Nhân vật Nguyễn Du từ thơ đến tiểu thuyết

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 11, Số 2, 2021 190-204  
NHÂN VẬT NGUYỄN DU TỪ THƠ ĐẾN TIỂU THUYẾT  
Nguyễn Thị Thẩm Mỹa*  
aKhoa Quốc tế học, Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
Lịch sử bài báo  
Nhận ngày 02 tháng 12 năm 2020 | Chấp nhận đăng ngày 06 tháng 01 năm 2021  
Xuất bản trực tuyến ngày 16 tháng 4 năm 2021  
Tóm tắt  
Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du và cuốn tiểu thuyết  
“Nguyễn Du” của nhà văn Nguyễn Thế Quang, trong phạm vi bài viết này tác giả bài báo  
tập trung làm sáng tỏ những điểm đồng nhất và khác biệt giữa nhân vật Nguyễn Du trong  
thơ và trong tiểu thuyết. Từ những điểm khác biệt ấy để thấy được những cách tân, sáng tạo  
và những đóng góp của nhà văn Nguyễn Thế Quang trong quá trình xây dựng nhân vật lịch  
sử Nguyễn Du và tiến trình vận động của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam, nhất là với tiểu loại  
tiểu thuyết lịch sử.  
Từ khóa: Cách tân; Đồng nhất; Khác biệt; Nguyễn Du; Nguyễn Thế Quang; Tiểu thuyết  
Nguyễn Du; Thơ chữ Hán.  
Loại bài báo: Bài báo nghiên cứu gốc có bình duyệt  
Bản quyền © 2021 (Các) Tác giả.  
Cấp phép: Bài báo này được cấp phép theo CC BY-NC 4.0  
190  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
THE CHARACTER NGUYEN DU FROM POETRY TO NOVELS  
Nguyen Thi Tham Mya*  
aThe Faculty of International Studies, Dalat University, Lam Dong, Vietnam  
*Corresponding author: Email: [email protected]  
Article history  
Received: December 2nd, 2020 | Accepted: January 6th, 2021  
Available online: April 16th, 2021  
Abstract  
On the basis of learning and analyzing Chinese poems by Nguyen Du and the novel about  
this great poet by Nguyen The Quang, the author of this article ventures to clarify the  
similarities and differences of the character Nguyen Du between poetry and the  
aforementioned novel. Such differences can shed light on the innovations, creativity, and  
contributions of Nguyen The Quang in the process of establishing the historical character of  
Nguyen Du and the dynamics of modern Vietnamese novels, especially in the subcategory of  
historical novels.  
Keywords: Chinese poetry; Difference; Innovation; Nguyen The Quang; Nguyen Du;  
Nguyen Du (novel); Similarity.  
Article type: (peer-reviewed) Full-length research article  
Copyright © 2021 The author(s).  
Licensing: This article is licensed under a CC BY-NC 4.0  
191  
Nguyễn Thị Thẩm Mỹ  
1.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tiểu thuyết Nguyễn Du của Nguyễn Thế Quang được xem là cuốn tiểu thuyết đầu  
tiên viết về nhân vật lịch sử Nguyễn Du. Vì thế, trước khi biết đến Nguyễn Du là một  
nhân vật văn học thì bạn đọc còn biết đến ông với tư cách là một con người có thật trong  
lịch sử dân tộc Việt Nam. Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh năm  
Ất Dậu (1765), niên hiệu Cảnh Hưng triều vua Lê Hiển Tông, tại làng Tiên Điền, huyện  
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình quý tộc và có truyền thống khoa cử lâu đời  
– họ Nguyễn Tiên Điền. Hơn thế nữa, tên tuꢀi của Nguyễn Du cꢁn gꢂn liền với tác phẩm  
Truyện Kiꢀu – một kiệt tác bất hủ trong nền văn học Việt Nam và hàng trăm bài thơ chữ  
Hán, chữ Nôm khác. Trong đó, thơ chữ Hán có một vị trí quan trọng trong cuộc đời và sự  
nghiệp văn chương của Nguyễn Du, bởi nó vừa được xem là “nhật ký tâm trạng”, vừa là  
“nhật ký hành trình” ghi chép lại những cảnh huống mà nhà thơ đã bꢂt gặp, đã chứng  
kiến, trải nghiệm qua những vùng miền khác nhau xuyên suốt cuộc đời mình. Vì thế, thơ  
chữ Hán của Nguyễn Du vừa có giá trị về nghệ thuật, vừa có giá trị về lịch sử cuộc đời  
của chính tác giả. Học giả Mai Quốc Liên đã từng nhận xét: "Thơ chữ Hán Nguyễn Du là  
những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa.  
Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng  
độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa" (Nhiều tác giả, 2000, tr. 68). Cũng bởi  
cảm tài năng và đức độ ấy, tác giả Nguyễn Thế Quang đã chọn Nguyễn Du làm hình  
tượng nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết cùng tên của mình. Tiểu thuyết Nguyễn Du  
được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2010, ngay từ tiêu đề của cuốn tiểu thuyết đã cho  
chꢃng ta thấy Nguyễn Thế Quang tập trung khꢂc họa nhân vật Nguyễn Du – một nhân  
vật lịch sử của dân tộc. Tác giả đã kế thừa lối viết truyền thống tôn trọng lịch sử, trên cơ  
sở những sự kiện, chi tiết, nhân vật kết hợp với vốn văn hóa, vốn sống của mình để hư  
cấu và xây dựng lại chân dung Nguyễn Du – Đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế  
giới. Sau khi nghiên cứu, khảo sát nhân vật Nguyễn Du thông qua cứ liệu lịch sử, các bài  
thơ chữ Hán và nhân vật Nguyễn Du trong tiểu thuyết Nguyễn Du của nhà văn Nguyễn  
Thế Quang, có thể rút ra một số nét tiêu biểu về nhân vật này.  
2.  
SỰ NHẤT QUÁN VỀ TÍNH CÁCH NGUYỄN DU TRONG THƠ CHỮ HÁN  
VỚI NHÂN VẬT NGUYỄN DU TRONG TIỂU THUYẾT CÙNG TÊN CỦA NHÀ  
VĂN NGUYỄN THẾ QUANG  
2.1.  
Nhꢀng trăn trꢁ của Nguyễn Du trưꢂc thực tại cuộc sống  
Dù là một Nguyễn Du trong thơ hay là một nhân vật Nguyễn Du trong tiểu thuyết  
chꢃng ta đều thấy được những suy tư, trăn trở của ông trước cuộc đời và số phận của  
những con người trong xã hội, nhất là những người nhỏ bé, bất hạnh với một nỗi lòng  
nặng trĩu. Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc đã từng nhận xét: “Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn  
Du, một ấn tượng sâu sꢂc để lại cho người đọc là nhà thơ rất buồn. Lꢃc nào cũng buồn.  
Có lý do để buồn đã đành, nhiều khi vô cớ, không đâu ông vẫn cứ buồn như vậy. Buồn  
thương như một tiếng đàn réo rꢂt, não nuột vang lên trong hầu khꢂp các thi phẩm của  
ông” (Nguyễn, 1999, tr. 304), và GS. Lê Đình Kỵ cũng đã từng cꢂt nghĩa: “Tâm trạng sầu  
muộn, u uẩn của Nguyễn Du là của kẻ mang nặng nợ đời và khꢀ đau vì đời. Nguyễn Du  
không có cái cốt tướng của kẻ hành đạo, tu tiên” (Lê, 1992, tr. 22). Chꢃng ta thấy rằng,  
192  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
với một người đa sầu, đa cảm và sự nhạy cảm trong tâm hồn của một thi nhân lại phải  
sống, phải chứng kiến bao đꢀi thay dâu bể trong xã hội thì tâm trạng này cũng rất dễ hiểu.  
