây với kích thước  
rất lớn. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 7,1%  
(10/139) trường hợp có sỏi đường kính 11 – 20  
mm cần tán sỏi, đặc biệt có 1 trường hợp sỏi  
15mm nhưng đoạn dưới OMC hẹp tương đối bị  
kẹt rọ phải tán cấp cứu. Tỉ lệ cần tán sỏi tính  
chung chiếm ¼ số trường hợp lấy sỏi thành  
công. Điều này cho thấy việc chuẩn bị dụng cụ  
tán sỏi cơ học và cấp cứu sẽ quyết định khả năng  
lấy sỏi thành công, do đó các dụng cụ này nên  
được chuẩn bị sẵn khi thực hiện NSMTND lấy  
sỏi ở bệnh nhân cao tuổi.  
Về khả năng lấy sỏi thành công, kết quả  
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ đạt được  
là 92,1%. Nguyên nhân chính của các trường  
hợp không thể lấy sỏi liên quan đến giải phẫu  
của tá tràng và nhú Vater không phù hợp để  
thực hiện lấy sỏi qua NSMTND (sẹo hẹp tá  
tràng, biến dạng tá tràng sau phẫu thuật, nhú  
Vater nằm ở vị trí bất thường không tìm thấy  
hoặc nằm trong túi thừa to dễ có biến chứng  
422  
Chuyên Đề Ngoại Khoa  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  
Nghiên cứu Y học  
nhận trường hợp nào bị tai biến thủng. Một số  
trung tâm trong nước ghi nhận tỉ lệ biến chứng  
chảy máu và thủng cao hơn các trung tâm khác.  
Vai trò của máy cắt đốt và chế độ điện sử dụng  
có lẽ đóng góp một phần quan trọng trong việc  
tạo ra sự khác biệt này, tuy nhiên điều này gần  
như chưa từng được đề cập trong các nghiên  
cứu trong nước trước đây. Một nghiên cứu đa  
trung tâm ở trong nước về vấn đề này là rất cần  
thiết nhằm nhận ra các yếu tố nguy cơ và làm  
giảm hơn nữa tỉ lệ biến chứng của NSMTND.  
Bảng 10: Tỉ lệ biến chứng của NSMTND trong các nghiên cứu trong nước  
Viêm tụy cấp  
Nhiễm trùng  
Chảy máu  
Biến chứng do vô cảm Thủng  
Hồ Đăng Quý Dũng(5)  
Trân Như Nguyên Phương(8)  
La Văn Phương(7)  
Đào Xuân Cường(2)  
Hồ Văn Hân (6)  
4,4%  
3,4%  
0
0,8%  
2,3%  
0
0,5%  
2%  
0
0,2%  
0,4%  
4%  
0
6,9%  
4%  
0
-
1,5%  
0%  
0
0,8%  
-
6%  
4,3%  
1,5%  
0
1,5%  
0
Chúng tôi  
0,8%  
0
(2009). Nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả các phương  
pháp điều trị sỏi ống mật chủ kèm sỏi túi mật. Y Học TP. Hồ  
Chì Minh, tập 13, phụ bản của số 1 (chuyên đề Ngoại khoa):  
51 – 58.  
Hồ Đăng Quý Dũng, Phạm Hữu Tùng, Trần Đình Trí và cs  
(2012). Đánh giá tình hình nội soi chụp mật tụy ngược dòng  
tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2011. Y học Thực hành, 832 + 833:  
34 – 40.  
Hồ Văn Hân, Trần Duy Bình, Nguyễn Văn Hải (2010). Can  
thiệp điều trị qua nội soi mật tụy ngược dòng. Y Học TP. Hồ  
Chí Minh, tập 14, phụ bản của số 4 (Hội nghị Phẫu Thuật Nội  
soi BV. Nhân Dân Gia Định): 67 – 73.  
La Văn Phương và cộng sự (2012). Đánh giá kết quả nội soi  
mật‐tụy ngược dòng trong điều trị sỏi ống mật chủ tại bệnh  
viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Y học Thực hành, 832 +  
833: 50 – 56.  
KẾT LUẬN  
NSMTND là một phương pháp an toàn và  
hữu hiệu trong điều trị sỏi OMC ở bệnh nhân  
cao tuổi. Việc thực hiện vô cảm bằng phương  
pháp mê nội khí quản không làm tăng thêm  
nguy cơ biến chứng do vô cảm, nhưng cho thấy  
giúp làm tăng tỉ lệ lấy sỏi thành công, đặc biệt là  
sỏi ≥ 2cm, so với phương pháp tiền mê được sử  
dụng trong các nghiên cứu trong nước trước  
đây. Cần có thêm các thử nghiệm lâm sàng ngẫu  
nhiên có nhóm đối chứng để chứng minh.  
5.  
6.  
7.  
8.  
9.  
Ng E, Chung S (2005). Common bile duct stones and  
cholangitis. In: Cotton P, Leung J (eds). Advanced digestive  
Lời cám ơn: Chúng tôi xin cám ơn sự hỗ trợ của Bệnh Viện Đại  
Học Y Dược để hoàn thành công trình nghiên cứu này.  
st  
endoscopy: ERCP. 1 edition, pp 88 – 119. Blackwell and  
Wiley.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Trần Như Nguyên Phương, Hồ Ngọc Sang, Lê Phước Anh,  
Nguyễn Văn Duy (2012). Điều trị sỏi ống mật chủ bằng nội  
soi mật tụy ngược dòng tại BVTW Huế từ 5/2005 đến 5/2012.  
Y học Thực hành, 832 + 833: 41 – 49.  
1.  
2.  
Cotton P, Lehman G, Vennes J et al (1991). Endoscopic  
sphincterotomy complications and their management: an  
attempt at consensus. Gastrointest endosc; 37: 383 – 393.  
Đào Xuân Cường và cs (2012). Ứng dụng kỹ thuật soi mật –  
tụy ngược dòng để điều trị sỏi ống mật chủ và ống gan chung  
tại bệnh viện Đa khoa Kiên Giang. Y học Thực hành, 832 +  
833: 62 – 67.  
Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2013  
Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014  
3.  
4.  
Đỗ Đình Công, Võ Duy Long (2005). Nhận xét về viêm tụy  
cấp sau nội soi mật tụy ngược dòng. Y Học TP. Hồ Chí Minh,  
tập 9, phụ bản của số 1: 33 – 37.  
Đỗ Trọng Hải, Nguyễn Hoàng Bắc, Nguyễn Thúy Oanh và cs  
423  
Ngoại Tổng Quát  
pdf 6 trang yennguyen 14680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của nội soi mật tụy ngược dòng với gây mê nội khí quản trong điều trị sỏi ống mật chủ ở người cao tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_noi_soi_mat_tuy_nguoc_dong_voi_gay_me_noi_khi_q.pdf