Vì thế, trong các tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du chúng ta bꢂt gặp các bài thơ như: Sở  
kiến hành, Trở binh hành, Thái Bình mại ca giả, Long Thành cầm giả ca, Độc Tiểu Thanh  
ký… gꢂn với hình ảnh ông già mù, mẹ con người ăn xin, hay số phận lênh đênh, bất hạnh  
của hai nàng ca kỹ nàng Cầm và nàng Tiểu Thanh, qua đó nhà thơ khái quát lên thân phận  
những kiếp người nhỏ bé trong cõi nhân sinh và ký thác vào đó những suy tư, trăn trở về  
cuộc đời. Trong tiểu thuyết Nguyễn Du của tác giả Nguyễn Thế Quang người đọc cũng  
bꢂt gặp tâm trạng buồn, cô đơn xâm chiếm trọn cuộc đời nhân vật Nguyễn Du. Nỗi buồn  
thương ấy không chỉ dừng lại ở số phận cuộc đời Nguyễn Du mà đó cꢁn là nỗi niềm chất  
chứa trước biết bao số phận hẩm hiu, bất hạnh của những con người thiện lương, nghèo  
khó trong xã hội. Trước hết, Nguyễn Du thương xót cho thân phận của Uyên – cô cháu  
gái cưng, hꢁn ngọc quý của cả gia tộc, là con gái của người anh Nguyễn Trừ phải tiến  
cung. Đó cꢁn là Xuân Hương – một người tình, người bạn tri kỉ của Nguyễn Du. Nàng là  
một người phụ nữ tài sꢂc vẹn toàn nhưng đầy bất hạnh, bao nhiêu lần xuất giá thì bấy  
nhiêu lần phải chịu sự khꢀ cực. Đó cꢁn là nàng Cầm – người ca kỹ nꢀi tiếng tài sꢂc một  
thời nay chỉ cꢁn là dĩ vãng… Tất cả đã khiến Nguyễn Du không khỏi bùi ngùi, xꢃc động:  
“Ra Thăng Long, gặp lại cô Cầm tiều tụy, sang Trung Hoa gặp lão mù hát rong khốn khꢀ,  
thấy người mẹ bốn con sꢂp chết đói, đâu đâu trên trái đất này vẫn còn nhiều người khꢀ,  
mà phụ nữ càng khꢀ” (Nguyễn, 2012, tr. 244). Lời của Nguyễn Du như một sự khái quát  
về cuộc sống cơ cực, buồn tủi của một lớp người bị xã hội phong kiến khinh rẻ, nhất là  
với người phụ nữ thì nỗi đau ấy càng đau đớn hơn.  
Mặt khác, Nguyễn Du trong thơ cũng như trong tiểu thuyết không những dành  
tình cảm, sự xót thương cho thân phận những người nông dân nghèo khꢀ, những người  
phụ nữ xinh đẹp, bất hạnh mà còn gửi gꢂm tình yêu thương, kính trọng và cảm phục trước  
những người anh hùng tài năng, lỡ vận và chịu nhiều oan khuất trên đất nước Việt như:  
Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Ngô Nhân Tĩnh, Vũ Trinh, Nguyễn Văn Thành, Đặng  
Trần Thường… Họ là những con người tài năng, chí khí, văn võ song toàn, một lòng  
trung thành với triều đình mà mình phụng sự, song họ vì những nguyên nhân khác nhau  
mà phải chịu những cái chết oan khiên, uất hận. Từ số phận của các nhân vật này đã góp  
phần khꢂc họa một cách chân thực và sống động về xã hội phong kiến Việt Nam đương  
thời dưới sự cai trị của vua Gia Long. Không chỉ dừng lại ở việc ngợi ca, xót thương  
những con người tài danh, lỡ vận, Nguyễn Du với sự từng trải của một con người có tấm  
lꢁng yêu thương nhân loại còn tỏ lꢁng thương xót trước những vị anh hùng trác tuyệt  
trong sử sách Trung Hoa. Đó là một Hàn Tín có nhiều công lao nhưng bị Hán Cao Tꢀ  
nghi oan, giáng chức; một Bùi Tấn Công có công trạng lớn cho đất nước nhưng bị hoạn  
quan dèm pha phải cáo quan về quê làm thường dân; một Tống Nhạc Phi, một Kinh Kha,  
một Khuất Nguyên khí phách, anh dũng để lại tiếng thơm đến muôn đời sau. Tất cả đã  
góp phần thể hiện tư tưởng, tình cảm của thi nhân Nguyễn Du và nhân vật Nguyễn Du  
trước những số phận bất hạnh của cuộc đời.  
2.2.  
Nguyễn Du vꢂi nỗi thất vọng chốn quan trường  
Theo dòng lịch sử, Nguyễn Du vốn xuất thân từ gia đình dꢁng dõi quý tộc có bảy  
đời làm quan. Dù làm quan cho triều đại nào, con cháu họ Nguyễn Tiên Điền cũng trở  
193  
Nguyễn Thị Thẩm Mỹ  
thành rường cột của triều đình và luôn được nhân dân kính trọng, yêu mến. Thế nhưng,  
cuộc đời không phải lꢃc nào cũng là một con đường thẳng, chưa đầy mười tuꢀi Nguyễn  
Du đã liên tiếp phải chứng kiến những cơn gia biến. Từ một cậu ấm con quan tể tướng,  
Nguyễn Du nay trở thành một đứa trẻ mồ côi, lênh đênh phiêu bạt khꢂp nơi trong cảnh ăn  
nhờ ở đậu. Song, với tư chất thông minh, tài trí Nguyễn Du cũng tự trang bị cho mình đủ  
hành trang để bước vào chốn quan trường vốn không phải là niềm mơ ước của ông.  
Sau nhiều lần từ chối ra làm quan cho triều Nguyễn Tây Sơn rồi triều Nguyễn Gia  
Long thì đến năm 1802, Nguyễn Du cũng chịu ra làm quan. Dù không muốn nhưng ông  
cũng được giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình, thế nhưng trong hầu khꢂp các  
bài thơ người đọc luôn cảm nhận được sự day dứt, ân hận và giằng xé nội tâm trong nhiều  
khối mâu thuẫn lớn của thi nhân. Với ông, quan trường cũng chỉ là chốn ảo mộng, lợi  
danh chốn quan trường vì thế cũng chỉ là sự hư ảo nay có mai không, không thể trường  
tồn với thời gian. Điều này được Nguyễn Du thể hiện rõ trong các câu thơ sau:  
Dạ tú vinh hoa thân ngoại huyễn  
Triêu vân danh lợi nhãn tiꢀn phi  
(Đại tác cửu thú tư qui)  
Nguyễn Du đã đi đến một khái quát hóa cao độ về xã hội phong kiến qua những  
câu thơ nꢀi tiếng trong bài Phản chiêu hồn:  
Bất lộ trảo nha dữ giác độc  
Giảo tước nhân nhục cam như di  
Chỉ với hai câu thơ ấy thực trạng về vua chúa và quan lại đương thời đã được hiện  
lên một cách rõ nét. Đó là sự vênh váo, hống hách với kẻ dưới, xu nịnh bợ đỡ với quan  
trên và sự gièm pha, gian dối, lật lọng đối với tất cả mọi người, đến cuối cùng là việc  
“nhai thịt người ngọt xớt như đường”. Khi đưa ra quyết định làm quan cho triều vua Gia  
Long, Nguyễn Du những tưởng nhập thế sẽ làm nên sự nghiệp, giꢃp ích cho đời nhưng  
rồi ông chợt nhận ra mình cũng chỉ là kẻ bị trói buộc bởi cơm áo gạo tiền. Điều đau xót  
nhất với Nguyễn Du là khi bước chân vào chốn quan trường cũng là khi hoài bão, ước  
mơ dần nguội tꢂt. Nhưng chính trong khoảng thời gian này, nhà thơ Nguyễn Du bꢂt đầu  
có những nhận thức sâu sꢂc về bản chất xã hội đương thời, đó không phải là nơi sống của  
những con người có hùng tâm, tráng chí. Vì thế một nỗi buồn, thất vọng bao phủ lấy tâm  
hồn ông song lại không có cách nào thoát ra được nên càng khiến ông day dứt khôn nguôi.  
Cùng với tâm trạng của thi nhân Nguyễn Du bộc bạch trong thơ, trong tiểu thuyết  
chꢃng ta cũng thấy được sự làm quan của nhân vật Nguyễn Du chẳng qua là một sự  
“cưỡng ép”, đặt ông vào tình thế đã rồi của quan quân triều Nguyễn Gia Long. Nguyễn  
Du làm quan chỉ vì sự tiến cử của Đặng Trần Thường chứ thực ra trong lòng ông có sự  
nguội lạnh về công danh, không màng bꢀng lộc. Ra làm quan với một tâm lí bị gượng ép  
nên Nguyễn Du luôn cảm thấy buồn bã, chán nản. Thêm vào đó, càng đi sâu vào chốn  
quan trường Nguyễn Du càng hiểu hơn về bản chất của nó, vẻ bề ngoài thì hào hoa, bóng  
bẩy còn bên trong thì ngày càng mục ruỗng, thối rữa. Trong thế giới ấy chỉ có tiền là trên  
194  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
hết, tiền có thể chi phối được tất cả, tiền có thể đꢀi trꢂng thành đen, chuyển bại thành  
thꢂng và thậm chí cꢁn được dùng để mua quan bán tước nữa. Thế nên Nguyễn Du phải  
cay đꢂng thốt lên “Ôi! Con đường quyền lực, con đường danh lợi làm cho con người càng  
bị tha hóa. Lại thêm một kẻ sĩ bán linh hồn cho quỷ dữ, làm nô lệ của danh vọng và tiền  
tài” (Nguyễn, 2012, tr. 217). Chính vì lẽ đó mà trong con mꢂt Nguyễn Du các quan phụ  
mẫu của dân, những cánh tay đꢂc lực của Hoàng thượng chỉ rặt một phường cơ hội, vô  
đạo, mất nhân tính. Điều này đã chi phối và xuyên suốt nội dung cuốn tiểu thuyết Nguyễn  
Du.  
2.3.  
Nguyễn Du vꢂi cuộc sống ẩn dật và khát vọng tự do  
Trong cuộc đời làm quan, ngoài những lúc bận bịu với cuộc sống thường nhật,  
Nguyễn Du vẫn luôn dành lấy những thời gian rảnh rỗi để được ngao du thiên hạ, được  
đi đây đi đó để ngꢂm trọn vẹn những khoảnh khꢂc đẹp nhất của con người và thiên nhiên  
mang lại. Đó không chỉ là một thú vui mà còn là cả một niềm đam mê. Với ông, chính  
những thời khꢂc thư giãn hiếm hoi này mới thực sự là mình, mới được làm những điều  
mình muốn để thoát khỏi mọi đam mê tục lụy của cuộc đời, được thảnh thơi suy ngẫm về  
thế thái nhân tình. Điều này xuất phát từ thực tế cuộc đời:  
Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp  
Tất cánh phiêu linh hà xứ quy?  
(Tự thán)  
Sự bơ vơ, lạc lõng đã làm cho nhà thơ cảm thấy bế tꢂc, cùng quẫn, nên có lúc  
Nguyễn Du dường như đã buông xuôi, muốn vứt bỏ tất cả để lánh đời, lánh người. Thế  
nhưng, dù ông có cố gꢂng đi đâu, làm gì thì vẫn không giải tỏa được những vướng bận  
trong tâm hồn. Vì không thể thôi vương vấn, dứt khoát, đoạn tuyệt với cuộc đời ngoài kia  
nên dù có đang sống cuộc sống ẩn mình thì ông vẫn thấy buồn, thấy day dứt:  
Hắc dạ thiꢀu quang hà xử tầm?  
Tiểu song khai xứ liễu âm âm.  
(Xuân dạ)  
Đây là một nghịch cảnh, bởi lẽ Nguyễn Du là con người hành đạo, luôn mong  
muốn làm được những việc tốt, có ích để giꢃp đời, giꢃp người bớt đi sự khꢀ đau, đày ải  
thế mà nay lại phải tìm đến tư tưởng của Lão Trang để ở ẩn, tránh xa nhân thế: “Ước gì  
có thể gọt tóc vào rừng ở/ Nằm nghe tiếng thông reo lưng chừng mây” (Tự thán). Thậm  
chí sau này khi đã ra làm quan nhưng vì cảm thấy sự bất lực của chính mình, không thể  
làm những điều mà bản thân mong muốn để giꢃp ích cho đời thì sự làm quan ấy càng trở  
nên bế tꢂc, tuyệt vọng. Vì thế, dường như trong suốt cuộc đời nhà thơ đã phải vùng vẫy  
trong cái mớ bꢁng bong tư tưởng: “Nhất sinh u tứ vị tằng khai” (Thu chí).  
Và trong tiểu thuyết, nhà văn Nguyễn Thế Quang cũng để cho nhân vật Nguyễn  
Du quyết tâm từ quan về quê để được hưởng vui thꢃ điền viên, để được là một thành viên  
của phường đi săn Ngàn Hống như thuở nào. Có thể nói, khoảng thời gian cáo quan về  
195  
Nguyễn Thị Thẩm Mỹ  
Tiên Điền của Nguyễn Du tuy không dài, song đã để lại nhiều kí ức đẹp trong suốt cuộc  
đời ông. Sau bao thăng trầm của cuộc sống, Nguyễn lại được về quê hương đi thăm thꢃ  
nhiều nơi, thưởng thức cuộc sống dân dã chốn thôn quê. Ở đó, Nguyễn có những người  
vợ tần tảo, thảo hiền với một đàn con thơ ngoan ngoãn, biết vâng lời cùng tình cảm của  
những người anh em, con cháu thân thuộc và đầm ấm trong những buꢀi đàm đạo thơ văn  
mà trước đây dù trong mơ ông cũng không dám nghĩ tới. Ở đây, Nguyễn cꢁn được ngao  
du, thưởng thức cảnh đẹp như một bức tranh của quê nhà: “…mặt hồ trong trẻo. Mặt trời  
chếch về phía Tây, phía bên kia hồ bóng núi làm cho mặt hồ trong như gương, phía bên  
này gió nhẹ lăn tăn bóng vàng. Thời tiết tốt, non sông quê nhà như gấm như hoa…”  
(Nguyễn, 2012, tr. 62). Tác giả Nguyễn Thế Quang đã rất tài tình khi mượn hình ảnh để  
nói lên tâm trạng của nhân vật. Cảnh sꢂc thiên nhiên hiện lên một cách đẹp đẽ thế đấy,  
nhưng cái bóng của vạn vật lại đẹp hơn cái nó vốn có, cái ảo đẹp hơn cái thực rất nhiều  
nên với Nguyễn Du cái tự do mà ông đã nhọc công tìm kiếm cả cuộc đời lꢃc này đây cũng  
chỉ là một thứ ảo ảnh mà thôi. Bởi lẽ, sau những tháng ngày ngꢂn ngủi ở quê được gia  
đình, bạn bè thết đãi, Nguyễn phải trở về với hiện thực cơm áo cùng đàn con nheo nhóc  
đói rách, trong khi mình chỉ là: “Một thằng đàn ông vô tích sự làm quan chẳng làm, làm  
thầy cũng chẳng làm, làm thợ chẳng biết làm, đi cày cũng cày không nên” (Nguyễn, 2012,  
tr. 57). Và hơn hết, lꢃc này đây vùng đất Tiên Sơn mơ ước đã không cꢁn nữa càng làm  
cho Nguyễn Du luôn phải giật mình, thảng thốt, luôn lo âu, trăn trở về con đường mà  
mình đã chọn: “Mình làm gì thế này nhỉ? Đi tìm tự do. Tự do có còn? Tự do có đưa lại  
cơm áo cho mình” (Nguyễn, 2012, tr. 57). Cuối cùng, ông phải chấp nhận trở về với một  
sự thật nghiệt ngã: “Ta phải cꢁng lưng, ngậm miệng vì chuyện áo cơm và cả khát vọng  
của ta. Ta chỉ có thể tự do trong suy nghĩ và cũng chỉ trong suy nghĩ, không dám ngỏ  
cùng ai” (Nguyễn, 2012, tr. 162). Cứ thế, tự do trong suy nghĩ như một liệu pháp tinh  
thần giúp Nguyễn Du vượt qua những thăng trầm, biến cố trong cuộc đời làm quan của  
mình. Nó là chỗ dựa tinh thần duy nhất giꢃp ông vượt qua mọi khó khăn gian khꢀ, với hi  
vọng sẽ tìm ra được tự do cho mình và tự do cho người khác. Dẫu biết rằng đó chỉ là  
một ảo tưởng mà cho đến khi qua đời Nguyễn cũng không thể tìm thấy và cảm nhận về  
nó được.  
Như vậy, dù là với tư cách chủ thể sáng tạo hay với tư cách là một nhân vật văn  
học thì Nguyễn Du vẫn hiện lên là một con người có tấm lꢁng nhân đạo cao cả, luôn suy  
tư trăn trở trước số phận của những người nhỏ bé bất hạnh. Họ là những người nông dân  
hiền lành chất phác, người phụ nữ mỏng manh yếu đuối và ngay cả những người anh hùng  
“tài cao phận thấp” để cuối cùng đều nhận những kết cục bi thương. Dẫu biết thế là khꢀ  
đau, ngang trái mà cuộc đời đã bꢂt họ phải gánh chịu, song Nguyễn Du cũng đành chịu  
bó tay bất lực. Nguyễn hiểu được tình cảnh thực sự của mình lꢃc này cũng không khác gì  
lớp người đau khꢀ kia. Hơn nữa, họ không chỉ là lớp người đại diện cho người dân nước  
Việt phải chịu cảnh oan khiên, ngang trái, ngay cả đất nước Trung Hoa hàng nghìn năm  
văn hiến cũng tồn tại đầy rẫy những nỗi bất công, cơ cực, khiến bao nhiêu người anh hùng  
phải thất cơ lỡ vận, với những cái chết oan ức đến hàng trăm năm sau cꢁn chưa được gột  
rửa. Bởi thế, dù khát khao tự do, tìm kiếm tự do thì Nguyễn Du cũng luôn chấp nhận  
một thực tại không có tự do trong cái xã hội đầy rẫy bất công nhưng đó lại chính là liệu  
pháp tinh thần hữu hiệu giúp nhân vật của chꢃng ta vượt qua tất cả bể trầm luân của  
cuộc đời.  
196  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Bảng 1. Sự thống nhất của Nguyễn Du trong thơ và trong tiểu thuyết  
STT  
1
Nguyễn Du trong tiểu thuyết  
Nguyễn Du qua thơ chữ Hán  
Nguyễn Du với những trăn trở trước thực tại cuộc sống  
- Thái Bình mại ca giả  
- Sở Kiến hành  
- Độc tiểu thanh ký  
- Long thành cầm giả ca  
- Giang đình hữu cảm  
- Nam quan đạo trung  
- Quế Lâm Cù Các bộ  
- Dương phi cố lý  
- Lỗi dương đỗ thiếu lăng mộ  
- Lạn Tương Như cố lý  
- Liêm Pha bi…  
2
Nguyễn Du với nỗi thất vọng chốn quan trường  
- Đại tác cửu thú tư qui  
- Độ Linh giang  
- Thành hạ khí mã  
- Ngẫu thư công quán bích  
- Kỳ lân mộ  
- Ngẫu thư công quán bích  
- Đại tác cửu thú tư qui  
- Phản chiêu hồn  
3
Nguyễn Du với cuộc sống ẩn dật và khát vọng tự do  
- Tự thán  
- Xuân dạ  
- Thu chí  
- Tặng nhân  
- Tái thứ nguyên vận  
- Dạ tọa…  
3.  
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU VÀO TIỂU  
THUYẾT CÙNG TÊN CỦA NGUYỄN THẾ QUANG  
Như ở phần trên đã trình bày, nhân vật Nguyễn Du trong tiểu thuyết cùng tên của  
nhà văn Nguyễn Thế Quang đã chịu nhiều ảnh hưởng từ các tập thơ chữ Hán của chính  
tác giả Nguyễn Du nên người đọc thấy được thi nhân trong thơ và nhân vật trong tiểu  
thuyết có nhiều điểm tương đồng. Điều này không có gì khó hiểu, bởi lẽ Nguyễn Thế  
Quang trước khi là một nhà văn, nhà tiểu thuyết đã là một nhà giáo dạy văn ở trường phꢀ  
thông. Với hơn ba mươi năm kinh nghiệm trong nghề giáo, ông được đọc, được nghiên  
cứu, được tiếp xúc với nhiều tài liệu lịch sử, nhiều tác phẩm văn học và nhất là các tập  
thơ chữ Hán của chính Nguyễn Du sáng tác nên đã thấm nhuần tư tưởng, nhân cách của  
đại thi hào. Mặt khác, với bất kỳ nhà văn nào khi lựa chọn nhân vật lịch sử làm nhân vật  
văn học thì chí ít cũng phải dựa trên những đặc điểm chính về cuộc đời, sự nghiệp của  
nhân vật lịch sử ấy. Bởi vậy, khi nhà văn Nguyễn Thế Quang xây dựng nhân vật Nguyễn  
197  
Nguyễn Thị Thẩm Mỹ  
Du đã có những ảnh hưởng nhất định từ các bài thơ chữ Hán, các tài liệu lịch sử liên quan  
đến Nguyễn Du. Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thế Quang không bê nguyên xi hình tượng  
nhà thơ Nguyễn Du vào trong tiểu thuyết mà đã có sự sáng tạo và vận dụng một cách  
khéo léo các bài thơ chữ Hán để làm nꢀi bật đời sống nội tâm, tính cách của nhân vật  
chính trong suốt quãng thời gian ra làm quan cho triều Nguyễn Gia Long. Tác giả vận  
dụng, đưa các bài thơ ấy vào trong tiểu thuyết với nhiều cách khác nhau, đó có thể chỉ là  
mượn ý hoặc một câu thơ, vài câu thơ, cũng có thể là mượn cả bài thơ ở phần phiên âm,  
hoặc phần dịch nghĩa. Dù sử dụng cách nào đi nữa thì tác giả cũng đã cân nhꢂc hết sức kĩ  
lưỡng để dựng lại đời sống tâm lý nhân vật phù hợp với từng ngữ cảnh để từ đó làm cho  
nhân vật Nguyễn Du hiện lên vừa có tính chân thực lại đầy tính văn học.  
Chẳng hạn, để nói lên tình trạng tù túng, gò bó mất tự do của Nguyễn Du khi làm  
quan ở Quảng Bình, tác giả Nguyễn Thế Quang đã mượn ý thơ và trích dẫn câu cuối trong  
bài thơ Thành hạ khí mã: Mạc giao ky trập tái tương xâm (dịch nghĩa: Chớ để dây cương  
và đai nịt lại xâm chiếm thân mày lần nữa) (Nguyễn, 2012, tr. 103) để nói lên tâm trạng  
tù túng, bất lực của con ngựa già và ngay chính hoàn cảnh Nguyễn Du lúc bấy giờ. Hay  
cảnh Nguyễn Du tâm sự cùng Hồ Xuân Hương về nỗi đau mà ông phải gồng mình lên  
gánh chịu những hiểm họa đang rình rập, Nguyễn cảm thấy mình: thái phác bất toàn chân  
diện mục (nghĩa: viên ngọc không còn giữ được bộ mặt thật nữa rồi) (Nguyễn, 2012, tr.  
158), được trích từ bài Ký hữu. Hoặc khi nói lên tâm sự của Nguyễn Du những ngày tối  
tăm chạy trốn nơi quê nhà, Nguyễn Thế Quang lấy câu thơ: Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu  
(dịch nghĩa: Đêm tối mờ mịt không biết bây giờ là bao giờ mà chẳng thấy sáng) (Nguyễn,  
2012, tr. 197), lấy từ bài Dạ hành. Để nói lên tâm sự “cố quốc tha hương” của Nguyễn  
Du, tác giả đã sử dụng hai câu thơ trong bài Kinh Đô: Thành mới, trăng xưa, bóng lững  
lờ/ Thăng Long đô cũ dấu còn xưa (tức: Cꢀ thời minh nguyệt chiếu tân thành/ Do thị  
Thăng Long cựu đế kinh) (Nguyễn, 2012, tr. 245); hay bài Ký hữu: Hồng Sơn sơn nguyệt  
nhất luân minh/ Thiên lý Trường An thử dạ tình (dịch nghĩa: Đêm nay Ngàn Hống bóng  
trăng soi/ ngàn dặm Tràng An một khúc nhôi) (Nguyễn, 2012, tr. 245). Khi đi sứ sang  
Trung Hoa, được tận mꢂt chứng kiến cảnh điêu linh, đꢀ nát, lạnh lẽo, hoang vu của đền  
thờ Cù Thức Trĩ ở Quế Lâm, Nguyễn Du thấy lòng mình nặng trĩu, một cảm giác thất  
vọng về Trung Hoa xâm chiếm con người ông. Nguyễn Thế Quang đã mượn câu thơ:  
Cộng đạo Trung Hoa thượng tiết nghĩa/ Như hà hương hỏa thái thê lương? (nghĩa: Ai  
bảo Trung Hoa trọng trung nghĩa/ mà đây đền miếu lạnh lùng thay?) (Nguyễn, 2012, tr.  
178), được lấy từ bài Quế Lâm Cù Các Bộ để diễn tả tâm trạng này của nhân vật Nguyễn  
Du. Để nói về cuộc đối thoại giữa Nguyễn Du với vua Gia Long, Nguyễn Thế Quang sử  
dụng câu thơ: Quân trung tự hải hào vô báo (nghĩa: Ơn vua như bể, chưa báo đáp mảy  
may) (Nguyễn, 2012, tr. 353), trích trong bài Nam quan đạo trung để nói lên lòng kính  
trọng, biết ơn của Nguyễn Du với đấng cửu trùng. Và, khi muốn thể hiện cảm xúc của  
Nguyễn Du lúc chia tay với Ngô Nhân Tĩnh, tác giả mượn câu thơ: Bát đại kỳ văn hoa  
lưỡng quốc/ Nhất xa cao vũ nhuận toàn Hoan (tạm dịch: Văn chương ông hay như tám  
nhà văn lớn Đường Tống làm đẹp cho hai nước/ Mưa móc theo sau xe ông, thấm nhuần  
cả châu Hoan) (Nguyễn, 2012, tr. 111), trích trong bài Tống Ngô Nhữ Sơn công Xuất trấn  
Nghệ An.  
Ngoài việc dẫn một số câu thơ vào để xây dựng tâm lý nhân vật Nguyễn Du,  
Nguyễn Thế Quang cꢁn đưa cả những khꢀ thơ, bài thơ trọn vẹn vào trong tác phẩm của  
198  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
mình. Chẳng hạn, để khẳng định tấm lòng trung trinh, bản lĩnh của một người trí thức  
chân chính trước những đꢀi thay của thời cuộc, Nguyễn Thế Quang đã lấy bài thơ Đạo ý.  
Túng bị nhân khiên xả  
Nhất giao hoàn phục chỉ  
Trạm trạm nhất phiến tâm  
Minh nguyệt cổ tinh thủy.  
(Nguyễn, 2012, tr. 80)  
Hoặc, khi mượn cuộc đàm đạo thơ văn giữa Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định và  
Nguyễn Du để chia sẻ nỗi niềm của Nguyễn khi được dạo chơi ngꢂm cảnh đẹp mà trong  
lꢁng không được vui, tác giả đã lấy toàn bộ bài thơ Giang đầu tản bộ để chia sẻ nỗi niềm  
ấy. Còn khi miêu tả cuộc trò chuyện giữa vua Gia Long với Nguyễn Du về vấn đề quyền  
lực và cuộc sống của quan lại chốn quan trường, Nguyễn Thế Quang đã sử dụng một khꢀ  
thơ trong bài Phản chiêu hồn để nhấn mạnh đời sống xa hoa, tham lam, độc ác, gian dối  
của quan lại lúc bấy giờ. Ngoài các câu thơ, bài thơ kể trên, Nguyễn Thế Quang còn sử  
dụng một số câu thơ chữ Hán khác của Nguyễn Du vào trong tác phẩm của mình. Hầu  
hết các bài thơ này đều là những bài thơ tiêu biểu trong tập thơ Bắc hành tạp lục, được  
Nguyễn Thế Quang đưa vào tác phẩm một cách khéo léo và tinh tế. Nhờ thế chân dung  
Nguyễn Du trong tiểu thuyết được hiện lên đa chiều, người đọc cảm nhận được Nguyễn  
Du không chỉ là một nhân vật khô khan của lịch sử, đó cꢁn là sản phẩm đầy sự hư cấu,  
tưởng tượng của văn học, tạo nên sức lôi cuốn và hấp dẫn người đọc.  
Từ việc trình bày ở trên, chúng tôi liệt kê các bài thơ, câu thơ, hình ảnh thơ của  
Nguyễn Du được đưa vào tiểu thuyết trong thống kê sau:  
Bảng 2. Các câu thơ, bài thơ chꢀ Hán trong tiểu thuyết Nguyễn Du  
Tên bài thơ  
Trích dẫn cả bài thơ Trích một số câu thơ  
Đạo ý  
4 câu thơ  
Cả bài thơ  
Giang đầu tản bộ  
Tống Ngô Nhữ Sơn công xuất trấn Nghệ An  
4 câu thơ  
Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu Cả bài thơ  
Nam quan đạo trung  
Quế Lâm cù các Bộ  
Hoàng Hạc lâu  
4 câu thơ  
2 câu thơ  
4 câu thơ  
1 câu thơ  
1 câu thơ  
1 câu thơ  
1 câu thơ  
1 câu thơ  
Âu Dương Văn Trung Công mộ  
Cựu Hứa Đô  
Tô Tần Đình  
Dương Phi cố lý  
Kỳ lân mộ  
199  
Nguyễn Thị Thẩm Mỹ  
Bảng 2. Các câu thơ, bài thơ chꢀ Hán trong tiểu thuyết Nguyễn Du (tt.)  
Tên bài thơ  
Trích dẫn cả bài thơ Trích một số câu thơ  
Mảnh Tử từ cố liễu  
1 câu thơ  
1 câu thơ  
1 câu thơ  
1 khꢀ thơ  
1 câu thơ  
1 câu thơ  
Quảng Tế ký thắng  
Đào Hoa đàm Lý Thanh Liên cựu tích  
Phản Chiêu hồn  
Nam quan đạo trung  
Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm hầu tác  
Như vậy, chúng ta thấy rằng nhà văn Nguyễn Thế Quang với tài năng của một  
người nghệ sĩ đã cố gꢂng lồng ghép các bài thơ của Nguyễn Du vào trong tác phẩm của  
mình một cách tự nhiên, phù hợp với những diễn biến tâm trạng của nhân vật Nguyễn Du  
trong từng hoàn cảnh, từng giai đoạn cụ thể. Nhờ thế, người đọc hiểu được hoàn cảnh ra  
đời của từng bài thơ để từ đó hiểu thêm nội dung, tư tưởng mà nhà thơ muốn gửi gꢂm vào  
trong đó. Nó vừa thể hiện tài năng sáng tạo văn chương của Nguyễn Du, đồng thời cũng  
thể hiện khả năng vận dụng những kiến thức văn chương vào trong tác phẩm của nhà văn  
Nguyễn Thế Quang một cách mượt mà, tinh tế.  
4.  
SỰ CÁCH TÂN CỦA NHÀ VĂN TRONG THI PHÁP XÂY DỰNG NHÂN  
VẬT NGUYỄN DU  
Như đã trình bày ở trên, Nguyễn Du với tư cách là một thi nhân và Nguyễn Du  
với tư cách là một nhân vật văn học đã có những điểm đồng nhất nhất định. Đây là một  
điều khó tránh khỏi khi nhà văn xây dựng tác phẩm dựa trên những nhân vật có thật trong  
lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở những điểm đồng nhất mà không có được  
những cách tân để làm nên sự khác biệt giữa đời thực và văn chương, giữa chủ thể trữ  
tình và nhân vật văn học thì vô tình nhà văn đã để cho văn học trùng khít với lịch sử, như  
thế tác phẩm đó không có mấy giá trị. Với đặc trưng của thể loại và khả năng sáng tạo  
của một nhà viết tiểu thuyết, tác giả Nguyễn Thế Quang đã có những sự cách tân, thêm  
bớt nhiều chi tiết không có thật trong lịch sử về nhân vật để làm cho câu chuyện trở nên  
hay hơn, hấp dẫn hơn. Đây là điều mà người đọc không thể bꢂt gặp trong thơ chữ Hán  
cũng như trong các cứ liệu lịch sử về nhân vật Nguyễn Du.  
Dưới ngòi bút của Nguyễn Thế Quang, hình ảnh Nguyễn Du được hiện lên thật  
gần gũi, đời thường với nhiều góc khuất suy tư. Trong cuốn tiểu thuyết, tác giả không tập  
trung xây dựng nhân vật Nguyễn Du trong khoảng thời gian mười năm gió bụi ăn nhờ ở  
đậu nơi đất khách quê người hay tâm sự cố quốc cô trung với triều Lê mà chỉ tập trung  
vào khoảng thời gian Nguyễn Du ra làm quan cho vua Gia Long song người đọc vẫn hiểu  
hết về cuộc đời, con người Nguyễn Du. Đây chính là tài năng của tác giả và đồng thời là  
sự ưu việt của thể loại tiểu thuyết đã mang đến cho độc giả. Trước hết, chúng ta thấy rằng  
tác giả Nguyễn Thế Quang đã xây dựng nhân vật Nguyễn Du dưới nhiều bình diện, góc  
độ và thông qua các mối quan hệ với các nhân vật khác mà tính cách, tâm lý nhân vật  
được hiện lên một cách đầy đủ, toàn diện. Dưới cái nhìn sử thi, tôn trọng lịch sử Nguyễn  
Thế Quang đã làm sống lại hình ảnh Nguyễn Du – một ông quan thanh liêm, suốt đời vì  
200  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
dân, vì nước, luôn lo nghĩ về vận mệnh của dân tộc, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá  
nhân. Điểm khác biệt làm nên thành công của Nguyễn Thế Quang là ở chỗ ông không tập  
trung miêu tả vẻ bề ngoài và tính cách của nhân vật mà để cho họ được hiện lên một cách  
tự nhiên thông qua sự quan sát, đánh giá của những người xung quanh. Vì thế, mặc dù  
người đọc không thể tìm thấy những trang viết của tác giả miêu tả ngoại hình của Nguyễn  
Du một cách cụ thể và chung nhất nhưng hình ảnh về nhân vật này vẫn được hiện lên đa  
chiều và vô cùng đẹp đẽ. Chẳng hạn, trong con mꢂt của Nguyễn Điều, Nguyễn Du là  
người: “Nhà ta chꢃ ấy là người tài hoa hơn cả. Thế nhưng, chꢃ ấy nóng nảy, hăng hái  
nhưng cả tin…” (Nguyễn, 2012, tr. 59). Với vua Gia Long, Nguyễn Du được hiện lên đầy  
sự khâm phục, kính nể: “Hꢂn không phải tay vừa.... Người nó khôi ngô, thông minh…”  
(Nguyễn, 2012, tr. 77), “càng ngày ta càng cảm thấy mến con người này… con người  
đꢃng mực và nghiêm cẩn… giao cho toàn quyền, ta thấy liêm khiết, thương dân, cẩn  
trọng” (Nguyễn, 2012, tr. 139); với Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Du: “là người có học,  
có tài, con của một gia đình danh gia vọng tộc đệ nhất công thần của triều Lê, nay con  
đường tiến thân của đệ lớn lꢂm” (Nguyễn, 2012, tr. 48); với Ngô Thượng Thư: “Chꢃ Bảy  
dáng võ tướng nhưng tánh đa cảm đa sầu, hợp với văn hơn võ… chꢃ ấy là người có tài,  
nếu tu chí tốt thì làm được nhiều điều quý lꢂm” (Nguyễn, 2012, tr. 65). Thậm chí trong  
con mꢂt của Hữu Tham tri, một tai mꢂt của vua Gia Long cũng hết lời ca ngợi Nguyễn  
Du: “Chữ anh viết đẹp lꢂm. Anh cứ làm cho cẩn thận. Hoàng thượng rất chꢃ ý đến anh”  
(Nguyễn, 2012, tr. 81). Thông qua những lời nhận xét, khen ngợi của các nhân vật khác  
dành cho nhân vật Nguyễn Du người đọc có được cái nhìn khái quát và toàn diện về nhân  
vật này với một Nguyễn Du bằng xương, bằng thịt, có diện mạo và tính cách rõ ràng, khác  
hoàn toàn với Nguyễn Du – một thi nhân đầy tâm trạng trong thơ. Và hơn hết nhân vật  
Nguyễn Du không chỉ là một nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử mà còn là một nhà nho hành  
đạo. Bởi lẽ, trong suốt mười tám năm làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, mặc dù có  
những lúc nhân vật buồn chán trước sự thối nát của triều đình, quan lại và thời cuộc song  
không vì thế mà ông khoanh tay đứng nhìn nhân dân phải chịu cảnh đói khꢀ lầm than,  
ông luôn cố gꢂng hết sức mình làm những việc giúp dân bớt chịu cảnh oan sai, đói khꢀ.  
Chẳng hạn vụ thu thuế ở Quảng Bình, xử kiện những vụ án oan như vụ O Nụ, Cửu Xung,  
Trần Hai, Trần Trọng… Thậm chí, ông cꢁn dám vượt qua quyền hạn của mình, dám hi  
sinh danh dự và sinh mạng để cứu dân thoát khỏi nạn đói kém do lũ lụt, mất mùa. Vì thế,  
nếu chúng ta chỉ dừng lại ở việc đánh giá Nguyễn Du trong thơ chữ Hán thì người đọc  
chỉ có thể thấy được cái tôi trữ tình của nhà thơ được bộc lộ trực tiếp qua các bài thơ mà  
không thể thấy được sự nhìn nhận đánh giá của những người xung quanh, hay những hành  
động của Nguyễn Du giꢃp đỡ, cứu vớt dân lành nên sẽ không có được cái nhìn khách  
quan về nhân vật này. Chính điều này đã làm cho nhân vật Nguyễn Du có sức sống, sự  
chân thật ở cả góc độ tâm lý lẫn hình hài nhân vật.  
Cùng với cảm hứng sử thi, cảm hứng đời tư thế sự cũng được Nguyễn Thế Quang  
chꢃ ý khai thác. Để khám phá đời tư của nhân vật, tác giả chủ yếu đặt nhân vật vào trong  
những tình huống có mâu thuẫn, xung đột tâm lý, buộc phải lựa chọn hướng đi cho riêng  
mình. Sự giằng xé đầu tiên và xuyên suốt trong cuộc đời Nguyễn Du chính là việc chọn  
lựa giữa quyền lực chính trị và phẩm giá trí thức. Nguyễn không thể chọn một trong hai  
con đường, lại càng không thể dung hꢁa được nó khiến cho ông dường như không có  
được những phút giây bình yên, phẳng lặng trong tâm hồn. Nếu chỉ dừng lại ở đó thì nhân  
vật Nguyễn Du cũng chỉ là thi nhân Nguyễn Du, không có gì đặc sꢂc, khác lạ cả. Tác giả  
201  
Nguyễn Thị Thẩm Mỹ  
Nguyễn Thế Quang đưa cảm hứng đời tư thế sự vào trong quá trình xây dựng nhân vật,  
nhờ đó nhà văn đã thành công khi dựng lên cảnh huống Nguyễn Du phá long mạch để  
sau này không có ai trong dòng họ ra làm quan nữa. Hành động này tuy có phần mê tín  
nhưng lại rất đời thường, thể hiện được sự cương quyết chối bỏ quyền lực của Nguyễn  
Du để giữ trọn tấm lòng cao cả, phẩm giá, cốt cách của một người trí thức chân chính.  
Hay là việc dựng lại mối tình đẹp đẽ, lãng mạn nhưng cũng không kém phần trꢂc trở giữa  
Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, với một cuộc gặp gỡ đến “nghẹt thở”. Nguyễn Du nhớ  
lại đêm đó:  
Hai người nói chuyện với nhau đến khuya, khi trăng mồng mười đã xế ngang đầu,  
hai người mới đi nghỉ… Nguyễn hé mꢂt nhìn: Xuân Hương yếm thꢂm, cánh tay  
trꢂng muốt đang đưa qua đưa lại quạt cho Nguyễn ngủ… Nguyễn thấy lòng mình  
xꢃc động lạ… Nguyễn muốn kéo nàng vào lꢁng mình… nhưng Nguyễn chợt kìm  
lại … Không! Ta không thể lợi dụng sự cô đơn của nàng mà làm điều đó. Ta  
không thể là một kẻ tầm thường lợi dụng cảnh ngộ của nàng để làm điều xằng  
bậy… (Nguyễn, 2012, tr. 161-162).  
Chi tiết này được bꢂt nguồn từ một giai thoại được lưu truyền trong dân gian, tuy  
nhiên vì là giai thoại nên tính xác thực của nó không cao, có thể đꢃng và cũng có thể sai.  
Thế nhưng trong tác phẩm Nguyễn Thế Quang đã “khẳng định” sự thật ấy bằng cách xây  
dựng nên một mối tình đẹp đẽ và tạo thành một điểm nhấn cho tác phẩm khiến người đọc  
tin chꢂc rằng đã từng có một mối tình như thế trong cuộc đời của thi gia. Thông qua câu  
chuyện tình, Nguyễn Du hiện lên không chỉ là một con người đức cao vọng trọng mà còn  
là một con người với những ước muốn đời thường nhất, bản năng nhất. Nguyễn Thế  
Quang đã tạo nên một sự giằng co hết sức mong manh giữa lí trí và ái tình, kết cục lí trí  
đã chiến thꢂng tất cả càng chứng tỏ bản lĩnh trong con người Nguyễn Du. Song, cũng vì  
thế độc giả không khỏi tiếc nuối cho một mối tình đẹp đẽ mà lỡ dở của đôi trai tài, gái sꢂc  
này. Đây chính là cái tài mà Nguyễn Thế Quang đã chạm tới góc khuất nhất bên trong  
tâm hồn Nguyễn Du với đầy đủ các cung bậc cảm xꢃc yêu thương, nhớ nhung, hờn giận,  
làm cho Nguyễn Du trở nên trần trụi hơn, đời thường hơn chứ không hẳn chỉ là một ông  
quan Nguyễn Du hay một nhà thơ Nguyễn Du như người đời vẫn biết tới. Chính góc nhìn  
đời thường đã tạo nên những cách nhìn mới mẻ cho Nguyễn Thế Quang khi xây dựng  
nhân vật Nguyễn Du.  
Không chỉ dừng lại ở đó, trong cuốn tiểu thuyết Nguyễn Du chúng ta còn bꢂt gặp  
hoài bão muốn lập thân bằng con đường lập thư của nhân vật Nguyễn Du, điều mà cả  
trong văn chương và sử sách về Nguyễn Du đều không đề cập đến. Nếu chúng ta chỉ  
nghiên cứu hình tượng Nguyễn Du trong thơ sẽ không thấy được điều này, bởi lẽ trong  
thơ Nguyễn Du cũng như bao nhà thơ cùng thời khác, tìm đến văn chương chỉ để nói chí,  
tải đạo, và qua văn chương giꢃp cho nhà thơ bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm về số  
phận, cuộc đời nhằm giải tỏa những ẩn ức tâm lý mà trong đời thực không cho phép và  
không thể làm được. Điều này xuất phát từ quan niệm của người xưa “lập thân tối hạ thị  
văn chương”, coi văn chương như một trò tiêu khiển, giải trí cho khuây khỏa trong tâm  
hồn, thế nên Quách Tấn cũng đã từng nhận xét về thơ chữ Hán của Nguyễn Du: “…Làm  
ra ba tập thơ nầy, Nguyễn Du không cố ý thêu dệt văn chương để phấn sức cho tài ba  
trong nhất thời, mà chính là để gởi tâm sự vào thiên cꢀ. Thơ đủ loại… loại nào cũng là  
202  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
những mảnh gương phản chiếu nỗi lꢁng và thái độ sống của tác giả từ lúc thành nhân cho  
đến khi vấn cảnh” (Nhiều tác giả, 2000, tr. 13). Với nhân vật Nguyễn Du trong cuốn tiểu  
thuyết lại hoàn toàn khác, sáng tạo nghệ thuật trở thành một niềm đam mê, một sự khát  
khao thường trực, chỉ có văn chương mới giúp ông sống thật với lꢁng mình và được là  
chính mình. Trong hoàn cảnh “cá chậu chim lồng”, Nguyễn Du luôn phải sống và viết  
dưới sự quản thúc của cái bóng quyền lực, buộc ông phải kìm nén cảm xúc. Song, càng  
kìm nén bao nhiêu khát vọng được giải tỏa càng thôi thúc viết bấy nhiêu, ông luôn cảm  
thấy “Ta chỉ có thể sống có ích cho đời bằng những trang viết của mình” (Nguyễn, 2012,  
tr. 184), với một niềm trăn trở: “Bao đêm rồi, ta nghĩ đến bạc tóc: ta phải lập thân bằng  
con đường lập thư, lập ngôn…” (Nguyễn, 2012, tr. 152).  
Tuy nhiên, cuộc đời không chiều lꢁng người bao giờ, dù Nguyễn Du dứt khoát  
với con đường lập thư của mình thì vua Gia Long cũng không chấp nhận, vẫn “mời” ông  
ra làm quan với một ân sủng đặc biệt. Chính cuộc đối thoại giữa Nguyễn Du với vua Gia  
Long về quyền lực và kẻ sĩ và văn chương nghệ thuật càng góp phần khꢂc họa thêm bản  
lĩnh, cốt cách cao quý của thi nhân trước quyền lực của một vị vua uy lực như Gia Long.  
Dù không cam tâm nhưng Nguyễn vẫn phải một mực nghe theo và có những lúc phải  
chua xót nhận ra: “Thơ chữ Hán ta viết cũng nhiều, thơ chữ Nôm cũng lꢂm và cả thơ lục  
bát dân quê nữa. Ta viết – ta đọc – rồi ta lại đốt. Xót lꢂm, nhưng để lại những bài đó, rơi  
vào tay người khác đến tai Gia Long cái chết là cầm chꢂc” (Nguyễn, 2012, tr. 152). Những  
tâm sự đến xé lꢁng này người đọc càng hiểu hơn, cảm thông hơn cho nhân vật Nguyễn  
Du và cũng là thi nhân Nguyễn Du.  
5.  
KẾT LUẬN  
Như vậy, qua việc tìm hiểu nhân vật Nguyễn Du trong thơ chữ Hán và trong tiểu  
thuyết Nguyễn Du chúng ta có thể khẳng định rằng thơ chữ Hán Nguyễn Du là những vần  
thơ tâm tình, được tác giả xây dựng để bộc lộ cho cái tôi trữ tình của chính nhà thơ trước  
những biến cố lớn của thời cuộc. Song không dừng lại ở đó, qua các bài thơ ấy người đọc  
thấy được đằng sau hình ảnh Nguyễn Du với một cõi lòng tê tái, ủ ê thì đó cꢁn là một  
Nguyễn Du với bao nỗi suy tư, trăn trở về con người, xã hội đương thời với cách đặt vấn  
đề trực tiếp về số phận của mình, gꢂn liền với vận mệnh chúng sinh trong nhiều thời đại,  
nhất là thời đại ông đang sống.  
Nhà văn Nguyễn Thế Quang khi xây dựng nhân vật Nguyễn Du trong cuốn tiểu  
thuyết đã có những ảnh hưởng nhất định từ hình ảnh, tính cách nhà thơ Nguyễn Du ở trên.  
Tuy nhiên, với tài năng của một người nghệ sĩ, nhà văn Nguyễn Thế Quang đã biến  
Nguyễn Du từ một thi nhân thành một Nguyễn Du – nhân vật văn học, bên cạnh những  
điểm đồng nhất giữa hai nhân vật thì cũng có những sự khác biệt mà chỉ khi đọc cuốn tiểu  
thuyết này độc giả mới thấy một nhân vật Nguyễn Du với đầy đủ các góc khuất, nhìn  
nhận đánh giá về cuộc sống. Vì thế, mặc dù có sự ảnh hưởng rất lớn trong việc khꢂc họa  
hình tượng Nguyễn Du thông qua các bài thơ chữ Hán của chính Nguyễn Du cũng như  
các tài liệu liên quan khác, tuy nhiên, nhà văn đã không chịu làm người ghi chép lại lịch  
sử một cách y nguyên mà luôn cố gꢂng bứt phá khỏi cái khung truyền thống, làm cho  
nhân vật Nguyễn Du hiện lên vừa gần gũi, vừa sinh động. Dưới cái nhìn sử thi, tôn trọng  
lịch sử Nguyễn Thế Quang đã làm sống lại hình ảnh Nguyễn Du – một ông quan thanh  
203  
Nguyễn Thị Thẩm Mỹ  
liêm, suốt đời vì dân vì nước, luôn lo nghĩ về vận mệnh của dân tộc, đặt lợi ích chung lên  
lợi ích riêng.  
Dưới cái nhìn đời tư thế sự người đọc lại thấy được sự đa chiều và đầy góc khuất  
trong đời sống nội tâm của nhân vật Nguyễn Du với những trạng thái cảm xúc yêu, ghét,  
lo lꢂng, suy tư trăn trở... Nhờ đó, với vai trò là một nhân vật văn học, Nguyễn Du được  
hiện lên một cách cụ thể, sống động, vừa thực vừa ảo đã làm tăng tính nghệ thuật cho  
nhân vật này. Điều này còn góp phần khẳng định quá trình lao động và sáng tạo nghệ  
thuật của nhà văn Nguyễn Thế Quang. Bởi lẽ để xây dựng lên chân dung nhân vật Nguyễn  
Du, tác giả Nguyễn Thế Quang đã phải rất dày công vào Hà Tĩnh, ra Thái Bình rồi lại vào  
Quảng Bình, Huế để thu thập và xử lý tài liệu. Vì thế, cuốn tiểu thuyết Nguyễn Du được  
sáng tác dựa trên nhân vật có thật, gꢂn với các sự kiện có thực của nhân vật trong lịch sử  
song với sự nghiền ngẫm, khả năng hư cấu của nhà văn kết hợp với sự ưu việt của thể  
loại tiểu thuyết đã giꢃp cho nhân vật hiện lên như thực như hư. Những chi tiết như chuyện  
tình Nguyễn Du-Hồ Xuân Hương, cuộc đối thoại giữa Gia Long và Nguyễn Du, phá long  
mạch để đời sau không có người làm quan, khát vọng về văn chương nghệ thuật… là  
những câu chuyện có thật trong cuộc đời Nguyễn Du hay chỉ là sự “bịa đặt” của nhà văn  
khiến cho người đọc cũng khó phân biệt và thậm chí là không cần quan tâm đến điều đó.  
Đây chính là tài năng của nhà văn Nguyễn Thế Quang gửi gꢂm vào nhân vật Nguyễn Du  
làm cho chúng ta có thêm một nhân vật tự sự Nguyễn Du trong tiểu thuyết bên cạnh một  
nhân vật trữ tình Nguyễn Du trong thơ ông.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Lê, Đ. K. (1992). Truyện Kiꢀu và chủ nghĩa hiện thực. NXB Hội nhà văn.  
Nguyễn, L. (1999). Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX. NXB Giáo dục.  
Nhiều tác giả. (2000). Đến với thơ chữ Hán Nguyễn Du. NXB Thanh niên.  
Nguyễn, T. Q. (2012). Nguyễn Du. NXB. Hội Nhà văn.  
204  
pdf 15 trang yennguyen 21101 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhân vật Nguyễn Du từ thơ đến tiểu thuyết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_vat_nguyen_du_tu_tho_den_tieu_thuyet.pdf